1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở việt nam cho đến năm 2020 2

238 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở việt nam cho đến năm 2020
Tác giả Nguyễn Văn Luật
Trường học Viện Khoa Học Thanh Tra
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tài Qua việc nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng; các quy định của pháp luật, thực trạng tham nhũng trong thời gian qua ở Việt Nam, Đề tài khái quát

Trang 1

TTCP

VKHTT

THANH TRA CHÍNH PHỦ Viện khoa học thanh tra

“LUẬN CỨ KHOA HỌC CHO VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC

PHÒNG NGỪA VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM CHO ĐẾN NĂM 2020”

Trang 2

phßng chèng tham nhòng ë ViÖt Nam

tham nhòng ë ViÖt Nam

tham nhòng

67

trong viÖc xö lý c¸c vô viÖc tham nhòng vµ xö lý c¸n bé,

c«ng chøc cã hµnh vi tham nhòng

67

Trang 3

3.2 Thực trạng công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham

nhũng của xã hội công dân hiện nay

73

chương IV Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả phòng

ngừa, đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam

77

nhũng

77

Đảng và Nhà nước trong việc xử lý các vụ việc tham nhũng

Trang 4

mở đầu

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Đề tài

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tăng cường mạnh mẽ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và đạt được những kết quả tích cực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội

Nhiều cán bộ, đảng viên tham nhũng đã bị xử lý kỷ luật về mặt Đảng và chính quyền Nhiều vụ án tham nhũng, trong đó có những vụ án lớn, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng đã được pháp hiện, xử lý

Tuy nhiên, " tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng"1 Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm và hiệu quả thấp Tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, mức độ ngày càng lớn, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ và Nhà nước Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tham nhũng "là một trong những nguy cơ lớn đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta" (Nghị quyết Hội nghị lần thứ

ba BCHTW Đảng khoá X - Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí)

Tham nhũng là một tệ nạn nguy hiểm, gây tác hại vô cùng to lớn, có khả năng gây hậu quả rất nghiêm trọng, đó là:

- Gây thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước, tập thể và của công dân

- Là trở lực lớn đối với sự phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước

- Làm thay đổi, vô hiệu hoá, thậm chí làm đảo lộn những chuẩn mực đạo

đức xã hội, làm tham hoá đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước

- Làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ Những nguyên nhân chủ yếu của những thiếu sót, khuyết điểm trong phòng, chống tham nhũng, bao gồm:

a Cơ chế, chính sách, pháp luật của nước ta chưa hoàn thiện, thiếu đồng

bộ, còn nhiều sơ hở nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung

b Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, của Bộ máy nhà nước nói riêng còn nhiều khiếm khuyết, chất lượng và hiệu quả chưa cao; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một số cơ quan, tổ chức chưa được xác định rõ ràng, cụ thể, còn trùng lặp hoặc bị phân tán

c Nhiều tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn

vị chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính nghiêm trọng, sự nguy hại của tệ tham nhũng, nên lãnh đạo không chặt chẽ, thiếu kiểm tra, đôn đốc, thậm chí còn nể

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; tr63, 175

Trang 5

nang, né tránh, dung túng bao che cho tham nhũng; chưa thực sự dựa vào dân và chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị

d Công tác cán bộ nói chung và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng còn nhiều yếu kém Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán

bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống Nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả lãnh đạo cao cấp còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chưa đi đầu trong cuộc

đấu tranh chống tham nhũng

Những nguyên nhân chủ yếu đó cần phải được xem xét toàn diện để có những giải pháp khắc phục có hiệu quả trong thời gian tới

Thể chế hoá chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng, Quốc hội

đã ban hành Luật phòng, chống tham nhũng ngày 29-11-2005, có hiệu lực từ ngày 1-6-2006 Chính phủ, các Bộ, ngành trong phạm vi, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hoá các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng Tuy nhiên, đây mới chỉ là những công việc quan trọng ban đầu Luật phòng, chống tham nhũng tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng Nhưng cần phải hiểu rõ rằng Luật mới chỉ là công cụ pháp lý chứ không làm thay con người "Chúng ta có trách nhiệm đề ra những biện pháp rất thiết thực và có hiệu quả nhằm tạo ra một bước chuyển biến rõ rệt và cơ bản ngăn chặn, kiềm chế và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí" (phát biểu của

Đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khai mạc Hội nghị lần thứ ba BCHTW

Đảng khoá X)

Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Trước yêu cầu trên, việc nghiên cứu đề tài "Thực trạng công tác phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam" là hết sức cần thiết nhằm khái quát và làm rõ bức tranh toàn cảnh tham nhũng cũng như công tác tổ chức phòng, chống tham nhũng của các cơ quan chức năng ở Việt Nam trong thời gian qua Từ đó đưa ra những kiến nghị, các biện pháp phòng, chống tham nhũng trong tình hình hiện nay, góp phần cùng toàn Đảng, Nhà nước

và nhân dân đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Đề tài

a Mục đích nghiên cứu của đề tài

Qua việc nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng; các quy định của pháp luật, thực trạng tham nhũng trong thời gian qua ở Việt Nam, Đề tài khái quát và làm rõ bức tranh toàn cảnh về tình hình tham nhũng ở nước ta hiện nay cũng như thực trạng công tác phòng chống tham nhũng của các cơ quan chức năng trong thời gian qua Trên cở sở đó, đề tài đưa ra một số giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả

Trang 6

b Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Khái quát và làm nổi bật quan điểm, chủ trương của Đảng và các quy

định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng

- Phân tích thực trạng tham nhũng và công tác tổ chức phòng chống tham nhũng của các cơ quan chức năng ở Việt Nam trong thời gian qua

- Nghiên cứu làm rõ nguyên nhân, điều kiện của tham nhũng và nguyên nhân của những tồn tại thiếu sót trong công tác tổ chức phòng chống tham nhũng của các cơ quan chức năng

- Đưa ra một số kiến nghị, biện pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng

3 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài không những có thể được tham khảo và vận dụng vào việc xây dựng và hoạch định các biện pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng pháp luật, giải thích hướng dẫn áp dụng pháp luật; góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng Ngoài ra, đề tài còn là tài liệu tham khảo hữu hiệu trong công tác nghiên cứu khoa học, công tác nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về tham nhũng trong các trường Đại học, Học viện

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng, chống tham nhũng Trên cơ sở phương pháp luận

đó, Đề tài đã phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng, nguyên nhân và điều kiện của tham nhũng

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong thực hiện đề tài là: phân tích; tổng hợp; hệ thống, thống kê số liệu thực tiễn; khảo sát thực tiễn và tham khảo các ý kiến chuyên gia

5 Bố cục của báo cáo tổng thuật kết quả nghiên cứu Đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu Đề tài được thể hiện trong 4 chương Cụ thể:

Chương I Khái quát cơ chế phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng

và pháp luật hiện hành về phòng chống tham nhũng ở Việt Nam;

Chương II Thực trạng công tác phòng ngừa và xử lý tham nhũng ở Việt Nam;

Chương III Mối quan hệ giữa các cơ quan Đảng và Nhà nước và vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng;

Chương IV Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam

Trang 7

Chương I

Khái quát cơ chế phòng ngừa và đấu tranh

chống tham nhũng và pháp luật hiện hành về

phòng chống tham nhũng ở Việt Nam

1.1 Khái quát cơ chế phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm cơ chế phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam

Trong quá trình phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước và nhân dân thường đề cập đến "cơ chế phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng" và đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của cơ chế này

