Cải cách công tác quản lý: đổi mới công tác quản lý nhà nước về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác phòng chống tham nhũng; xây dựng ISO và áp dụng đối với một số quy trì
Trang 1Thanh tra Chính phủ văn phòng Thanh tra chính phủ
đề tài khoa học cấp bộ
đổi mới công tác quản lý tài chính trong việc thực hiện chế độ tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về biên chế
và quản lý sử dụng kinh phí hành chính của cơ quan Thanh tra chính phủ
(Phần báo cáo tổng thuật)
Chủ nhiệm đề tài : Hà Trọng Công Thư ký đề tài : Phạm Thị Thu Hương
7336
06/5/2009
Năm - 2007
Trang 21 Một số khái niệm cơ bản về tài chính nhà nước, quản lý tài chính Nhà nước
11
1.1Sự cần thiết khách quan của tài chính nhà nước 11 1.2 Khái niệm tài chính nhà nước 12 1.3 Khái niệm về quản lý tài chính nhà nước 14
2 Đặc điểm, vai trò, chức năng của Tài chính nhà nước 16 2.1 Đặc điểm của Tài chính nhà nước 16
2.2 Vai trò của Tài chính nhà nước 17
22
4.2 Nội dung của cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước
25
Trang 3PhÇn 2: Thùc tr¹ng c«ng t¸c qu¶n lý tµi chÝnh cña thanh tra chÝnh phñ trong nh÷ng n¨m qua 32
1 Chøc n¨ng, nhiÖm vô vµ c¬ cÊu tæ chøc cña c¬ quan Thanh tra ChÝnh phñ
3.2 Thùc tr¹ng vÒ c«ng t¸c Qu¶n lý vµ sö dông tµi s¶n 61
3.2.2 ViÖc qu¶n lý vµ sö dông trang thiÕt bÞ, dông cô v¨n phßng 62
Trang 41 Đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành 73
2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí 78
2.2 Giải pháp về tiết kiệm, chống lãng phí 79
2.3 Giải pháp về tiếp tục hoàn chỉnh quy chế chi tiêu nội bộ 80
2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính tại các đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ
Tài liệu tham khảo
Trang 5Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới kinh tế ở nước ta và đã tạo tiền đề cho nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, nhiều thành tựu to lớn của đất nước đạt được trong 20 năm đổi mới đã chứng minh sự đúng
đắn của công cuộc đổi mới Tuy nhiên, sự nghiệp đổi mới của đất nước sẽ thu
được nhiều kết quả hơn nếu như hoạt động quản lý hành chính nhà nước có những bước chuyển biến thích ứng với hoạt động kinh tế Do sự không thích ứng đó nhiều nơi, nhiều lúc đã cản trở sự nghiệp đổi mới kinh tế - xã hội
Để đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước, ngày 17 tháng 9 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010
Triển khai thực hiện các quyết định cải cách hành chính nhà nước là một công việc hết sức quan trọng và quyết định tới mức độ đổi mới, cải cách nền hành chính nhà nước Thanh tra Chính phủ đã xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của mình trong công cuộc cải cách nền hành chính, từ đó đề ra các mục tiêu,
nội dung và tổ chức thực hiện bốn nội dung :
1 Công tác cải cách, xây dựng thể chế: rà soát, xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật quy định về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác phòng chống tham những
2 Công tác tổ chức, cán bộ: kiện toàn công tác cán bộ và tổ chức bộ máy của cơ quan Thanh tra Chính phủ, quy định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn , tổ chức bộ máy và cơ cấu cán bộ của các vụ, đơn vị; quy chế đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ; quy định tiếp nhận, tuyển dụng,
Trang 6luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; quy chế phân cấp quản lý cán bộ;
xây dựng tiêu chuẩn, chế độ chính sách đối với cán bộ
3 Cải cách công tác quản lý: đổi mới công tác quản lý nhà nước về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác phòng chống tham nhũng; xây dựng ISO và áp dụng đối với một số quy trình trong hoạt động hành chính của cơ quan thanh tra; đổi mới về công tác quản lý hành chính, chế độ thông tin, báo cáo, quy định về việc phân cấp thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị trong việc sử dụng biên chế, quản lý và sử dụng kinh phí, tài sản công
4 Công tác chỉ đạo cải cách hành chính: kiện toàn Ban chỉ đạo cải cách hành chính; xây dựng kế hoạch cải cách hành chính của Thanh tra Chính phủ hàng năm và kế hoạch giai đoạn đến 2010; thực hiện việc tổng kết đánh giá
công tác cải cách hành chính hàng năm và của cả giai đoạn
Đổi mới công tác quản lý tài chính là một trong những nội dung của chương trình cải cách hành chính của cơ quan Thanh tra Chính phủ với mục tiêu là tăng cường công tác quản lý tài chính, thực hành tiêt kiệm, tránh lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí, tài sản công, phục vụ tốt hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác phòng chống tham nhũng
đáp ứng được yêu cầu trong sự nghiệp đổi mới
Trong lĩnh vực tài chính, Nhà nước đã và đang tiến hành cải cách tài chính công với mục đích nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của các cơ quan,
đơn vị, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính Nhà nước, trong đó đổi mới công tác quản lý tài chính trong giai đoạn thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước là
một bước đột phá trong quá trình cải cách phương thức quản lý tài chính
Trang 7Sau 8 năm thực hiện thí điểm đổi mới công tác cải cách tài chính tại một
số cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và mở rộng ra các địa phương trong cả nước, đến nay đã mang lại những thành công
đáng khích lệ Tuy nhiên đây mới chỉ là những kết quả ban đầu và vẫn còn
đang trong giai đoạn thí điểm, cần có sự xem xét, đánh giá một cách toàn diện, khách quan tình hình thực hiện và kết quả đạt được, từ đó rút ra những thành công cũng như những hạn chế, tồn tại và tìm ra nguyên nhân trên cơ sở đó có những biện pháp nhằm tiếp tục mở rộng và phát huy hơn nữa hiệu quả của công tác này Mặt khác hoạt động nghiệp vụ của cơ quan thanh tra mang tính
đặc thù khác với các cơ quan hành chính khác, do vậy kinh phí quản lý hành chính phục vụ hoạt động của cơ quan cũng mang tính đặc thù riêng khác với các cơ quan hành chính khác Hàng năm, Thanh tra Chính phủ ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên theo chương trình kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt còn phải giải quyết nhiều vụ việc đột xuất do Thủ tướng Chính phủ giao Đơn vị phải quản lý kinh phí để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, đồng thời thực hành tiết kiệm để tăng thu nhập cho cán bộ công chức của cơ quan trong tổng số kinh phí hàng năm được giao
tự chủ, tự chịu trách nhiệm Điều này đòi hỏi cần thiết phải đổi mới công tác quản lý tài chính sao cho vừa đảm bảo thực hiện đúng các quy định hiện hành của Nhà nước, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan Thanh tra Chính phủ Trong bối cảnh đó, Văn phòng Thanh tra Chính phủ đã nghiên cứu
