Xu thế biến động sản lượng cá đánh bắt được bằng lưới rê trôi cũng như câu vàng của 3 chuyến biển sau của đợt khảo sát hoàn toàn phù hợp với xu thế biến động khối lượng ĐVPD trong vùng
Trang 1Chủ trì chuyên đề: tS Nguyễn tiến cảnh
Thuộc đề tài
”đánh giá nguồn lợi sinh vật biển và hiện trạng môi
trường vùng biển quanh đảo trường sa”
(Chương trình đặc biệt biển đông-hải đảo)
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Tiến Cảnh
6651-7
09/11/2007
hải phòng - 2003
Trang 2Bộ Thuỷ Sản
Viện Nghiên Cứu Hải Sản
Sinh vật phù du vùng biển quần đảo trường sa
Nguyễn Tiến Cảnh
Vũ minh hào
Nguyễn hoang minh
Hải phòng - 2004
Trang 3Tóm tắt
Thành phần TVPD có 83 giống 467 loài Số loài tảo trong những năm 2001 - 2003
đã bổ sung cho danh mục TVPD năm 1993-1997 là 155 loài gồm 1 loài tảo Kim, 30 loài tảo Silic và 124 loài tảo Giáp Tuy nhiên cũng đã không gặp lại 90 loài tảo đã có trong thời
kỳ 1993-1997, trong đó có 58 loài tảo Silic và 32 loài tảo Giáp
Đã xác định được 142 giống, 358 loài ĐVPD là thức ăn của cá; trong lần khảo sát này đã bổ sung cho danh mục loài ĐVPD vùng biển QĐTS là 59 loài; nhưng đã không gặp lại 97 loài đã có trong những năm 1993-1997
Qua thống kê, phân tích các chỉ số đa dạng của SVPD, cho thấy vùng biển QĐTS
có tính đa dạng cao, mức độ đa dạng là phong phú và rất phong phú; chất lượng nước của
vùng biển là tốt và rất tốt
Các loài ưu thế nhất của vùng biển là Thalassiotrix frauenfeldi, (tảo Silic);
Eucalanus subcrassus, Undinula darwini, Cypridina noctiluca (Giáp xác), Sagitta enflata (Hàm tơ)
Số lượng trung bình TVPD trong đợt khảo sát là 62.020 tb/m3, lớn hơn thời kỳ 1993-1997 (30.782 tb/m3) và trung bình nhiều năm cho vùng biển là 42.141 tb/m3, thấp hơn so với các vùng biển khác của Việt Nam, nhưng vẫn cao hơn nhiều vùng biển cùng, gần vĩ độ khác Khối lượng trung bình ĐVPD trong đợt khảo sát là 79,11mg/m3 lớn hơn
đợt khảo sát 1993-1997 (42,28mg/m3), trung bình nhiều năm cho vùng biển là 55,67 mg/m3, được xếp tương tự mức độ của vùng biển Trung Bộ và Đông Nam Bộ, thấp hơn so với vùng biển vịnh Bắc Bộ và Tây Nam Bộ (111,13 – 124,42 mg/m3) Với khối lượng
ĐVPD như vậy có thể xếp tương đương hoặc lớn hơn so với các vùng biển gần vĩ độ khác
Tuy vùng biển QĐTS có độ sâu hàng ngàn mét, nhưng các vùng nước trồi vẫn có
ảnh hưởng tốt cho sự phát triển và tập trung của TVPD
Xu thế biến động sản lượng cá đánh bắt được bằng lưới rê trôi cũng như câu vàng của 3 chuyến biển sau của đợt khảo sát hoàn toàn phù hợp với xu thế biến động khối lượng
ĐVPD trong vùng biển
Dựa trên khối lượng ĐVPD, khả năng tối đa nguồn lợi cá nổi của vùng biển QĐTS
được xác định là 309.089 tấn và mức độ cho phép khai thác hàng năm để không gây tổn
hại đến cân bằng sinh thái của vùng biển là 64.900 tấn cá nổi
Trang 41 Mở đầu
Sinh vật phù du (SVPD) vùng biển Quần đảo Trường Sa (QĐTS) trước đây hầu như chưa được nghiên cứu Chỉ từ năm 1979 - 1988 có chương trình hợp tác Việt - Xô về nguồn lợi cá biển Việt Nam, mới có những thu thập tài liệu định điểm đầu tiên về thực vật phù du (TVPD) và động vật phù du (ĐVPD) trong vùng biển này [6]
Trong những năm 1993 - 1994, Chen Qing Chao và các cộng sự đã tiến hành 3 chuyến khảo sát trong vùng biển QĐTS Kết quả chủ yếu là xác định số lượng, tính đa dạng, loài ưu thế của ĐVPD [7]