Muốn phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả thì tất yếu phải xây được "cơ chế" phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng Vậy "cơ chế" này được hiểu như thế nào và làm thế nào để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của nó

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2003 thì:

"cơ chế là cách thức theo đó một quá trình được thực hiện", "Phòng ngừa là phòng trước không để cho cái xấu, cái không hay nào đó xảy ra", "Đấu tranh là dùng sức mạnh vật chất hay tinh thần để chống lại hoặc diệt trừ"

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật phòng, chống tham nhũng thì:

"Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi"

Như vậy "cơ chế phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng" được hiểu là: Cách thức theo đó nhà nước tiến hành việc phòng trước không để cho hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi xảy ra

và dùng sức mạnh vật chất hay tinh thần để chống lại hoặc diệt trừ hành vi của người có chức vụ quyền hạn đó vì vụ lợi"

Cũng theo Từ điển Tiếng Việt nêu trên, thì: "cách thức" được hiểu là "hình thức diễn ra của một hành động" Từ định nghĩa đó có thể khái quát cơ chế phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng là "hình thức diễn ra của hành động phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng"

ở nước ta, Đảng, Nhà nước và nhân dân đều thống nhất, có chung mục tiêu là: ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến

rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính"

Trang 8

Mục tiêu đó được triển khai, cụ thể hoá bằng pháp luật, chính sách, biện pháp, phương pháp cụ thể

Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quan

điểm chỉ đạo làm nền tảng cho cơ chế phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Hiểu theo nghĩa rộng thì cơ chế phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta là tổng thể những cách thức hay phương thức theo đó Đảng, Nhà nước ta tiến hành hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng Đó là

hệ thống các quan điểm về phòng chống tham nhũng; các chủ trương, giải pháp phòng, chống tham nhũng và tổ chức thực hiện trong đời sống xã hội

1.1.2 Nội dung cơ chế phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam

1.1.2.1 Quan điểm phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam

Chống tham nhũng là chống lại hành vi của người cú chức vụ, quyền hạn

đó lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi Đõy là cuộc đấu tranh hết sức phức tạp, động chạm tới nhiều cấp, nhiều ngành và trờn nhiều lĩnh vực Do vậy, cần phải cú sự lónh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng Quan điểm, nguyên tắc của

Đảng Cộng sản Việt Nam về tổ chức và hoạt động phòng, chống tham nhũng

được đề cập trong các văn kiện của Đảng TạiNghị quyết số 14/NQ/TW ngày 15/5/1996 của Bộ Chớnh trị và Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Ban chấp hành Trung ương đó chỉ rừ: Đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cỏch mạng của Đảng và nhõn dõn ta hiện nay Nú gúp phần nõng cao vai trũ lónh đạo của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, xõy dựng Đảng và kiện toàn bộ mỏy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền dõn chủ của nhõn dõn… Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế - xó hội, giữ vững ổn định chớnh trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dõn, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xõy dựng chủ nghĩa xó hội và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xó hội chủ nghĩa Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phũng, chống tham nhũng là:

- Đảng lãnh đạo chặt chẽ công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện

đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự;

- Phòng, chống tham nhũng, lãng phí phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh;

- Vừa tích cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính Gắn phòng, chống tham nhũng, lãng

Trang 9

phí với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy dân chủ, thực hành tiết kiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu;

- Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm;

- Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài

1.1.2.2 Các chủ trương, giải pháp phòng, chống tham nhũng

a) Công khai, minh bạch hoá trong hoạt động của cơ quan, đơn vị

Công khai, minh bạch là yêu cầu rất quan trọng trong tình hình hiện nay, Hoạt động này bao gồm các lĩnh vực sau:

- Công khai minh bạch trong mua sắm tài sản công và xây dựng cơ bản;

- Công khai, minh bạch trong quản lý dự án đầu tư xây dựng;

- Công khai, minh bạch về tài chính và ngân sách nhà nước;

- Công khai, minh bạch việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân;

- Công khai minh bạch trong việc quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ;

- Công khai, minh bạch trong quản lý, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

- Công khai, minh bạch trong lĩnh vực thể dục, thể thao

- Công khai minh bạch trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước

- Công khai, minh bạch trong quan lý và sử dụng đất, sử dụng nhà ở

- Công khai, minh bạch trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ

- Công khai, minh bạch trong hoạt động giải quyết các công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân

- Công khai, minh bạch trong lĩnh vực tư pháp

- Công khai, minh bạch trong công tác tổ chức, cán bộ

- Công khai báo cáo hàng năm về phòng, chống tham nhũng

Việc liệt kê các lĩnh vực, ngành nghề phải công khai, minh bạch có tác dụng dễ theo dõi, dễ áp dụng và tập trung mũi nhọn để đấu tranh phòng chống

có hiệu quả cao Tuy nhiên điều này cũng dẫn tới việc bỏ sót một số lĩnh vực có

tỷ lệ tham nhũng cao Theo Báo cáo số 50-BC/BQLDA ngày 22 tháng 09 năm

2005 của Ban nội chính trung ương thì có một số ngành nghề, lĩnh vực nằm

Trang 10

trong 10 cơ quan, lĩnh vực xảy ra tham nhũng nhiều nhất là Cảnh sát giao thông, Hải quan, quản lý xuất nhập khẩu; cơ quan, cán bộ thuế; công an kinh tế đã không được quy định phải công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục, kế hoạch

b) Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn

- Xây dựng, ban hành và thực hiện các chế độ định mức, tiêu chuẩn

- Kiểm tra và xử lý vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn

c) Tiếp tục hoàn thiện công tác cán bộ phục vụ phòng chống tham nhũng, l∙ng phí

Xây dựng đội ngũ các bộ, công chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản

lý ở các cấp, có trí tuệ, kiến thức, năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân dân; có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo cán bộ, trọng dụng những người có đức, có tài Đánh giá bồi dưỡng, lựa chọn và sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục kế thừa và phát triển Xây dựng, ban hành và thực hiện đúng các chế độ, định mức, tiêu chuẩn theo các quy định của pháp luật; công khai các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn

về quyền lợi đối với từng loại chức danh trong cơ quan, tổ chức, khi phát hiện vi

trách nhiệm, quyền năng của mình là việc "làm ơn" Nếu cho phép cán bộ viên

chức nhà nước được nhận "quà biếu" trước hoặc sau khi đã sử dụng quyền năng, trách nhiệm để làm một việc có lợi cho đương sự thì sẽ dẫn đến khả năng người

có chức vụ, quyền hạn tham nhũng Đặc biệt, các cơ quan, tổ chức nhà nước không được sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước làm quà tặng hoặc cho mượn trái với quy định Cán bộ, công viên chức cũng không được nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan

đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình Các cơ quan có thẩm quyền cần quy định chi tiết, cụ thể việc tặng quà, nhận quà tặng

và nộp lại quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức Nghiêm cấm triệt để lợi dụng việc tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác vì

vụ lợi

Rà soát và loại bỏ ngay những cấp trung gian không rõ chức năng, nhiệm

vụ chồng chéo, làm cho Bộ máy nhà nước các cấp tinh giản, hoạt động có hiệu quả Từ đó, cải tiến phong cách, lề lối làm việc và nâng cao tinh thần trách

nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước "vì nhân dân phục vụ" Hoạt động của

cán bộ, công viên chức cần phải thực hiện theo quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức

Trang 11

nghề nghiệp Đó là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính

và trách nhiệm của cán bộ, công chức hay các chuẩn mực xử sự phù hợp với đặc thù của từng nghề bảo đảm sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong việc hành nghề