đề tài: “ Đổi mới công tác quản lý tài chính trong việc thực hiện chế độ tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về biên chế và quản lý sử dụng kinh phí hành chính của cơ quan Thanh tra Chính phủ”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý tài chính của cơ quan hành chính nhà nước
Trang 8- Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý kinh phí hành chính ở cơ quan Thanh tra Chính phủ
- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý kinh phí nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí ở cơ quan Thanh tra Chính phủ nói riêng và ở các cơ quan hành chính nhà nước nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn
của việc quản lý và sử dụng nguồn kinh phí quản lý hành chính của Thanh tra Chính phủ, nguồn kinh phí do ngân sách cấp cho Thanh tra Chính phủ để chi quản lý hành chính
- Phạm vi nghiên cứu: Do ở Thanh tra Chính phủ cơ chế quản lý kinh phí
được phân biệt giữa các đơn vị sự nghiệp và Văn phòng Thanh tra Chính phủ; giữa cơ chế quản lý kinh phí hành chính có tính chất chi đầu tư xây dựng và chi thường xuyên, những cơ chế này có nhiều yêu cầu quản lý nội dung chi riêng, mang tính đặc thù Vì vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài đã không
đi sâu vào phân tích kinh phí các đơn vị sự nghiệp do Thanh tra Chính phủ quản lý và xây dựng cơ bản của Thanh tra Chính phủ
4 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu đề tài
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế, chính sách tài chính cho Thanh tra Chính phủ đề tài tập trung đi sâu tìm hiểu, đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng kinh phí hành chính ở Thanh tra Chính phủ trong giai đoạn chưa thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản
lý hành chính (2004-2005) và đánh giá kết quả sau một năm thực hiện Nghị
định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ và Thông tư liên tịch 03/2006/TTLT-BTC-BNV để đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm, đạt hiệu quả cao
Trang 9Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để lý giải các vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó là các phương pháp: phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp trong các nội dung về lý luận cũng như thực tiễn để làm rõ những đánh giá, nhận
định và rút ra những kết luận cần thiết
5 ý nghĩa, nội dung cơ bản của việc đổi mới quản lý tài chính
Luật Ngân sách Nhà nước, công cụ pháp lý quan trọng trong quản lý ngân sách Nhà nước Đổi mới ngân sách Nhà nước là một yêu cầu tất yếu, là
điều kiện cần thiết để ngân sách Nhà nước thực sự trở thành công cụ điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước Tuy nhiên, việc đổi mới không chỉ thực hiện trong các mối quan hệ vật chất (đổi mới thu, chi và cân đối ngân sách Nhà nước) hoặc chu trình (lập, chấp hành, quyết toán ngân sách Nhà nước) mà quan trọng hơn những nội dung đổi mới phải được thể chế hoá về mặt pháp lý Đó chính
là điều kiện cần để đảm bảo tính khả thi của chính sách đổi mới ngân sách Nhà nước
Cho đến nay, hệ thống văn bản pháp luật về ngân sách Nhà nước ở nước
ta đã hình thành, củng cố ngày càng hoàn thiện Luật Ngân sách Nhà nước và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân sách Nhà nước là cơ sở pháp
lý quan trọng trong cho việc đổi mới cơ chế quản lý ngân sách Nhà nước nói chung và cơ chế quản lý tài chính của đơn vị dự toán thụ hưởng ngân sách nói riêng
Khái quát những nội dung cơ bản của Luật ngân sách Nhà nước, đi sâu nghiên cứu nội dung của Luật ngân sách Nhà nước nghĩa là nghiên cứu và xác
định những quan hệ ngân sách mà các quy phạm pháp luật phải xử lý Nội dung bố cục của Luật phải được xây dựng căn cứ vào các kết quả nghiên cứu
Trang 10về cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của nó, đồng thời, phải xây dựng trên cơ sở các quan điểm sau:
Luật ngân sách nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp và phải thể hiện đúng
xu hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tài chính của Đảng và Nhà nước, triệt
để chống bao cấp, bao biện, chống tập trung quan liêu, thực hiện dân chủ hoá, công khai hoá các hoạt động của ngân sách Nhà nước, tăng cường vai trò điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của Nhà nước
Ngân sách Nhà nước là một thể thống nhất và không thể chia cắt thành nhiều mảng, tất cả các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền không được phép có ngân sách riêng nằm ngoài hệ thống ngân sách nhà nước, không được phép tự tiện sửa đổi các chế độ, định mức thu, chi ngân sách Nhà nước hoặc tự
ý đặt ra các khoản thu, chi trái pháp luật do Quốc hội, Chính phủ hoặc Bộ Tài chính quy định
Tăng cường vai trò của Quốc hội trong việc quyết định dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách Nhà nước và phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước Luật ngân sách Nhà nước phù hợp với đặc điểm và xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, phù hợp với thông lệ quốc tế Bố cục và các quy phạm luật phải đảm bảo tính khoa học, rõ ràng, đơn giản dễ hiểu và có tính khả thi Trước hết, Luật ngân sách Nhà nước phải bao gồm một số quy phạm nhất định nhằm khẳng định bản chất, chức năng, vai trò của ngân sách Nhà nước trong điều kiện mới hiện nay Những quy phạm này không xử lý trực tiếp các quan hệ ngân sách, nhưng nó có tính chất định hướng quan trọng,
nó thể hiện quan điểm của Nhà nước đối với hoạt động của ngân sách Nhà nước và đối với việc sử dụng ngân sách phục vụ cho nhu cầu đời sống kinh tế xã hội
Trang 11Luật ngân sách Nhà nước phải xử lý toàn bộ các quan hệ vật chất giữa Nhà nước và các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư trong hoạt động của ngân sách Nhà nước Các quy phạm đã quy định rõ từng khoản thu, chi của ngân sách Nhà nước, cũng như các hình thức và đối tượng thu, chi Luật hoá bằng các quy phạm của Luật ngân sách Nhà nước về việc sử dụng kinh phí của Nhà nước cho từng mục đích nhất định, trong đó phân định rõ phạm vi
đảm nhiệm của Nhà nước, hết sức tránh tình trạng quy định chung chung
Luật ngân sách Nhà nước xử lý các quan hệ phát sinh trong quá trình vận hành cơ chế quản lý ngân sách Nhà nước Nội dung này rất lớn và rất quan trọng, nó bao gồm các quy phạm pháp luật quy định quan hệ giữa các chủ thể
có liên quan đến tất cả các giai đoạn của chu trình ngân sách, từ giai đoạn lập, duyệt đến giai đoạn chấp hành, kiểm tra, quyết toán ngân sách Nhà nước