Trong chương trình Biển Đông - Hải Đảo, năm 1993 - 1997, đề tài "Điều tra tổng
hợp nguồn lợi sinh vật biển QĐTS" đã tiến hành nghiên cứu ở vùng biển QĐTS và phụ
cận, trong đó SVPD được thu thập, phân tích và đánh giá; tổng số đã có 239 lần trạm được thu thập mẫu vật TVPD và ĐVPD Trong thời gian này, những tàu tham gia khảo sát gồm có: Pavel Gordienko, Akademic Sokalski, CT-104, KH - 402, PQ - 171, BV - 7958, BV -
7209 và BV - 7994
Trong đợt khảo sát này đã xác định được 312 loài TVPD, trong đó có 220 loài ở vùng biển QĐTS và 299 loài ĐVPD là thức ăn của cá, trong đó có 223 loài ở vùng biển QĐTS Phát hiện mới cho biển Việt Nam 1 giống, 30 loài TVPD và 9 giống 20 loài
ĐVPD Danh sách 443 loài SVPD có trong vùng biển QĐTS này chủ yếu có được trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 và một chuyến vào tháng 8 - 9 Đây là danh mục về SVPD đầu tiên có được trong vùng biển QĐTS ở Việt Nam
Số lượng TVPD trung bình là 15.000tb/m3, thấp nhất so với các vùng biển khác của Việt Nam Tuy nhiên so với một số vùng biển gần vĩ độ khác, số lượng này vẫn cao hơn
Cũng như các vùng biển khác, khối lượng ĐVPD trong vùng biển QĐTS không ổn
định và trung bình là 27,14 mg/m3, tương đương và hơi thấp hơn so với khối lượng bình quân nhiều năm ở vùng biển Trung Bộ và Đông Nam Bộ, nhưng thấp hơn nhiều so với khối lượng bình quân nhiều năm ở Vịnh Bắc Bộ và biển Tây Nam Bộ Xu thế phân bố chung là vùng biển phía tây QĐTS thường có khối lượng cao hơn so với toàn vùng biển nghiên cứu Copepoda là thức ăn quan trọng nhất trong biển luôn giữ tỷ lệ khá ổn định - trên dưới 60 % trong tổng số lượng ĐVPD là thức ăn của cá ở vùng biển QĐTS
Tính đa dạng của ĐVPD vùng biển QĐTS có mức độ phong phú và rất phong phú, chứng tỏ chất lượng nước ở đây tốt và rất tốt Eucalanus subcrassus (Copepoda) và Sagitta enflata (Chaetognatha) là hai loài luôn chiếm ưu thế trong các chuyến khảo sát Một số loài khác chỉ ở mức độ ưu thế tuỳ từng chuyến biển
Thông qua hệ số tương quan giữa năng suất sinh học của ĐVPD và năng suất sinh học của cá nổi, trữ lượng cá nổi trong lớp nước 0-50m trong vùng biển QĐTS đã được xác
định là 241.000 tấn và mức khai thác hàng năm nên giới hạn dưới 50.500 tấn sẽ không gây tổn hại đến cân bằng sinh thái của vùng biển
Năm 2001-2003, Viện Nghiên Cứu Hải Sản được Nhà Nước cho thực hiện dự án
“Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển và hiện trạng môi trường vùng biển quần đảo
Trang 5Trường Sa”. Dự án đựơc tiến hành 4 chuyến khảo sát tổng hợp, 2 chuyến trong vụ Bắc và
2 chuyến trong vụ Nam, trong đó có nội dung nghiên cứu về SVPD
Báo cáo sau đây sẽ giới thiệu và tổng hợp những kết quả nghiên cứu về SVPD vùng biển QĐTS, hy vọng cung cấp được những thông tin và những nhận định liên quan đến SVPD, một hợp phần không thể tách rời trong nghiên cứu nghề cá biển Ngoài ra, dựa trên nguồn tài liệu phong phú này, khả năng nguồn lợi và khả năng khai thác hàng năm không gây tổn hại đến cân bằng sinh thái của vùng biển cũng đã được xác định để các cơ quan chức năng tham khảo, phần nào góp phần xây dụng quy hoạch và phát triển nghề cá biển theo hướng bền vững