Thực hiện việc định kỳ chuyển đổi cán bộ, công viên chức làm việc tại một số vị trí liên quan đến việc quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân Thực tế cho thấy rất nhiều tội phạm bắt nguồn từ chế độ cất nhắc, đề bạt cán bộ, tham nhũng thường kéo theo người môi giới, người thực hiện, ăn chia, bao che nên cần có đồng bọn Việc kéo bè, kéo cánh không gì tin tưởng bằng người thân trong gia đình, gia tộc của mình Do vậy, phòng ngừa tham nhũng thì phải thực hiện nghiêm chỉnh công tác chuyển đổi và luân phiên cán bộ theo định kỳ, kế hoạch và được công khai trong nội bộ cơ quan, đơn vị

Thực hiện có hiệu quả cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của những người có chức vụ trong khi thi hành công vụ Việc thực hiện cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát phải được thực hiện từ nhiều phía khác nhau như từ cấp trên đối với cấp dưới; từ các tổ chức quần chúng, nhất là vai trò của mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên; từ các cơ quan chuyên môn cũng như các cơ quan chuyên trách trong các tổ chức như Thanh tra chính phủ, thanh tra ngành, lĩnh vực, Uỷ ban kiểm tra của Đảng, các cơ quan bảo vệ pháp luật Song song với

điều này cần thiết tổ chức các cơ quan bảo vệ pháp luật đảm bảo cho công tác

đấu tranh chống tội phạm theo hướng chuyên môn hoá cao, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào công tác phòng, chống tham nhũng

Nâng cao vai trò và năng lực của Nhà nước, hiệu quả quản lý, kiểm tra, giám sát về mặt kinh tế và hành chính của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương gắn liền với giám sát hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước

d) Minh bạch tài sản, thu nhập

Muốn phát hiện được những hành vi tham nhũng và có biện pháp xử lý phù hợp, nhất là liên quan đến vấn đề xử lý tài sản tham nhũng thì cần phải minh bạch tài sản, thu nhập và quản lý được tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

đặc biệt là những cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn hoặc công tác tại những bộ phận dễ bị ảnh hưởng bởi tham nhũng Phải áp dụng các biện pháp kiểm soát thu nhập của công chức bằng việc tiến hành kê khai tài sản, kê khai thu nhập của công chức, đồng thời kiểm soát tài sản qua ngân hàng Trường hợp tình nghi, yêu cầu công chức phải giải trình nguồn gốc thu nhập và tài sản, nếu không chứng minh được tính hợp pháp thì tài sản đó bị coi là bất minh và sẽ bị

xử lý theo quy định của pháp luật

Trang 12

Khi phát hiện được những nguồn tài sản phát sinh không rõ nguồn gốc của cán bộ, công chức thuộc cơ quan mình thì các cơ quan có thẩm quyền phải điều tra xem xét rõ nguồn gốc, căn cứ sở hữu Nếu là tài sản do tham nhũng mà có thì

xử lý người tham nhũng cũng như áp dụng biện pháp tịch thu tài sản tham nhũng sung công quỹ

Quy định cụ thể đối tượng, nghĩa vụ kê khai tài sản đối với cán bộ, công chức cũng như loại tài sản phải kê khai Đối tượng phải kê khai bao gồm cán bộ

từ Phó trưởng phòng của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trở lên và tương đương trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị Đặc biệt do tình hình tham nhũng, nhũng nhiễu của các cán bộ cấp xã, phường hiện nay là rất nghiêm trọng và Nhà nước

đã quy định một số chức danh làm việc tại cấp xã phường cũng là cán bộ, công chức, nên những đối tượng này cũng phải kê khai tài sản Người kê khai phải có trách nhiệm kê khai trung thực tài sản và mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình cũng như tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và các con chưa thành niên Tài sản phải kê khai bao gồm: Nhà, quyền sử dụng đất; kim khí quý,

đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mươi triệu đồng trở lên; tài sản, tiền trong tài khoản ở nước ngoài; thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật Việc kê khai được thực hiện hàng năm Luật phòng, chống tham nhũng đã thiết lập cơ chế xác minh tài sản trong trường hợp khi phát hiện có hành vi tham nhũng của người kê khai; hoặc để phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, kỷ luật đối với người

có nghĩa vụ kê khai tài sản khi xét thấy cần thiết; theo yêu cầu của Hội đồng bầu

cử hoặc cơ quan tổ chức có thẩm quyền thì sẽ tiến hành xác minh tài sản Người xác minh tài sản phải tiến hành xác minh theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều

48 Luật phòng, chống tham nhũng và phải chịu trách nhiệm về tính khách quan, chính xác, trung thực trong kết luận kê khai tài sản của mình Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản phải được phổ biến công khai Người kê khai không trung thực sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật, còn đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân thì bị xoá tên khỏi danh sách những người ứng cử, còn người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn mà kê khai tài sản không trung thực thì không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ

đã dự kiến

Thu hẹp khoảng các giữa thu nhập thực tế với thu nhập danh nghĩa của cán

bộ, công chức cũng như việc kiểm soát thu nhập đó

Thực tế hiện nay, thu nhập giữa những người làm công ăn lương trong Bộ máy hành chính nhà nước với các cơ sở kinh tế, đơn vị sản xuất kinh doanh rất

chênh lệch Thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa (theo quy định trong bảng

lương, trợ cấp của Nhà nước đối với cán bộ công chức) rất khác xa nhau dẫn

đến Nhà nước không quản lý được thu nhập thực tế của họ Điều này đã tạo điều kiện cho một số cán bộ, công chức tham nhũng và dễ dàng che đậy hành vi tham nhũng của mình Minh bạch hoá tài sản không chỉ là việc kê khai, mà còn là sự kiểm soát, đánh giá đúng sai, khẳng định nguồn gốc tài sản ở đâu, như thế nào

Trang 13

và vì sao mà có, tức là phải kiểm soát được thu nhập của cán bộ, công chức Hiện nay chúng ta chưa có một văn bản pháp lý nào làm cơ sở cho việc kiểm soát kể cả Luật phòng, chống tham nhũng cũng chỉ giao cho Chính phủ trình Quốc hội ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức

vụ, quyền hạn Nên để có cơ sở đấu tranh, phòng chống tham nhũng, Chính phủ cần sớm ban hành các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành về kiểm soát thu nhập của cán bộ, công chức

e) Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi

định cụ thể, rõ ràng về quyền hạn, trách nhiệm giữa người đứng đầu cơ quan tổ chức với cấp dưới cũng như trách nhiệm giữa cá nhân với tập thể nên khi có hành

vi tham nhũng bị phát hiện, những kẻ phạm tội thường đổ lỗi cho nhau hoặc đổ lỗi cho tập thể để trốn tránh trách nhiệm Nên cần phải phân định rõ , cụ thể trách nhiệm giữa cá nhân với tập thể, giữa người đứng đầu cơ quan với cấp phó của người đứng đầu Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn

vị do mình trực tiếp quản lý, phụ trách, giao nhiệm vụ, còn cấp phó của người

đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy

ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị mình trực tiếp phụ trách Ngoài ra, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách Tuy nhiên, trong một số cơ quan, tổ chức có rất nhiều đơn vị trực thuộc thì người đứng đầu không thể quản

lý một cách chi tiết đến từng đơn vị trực thuộc nên trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không thể biết được hoặc

đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng thì họ không phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị mình trực tiếp quản lý Để tạo cơ sở cho cơ quan có thẩm quyền xử lý được trách nhiệm của người đứng đầu thì trong kết luận thanh tra, kết luận điều tra và báo cáo kiểm toán thì phải có kết luận cụ thể

về mức độ trách nhiệm của người đứng đầu Kết luận đó phải nêu rõ về nguyên nhân do thiếu trách nhiệm hay do trực tiếp tham gia vào quá trình tham nhũng để các cơ quan, tổ chức có cơ sở, căn cứ tiến hành xử lý trách nhiệm

f) Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán

Trang 14

Xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán Những biện pháp đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm xoá bỏ hẳn cơ chế quản lý hành chính tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế quản lý thị trường không chỉ có tác dụng thúc đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội mà còn là một biện pháp lớn đánh vào nguồn gốc sâu

xa của tệ nạn tham nhũng Nhà nước cần phải đẩy nhanh, mạnh, toàn diện cuộc cải cách hành chính nhằm tăng cường tính độc lập, tự chủ và chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đơn vị; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước; công khai, đơn giản hoá và hoàn thiện thủ tục hành chính; quy định cụ thể trách nhiệm của từng chức danh trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

Sử dụng triệt để các công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, bảo đảm

sự kiểm tra, kiểm soát thật nghiêm ngặt ngay trong quá trình thực hiện cơ chế kinh tế thị trường; sửa đổi, bổ sung và ban hành các chính sách, chế độ, cơ chế quản lý phù hợp với thực tế nhằm tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, khắc phục các cơ sở làm thất thoát tài sản của nhà nước Tăng cường vai trò quản

lý nền kinh tế của Nhà nước theo hướng ngày càng đồng bộ, thích ứng và có hiệu lực trong cơ chế thị trường nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi có trật tự, tạo lập sự cân đối tổng thể, hướng dẫn và kiểm soát, điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế

Xác định đầy đủ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp chính quyền ở Trung ương và địa phương, của người đứng đầu các cấp, các ngành để mọi cấp, ngành cũng như người đứng đầu đủ khả năng, sức lực, trí lực giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền, đúng pháp luật những nhiệm vụ mà cuộc sống đặt ra và nhân dân đòi hỏi Mở rộng dân chủ ở cơ sở, loại bỏ tư tưởng quen thân thì việc gì cũng giải quyết được, còn khi đã quen thân thì việc gì cũng có thể trông trước Đặc biệt, chúng ta cần phân biệt chức năng hành chính với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh, phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý

để không biến "nghề giám đốc" kinh doanh thành "chức giám đốc" kinh doanh

mà buông lỏng quyền đại diện sở hữu, từ đó coi nhẹ trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát của nhà nước đối với hoạt động của cán bộ, công chức Cần quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể trong các lĩnh vực quản lý Sự phân biệt càng rõ ràng đúng đắn và đồng bộ thì trật tự quản lý được xác lập càng tăng cường, khắc phục được những sơ hở mà cán bộ, công chức lợi dụng để tham nhũng Chính phủ chủ yếu thực hiện việc điều tiết nền kinh tế vi mô bằng cách xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy, tạo ra và nuôi dưỡng môi trường cạnh tranh lành mạnh, một hành lang pháp lý an toàn và bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế Lúc đó, người kinh doanh không thể đạt được lợi ích kinh tế trực tiếp bằng cách hối lộ các quan chức nào đấy và các quan chức cũng không thể hạch sách nhũng nhiễu nhân dân, khi đó nạn tham nhũng sẽ giảm đi

Trang 15

Thông qua việc phân công trách nhiệm, quyền hạn cho cá nhân trong các cơ quan, tổ chức với các cơ cấu khác nhau mà tạo sự tác động chế ước quyền lực lẫn nhau Một cơ chế đối trọng quyền lực như vậy cần bao gồm các quy trình, trình tự và tiêu chuẩn thực thi quyền lực Muốn có sự chế ước và điều hoà quyền lực thì phải tách rời quản lý với kiểm tra, phải quản lý chéo và chuyển đổi cương

vị công tác Chỉ khi quyền lực bị chế ước, hạn chế thì quan chức mới chuyên cần chức trách vì dân, mới thực sự là công bộc của dân

Tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý kinh tế Một trong những điều kiện làm nảy sinh tham nhũng là do

sự tiếp xúc trực tiếp trong việc giải quyết các công việc giữa người dân và cán

bộ, công chức nên để hạn chế tham nhũng thì cần giảm thiểu sự tiếp xúc trực tiếp này bằng cách áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào hoạt động quản lý hành chính, kinh tế Các cơ quan, tổ chức phải thường xuyên cải tiến công tác, tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động nhằm tạo thuận lợi để công dân, cơ quan tổ chức thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Cải cách hành chính phải gắn liền với các biện pháp tổ chức quản lý, nhất

là quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội nhằm hoàn thiện Bộ máy nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đặc biệt là vai trò quản

lý nhà nước về kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý để thích ứng và có hiệu quả trong cơ chế thị trường, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế - xã hội trong khuôn khổ pháp luật theo một trật tự thống nhất, cần phải khắc phục những sai lầm, thiếu sót, sơ hở trong tổ chức quản lý để hạn chế, khắc phục một số nguyên nhân

và điều kiện của tội phạm Hoạt động quản lý gắn liền với tổ chức, lãnh đạo, đảm bảo mọi hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đi vào khuôn khổ nhất định, nhịp nhàng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước theo một nhịp độ ổn định phát triển Thủ tục hành chính phải gọn nhẹ, thuận lợi, dễ thực hiện, quy chế công chức, công vụ phải rõ ràng

Thực hiện có hiệu quả dân chủ rộng rãi trong Đảng, Nhà nước ở mỗi cơ quan, đoàn thể, tổ chức sản xuất kinh doanh mà thực chất là đưa phương châm

"dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra" vào thực tiễn cuộc sống để điều chỉnh, chế ước, kiểm tra, giám sát và phát hiện các hành vi tham nhũng của đội ngũ

Đảng viên nhất là những cán bộ có chức có quyền, cán bộ được giao nắm giữ tài sản của Nhà nước, tập thể Đưa mọi vấn đề cho nhân dân thảo luận và tìm cách giải quyết Để nâng cao hiệu quả của phương thức này chúng ta cần phải phát huy vai trò sức mạnh của ý kiến nhân dân, phải biết tổ chức ý kiến của nhân dân Xây dựng không khí dân chủ, công khai để nhân dân tự do phát biểu tư tưởng và nguyện vọng của mình Hoàn thiện quy chế dân chủ ở cơ sở để đẩy mạnh tính tích cực của quần chúng tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng Gắn chặt việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với việc vận động xây dựng chỉnh đốn

Đảng và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Trang 16

g) Giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật và quyết tâm phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng cho đội ngũ cán bộ công chức