Đồng thời, cũng bao gồm các quy phạm quy định những nguyên tắc hoặc nội dung các công tác có liên quan đến chu trình ngân sách như công tác kế toán, thống kê ngân sách Nhà nước, mục lục ngân sách Nhà nước, quỹ ngân sách Nhà nước và quản lý quỹ ngân sách Nhà nước Các quy phạm Luật ngân sách Nhà nước thể hiện rõ trách nhiệm, quyền hạn của các pháp nhân, thể nhân trong quá trình thi hành luật Cuối cùng một nội dung không thể thiếu trong Luật ngân sách Nhà nước là quy định các quy phạm có liên quan đến kỷ luật chấp hành của các đối tượng luật và biện pháp xử lý khi vi phạm luật
Thực hiện việc đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm luật mới quy
định về chế độ quản lý tài chính, đặc biệt là chế độ giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp công lập là một sự đổi mới cơ bản nhất trong giai đoạn hiện nay
Trang 12Tuy nhiên, để Luật ngân sách đi vào cuộc sống sâu hơn nữa đòi hỏi một loạt các công việc chuẩn bị triển khai thực hiện, trong đó việc thực hiện đổi mới quản lý tài chính là một yêu cầu khách quan và có ý nghĩa to lớn, đòi hỏi công tác quản lý chi tiêu tại mỗi đơn vị phải đổi mới trên tất cả các lĩnh vực để
đảm bảo đáp ứng được yêu cầu theo cơ chế quản lý mới, đồng thời phù hợp với hoạt động đặc thù của từng đơn vị
Hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Thanh tra Chính phủ mang tính đặc thù riêng khác với các cơ quan hành chính khác Hàng năm, Thanh tra Chính phủ ngoài việc thực hiện nhiệm vụ theo chương trình kế hoạch đã được duyệt còn thường xuyên phải giải quyết nhiều vụ, việc đột xuất do Ban bí thư và Thủ tướng Chính phủ giao Việc bố trí kinh phí hàng năm phải đảm bảo đáp ứng kịp thời phục vụ nhiệm vụ công tác thường xuyên theo kế hoạch cũng như nhiệm vụ đột xuất được giao Thực hiện cơ chế quản lý tài chính như trước
đây, hàng năm căn cứ vào tổng dự toán kinh phí được giao,Thanh tra Chính phủ căn cứ vào chương trình kế hoạch công tác năm và dự kiến nhiệm vụ công tác đột xuất được giao trong năm để phân bổ dự toán kinh phí cho các nội dung chi và thực hiện quản lý chi tiêu theo tiêu chuẩn, định mức quy định của
Bộ Tài chính Trong năm, nếu kinh phí được giao không đủ thực hiện nhiệm vụ
được giao, Thanh tra Chính phủ làm kế hoạch bổ sung đề nghị Bộ Tài chính cấp để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; trường hợp kinh phí được cấp cuối năm không sử dụng hết được hoàn trả lại ngân sách Thực hiện cơ chế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế, quản lý và sử dụng kinh phí cho đơn vị là một vấn đề hoàn toàn mới, đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý mới, đặc biệt là đối với cơ quan thanh tra thì việc đổi mới cơ chế quản lý lại càng có ý nghĩa rất quan trọng, cơ chế quản lý đó phải đảm bảo vừa phát huy được tính chủ động trong việc bố trí sử dụng kinh phí để thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, phù hợp với điều kiện hoạt động thực tế
Trang 13của Thanh tra Chính phủ, đồng thời thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo
điều kiện tăng thu nhập, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công chức, viên chức của cơ quan
Hệ thống hoá và làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về quản lý hành chính nhà nước và cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước Trên cơ sở thực tiễn về những hạn chế của cơ chế quản lý kinh phí hành chính của Thanh tra Chính phủ trong một thời gian dài trước đây, đề tài đã khẳng định sự cần thiết phải thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh phí hành chính cho cơ quan Thanh tra Chính phủ
Đề tài đã khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện tình hình quản lý và sử dụng kinh phí quản lý hành chính ở Thanh tra Chính phủ và một số cơ quan nhà nước trong thời gian qua Những nội dung được phân tích, đánh giá khá cụ thể trên các mặt cần đạt được của mục đích là đổi mới cơ chế quản lý kinh phí hành chính; kiện toàn tổ chức bộ máy để nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí và tăng thu nhập cho cán bộ, công chức
Trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và những quan
điểm có tính nguyên tắc của đổi mới cơ chế “quản lý kinh phí hành chính”, đề tài đã đề xuất đồng bộ các giải pháp từ chủ trương, nhận thức đến cơ chế, chính sách cũng như công tác tổ chức thực hiện, nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí quản lý hành chính của cơ quan nhà nước nói chung
và cơ quan Thanh tra Chính phủ nói riêng
6 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết khách quan và cơ sở pháp lý của quản lý tài
Trang 14chính nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính của Thanh tra Chính
phủ trong những năm qua
Chương 3: Các biện pháp đổi mới quản lý để nâng cao hiệu quả trong
công tác quản lý kinh phí hành chính của Thanh tra Chính phủ
Trang 151.1 Sự cần thiết khách quan của tài chính nhà nước
Lịch sử loài người đã chứng minh rằng, vào thời kỳ công xã nguyên thuỷ bắt đầu tan ra, phân công lao động xã hội đã bắt đầu phát triển, năng suất lao động xã hội được nâng cao, sản phẩm thặng dư xuất hiện Cũng vào thời kỳ này bắt đầu xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội được phân chia thành giai cấp và
có sự đấu tranh giai cấp Trong điều kiện đó, nhà nước đã xuất hiện và thúc
đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất hàng hoá tiền tệ
Để duy trì sự tồn tại và vận hành của bộ máy nhà nước, phát triển xã hội Nhà nước đã sử dụng hình thức tiền tệ để phân phối của cải trong xã hội
và thu nhập quốc dân bằng sự đóng góp của các chủ thể kinh tế xã hội dưới hình thức thuế như thuế bằng tiền, công trái để tạo lập ra các quỹ tiền tệ phục
vụ cho việc thực hiện các chức năng của mình Từ đó xuất hiện phạm trù tài chính
Mặt khác quá trình tái sản xuất trải qua 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao
đổi và tiêu dùng Từ lĩnh vực phân phối đã nảy sinh ra phạm trù tài chính Tuy vậy, không phải cứ có phân phối là có tài chính mà tài chính xuất hiện cùng với sự ra đời của sản xuất hàng hoá và tiền tệ Sự xuất hiện sản xuất hàng hoá tiền tệ là tiền đề kinh tế của tài chính nhà nước, việc xuất hiện chế độ tư hữu,
Trang 16xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp là nguồn gốc xã hội của tài chính nhà nước
Như vậy, tài chính nhà nước là một bộ phận hữu cơ của nền tài chính quốc gia Nó ra đời, tồn tại và phát triển gắn với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và sự phát triển nền kinh tế hàng hoá, tiền tệ Nhà nước xuất hiện đồi hỏi phải có nguồn lực vật chất nhất định để nuôi sống bộ máy và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội do cộng đồng giao phó Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, các nguồn lực vật chất đó không những đã được tiền tệ hoá