Trang 62 Tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Trong khuôn khổ của dự án "Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển và hiện trạng môi
trường vùng biển quần đảo trường sa", nội dung nghiên cứu SVPD cùng với các hợp
phần khác của dự án đã thực hiện 4 chuyến biển vào tháng 10/2001, tháng 3,4/2002,
Trang 7Phương pháp nghiên cứu SVPD được tiến hành theo quy định của Hội Nghề Cá Miền Tây Thái Bình Dương, 1956 (Liên xô, Mông cổ, Triều tiên, Trung quốc và Việt nam) và quy trình của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước năm 1981[3] Có thể tóm tắt như sau:
Thu mẫu TVPD bằng lưới TVPD kiểu Nansen số 64 (1cm2 có 64 x 64 = 4096 lỗ, cạnh khoảng 100à), miệng lưới rộng 0,2m2, kéo thẳng từ 100m đến mặt nước; trong miệng lưói có đặt máy đo lượng nước qua lưói (flowmeter) Xác định số lượng TVPD trên kính hiển vi có bàn di động với độ phóng đại 10 x 15 Đếm cả 1 giọt mẫu 0,1ml mẫu vật pha ở mức độ vừa phải
Thu mẫu ĐVPD bằng lưới ĐVPD kiểu Nansen số 14 (1cm2 có 14 x 14 = 196 lỗ, cạnh khoảng 400à) kéo thẳng từ 100m đến mặt nước; trong miệng lưới có đặt may đo lượng nước qua lưói Xác định số lượng ĐVPD trên kính giải phẫu với độ phóng đại 10 x
5 hoặc 10 x 10 Xác định khối lượng ẩm ĐVPD là thức ăn của cá trên cân phân tích có
độ chính xác 0,01mg sau khi đã loại bỏ rác bẩn , Sứa con (Medusa) và Quản thuỷ mẫu (Siphonophora)
Sinh vật lượng được thống kê ra số lượng tế bào/m3 (tb/m3) đối với TVPD; cá thể/m3(ct/m3) và mg/m3 dối với ĐVPD Bản đồ phân bố sinh vật lượng SVPD được vẽ theo phương pháp tính các đường đẳng trị trên máy vi tính
Kết quả thử nghiệm bằng máy đo lượng nước qua lưới cho thấy, hệ số thoát lướí của lưói TVPD là 1,98 và của lưới ĐVPD là 1,558
Phương pháp xác định trữ lượng cá và khả năng khai thác cho phép không gây tổn hại đến cân bằng sinh thái của vùng biển dựa theo Sissenwine,1984 [13]
Các tài liệu dùng để phân loại SVPD là [8, 10, 11, 14,16, 17].
3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3 1 Thành phần loài
Qua phân tích mẫu vật trong các chuyến khảo sát của các năm 1993-1997 và 2001
- 2003 về SVPD đã phát hiện 467 loài TVPD trong 4 ngành tảo:
- Ngành tảo Kim (Silicoflagellata) có 2 giống, 3 loài, chiếm 0,64%
- Ngành tảo Lam (Cyanophyta) có 1 giống, 3 loài, chiếm 0,64 %
- Ngành tảo Silic (Bacillariophyta) có 51 giống, 222 loài, chiếm 47,54%
- Ngành tảo Giáp (Pyrrophyta) có 29 giống, 239 loài, chiếm 51,18% tổng số loài
đã phát hiện được trong vùng biển
Số loài mới tìm thấy trong những năm 2001 - 2003 bổ sung cho danh mục TVPD trong những năm 1993 - 1997 là 155 loài, gồm 1 loài tảo Kim, 30 loài tảo Silic và 124 loài tảo Giáp.Tuy nhiên, trong đợt khảo sát này không gặp lại 90 loài đã có trong thời kỳ 1993-1997, trong đó 58 loài tảo Silic và 32 loài tảo Giáp (Phụ lục I)
Trong ĐVPD không kể động vật nguyên sinh (Protozoa), sứa con (Medusa)và quản thuỷ mẫu (Siphonophora) đã có 142 giống, 358 loài trong các ngành sau:
Trang 8- Ngành Giun đốt (Annelida) - lớp Giun Nhiều tơ (Polychaeta) – 13 gống, 20 loài, chiếm 5,59 %
- Ngành Chân khớp (Arthropoda) - lớp Giáp xác (Crustacea) – 89 giống, 255 loài, chiếm 71,23 %
- Ngành Thân mềm (Mollusca) - lớp Chân bụng (Gastropoda) – 22 giống, 40 loài, chiếm 11,17 %