Nâng cao ý thức cho mọi người dân thấy được trách nhiệm của mình trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng Sự giác ngộ của các thành viên trong xã hội càng cao thì càng được hoàn chỉnh và mở rộng tính tích cực sáng tạo của họ trong việc phát triển những hình thức lao động xã hội chủ nghĩa, trong việc củng cố kỷ luật và trật tự, loại trừ những hiện tượng tiêu cực trong việc lập

ra những quan hệ xã hội mới giữa con người với con người, trong việc giải quyết thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ này gắn liền với việc tăng cường giáo dục đạo đức trong cuộc sống xã hội, nâng cao trình độ kỷ luật tự giác của con người, tăng cường ảnh hưởng của dư luận xã hội, tiến hành công tác giáo dục chính trị, tư tưởng rộng lớn nhằm giáo dục nhân cách con người Việt Nam có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và lối sống lành mạnh cũng như có ý thức tổ chức kỷ luật, nâng cao tính tích cực của mỗi công dân trong việc đấu tranh với mọi quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc, quan liêu, cửa quyền, chủ nghĩa cá nhân, xa hoa, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng Xây dựng lập trường kiên định để cán bộ, công chức không bị dao động, hoài nghi về đường lối của Đảng để họ có khả năng, bản lĩnh vững vàng đấu tranh trước sự cám dỗ của tiền bạc, cuộc sống xa hoa, không rơi vào tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, yên tâm thực hiện nhiệm vụ và có ý thức trách nhiệm đối với chức vụ, quyền hạn, nghĩa vụ được giao, tự giác tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tôn trọng pháp luật, có tinh thần đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, quan liêu

Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh mặt tích cực còn có nhiều hiện tượng tiêu cực tác động đến lối sống, cách nghĩ và làm của một số người Không

ít người có chức vụ nghĩ rằng trong cương vị chức trách của mình có thể mang lại nhiều lợi ích cho người khác mà dựa vào đó có thể đòi hỏi người khác phải

đưa tiền của, có nghĩa có thể kiếm chác được trong vị trí của mình Ngược lại, còn nhiều người khác thì lại cho rằng, để giải quyết những việc liên quan đến mình thì tốt nhất là tốn kém một chút để công việc trôi chảy hơn Với cách nghĩ như thế, người có chức vụ có cơ hội vòi vĩnh, nhũng nhiễu, còn những người có lợi ích thì có cơ hội giải quyết mọi công việc bằng tiền, kể cả trái pháp luật Như vậy, cần phải tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật để mọi công dân nói chung và những người có chức vụ nói riêng tự giác không thực hiện hành vi tham nhũng

h) Nâng cao sự giám sát của công dân, báo chí đối với hoạt động của những người có chức vụ, quyền hạn trong Bộ máy nhà nước

Đảng, Nhà nước cần tạo cơ chế thuận lợi cho mọi công dân tham gia vào hoạt động giám sát hoạt động của những người có chức vụ, quyền hạn, đặc biệt

là mở rộng quyền thông tin của đội ngũ báo chí trong cả nước, đưa vị trí của những người làm báo là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh với các hiện tượng tham nhũng xuất hiện ở Bộ máy quyền lực nhà nước Thực tế trong đấu tranh

Trang 17

phòng, chống tham nhũng trong những năm qua cho thấy nhiều hành vi tham nhũng của người có chức vụ bị phát hiện đều do quần chúng nhân dân tố cáo,

đặc biệt các thông tin này được phản ánh thông qua báo chí Cho nên, đưa báo chí trở thành nơi phản ánh được tiếng nói của nhân dân về những hoạt động của những người có chức vụ trong Bộ máy nhà nước là rất quan trọng Phát huy được năng lực của đội ngũ những người làm báo có ý nghĩa rất to lớn trong kiểm soát quyền lực của những người có chức vụ, không chỉ hạn chế được những mặt tiêu cực trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước mà còn nhanh chóng làm

rõ được những hành vi liên quan đến tham nhũng xảy ra trong thực tế xã hội

Thu hút, lôi cuốn, động viên quần chúng tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xây dựng thành phong trào rộng rãi, đấu tranh chống thói hư tật xấu của những người có chức vụ, quyền hạn; tạo ra cơ chế dân chủ để nhân dân tố giác, phát hiện hành vi tham nhũng; có quy định và biện pháp bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, những người tích cực, kiên quyết đấu tranh, có chế độ khen thưởng, động viên kịp thời thích đáng đối với những người có công trong việc phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng v.v đều có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa tội phạm này trong cuộc sống xã hội Ngoài ra cần xác

định đấu tranh phòng chống tham nhũng là nghĩa vụ chung của toàn xã hội,

đồng thời là trách nhiệm to lớn của báo chí Báo chí ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt là phát hiện, đưa ra công luận những vụ tham nhũng lớn Phải thực hiện cơ chế phối hợp giữa báo chí với các cơ quan chức năng, các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có cơ chế cung cấp thông tin, góp ý, định hướng thông tin giúp báo chí đảm bảo độ chính xác của thông tin và

đúng pháp luật

i) Nâng cao hiệu quả các biện pháp điều tra, khám phá, xử lý tham nhũng của các cơ quan bảo vệ pháp luật, xây dựng các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng

Các cơ quan có thẩm quyền trong phòng chống tham nhũng cần kiên quyết giải quyết, xử lý dứt điểm các vụ án hình sự về tham nhũng lớn, nổi cộm, bức xúc đã được phát hiện Đối với các vụ tham nhũng liên quan đến cán bộ lãnh

đạo, dù cán bộ đó ở cấp nào, đương chức, đã chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu phải được xem xét đầy đủ về trách nhiệm cả về hành chính lẫn hình sự Phải xử

lý về trách nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo các cơ quan, đơn vị để xảy ra các hành

vi tham nhũng Các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng cần khẩn trương, nhanh chóng ban hành các văn bản làm cơ

sở pháp lý về tổ chức, hoạt động và quy chế làm việc của Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng cũng như việc thành lập, tổ chức các cơ quan này để có thể phát huy hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thực tiễn

Hiện nay, tham nhũng không chỉ diễn ra trong phạm vi biên giới quốc gia

mà diễn ra trên toàn cầu, nhiều vụ án tham nhũng lớn có sự cấu kết giữa các

Trang 18

phần tử trong nước và quốc tế, đặc biệt số lượng rất lớn tài sản tham nhũng đã

được bọn tội phạm chuyển ra nước ngoài, nên chúng ta cần đẩy mạnh hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để trao đổi, học tập, phối hợp hành động trong phòng, chống tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng nằm ở nước ngoài

1.2 Pháp luật hiện hành về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

1.2.1 Cỏc văn bản quy phạm phỏp luật hiện hành về phòng, chống tham nhũng

Hiện nay, trong hệ thống cỏc văn bản phỏp luật cú liờn quan trực tiếp đến việc phũng và chống tham nhũng gồm cú cỏc văn bản sau:

- Hiến phỏp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001);

- Quyết định số 240/HĐBT ngày 26/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về đấu tranh chống tham nhũng;

- Quyết định số 114/TTg ngày 21/11/1992 của Thủ tướng Chớnh phủ về những biện phỏp cấp bỏch nhằm ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng và buụn lậu;

- Quyết định số 35/TTg ngày 19/1/1996 của Thủ tướng Chớnh phủ về việc thành lập Ban cụng tỏc chống tham nhũng, chống buụn lậu;

- Phỏp lệnh chống tham nhũng năm 1998 (Phỏp lệnh sửa đổi bổ sung một

- Luật thực hành tiết kiệm, chống lóng phớ;

- Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20 thỏng 10 năm 2006 của Chớnh phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật phũng, chống tham nhũng;

- Nghị định số 107/2006/NĐ-CP ngày 22 thỏng 9 năm 2006 của Chớnh phủ quy định về xử lý trỏch nhiệm của người đỳng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trỏch;

Trang 19

- Nghị quyết 1039/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 28 tháng 8 năm 2006 của

Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng;

- Quyết định số 1424/QĐ-Tg ngày 30 tháng 10 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Cục chống tham nhũng thuộc thanh tra Chính phủ;

- Quyết định 30/2006/QĐ-TTg ngày 06 tháng 2 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng

Các Bộ, ngành cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như:

- Quyết định 831/2006/QĐ-BKH của Bộ kế hoạch và đầu tư về việc ban hành quy chế phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra và phòng, chống tham nhũng của Bộ kế hoạch và đầu tư;

- Quyết định số 52/2006/QĐ-BVHTT ngày 18 tháng 5 năm 2006 của Bộ Văn hoá - Thông tin về việc ban hành Chương trình hành động của Bộ Văn hoá- Thông tin về thực hành tiết kiệm chống lãng phí;

- Quyết định số 1428/QĐ-BYT ngày 26 tháng 4 năm 2006 của Bộ Y tế về việc ban hành chương trình hành động của Bộ Y tế thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;

- Quyết định số 07/2006/QĐ- BTS ngày 19 tháng 4 năm 2006 của Bộ Thuỷ sản về việc ban hành Chương trình hành động của Bộ thuỷ sản thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;

Căn cứ vào nội dung có thể chia văn bản pháp luật hiện hành về phòng, chống tham nhũng thành hai nhóm chính:

+ Nhóm 1: là các văn bản quy phạm pháp luật quy định về phòng ngừa và phát hiện tham nhũng Các văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhóm này bao gồm: Pháp lệnh chống tham nhũng; Nghị định số 108/2004/NĐ-CP ngày 1-4-

2004 của Chính phủ hướng dẫn kê khai tài sản đối với những người ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; Pháp lệnh cán bộ công chức, Pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí; Nghị định số 14/1998/NĐ-CP về quản lý tài sản của Nhà nước; Chỉ thị số 01/2002/CT-TTg ngày 28/1/2002 về việc cấm sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước để biếu, tặng cho các cá nhân không đúng quy định; Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/04/2000 của Bộ Tài chính về quản lý việc sử dụng tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp; Thông tư

số 62/1999/TT-BTC ngày 7/6/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý,

sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nước ;

+ Nhóm 2: là các văn bản quy phạm pháp luật quy định về xử lý tham nhũng Các văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhóm này bao gồm: LuËt phßng,

Trang 20

chống tham nhũng; Nghị định 64/1998/NĐ-CP ngày 17-8-1998 quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh chống tham nhũng; Nghị định số

13/2002/NĐ-CP ngày 30-1-2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số

64/1998/NĐ-CP ngày 17-8-1998; Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị định số 97/1998/NĐ-64/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức

1.2.2 Nội dung của Luật phòng, chống tham nhũng

Luật phòng, chống tham nhũng được Quốc hội Khoá XI kú häp thø 8 thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/6/2006, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đấu tranh phòng, chống tham nhũng Đây là đạo luật khung quy định về vÊn đề phòng ngừa và chống tham nhũng Néi dung c¬ b¶n của Luật phòng chống bao gồm:

3 Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;

4 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ vì

vụ lợi;

5 Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;

6 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi;

7 Giả mạo trong công tác vì vụ lợi;

8 Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi;

9 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản nhà nước vì vụ lợi;

10 Nhũng nhiễu vì vụ lợi;

11 Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;

12 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi để bao che cho người có hành

vi tham nhũng; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra,

kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử người có hành vi tham nhũng; không thực

hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

Trang 21

Như vậy, so với qui định của Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 và các tội danh tham nhũng được qui định trong Bộ luật hình sự năm 1999, thì Luật phòng, chống tham nhũng đã quy định thêm những hành vi mới Đây là những hành vi mới xuất hiện nhưng ngày càng trở nên phổ biến trong thời gian gần đây nên việc qui định này là cơ sở để đấu tranh với chúng

b Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng

- Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, đơn vị

Công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị là biện pháp phòng ngừa tham nhũng Luật phòng, chống tham nhũng quy định các nguyên tắc cơ chế bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị Đồng thời, Luật cũng quy định về việc công khai, minh bạch trong một số lĩnh vực hoạt động của các cơ quan đơn vị Đây là những lĩnh vực thường xảy ra tham nhũng trong thời gian qua và cần được quy định cụ thể

- Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn

Xây dựng các chế độ, định mức tiêu chuẩn là việc Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền đặt ra chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực quản lý trong

đó những qui định luôn liên quan đến việc sử dụng tài sản, vốn và ngân sách nhà nước Quá trình xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn là lĩnh vực mà tình trạng tham nhũng xảy ra rất phổ biến Việc thực hiện một cách tuỳ tiện và trái phép các tiêu chuẩn chế độ, định mức đó sẽ dẫn đến việc tài sản của Nhà nước bị thất thoát, tiền bạc hoặc những lợi ích vật chất bằng cách này, cách khác rơi vào một số người, thực chất đó là sự hưởng lợi bất chính của những người có chức vụ, quyền hạn hoặc những người có quan hệ thân quen với người

có chức vụ, quyền hạn và đó chính là hành vi tham nhũng cần ngăn chặn

- Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức, bao gồm:

+ Qui tắc ứng xử của cán bộ, công chức

Qui tắc ứng xử của cán bộ, công chức bao gồm những điều thuộc về nghĩa

vụ của cán bộ, công chức và những qui tắc khác mà cán bộ, công chức phải thực hiện trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ và trong cuộc sống hàng ngày §©y là vấn đề mà các nước có qui định nhưng vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ với chúng ta Nội dung qui tắc ứng xử của cán bộ, công chức biểu hiện mối quan

hệ giữa cán bộ công chức với nhà nước vừa thể hiện mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với xã hội Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức và từng lĩnh vực của hoạt động công vụ, nhằm đảm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức Nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng xảy ra trong cơ quan, tổ chức, đơn

Trang 22

vị; quy định về việc tặng quà và nhận quà của cỏn bộ, cụng chức cũng là nội dung quan trọng của qui tắc ứng xử của cỏn bộ, cụng chức

+ Chuyển đổi vị trớ cụng tỏc

Chuyển đổi vị trớ cụng tỏc là một biện phỏp phũng, chống tham nhũng đó được nhiều nước ỏp dụng cú hiệu quả Luật phũng, chống tham nhũng qui định:

cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong phạm vi được phõn cụng quản lý cỏn bộ cú trỏch nhiệm thực hiện việc định kỳ chuyển đổi cỏn bộ, cụng chức làm việc tại một số

vị trớ cụng tỏc quản lý tài sản nhà nước, trực tiếp tiếp xỳc và giải quyết cụng việc của cụng dõn, doanh nghiệp nhằm chủ động ngăn ngừa tham nhũng Đây là sự chuyển đổi vị trớ giải quyết cụng việc chứ khụng phải thay đổi tớnh chất cụng việc mà cỏn bộ cụng chức đú đang thực hiện Việc chuyển đổi vị trí công tác phải phự hợp với chuyờn mụn, trỡnh độ nghiệp vụ của người được chuyển đổi

Vỡ vậy, Luật cú qui định việc chuyển đổi vị trớ cụng tỏc chỉ ỏp dụng đối với cỏn

bộ, cụng chức khụng giữ chức vụ quản lý Việc luõn chuyển cỏn bộ, cụng chức giữ chức vụ quản lý thực hiện theo quy định về luõn chuyển cỏn bộ

+ Minh bạch tài sản cỏn bộ, cụng chức

Kiểm soỏt tài sản thu nhập của cỏn bộ, cụng chức luụn là một trong những biện phỏp hữu hiệu để phũng ngừa tham nhũng Phỏp lệnh chống tham nhũng năm 1998 đó cú qui định về kờ khai tài sản cỏn bộ cụng chức Tuy nhiờn, từ khi ban hành Pháp lệnh đến nay việc kờ khai được tiến hành nhưng cũn mang tớnh hỡnh thức, ớt cú tỏc dụng Để bảo đảm tính khả thi của biện pháp này, Luật phũng, chống tham nhũng quy định một số điểm lưu ý như sau:

Một là, về đối tượng phải kê khai thì cỏ nhõn cỏn bộ, cụng chức, vợ và

con chưa thành niên của họ phải kờ khai tài sản Quy định như vậy là để ngăn chặn việc phõn tỏn tài sản tham nhũng, trỏnh sự phỏt hiện của cơ quan nhà nước

cú thẩm quyền;

Hai là, Luật cú qui định việc xỏc minh tài sản trong những trường hợp

nhất định Nhưng chỉ được xác minh tài sản khi cú quyết định của cơ quan nhà nước cú thẩm quyền;

Ba là, Luật cú qui định về việc cụng khai kết luận về tớnh minh bạch trong

kờ khai tài sản

- Cải cỏch hành chớnh, đổi mới cụng nghệ quản lý và phương thức thanh toỏn nhằm phũng ngừa tham nhũng

Cú thể khẳng định rằng quản lý là một trong lĩnh vực quan trọng và sụi động nhất của bộ mỏy nhà nước Bởi vỡ đối tượng của quản lý là mọi mặt của đời sống xó hội và quản lý nhà nước đụng chạm đến hầu như tất cả mọi người dõn Cũng chớnh vỡ vậy mà đõy cũng là một trong những nơi mà tỡnh trạng tham nhũng xảy ra nhiều nhất Cải cỏch hành chớnh là cụng việc cú tớnh chất thường xuyờn lõu dài liờn tục với mục tiờu xõy dựng một nền hành chớnh trong sạch,

Trang 23

hiện đại, hoạt động cú hiệu quả, hiệu lực và thể hiện tớnh phục vụ Cải cỏch hành chớnh bao gồm rất nhiều nội dung phong phỳ và toàn diện Cải cách hành chính

có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng ngừa và chống tham nhũng

c Phỏt hiện tham nhũng

Cũng như cụng tỏc phũng, chống tham nhũng, việc phỏt hiện tham nhũng đũi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức; đặc biệt là cỏc cơ quan cú chức năng thanh tra, điều tra, giỏm sát, kiểm sỏt và sự tham gia tớch cực của cụng dõn Do vậy, Luật phòng, chống tham nhũng qui định việc phỏt hiện tham nhũng thụng qua ba hoạt động chủ yếu là cụng tỏc kiểm tra của cỏc cơ quan quản lý nhà nước; hoạt động thanh tra, kiểm tra, giỏm sỏt, kiểm toỏn; tố cỏo của cụng dõn

d Xử lý tham nhũng và tài sản tham nhũng

Luật phũng, chống tham nhũng khụng chỉ qui định đối tượng cú hành vi tham nhũng bị xử lý mà qui định cả cỏc đối tượng khỏc cú hành vi vi phạm liờn quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hay trỏch nhiệm của mỡnh mà phỏp luật đó cú qui định Tuỳ theo mức độ vi phạm mà người thực hiện hành vi tham nhũng có thể bị xử lý kỷ luật (bằng các hình thức như khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc quy định tại Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17-3-2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức) hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 68 của Luật phòng, chống tham nhũng thì đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự là:

“1 Người cú hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật này

2 Người khụng bỏo cỏo tố giỏc khi biết được hành vi tham nhũng;

3 Người khụng xử lý bỏo cỏo, tố giỏc, tố cỏo về hành vi tham nhũng;

4 Người cú hành vi đe doạ, trả thự, trự dập người phỏt hiện, bỏo cỏo, tố giỏc, tố cỏo, cung cấp thụng tin về hành vi tham nhũng;

5 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mỡnh quản lý, phụ trỏch;

6 Người thực hiện hành vi khỏc vi phạm qui định của Luật này và qui định khỏc của phỏp luật cú liờn quan.”

Điều 69 của Luật phòng, chống tham nhũng quy định: "Người cú hành vi tham nhũng trong trường hợp bị kết ỏn về hành vi tham nhũng và bản ỏn,

quyết định đó cú hiệu lực phỏp luật thỡ bị buộc thụi việc” Còn theo qui định

của Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17 thỏng 3 năm 2005 về xử lý kỷ luật cỏn bộ, cụng chức qui định hỡnh thức buộc thụi việc áp dụng đối với cỏn bộ cụng

chức bị Toà ỏn phạt tự giam Như vậy, Luật phòng, chống tham nhũng quy

định hình thức xử lý nghiêm khắc hơn Nghị định số 35/2005/NĐ-CP Cụ thể, nếu cỏn bộ, cụng chức phạm tội khụng phải thuộc nhúm tội tham nhũng thỡ chỉ bị

Trang 24

đương nhiờn buộc thụi việc nếu bị Toà ỏn phạt tù giam, cũn nếu bị cỏc hỡnh phạt khỏc nhẹ hơn (cảnh cỏo, cải tạo khụng giam giữ ) hoặc cũng bị phạt tự nhưng cho hưởng ỏn treo thỡ vẫn cú thể khụng bị buộc thụi việc Ngược lại, nếu cỏn bộ, cụng chức phạm tội tham nhũng thỡ dự hỡnh phạt mà Toà ỏn ỏp dụng như thế nào thỡ người đú cũng đương nhiờn bị buộc thụi việc

Riêng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhõn dõn bị Toà ỏn kết ỏn về tội tham nhũng thỡ đương nhiờn bị mất quyền đại biểu mà khụng cần phải qua cỏc thủ tục về việc bói nhiệm, miễn nhiệm Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 69 của Luật phũng, chống tham nhũng thì: "Người cú hành vi tham nhũng trong trường hợp bị kết ỏn về hành vi tham nhũng và bản ỏn, quyết định đó cú hiệu lực

phỏp luật thỡ đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhõn dõn thỡ đương

nhiờn mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhõn dõn"

Tham nhũng về bản chất là một hành vi cú tớnh chất vụ lợi và một trong những hậu quả mà tham nhũng gõy ra là tài sản bị chiếm đoạt Chớnh vỡ vậy, một trong những mục tiờu quan trọng của đấu tranh chống tham nhũng là phải bảo vệ được lợi ớch của nhà nước cũng như lợi ớch của tập thể và cỏ nhõn Chống tham nhũng cần quan tõm đến việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng, cần cú biện phỏp hữu hiệu để thu hồi lại số tài sản mà kẻ tham nhũng đó chiếm đoạt, những tài sản mà kẻ vi phạm cú được từ việc thực hiện hành vi tham nhũng

Thỏi độ của Nhà nước đối với việc xử lý tài sản của người đưa hối lộ được qui định theo hướng khuyến khớch người đưa hối lộ khai bỏo, phỏt giỏc hành vi nhận hối lộ Mặc dự vấn đề xử lý đối với người cú hành vi hối lộ cũn khỏ nhiều ý kiến khỏc nhau nhưng nhỡn chung đều nhất trớ rằng cần cú cú qui định theo hướng giảm nhẹ trỏch nhiệm cho người đưa hối lộ để khuyến khớch họ phỏt giỏc cỏc hành vi nhận hối lộ Thực tế cho thấy việc xử lý cả người đưa hối

lộ khi họ đó chủ động khai bỏo là khụng cụng bằng và gõy ra những dư luận khụng đồng tỡnh trong xó hội

Điều 289 của Bộ luật hỡnh sự qui định: “Người đưa hối lộ nhưng đó chủ

động khai bỏo trước khi bị phỏt giỏc thì cú thể được miễn trỏch nhiệm hỡnh sự

và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đó dựng để đưa hối lộ”