mà còn ngày càng trở nên dồi dào Chính trong những điều kiện như vậy, Tài chính nhà nước mới ra đời, tồn tại và phát triển
Trước đây tài chính nhà nước là công cụ để phân phối của cải xã hội, tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm nuôi bộ máy nhà nước, thực hiện chức năng cai trị Ngày nay, ngoài vai trò truyền thống của mình là cung cấp nguồn lực cho việc duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, đảm bảo cai trị xã hội, tài chính Nhà nước, còn là công cụ động viên, khai thác mọi nguồn lực tài chính của xã hội tạo nên sức mạnh tài chính Nhà nước và là công cụ quản lý, điều chỉnh mọi hoạt động kinh tế, xã hội của mọi quốc gia, do đó sự tồn tại, phát triển tài chính Nhà nước là một đòi hỏi khách quan và hết sức cần thiết
1.2 Khái niệm tài chính nhà nước
Trong thực tiễn đời sống xã hội, hoạt động tài chính thể hiện ra như là các hiện tượng thu chi bằng tiền – sự vận động của các nguồn tài chính – gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định Trên phạm vi toàn
bộ nền kinh tế, gắn liền với sự hoạt động của các chủ thể trong lĩnh vực kinh tế
- xã hội khác nhau có các quỹ tiền tệ khác nhau được hình thành và sử dụng
Ví dụ như quỹ tiền tệ của các hộ gia đình, quỹ tiền tệ của các doanh nghiệp, quỹ tiền tệ của nhà nước, bảo hiểm, tín dụng Quỹ tiền tệ của Nhà nước là
Trang 17một bộ phận hợp thành của hệ thống các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế và có mối quan hệ hữu cơ với các quỹ tiền tệ khác đi liền với mối quan hệ ràng buộc phụ thuộc giữa các chủ thể kinh tế - xã hội trong khi tham gia phân phối các nguồn tài chính
Gắn với chủ thể là Nhà nước, các quỹ tiền tệ của Nhà nước mang tính
đặc thù là việc tạo lập và sử dụng chúng luôn gắn với quyền lực chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng kinh tế- xã hội của Nhà nước Nói một cách khác các quỹ tiền tệ của Nhà nước là tổng số các nguồn lực tài chính
đã được tập trung vào trong tay nhà nước, thuộc quyền nắm giữ của Nhà nước
và được Nhà nước sử dụng cho việc thực hiện các sứ mệnh xã hội của mình
Quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước kể trên chính là quá trình Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền của tài chính Nhà nước Các hoạt động thu, chi bằng tiền đó là mặt biểu hiện bên ngoài của tài chính nhà nước, còn các quỹ tiền tệ nhà nước nắm giữ là biểu hiện nội dung vật chất của tài chính nhà nước
Tài chính nhà nước là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước, tài chính nhà nước phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội nảy sinh trong qúa trình nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính
Trong điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, thích ứng với những chế độ
sở hữu khác nhau, tài chính nhà nước chịu sự quy định bởi bản chất và phạm vi chức năng của nhà nước Tài chính nhà nước thực sự trở thành công cụ của nhà nước để phục vụ và thực hiện các chức năng của Nhà nước Nhà nước sử dụng
Trang 18tài chính nhà nước thông qua các chính sách thu, chi của tài chính nhà nước để tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu vĩ mô
do nhà nước định hướng
Trong điều kiện hiện nay, với xu hướng hoà nhập, hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, các hoạt động thu, chi của tài chính nhà nước không chỉ diễn ra trong phạm vi nội
bộ nền kinh tế mà còn được thực hiện trong quan hệ kinh tế với các quốc gia khác
1.3 Khái niệm về quản lý tài chính nhà nước
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, nhưng nhìn chung có thể hiểu: quản lý, đó là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng việt gốc Hán) phản ánh hai quá trình gắn bó hữu cơ với nhau: Quá trình “quản” là sự duy trì một hệ thống ở trạng thái ổn
định; quá trình “lý” là sự đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển Nếu người
đứng đầu tổ chức chỉ lo “quản” thì tổ chức dễ trì trệ; nhưng nếu chỉ quan tâm
đến “lý” tức là chỉ lo đổi mới, mà không đặt trên nền tảng ổn định thì phát triển sẽ không bền vững Vì vậy, khi “quản” phải có “lý” và “lý” phải có
“quản” để hệ thống ở thế cân bằng động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả
Dưới góc độ khái niệm, có thể hiểu quản lý tài chính nhà nước bằng nhiều cách khác nhau Có thể hiểu quản lý tài chính nhà nước là sự phối hợp các mặt hoạt động của tài chính nhà nước nhằm đạt đến những mục tiêu đã
Trang 19song khi đề cập đến quản lý tài chính nhà nước điều quan trọng là phải hiểu
được: quản lý tài chính nhà nước là quản lý cái gì, quản lý bằng cách nào, ai là chủ thể của sự quản lý đó, quản lý để làm gì? Từ cách đặt vấn đề như vậy, có
thể hiểu: Quản lý tài chính nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh
quá trình hoạt động của tài chính nhà nước Sự tác động đó được thực hiện bởi
hệ thống các cơ quan nhà nước bằng phương pháp hành chính, tổ chức, kinh tế
và bằng hệ thống luật pháp nhằm đạt được những mục tiêu mà Nhà nước quy
định trong từng giai đoạn lịch sử
Như vậy, cần hiểu khái niệm quản lý tài chính nhà nước bao hàm hai nội dung quan trọng sau:
Một là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở đây được hiểu là
sự sắp xếp, bố trí các mặt hoạt động của tài chính nhà nước, đồng thời là sự thiết lập bộ máy quản lý các mặt hoạt động của tài chính nhà nước Điểu chỉnh
ở đây được hiểu là quá trình chỉnh đốn lập lại kỷ cương trong quá trình hoạt
động của tài chính nhà nước bằng việc ban hành và thực hiện các quyết định, các quy tắc, tiêu chuẩn, định mức
Hai là Sự tác động bằng các phương pháp hành chính, tổ chức kinh tế và
bằng hệ thống luật pháp Phương pháp hành chính ở đây được hiểu là biện pháp tác động trực tiếp của nhà nước đối với các chủ thể sử dụng nguồn lực của tài chính nhà nước bằng việc ra các mệnh lệnh hành chính, bắt buộc và
đảm bảo sự tuân thủ một cách vô điều kiện
Phương pháp tổ chức ở đây được hiểu là biện pháp sắp xếp, bố trí các hoạt động của tài chính nhà nước vào những khuôn mẫu đã được định hình của cơ quan quyền lực Phương pháp kinh tế ở đây được hiểu là biện pháp dùng lợi ích vật chất, các đòn kinh tế tác động vào các chủ thể tổ chức quá trình hoạt
động tài chính nhà nước
Trang 20Quản lý tài chính nhà nước bằng hệ thống các quy phạm pháp luật là sự quản lý dựa trên những điều khoản quy định trong hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực tài chính nhà nước để điều hành mọi hoạt động của tài chính nhà nước
từ hoạt động chi đến cân đối, phân cấp quản lý tài chính nhà nước giữa các cấp chính quyền