- Ngành Hàm tơ (Chaetognatha) - lớp Hàm tơ (Sagittoida) – 3 giống, 17 loài, chiếm 4,75%
- Ngành Tiền sống (Protochordata) - lớp Có bao (Tunicata) – 15 giống, 26 loài, chiếm 7,26% tổng số loài đã tìm thấy trong vùng biển QĐTS
Giáp xác có số lượng giống, loài lớn nhất trong thành phần ĐVPD là thức ăn của cá
- 71,23% Chỉ riêng lớp Chân mái chèo (Copepoda) đã có 53 giống, 180 loài, chiếm tới 50,28% tổng số loài; không những thế, Copepoda còn thường chiếm trên, dưới 60 % tổng
số cá thể ĐVPD là thức ăn của cá trong biển; vì vậy, Copepoda có một vị trí rất quan trọng trong nguồn thức ăn cho cá
Đợt khảo sát này đã bổ sung cho danh mục ĐVPD vùng biển QĐTS 1993-1997 59 loài, nhưng lại không gặp tới 97 loài đã có trong đợt khảo sát 1993-1997 (Phụ lục II)
3 2 Tính đa dạng sinh vật vùng biển quần đảo Trường Sa
Trong nghiên cứu SVPD và ĐVĐ biển ở Việt Nam, việc đánh giá một số tham số như chỉ số đa dạng (H’), mức điều hoà (J), mức ưu thế (Y) chưa được quan tâm ứng dụng một cách thích đáng
Chỉ số đa dạng sinh vật là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu sinh thái học quần xã, nó không chỉ thể hiện đặc tính cấu trúc của bản thân quần xã mà còn là một tham
số thường được người ta sử dụng để đánh giá môi trường mà hiện nay đang được áp dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới Chỉ số đa dạng càng cao nói lên cấu trúc quần xã càng phức tạp, thì tính ổn định của nó càng vững chắc , khả năng chống lại sức ép của môi trường càng mạnh mẽ [6]
Công thức được sử dụng để tính chỉ số đa dạng được Shannon-Viener giới thiệu năm 1963[6] là:
2 2
ở đây J - chỉ số điều hoà; S – tổng số loài
Trang 9và đưa ra phạm vi giá trị tịnh đa dạng sinh vật vùng biển nhiệt đới (bảng 1)
Bảng 1 Phạm vi giá trị tính đa dạng sinh vật phù du biển nhiệt đới
Giá trị tính đa dạng Dv Mức độ đa dạng Chất lượng nước
Rất tốt Tốt Tương đối tốt Bình thường Xấu
Cũng như thời kỳ 1993-1995, chỉ số đa dạng sinh học H’ của TVPD cũng như ĐVPD
vùng biển QĐTS khá cao; trung bình cho 4 chuyến khảo sát là 5,64 và 5,80 và giá trị đa
dạng Dv cũng đều khá lớn – 4,18 và 4,45 Như vậy mức độ đa dạng SVPD vùng biển QĐTS
là phong phú và rất phong phú, chất lượng nước tốt và rất tốt (Bảng 2).
Bảng 2 Chỉ số đa dạng sinh vật phù du vùng biển QĐ Trường Sa 2001-2003
TVPD ĐVPD Thời gian
Trong những loài ưu thế trên, các loài tảo Thalassiothrix frauenfeldii (TVPD);
Eucalanus subcrassus, Undinula darwini, Sagitta enflata và Cypridina noctiluca(ĐVPD)
là những loài ưu thế nhất;
Trang 10B¶ng 3 C¸c loµi −u thÕ TVPD trong c¸c chuyÕn biÓn 2001-2003
Th¸ng 4-2003
Trang 11Bảng 4 Các loài −u thế trong động vật phù du trong các chuyến biển 2001-2003
Trang 123 3 Sinh vật lượng sinh vật phù du
Số lượng TVPD và khối lượng ĐVPD là thức ăn của cá vùng biển QĐTS trong thời
kỳ 2001-2003 đã có mức độ cao hơn thời kỳ 1993-1997 một cách rõ rệt, tuy nhiên số lượng ĐVPD trong 2 thời kỳ vẫn tương tự như nhau (bảng 5 - 6)
Bảng 5 Sinh vật lượng sinh vật phù du vùng biển QĐTS 2001-2003
Chuyến khảo sát Số lượng TVPD Số lượng ĐVPD Khối lượng ĐVPD
Bảng 6 Sinh vật lượng sinh vật phù du vùng biển QĐTS 1993 -1997
Chuyến khảo sát Số lượng TVPD Số lượng ĐVPD Khối lượng ĐVPD
Trung bình 30.782 69 42,28
Ghi chú:Số liệu đã đựơc xử lý theo hệ số thoát lưới
Vùng biển QĐTS ở rất xa đất liền, không được bổ sung nguồn muối dinh dưỡng dồi dào từ lục địa như các vùng biển khác của Việt Nam; nguồn muối dinh dưỡng ở đáy lại quá sâu, bổ sung cho lớp nước quang hợp rất hạn chế Tuy nhiên, những đảo nổi, đảo chìm trong vùng biển có những rạn san hô đã hoà vào vùng biển một lượng muối dinh dưỡng
đáng kể giúp cho TVPD trong cả vùng biển có thể tồn tại, sinh trưởng và phát triển quanh năm Vì những lý do trên nên TVPD trong vùng biển QĐTS có số lượng khá thấp (bảng 7) Tuy nhiên so với các vùng biển gần vĩ độ khác như bắc ấn Độ Dương, biển Andaman,
vịnh Aden, biển A rập, vịnh Bengal thì TVPD ở vùng biển QĐTS đã phong phú hơn [2]
Những khảo sát của Zernova (1962) ở Bắc ấn độ dương cho thấy số lượng bình quân TVPD cao nhất chỉ là 6.100tb/m3 (biển Andaman), 3.600tb/m3 (vịnh Aden) và 1.200tb/m3
(biển A rập) [19] Kabanova (1964) cũng cho kết quả nghiên cứu tương tự ở vùng biển này Vùng biển Andaman có mật độ khoảng 10.000tb/m3, còn biển A rập và vịnh Bengal trong khoảng 500-1.000tb/m3 [9]
Trang 13Bảng 7 Sinh vật lượng trung bình SVPD các vùng biển Viêt Nam 1959 –1986
Vùng biển
Sinh vật lượng
Vịnh Bắc Bộ
Trung
Bộ
Đông Nam Bộ
Tây Nam Bộ
Quần đảo Trường Sa (93 – 2003) ĐVPD (mg/m3) 111,13 44,48 34,23 124,42 55,67
TVPD (Tế bào/m3) 3.210.642 728.479 1.378.609 9.891.978 42.141
(Số liệu đã được xử lý theo hệ số thoát lưới)
Khối lượng trung bình ĐVPD vùng biển QĐTS có trong khoảng 23,59mg/m3
(tháng 4 - 5/1995) đến 95,06mg/m3 (tháng 9/2002), và trung bình nhiều năm là 55,67mg/m3, có thể xếp tương đương hoặc lớn hơn so với các vùng biển gần vĩ độ khác như Cuba, Jamaica, Haiti, Goatemala và trung tâm vịnh Mếch xích [1]
ở Tây bắc Thái Bình Dương, khối lượng ĐVPD vào mùa Đông có trong khoảng
22-50 mg/m3 và cao nhất đến 100 mg/m3, còn vào mùa Hạ thường dưới 25 mg/m3 và lớn nhất chỉ là 50 mg/m3 Tây nam Thái Bình Dương khối lượng ĐVPD ít khi đạt được 50 mg/m3 Biển úc, khối lượng ĐVPD lớn nhất cũng chỉ lên tới 100 mg/m3 [15]
Biển Trung Hoa, khối lượng ĐVPD ở phía bắc Hoàng Hải có trong khoảng 5 - 50mg/m3, trong khi đó ở phía nam lại vào khoảng 50-100 mg/m3 Khối lượng ĐVPD ở đây cũng thay đổi, ví dụ năm 1959 khối lượng bình quân là 137 mg/m3, nhưng đến năm 1973 chỉ còn 77 mg/m3 và đến năm 1981 chỉ là 55,5 mg/m3 [12] Vậy cũng tương đương khối lượng ĐVPD vùng biển QĐTS
So với các vùng biển vùng biển khác của Việt Nam, mức độ khối lượng ĐVPD là thức ăn của cá vùng biển QĐTS có thể xếp vào mức độ tương đương với vùng biển Trung
Bộ và Đông Nam Bộ, thấp hơn so với vùng biển vịnh Bắc Bộ và vùng biển Tây Nam Bộ
Về biến động sinh vật lượng, trên hình 2 cho thấy trong các tháng 9,10 (vụ Bắc), khối lượng ĐVPD đều lớn hơn so với các tháng 3,4 (Vụ Nam); xu thế này chỉ phù hợp cho TVPD ở 2 chuyến cuối của đợt khảo sát, 2 chuyến đầu của đợt khảo sát xu thế hoàn toàn ngược lại (hình 2)
Xu thế biến động sản lượng cá đánh bắt được bằng lưới rê trôi cũng như câu vàng của 3 chuyến sau hoàn toàn phù hợp với xu thế biến động khối lượng ĐVPD trong vùng biển (hình 3)
Trang 14Hình 2 Biến động số lượng SVPD vùng biển quần đảo Trường Sa
01.000
Trang 153 4 Phân bố sinh vật lượng sinh vật phù du