Mục tiêu của quản lý tài chính nhà nước là phục vụ cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Nhà nước của chúng ta là “ Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” nên suy cho cùng, mục tiêu quản lý tài chính nhà nước là vì lợi ích của nhân dân, quản lý tài chính nhà nước là thực chất là quản lý con người, cần giải quyết hài hoà mối quan hệ vì lợi ích kinh tế giữa xã hội (đại diện là nhà nước) với các chủ thể của nền kinh tế trong quá trình phân phối sản phẩm xã hội để tạo lập, sử dụng các quỹ tài chính nhà nước, đáp ứng nhu cầu xã hội
2 Đặc điểm, vai trò, chức năng của Tài chính nhà nước
2.1 Đặc điểm của Tài chính nhà nước
Luôn luôn gắn liền với việc thực hiện các chức năng nhiều mặt của Nhà nước, hoạt động của tài chính nhà nước cũng rất đa dạng, liên quan đến mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội Chính nét đặc thù đó là nhân tố có ảnh hưởng quyết
định tới các đặc điểm của tài chính Nhà nước trên các khía cạnh sau đây:
- Đặc điểm về nguồn hình thành thu nhập của tài chính nhà nước
+ Thu nhập của Tài chính nhà nước có thể được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nước và ngoài nước, từ nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, cả sản xuất, lưu thông và phân phối, nhưng nét đặc trưng là luôn gắn chặt với kết quả của hoạt động kinh tế trong nước và sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, thu nhập, lãi suất
Trang 21+ Thu nhập của tài chính nhà nước có thể được lấy về bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, có bắt buộc và tự nguyện, có hoàn trả và không hoàn trả, ngang giá và không ngang giá nhưng nét đặc trưng là luôn gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước, thể hiện tính cưỡng chế bằng hệ thống luật lệ do Nhà nước quy định và mang tính không hoàn trả là chủ yếu
- Đặc điểm về tính chất sở hữu của tài chính nhà nước: Tài chính nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước, do đó Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định việc sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước
- Đặc điểm về tính hiệu quả của chi tiêu tài chính nhà nước: Chi tiêu của tài chính Nhà nước là việc phân phối sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước
- Đặc điểm về phạm vi hoạt động của tài chính nhà nước: Gắn liền với
bộ máy Nhà nước, phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước và vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế, phạm vi ảnh hưởng của tài chính Nhà nước rất rộng rãi, có thể tác động tới các hoạt động khác nhau trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội
2.2 Vai trò của tài chính nhà nước
- Tài chính Nhà nước đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước Khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính để đáp ứng đầy đủ kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển; phân phối các nguồn tài chính đã tập trung được vào tay Nhà nước cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước theo những quan hệ tỷ lệ hợp lý nhằm vừa đảm bảo duy trì sự tồn tại và tăng cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước, vừa đảm bảo thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước đối với các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế; Kiểm tra giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối được sử dụng một cách hợp lý, tiết
Trang 22kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của quản lý Nhà nước
và phát triển kinh tế xã hội
- Tài chính Nhà nước trong hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc dân: tài chính nhà nước chi phối các hoạt động tài chính khu vực phi nhà nước; hoạt
động của tài chính nhà nước luôn gắn liền và phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước; điều chỉnh các hoạt động của tài chính phi nhà nước
- Tài chính nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Tài chính nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh
tế, tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế – xã hội; thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội; thực hiện mục tiêu ổn định của kinh tế vĩ mô
2.3 Chức năng của tài chính nhà nước
- Chức năng phân bổ nguồn lực của tài chính Nhà nước là chức năng mà nhờ vào đó các nguồn lực thuộc quyền chi phối của Nhà nước được tổ chức, sắp xếp, phân phối một cách có tính toán, cân nhắc theo những tỷ lệ hợp lý nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế – xã hội của việc sử dụng các nguồn tài lực đó và bảo đảm cho nền kinh tế phát triển vững chắc và ổn định theo các tỷ
lệ cân đối đã định của chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
- Chức năng phân phối thu nhập của tài chính nhà nước là chức năng mà nhờ đó Tài chính nhà nước được sử dụng vào việc phân phối và phân phối lại các nguồn tài chính trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong phân phối và hưởng thụ kết quả sản xuất của xã hội
- Chức năng điều chỉnh và kiểm soát là khả năng khách quan của tài chính nhà nước để có thể thực hiện việc điều chỉnh lại quá trình phân phối và
Trang 23nguồn lực tài chính và xem xét lại tính đúng đắn, tính hợp lý của các quá trình phân phối trong mọi lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân
3 Các công cụ quản lý tài chính nhà nước
Để quản lý các hoạt động kinh tế xã hội, Nhà nước phải sử dụng các công cụ quản lý của mình, có thể kể ra như: Pháp luật, kế hoạch, hạch toán, Ngân sách Nhà nước
3.1 Pháp luật
Trong lĩnh vực tài chính, Nhà nước sử dụng pháp luật đặc biệt kể đến Luật Ngân sách Nhà nước để quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng Ngân sách Nhà nước lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả tiền của Nhà nước, tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại
3.2 Kế hoạch
Kế hoạch tốt là một công cụ đắc lực giúp Nhà nước và đánh giá các khả năng hiện có và cố gắng tối đa đạt được những mục tiêu quan trọng kịp thời hoạt động trước khi chúng trở thành cấp bách Trong lĩnh vực quản lý tài chính Nhà nước, việc sử dụng kế hoạch làm công cụ quản lý được thể hiện ở tất cả các khâu lập, chấp hành dự toán, quyết toán, kiểm tra Ngân sách
3.3 Hạch toán
Hạch toán là một hệ thống điều tra, quan sát, thanh toán đo lường và sao chép các quá trình kinh tế nhằm quản lý các quá trình đó theo những mục tiêu nhất định Hạch toán trước hết là kế toán được coi là tai mắt của quản lý Nhờ
kế toán có thể nhận biết, kiểm tra một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác tình
Trang 24hình kết quả thu, chi tài chính Nhà nước Kế toán tài chính Nhà nước cung cấp những số liệu (tư liệu) cần thiết cho quá trình lập, chấp hành cũng như quyết toán Ngân sách Nhà nước Do đó, hạch toán nói chung, kế toán nói riêng là công cụ sắc bén để quản lý tài chính Nhà nước
3.4 Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế – lịch sử gắn liền với sự ra
đời của Nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hoá - tiền tệ Nói một cách khác,
sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá - tiền tệ như những
điều kiện cần và đủ cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của Ngân sách Nhà nước
Biểu hiện bên ngoài, Ngân sách Nhà nước là một bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định Chính phủ dự toán các nguồn thu vào quỹ Ngân sách Nhà nước, đồng thời dự toán các khoản phải chi cho hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng từ quỹ Ngân sách Nhà nước Như vậy, đặc trưng chủ yếu của Ngân sách Nhà nước là tính dự toán các khoản thu bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
Trong thực tiễn, hoạt động Ngân sách Nhà nước là hoạt động thu(tạo lập) và chi tiêu(sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị Hoạt động thu chi của Ngân sách Nhà nước là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế, xã hội của Nhà nước ở tầm vĩ mô trong hệ thống tài chính nói chung, cũng như trong khu vực tài chính Nhà nước nói riêng, Ngân sách Nhà nước luôn luôn giữ
vị trí trọng yếu trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho sự tồn tại đối với các hoạt động của Nhà nước
Trang 25Thứ nhất, Ngân sách Nhà nước là kế hoạch tài chính vĩ mô trong kế hoạch tài chính Nhà nước để quản lý các hoạt động kinh tế – xã hội Chính vì vậy, Ngân sách Nhà nước có vị trí quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề tài chính vĩ mô và các cân đối vĩ mô của nền kinh tế
Thứ hai, xét về mặt thực thể, Ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước Nguồn hình thành của quỹ Ngân sách là từ tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và từ các nguồn tài chính khác Mục đích sử dụng của quỹ là nhằm duy trì sự tồn tại của Nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước
Thứ ba, Ngân sách Nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính nhà nước
Từ những phân tích biểu hiện trên, có thể đưa ra quan niệm chung về Ngân sách Nhà nước sau đây:
Xét theo hình thức biểu hiện bên ngoài và ở trạng thái tĩnh, Ngân sách Nhà nước là một bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định theo những tiêu thức và phương pháp nhất định nhằm phục vụ cho việc quản lý điều hành cũng như việc kiểm tra và phân tích các hoạt động Ngân sách Nhà nước một cách thuận lợi và thống nhất
Xét về thực chất và trạng thái động, Ngân sách Nhà nước là kế hoạch tài chính vĩ mô và là khâu tài chính chủ đạo của hệ thống tài chính Nhà nước,
được Nhà nước sử dụng để phân phối một bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu
Trang 26- Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước Nói một cách cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nước và các chức năng của nó là những nhân tố trực tiếp quyết định mức thu, mức chi, nội dung
và cơ cấu thu chi của Ngân sách Nhà nước
- Các hoạt động thu chi của Ngân sách Nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhât định Đó là các luật thuế, chế độ thu, chế độ chi tiêu, tiêu chuẩn định mức chi tiêu do Nhà nước ban hành Việc dựa trên cơ
sở pháp luật để tổ chức các hoạt động thu, chi của Ngân sách Nhà nước là một yêu cầu có tính khách quan, nó bắt nguồn từ phạm vi hoạt động của Ngân sách Nhà nước được tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động tới mọi chủ thể kinh
tế, xã hội; từ tính chất, tác dụng của các khoản thu, chi của Ngân sách Nhà nước
- Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên Ngân sách Nhà nước, một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến
- ẩn sau các hoạt động thu chi của Ngân sách Nhà nước là việc xử lý các mối quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia
4 Cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước
4.1 Khái niệm và vai trò của cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan nhà nước
Cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan nhà nước được hiểu là một
tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý
Trang 27các hoạt động tài chính của các cơ quan nhà nước trong những điều kiện cụ thể, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
Cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan nhà nước, một mặt phải thừa nhận và vận dụng quy luật khách quan của cơ chế quản lý kinh tế vận hành trong nền kinh tế thị trường, mặt khác phải biết sử dụng các phương pháp thích hợp về mặt tài chính nhằm tác động vào sự vận hành của các cơ quan nhà nước theo các mục tiêu mong muốn Tác động của cơ chế quản lý tài chính dù
là phù hợp hay chưa phù hợp, trực tiếp hay gián tiếp, nhanh hay chậm, ít hay nhiều đều làm thay đổi trạng thái hoạt động của các cơ quan nhà nước Tác
động của cơ chế quản lý tài chính vào các cơ quan nhà nước có thể diễn ra theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực, theo hướng tích cực có nghĩa là cơ chế quản lý tài chính tác động cùng chiều, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của hoạt động trong cơ quan nhà nước, thúc đẩy cho các cơ quan nhà nước phát triển theo xu hướng tiến bộ của thời đại Ngược lại, cơ chế quản lý tài chính làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước vận động theo hướng không phát huy được mặt tích cực, làm nảy nở các mặt tiêu cực xét trên nhiều phương diện thì cơ chế đó hạn chế sự phát triển của các cơ quan nhà nước
Để cơ chế quản lý tài chính đạt được hiệu quả trong các hoạt động của cơ quan nhà nước cần phải hiểu rõ vai trò của nó, do đó cơ chế quản lý tài chính có vai trò quan trọng đối với các cơ quan nhà nước, thể hiện ở 2 khía cạnh sau:
- Đối với các cơ quan hành chính nhà nước:
Một là, để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy của các cơ quan hành
chính nhà nước cần có các nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu
do đó cơ chế quản lý tài chính góp phần khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính để đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được
Trang 28cơ quan hành chính dự tính cho từng thời kỳ phát triển Các nguồn tài chính này có thể được khai thác và thu hút ở trong nước và từ nước ngoài, từ mọi lĩnh vực hoạt động và mọi thành phần kinh tế, dưới nhiều hình thức khác nhau, có tính bắt buộc và tự nguyện, có hoàn trả và không hoàn trả
Hai là, Cơ chế quản lý tài chính có vai trò phân phối các nguồn tài chính