Như đã trình bày trong phần sinh vật lượng, số lượng TVPD trong vùng biển QĐTS rất thấp so với các vùng biển khác của Việt Nam, phần lớn chỉ khoảng dưới 10.000tb/m3trong tháng 10/2001, 3 chuyến còn lại cũng chỉ trên dưói 100.000tb/m3; các trạm có số lượng cao nhất đều chưa đạt 1 triệu tb/m3 Với mức độ chênh lệch như thế, ở các vùng
biển khác của Việt Nam chỉ là cùng trong một mức độ; ở đây đã phân làm 5 mức vùng
phân bố khác nhau là: nhỏ hơn 10.000tb/m3, 10.000-50.000, 200.000 và 200.000- 1.000.000tb/m3
Tuy với mức sai khác nhỏ như vậy, vẫn thấy sự liên quan của những vùng có số lượng TVPD lớn hơn với ảnh hưởng ít nhiều của các vùng nước trồi (upwelling) và các vùng khác có hàm lượng muối dinh dưõng cao hơn Ví dụ trong hình 4, vùng có số lượng cao hơn các nơi khác đã phân bố ở phía bắc và phía tây của tâm nước trồi; các vùng có số lượng lớn nhất đều ở gần các vùng nước trồi phía đông và phía tây nam của vùng biển nghiên cứu; ở các vùng tập trung này, hàm lượng của NO3- và NH4+ đều lớn hơn các vùng khác (hình 5); Vùng có hàm lượng NO2- và NO3- lớn nhất đồng thời NH4+ cũng tương đối cao là những vùng có số lượng TVPD tập trung trong tháng 9/2002 (hình 6); cuối cùng, các vùng có số lượng cao 100.000-200.000 tb/m3 trong tháng 4/2003 ở phía đông bắc và vùng rộng lớn phía nam 200.000- 1.000.000tb/m3 cũng chịu ảnh hưởng của các vùng nước trồi Ngoài ra, hàm lượng SiO3- cũng lớn nhât ở vùng biển trong thời gian này (hình 7)
Xu thế phân bố các vùng tập trung số lượng ĐVPD là thường không trùng với vùng tập trung TVPD (hình 8-11), điều này rất thường hay gặp trong phân bố của SVPD không những ở vùng biển nước ta mà còn ở nhiều vùng biển khác trên thế giới
Khối lượng ĐVPD thường tỷ lệ thuận với số lượng của chúng trong các vùng biển, vì vậy các vùng tập trung của chúng đã có xu thế tương tự như nhau (hình 12 - 15)
Trang 193 5 Xác định trữ lượng tối đa và mức độ khai thác đảm bảo sử dụng lâu bền nguồn lợi cá nổi vùng biển QĐTS trên cơ sở nghiên cứu khối lượng ĐVPD
Trên cơ sở nghiên cứu mối tương quan giữa cá và nguồn thức ăn trong biển, từ việc xác định khối lượng ĐVPD (thức ăn của cá nổi) và ĐVĐ (thức ăn của cá đáy) có thể xác
định khả năng nguồn lợi cá và khả năng khai thác cho phép hàng năm không gây đến tổn hại cân bằng sinh thái cho vùng biển
Dựa trên nghiên cứu về năng suất sinh học của Greeze (Kinne, 1978) [2] cho
ĐVPD biển nhiệt đới (P/B = 30-36) và cho ĐVĐ biển nhiệt đới (P/B = 8), bằng phương pháp nhiệt lượng, Sissenwine, 1984 đã xác định được năng suất sinh học của ĐVPD, ĐVĐ
và cá ở ở thềm lục địa Atlantic (phía đông Hoa Kỳ), qua đó xác định được hệ số tương quan giữa năng suất sinh học ĐVPD và ĐVĐ với năng suất sinh học của cá nói chung là 10,847 và năng suất sinh học ĐVPD với năng suất sinh học cá nổi là 17,87 [2]
Để tính trữ lượng cá, hệ số P/B của cá theo Sorokin,1982 là 2,1 đối với cá nổi và 1,52 đối với cá đáy; tính chung cho cá là 1,845 [2] Cũng theo Sorokin,1982, hàng năm chỉ nên khai thác cỡ 10% năng suất sinh học của cá mới bảo đảm được nguồn lợi lâu bền
Vùng biển QĐTS có độ sâu rất lớn không thể thu thập được mẫu vật động vật đáy trên hệ thống 32 trạm, bởi vậy, ở đây chỉ xác định khả năng nguồn lợi cá nổi mà thôi Như đã thấy ở phần trên, khối lượng trung bình nhiều năm ĐVPD vùng biển QĐTS