đã tập trung được vào tay các cơ quan hành chính nhà nước cho các nhu cầu chi tiêu theo những quan hệ tỷ lệ hợp lý nhằm đảm bảo duy trì sự tồn tại và tăng cường sức mạnh của bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước, vừa đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế; phân phối các nguồn tài chính
được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội
Ba là, cơ chế quản lý tài chính có vai trò chi phối, thúc đẩy các hoạt
động của cơ quan hành chính nhà nước Một mặt cơ chế quản lý tài chính có nhiệm vụ để thực hiện các khoản thu chi của tài chính nhà nước để tạo lập các quỹ tiền tệ chung của nhà nước, đóng góp cho việc thực hiện các nhu cầu chung của xã hội và nhu cầu riêng của các cơ quan hành chính nhà nước Mặt khác với quy mô lớn của các quỹ tiền tệ chung của Nhà nước đặc biệt là ngân sách nhà nước đầu tư cho các cơ quan hành chính nhà nước các nguồn kinh phí phục vụ các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì bộ máy hoạt động theo những định hướng phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước
- Đối với các cơ quan quản lý cấp trên:
Một là, cơ chế quản lý tài chính là căn cứ để các cơ quan quản lý cấp
trên thể hiện các hoạt động tài chính của mình là quản lý hoạt động kinh phí các cơ quan hành chính nhà nước thông qua các quy định của văn bản pháp lý
Trang 29đối với các hoạt động tài chính của cơ quan nhà nước đã tạo nên sự thống nhất, phối hợp nhịp nhàng, hài hoà trong hoạt động tài chính của từng cơ quan và giữa các cơ quan trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trên cơ sở đó nhà nước có thể quản lý và định hướng được hoạt động tài chính của các cơ quan
nhà nước
Hai là, việc tuân thủ theo một cơ chế nhất định, nhằm đảm bảo trật tự
chung trong hoạt động tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước, cơ chế quản lý tài chính giúp cho các cơ quan quản lý cấp trên kiểm tra, giám sát để
có thể phát hiện những điểm bất hợp lý, những sự chệch hướng trong quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn kinh phí của các cơ quan hành chính nhà nước và
từ đó để cơ quan quản lý cấp trên có các biện pháp điều chỉnh các quá trình kể trên đảm bảo các nguồn tài chính vận động đúng hướng và nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chúng trong những điều và hoàn cảnh nhất định đối với từng cơ quan hành chính nhà nước cụ thể
Vì vậy cơ chế quản lý tài chính nếu phù hợp với xu hướng phát triển khách quan và tình hình thực tế của các cơ quan nhà nước sẽ giúp cho các cơ quan nhà nước phát triển, còn ngược lại thì cơ chế quản lý tài chính có thể làm cản trở hoặc kìm hãm sự phát triển của các cơ quan nhà nước
4.2 Nội dung của cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước
Xuất phát từ đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, nội dung cụ thể của cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước thể hiện gồm các vấn đề sau:
4.2.1 Cơ chế quản lý thu:
Trang 30Nguồn tài chính cơ bản của các cơ quan hành chính nhà nước do NSNN cung cấp để các cơ quan bảo đảm hoạt động, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Ngoài nguồn ngân sách nhà nước cấp, cơ quan hành chính nhà nước
được nhà nước cho phép khai thác một số khoản thu để bổ sung nguồn tài chính hoạt động và trang trải một phần chi phí khi thực hiện nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng nguồn tài chính đó
- Kinh phí do NSNN cấp gồm: kinh phí thường xuyên được cấp ổn định trong từng năm; kinh phí đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị…
- Các khoản thu từ phí, lệ phí được để lại theo chế độ quy định
- Các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật: thu do tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước viện trợ, biếu tặng…
Đối với nguồn thu phí, lệ phí được để lại và các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật được hoà vào nguồn kinh phí thực hiện tự chủ của cơ quan (trừ số phí, lệ phí được để lại để mua sắm tài sản cố định và các quy định khác - nếu có)
4.2.2 Cơ chế quản lý chi tiêu
* Các khoản chi thường xuyên:
Khoản kinh phí quản lý hành chính giao cho các cơ quan hành chính nhà nước để thực hiện chế độ tự chủ được xác định và giao hàng năm trên cơ
sở biên chế được cấp có thẩm quyền giao, kể cả biên chế dự bị (nếu có) và
định mức phân bổ NSNN tính trên biên chế và các khoản chi hoạt động nghiệp
vụ đặc thù theo chế độ quy định và tình hình thực hiện dự toán năm trước
Trang 31- Các khoản chi thanh toán cho cá nhân: tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương, tiền thưởng, tiền phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định;
- Chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi phí thuê mướn, chi vật tư văn phòng phẩm, thông tin, tuyên truyền liên lạc;
- Chi hội nghị, công tác phí trong nước, chi các đoàn đi công tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam;
- Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn;
- Các khoản chi đặc thù của ngành, chi may sắm trang phục (theo quy
định của cơ quan có thẩm quyền);
- Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện, vật tư, sửa chữa tài sản cố định;
- Các khoản chi có tính chất thường xuyên khác
Các cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ tài chính được chủ động,
bố trí kinh phí trên cơ sở chế độ, định mức chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước Nếu thấy cần thiết các cơ quan hành chính nhà nước được tự bố trí
số kinh phí được giao vào các mục chi cho phù hợp, được quyền điều chỉnh giữa các mục chi, quyết định các mức chi trong phạm vi nguồn kinh phí được
sử dụng nhưng không được vượt quá mức chi tối đa do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
* Các khoản chi không thường xuyên
Ngoài kinh phí quản lý hành chính giao để thực hiện chế độ tự chủ theo quy định, hàng năm các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chế độ tự chủ còn được ngân sách nhà nước bố trí kinh phí để thực hiện một số nhiệm vụ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền giao
Trang 32- Kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn TSCĐ;
- Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước;
- Kinh phí đóng niêm liễm, vốn đối ứng các dự án theo hiệp định với các
tổ chức quốc tế;
- Chi thực hiện các nhiệm vụ có tính đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Kinh phí thực hiện tinh giản biên chế (nếu có);
- Kinh phí nghiên cứu khoa học;
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên khác
Việc phân bổ, quản lý, sử dụng các khoản kinh phí này thực hiện theo các quy định hiện hành