là 55,67mg/m3, với diện tích vùng biển khảo sát là 154.345 km2 và lớp nước thả lưới 0-45
m sâu, kết quả tính toán theo những hệ số giới thiệu trên đây được trình bày trong bảng 8
và hình 16
Bảng 8 Kết quả tính toán khả năng nguồn lợi và khả năng khai thác cho phép không
gây tổn hại đến cân bằng sinh thái của vùng biển QĐTS
Khối lượng (B) ĐVPD : 55,67mg/m3 x 45m x 154.345 km2 386.634 Năng suất sinh học P của ĐVPD : 386.634 tấn x 30 11.599.020 Năng suất sinh học P của cá nổi: 11.599.020 tấn : 17,87 649.078 Khả năng nguồn lợi B (trữ lượng) tối đa của cá nổi: 649.078 tấn : 2,1 309.089 Khả năng khai thác không gây tổn hại đến cân bằng sinh thái vùng biển 64.900
Như vậy, khả năng nguồn lợi (trữ lượng) tối đa của cá nổi trong vùng biển QĐTS trong thời kỳ 1993-2003 được xác định trung bình là 309.089 tấn Đây là khối lượng cá có
được dựa trên cơ sở của nguồn thức ăn trong vùng biển khảo sát; khối lượng này bao gồm tất cả các kích cỡ của cá nổi từ khi biết ăn ĐVPD đến trưởng thành Bởi vậy khối lượng
Trang 20này sẽ lớn hơn nhiều lần so với cách xác định trữ lượng dựa trên kết quả của các mẻ lưới, bởi vì lưói chỉ có khả năng đánh bắt được những kích cỡ cá có chiều dài nhất định mà thôi
Mức độ khai thác tối đa cá nổi hàng năm trong vùng biển QĐTS chỉ nên khoảng 64.900 tấn sẽ không gây tổn hại đến cân bằng sinh thái của vùng biển - đảm bảo sử dụng nguồn lợi được lâu bền
Kết quả xác định trữ lượng tức thời của cá nổi bằng lưới rê trôi trong vùng biển khảo sát là 56.705 tấn chỉ bằng 18,35% trữ lượng có được dựa trên nguồn thức ăn trong vùng biển Đây là kết quả tính toán dựa trên những số liệu thu được trong các chuyến khảo sát, các phương pháp tính toán là có cơ sở khoa học, không phải là những số liệu ước tính
Trang 21Trữ lượng tức thời cá nổi (B) khai thác bằng lưới rê
Khối lượng ĐVPD (B) vùng biển QĐTS (1993 - 2003 )
Năng suất sinh học
ĐVPD (P)/năm vùng biển QĐTS (1993 - 2003)
Năng suất sinh học cá nổi (P) vùng biển QĐTS (1993 - 2003)
Trữ lượng cá nổi (B) vùng biển QĐTS (1993 - 2003)
Khả năng khai thác cho phép không gây tổn hại đến cân bằng sinh thái của vùng biển QĐTS
Hình 16 Sơ đồ tương quan giữa khối lượng ĐVPD với khả năng nguồn lợi cá
nổi và mức độ khai thác cho phép trong vùng biển QĐTS
Trang 22kỳ 1993-1997, trong đó có 58 loài tảo Silic và 32 loài tảo Giáp
Đã xác định được 142 giống, 358 loài ĐVPD là thức ăn của cá; trong lần khảo sát này đã bổ sung cho danh mục loài ĐVPD vùng biển QĐTS là 59 loài; nhưng đã không gặp lại 97 loài đã có trong những năm 1993-1997
Qua thống kê, phân tích các chỉ số đa dạng của SVPD, cho thấy vùng biển QĐTS
có tính đa dạng cao, mức độ đa dạng là phong phú và rất phong phú; chất lượng nước của
vùng biển là tốt và rất tốt
Các loài ưu thế nhất của vùng biển là Thalassiotrix frauenfeldi, (tảo Silic);
Eucalanus subcrassus, Undinula darwini, Cypridina noctiluca (Giáp xác), Sagitta enflata (Hàm tơ)
Số lượng trung bình TVPD trong đợt khảo sát là 62.020 tb/m3, lớn hơn thời kỳ 1993-1997 (30.782 tb/m3) và trung bình nhiều năm cho vùng biển là 42.141 tb/m3, thấp hơn so với các vùng biển khác của Việt Nam, nhưng vẫn cao hơn nhiều vùng biển cùng, gần vĩ độ khác Khối lượng trung bình ĐVPD trong đợt khảo sát là 79,11mg/m3 lớn hơn