4.2.3 Cơ chế phân phối phần chi tiết kiệm được.
Kết thúc năm ngân sách, sau khi đã hoàn thành các nhiệm vụ công việc
được giao, cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chế độ tự chủ có số chi thực
tế thấp hơn dự toán kinh phí quản lý hành chính được giao thực hiện chế độ tự
Trang 33chủ thì phần chênh lệch này được xác định là kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được
Nguồn kinh phí tiết kiệm trong năm được sử dụng:
- Bổ sung thu nhập cho cán bộ công chức Hệ số tăng thêm quỹ tiền lương tối đa không quá 1 lần so với mức tiền lương cấp bậc, chức vụ của đơn
vị Đơn vị xây dựng phương án chi trả cho từng cán bộ công chức (hoặc cho từng bộ phận trực thuộc) theo nguyên tắc phải gắn với hiệu quả, kết quả công việc của từng người) hoặc của từng bộ phận trực thuộc);
- Chi khen thưởng, phúc lợi cho cán bộ, công chức;
- Lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập đối với cơ quan mà khả năng tiết kiệm kinh phí không ổn định
Số kinh phí tiết kiệm được, cuối năm chưa sử dụng hết được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng Thủ trưởng các cơ quan quản lý hành chính thực hiện chế độ tự chủ quyết định phương án sử dụng kinh phí tiết kiệm nêu trên sau khi thống nhất ý kiến bằng văn bản với tổ chức Công đoàn cơ quan
4.2.4 Cơ chế quản lý tài sản ở cơ quan hành chính nhà nước
Tài sản trong cơ quan hành chính nhà nước bao gồm TSCĐ và TSLĐ TSCĐ của cơ quan hành chính nhà nước bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình
Các cơ quan hành chính nhà nước được chủ động lựa chọn các phương
án đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị công nghệ hoặc thay đổi cơ cấu tài sản cố định phù hợp với mục tiêu của cơ quan hành chính nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng nguồn hình thành tài sản theo các quy định hiện hành của nhà nước
Trang 34Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trích khấu hao tài sản, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản theo nguyên tắc có hiệu quả, nâng cao hiệu suất sử dụng và bảo đảm các thủ tục theo quy định của pháp luật và nhà nước
Cơ quan hành chính nhà nước được quyền chủ động và có trách nhiệm nhượng bán, thanh lý tài sản đã hết thời gian sử dụng hoặc lạc hậu về kỹ thuật hoặc hư hỏng nặng hoặc không có nhu cầu sử dụng, các khoản đầu tư dài hạn không có nhu cầu tiếp tục đầu tư để thu hồi vốn
Có trách nhiệm mở sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản cũng như phản ánh tình hình biến động của tài sản và nguồn hình thành tài sản trong quá trình sử dụng
Cơ quan hành chính nhà nước phải tổ chức thống kê, xác định số lượng tài sản đối chiếu với số liệu ghi sổ kế toán trước khi khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính cuối năm; đối với tài sản thừa, thiếu cần xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của những người có liên quan và xác định mức bồi thường vật chất theo qui định
4.2.5 Cơ chế kiểm soát thu chi ở cơ quan hành chính nhà nước
Tất cả các khoản thu chi ngân sách phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình tạo lập, cấp phát thanh toán thực hiện theo nguyên tắc tạo lập, quản
lý cấp phát, thanh toán nguồn kinh phí để thực hiện chế độ tự chủ và nguồn kinh phí giao không thực hiện chế độ tự chủ qua kho bạc nhà nước
Các khoản thu, chi phải có trong dự toán ngân sách nhà nước được cấp
có thẩm quyền giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi kinh phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc mức chi theo quy chế chi tiêu nội
bộ của đơn vị và đã được thủ trưởng đơn vị thực hiện chế độ tự chủ hoặc người
được uỷ quyền quyết định chi
Trang 35Mọi khoản thu, chi kinh phí được hạch toán bằng đồng Việt Nam, theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục ngân sách nhà nước hiện hành Các khoản thu chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao
động được qui đổi và hạch toán chi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan có thẩm quyền quy định
Trong quá trình quản lý tạo lập nguồn thu, thanh toán, quyết toán chi kinh phí các khoản thu chi sai phải thu hồi Căn cứ vào quy định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi cho Ngân sách nhà nước
Trang 36Phần 2
Thực trạng công tác quản lý tài chính của Thanh
tra Chính phủ trong những năm qua
1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ quan Thanh tra Chính phủ
Chức năng nhiệm vụ của Thanh tra Chính phủ được quy định tại Nghị
định số 55/2005/NĐ-CP ngày 25/4/2005 của Chính phủ:
Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, có chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụ quyền hạn thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng ngừa, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ:
- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương
- Thanh tra vụ việc có liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ của nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Thanh tra các vụ việc khác do Thủ tướng Chính phủ giao
- Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
- Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng
Trang 37- Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra, về khiếu nại tố cáo, về phòng chống tham nhũng trình cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền; hướng dẫn tuyên truyền, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về thanh tra, về khiếu nại tố cáo, phòng chống tham nhũng
- Chỉ đạo, hướng dẫn công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra; bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra
- Tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo, phòng chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Chính phủ; tổng kết đúc rút kinh nghiệm về các mặt công tác trên
- Thực hiện hợp tác quốc tế về công tác thanh tra, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định pháp luật
2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tài chính của cơ quan Thanh tra Chính phủ
2.1 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ
* Theo quy định tại Nghị định số 55/2005/NĐ-CP ngày 25/4/2005 của Chính phủ, cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ gồm có:
- Vụ Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo khối kinh tế ngành (gọi tắt
Trang 38- Vụ Thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo khu vực 1 (gọi tắt là Vụ IV)
- Vụ Thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo khu vực 2 (gọi tắt là Vụ V)
- Vụ Tiếp dân và xử lý đơn thư (gọi tắt là Vụ VI)
+ Viện Khoa học Thanh tra
+ Trường cán bộ Thanh tra
+Báo Thanh tra
+ Tạp chí Thanh tra
+ Trung tâm Tin học
* Căn cứ Quyết định số 1424/QĐ-TTg ngày 31/10/2006 của Thủ tướng
Chính phủ : Thành lập Cục Chống tham nhũng thuộc cơ quan Thanh tra Chính
phủ
Thanh tra Chính phủ là đơn vị dự toán cấp chủ quản(cấp I) vì trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm do Chính phủ và Bộ Tài chính giao, phân bổ dự toán ngân sách cho 6 đơn vị cấp dưới, chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc
tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc
Thanh tra Chính phủ có 6 đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc, đó là
Trang 39- Văn phòng Thanh tra Chính phủ: Quản lý và sử dụng kinh phí phục vụ hoạt động của đơn vị trực thuộc Thanh tra Chính phủ đó là: Vụ 1, Vụ 2, Vụ 3,
Vụ 4, Vụ 5, Vụ 6, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ pháp chế, Vụ Hợp tác quốc tế và các phòng của Văn phòng
- Viện khoa học Thanh tra: là đơn vị sự nghiệp khoa học được giao quản
lý và sử dụng kinh phí phục vụ hoạt động của Viện Khoa học Thanh tra và kinh phí nghiên cứu khoa học của cơ quan Thanh tra Chính phủ
- Trường Cán bộ Thanh tra: là đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần kinh phí (gồm kinh phí sự nghiệp đào tạo do ngân sách cấp và các khoản thu tiền học phí, thu tiền ký túc xá )
- Báo Thanh tra: là đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động
- Tạp chí Thanh tra: là đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động
- Trung tâm Tin học: là đơn vị sự nghiệp được giao quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách cấp phục vụ hoạt động của đơn vị (năm 2007 xây dựng phương án là đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần kinh phí)
Trang 402.2 Thực trạng mô hình tổ chức bộ máy quản lý tài chính hiện nay của Cơ quan Thanh tra Chính phủ là:
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tài chính hiện nay
của Thanh tra Chính phủ
Văn phòng Thanh tra Chính phủ có chức năng giúp Tổng Thanh tra làm tốt công tác tham mưu, tổng hợp điều phối hoạt động của các Vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ theo chương trình, kế hoạch công tác, thực hiện các công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, công tác khen thưởng thi đua, công tác tài chính, quản trị phục vụ đảm bảo các hoạt động của cơ quan Thanh tra Chính phủ theo yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Thanh tra
Thực hiện chức năng tham mưu cho lãnh đạo Thanh tra Chính phủ về công tác xây dựng kế hoạch tài chính, phân bổ dự toán và quyết toán ngân
sách cho các đơn vị dự toán cấp 3 (thực hiện nhiệm vụ của đơn vị dự toán cấp
Thanh tra Chính phủ (Văn phòng TTCP)
TT
(ĐVDT cấp 3)
Viện KHTT
(ĐVDT cấp 3)
Báo Thanh tra
(ĐVDT cấp 3)
Tạp chí TT
(ĐVDT cấp 3)
Trung tâm Tin học
(ĐVDT cấp 3