đợt khảo sát 1993-1997 (42,28mg/m3), trung bình nhiều năm cho vùng biển là 55,67 mg/m3, được xếp tương tự mức độ của vùng biển Trung Bộ và Đông Nam Bộ, thấp hơn so với vùng biển vịnh Bắc Bộ và Tây Nam Bộ (111,13 – 124,42 mg/m3) Với khối lượng
ĐVPD như vậy có thể xếp tương đương hoặc lớn hơn so với các vùng biển gần vĩ độ khác
Tuy vùng biển QĐTS có độ sâu hàng ngàn mét, nhưng các vùng nước trồi vẫn có
ảnh hưởng tốt cho sự phát triển và tập trung của TVPD Các vùng có khối lượng và số lượng ĐVPD phong phú thường không trùng với những nơi có mật độ cao TVPD
Xu thế biến động sản lượng cá đánh bắt được bằng lưới rê trôi cũng như câu vàng của 3 chuyến biển sau của đợt khảo sát hoàn toàn phù hợp với xu thế biến động khối lượng
ĐVPD trong vùng biển
Dựa trên khối lượng ĐVPD, khả năng tối đa nguồn lợi cá nổi của vùng biển QĐTS
được xác định là 309.089 tấn và mức độ cho phép khai thác hàng năm để không gây tổn
hại đến cân bằng sinh thái của vùng biển là 64.900 tấn cá nổi
Trang 23Tài liệu tham khảo
1 Bogdanov D V., V A Sokolov, N S Khromov, 1968 Rạjony vysokọ biologiceskọj I Promyslovoj produktivnosti v Meksikanskom Zalive i Karibskom More Okeanologia
AN SSSR,3
2 Nguyễn Tiến Cảnh,1989 Próba okreslenia biomasy i potencjalnych mozliwosci produkcji ryb w obszarze morskim Wietnamu na podstawie badan planktonu I bentosu Akademia Rolnicza w Szczecinie,1989
3 Nguyễn Tiến Cảnh, 1996 Sinh vật phù du và đông vật đáy biển Việt Nam, tr 148- 172, Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội,1996
4 Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Văn Khôi, Vũ Minh Hào, 2000 Sinh vật phù du vùng biển
đặc quyền kinh tế Việt Nam, tháng 11/2000, Viện nghiên cứu Hải Sản
5 Nguyễn Tiến Cảnh, Vũ Minh Hào, 2000 Distribution, Abundance and Species composition of phytoplankton in the vietnamese seawater, April-May/1999 SEAFDEC 4th Technical Seminar of the Interdepartmental Collaborative Research Program in the South China Sea, area IV: Vietnamese Waters
6 Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Văn Khôi, Vũ Minh Hào, 2001 Sinh vật phù du vùng biển quần đảo Trường Sa Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển, T II, Nhà xuất bản Nông nghiệp
7 Chen Qing Chao and coordinators,1994 Studies on the zooplankton biodiversity of the Nansha islands and neighbouring waters, Oceangraphy Publishing Agency, Pekin, pp
10 Kokubo S., 1960 Khuê tảo phù du NXB Khoa học Kỹ thuật Thượng Hải
11 Konovalova G.V., Orlova T.L., Pautova L.A., 1981 Atlas of marine phytoplankton of Japan Science, Leningrad
12 Qishang Tang, 1987 Changes in biomass of Huanghai sea Ecosystem Huanghai sea Fisheries Research Intitude
13 Sherman K., L.M Alexander,1986, Variability and mângêmnt of large marine ecosystems AAS Selected symposium 99
14 Shirota A., 1966 The plankton of South Vietnam, Fresh Water and Marine Plankton Overseas Technical Cooperation Agency Japan
15 Tranter, D.J., 1962, Zooplankton abundance in Australian Waters Aust J Mar Fresh Res 3,2
Trang 2416 Taylor F.J.R., 1976 Dinoflagellates from the international Indian Ocean Expedition Tuttgart
17 Tr−¬ng Ngäc An, 1993 T¶o Silic phï du biÓn ViÖt Nam NXB Khoa häc va kü thuËt,