Như vậy, theo qui định của Bộ luật hỡnh sự thỡ người đưa hối lộ chỉ cú thể được trả một phần hoặc toàn bộ của đó dựng để hối lộ Trong khi đú theo qui định tại khoản 3 Điều 70 Luật phòng, chống tham nhũng thỡ người đưa hối lộ mà

chủ động khai bỏo trước khi bị phỏt giỏc đương nhiờn được trả lại toàn bộ tài

sản đó dựng để hối lộ Thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn

cụ thể để loại bỏ mâu thuẫn này

Ngoài ra, về vấn đề xử lý tài sản tham nhũng, để phự hợp với tinh thần của Cụng ước của Liờn hợp quốc mà Việt nam đó tham gia ký kết, Điều 70 của Luật phòng, chống tham nhũng qui định "Trờn cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viờn và phự hợp với cỏc nguyờn tắc cơ

Trang 25

bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp"

Trang 26

Chương II

Thực trạng công tác phòng ngừa

và xử lý tham nhũng ở Việt Nam

2.1 Thực trạng công tác phòng ngừa và phát hiện tham nhũng ở Việt Nam

2.1.1 Những kết quả đạt được trong công tác phòng ngừa và phát hiện tham nhũng

a) Đảng và Nhà nước đ∙ ban hành chủ trương, chớnh sỏch, biện phỏp

và một số văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảng, cơ sở cho tổ chức, hoạt

động phũng, chống tham nhũng

Chống tham nhũng là cuộc đấu tranh hết sức phức tạp đũi hỏi cú sự lónh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng Trong từng thời kỳ, tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, cỏc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phũng, chống tham nhũng cú sự khỏc nhau về mục tiờu, yờu cầu, tớnh chất, đối tượng, phương hướng, phương chõm, nguyờn tắc, phương phỏp đấu tranh Cỏc chủ trương, biện phỏp đưa ra từng thời kỳ là đỳng đắn, phự hợp với tỡnh hỡnh thực tế và qua tổ chức chỉ đạo thực hiện bước đầu đó thu được những kết quả tớch cực, cú tỏc dụng tốt, được nhõn dõn đồng tỡnh, ủng hộ Cụng tỏc phũng ngừa tham nhũng ngay từ gốc được coi là khõu then chốt cú ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của cụng tỏc chống tham nhũng Hiện nay, cỏc biện phỏp phũng ngừa tham nhũng đó được quy định trong nhiều văn bản quy phạm phỏp luật, đặc biệt

là trong Luật phũng, chống tham nhũng

b) Mục đớch, ý nghĩa, tỏc dụng của việc phối hợp trong cụng tỏc kiểm tra, xử lý vi phạm của cỏn bộ, đảng viờn vi phạm, kể cả vi phạm về tham nhũng đó được cỏc cấp uỷ, tổ chức đảng và uỷ ban kiểm tra cỏc cấp và cỏc ban, ngành cú liờn quan của Nhà nước từng bước cú nhận thức đỳng, đầy đủ hơn và quan tõm thực hiện

Trong thời kỳ đổi mới, khi cỏc quan hệ kinh tế, xó hội đang cú sự biến đổi, phỏt triển mạnh mẽ, sõu rộng, đũi hỏi phải cú sự phối hợp giữa Uỷ ban kiểm tra cỏc cấp với cỏc ban xõy dựng đảng, với ban cỏn sự đảng, đảng đoàn cỏc cơ quan nhà nước, tổ chức chớnh trị - xó hội Vỡ vậy, nhiều nơi đó ban hành quy chế phối hợp hoặc tuy chưa cú quy chế phối hợp, nhưng đó thực hiện việc "thỏa thuận" trong việc phối hợp thực hiện cụng tỏc kiểm tra, xử lý vi phạm của cỏn

bộ, đảng viờn đem lại hiệu quả thiết thực; gúp phần làm rừ sự việc, giỳp việc xem xột, kết luận được cụng minh, chớnh xỏc, kịp thời; xử lý vi phạm tham nhũng của cỏn bộ đảng viờn bảo đảm khỏch quan, dõn chủ và nghiờm minh Thực tiễn cho thấy, sự phối hợp, kết hợp của cỏc tổ chức đảng với nhau, giữa cỏc tổ chức đảng với chớnh quyền trong cụng tỏc kiểm tra, xử lý vi phạm tham

Trang 27

nhũng của cỏn bộ, đảng viờn là một tất yếu Bởi vỡ, nội dung kiểm tra khụng chỉ thuần tuý là những vấn đề thuộc phạm vi nội bộ Đảng, mà cũn cả những vấn đề liờn quan đến kinh tế, chớnh sỏch, phỏp luật về tham nhũng Khi đảng viờn vi phạm chớnh sỏch, phỏp luật cũng chớnh là vi phạm kỷ luật Đảng Đảng viờn vi phạm tham nhũng khụng chỉ bị xử lý kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chớnh, kỷ luật đoàn thể, mà tuỳ theo tính chất, mức độ cũn bị truy cứu trỏch nhiệm hỡnh sự Do vậy, cú nơi, cú lỳc, nếu cơ quan bảo vệ phỏp luật khụng mạnh dạn thanh tra, điều tra, xột xử đối với tổ chức, cỏ nhõn cú dấu hiệu vi phạm, nhất là trường hợp

cỏ nhõn đú là cấp uỷ viờn hoặc là cỏn bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý, thỡ cấp uỷ đó chủ động chỉ đạo Uỷ ban kiểm tra chủ trỡ, phối hợp với cỏc tổ chức đảng và cơ quan liờn quan để giải quyết, xử lý

Việc thực hiện sự phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm của cỏn bộ, đảng viờn núi chung, vi phạm tham nhũng núi riờng trong thời gian qua, luụn dựa trờn nguyờn tắc đoàn kết, hợp tỏc, tụn trọng lẫn nhau, trờn cơ sở, chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức, cơ quan, dưới sự lónh đạo trực tiếp của cấp uỷ, hoặc tổ chức đảng Hỡnh thức phối hợp, kết hợp cũng linh hoạt, cú thể giữa hai

tổ chức hoặc nhiều tổ chức với nhau, trong đú cú một tổ chức chủ trỡ, chịu trỏch nhiệm chớnh; phối hợp giữa cỏc tổ chức cựng cấp hoặc giữa tổ chức cấp trờn với

tổ chức cấp dưới để giải quyết một vụ việc cụ thể

Trong điều kiện Đảng thống nhất lónh đạo cụng tỏc cỏn bộ và quản lý đội ngũ cỏn bộ, đũi hỏi phải cú sự phối hợp trong cụng tỏc kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý vi phạm tham nhũng của cỏn bộ, đảng viờn Song, sự phối hợp giữa cỏc tổ chức đảng với nhau, giữa cỏc tổ chức đảng với cỏc tổ chức nhà nước, tổ chức chớnh trị - xó hội trong cụng tỏc kiểm tra, thanh tra, điều tra, xem xột, xử lý gặp nhiều khú khăn, vướng mắc Chủ yếu là thiếu một cơ chế phự hợp theo những quy định chặt chẽ, cú chế tài phự hợp, cú tớnh khả thi và cú hiệu lực phỏp

lý cao, thống nhất từ Trung ương đến địa phương Thỏng 5-1999, để phục vụ cho cuộc vận động xõy dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), trong đú cú một trong những trọng tõm là chống tham nhũng, quan liờu, tiờu cực, Bộ Chớnh trị khoỏ VIII đó ban hành 3 quy định: Quy định số

49 về phõn cấp quản lý cỏn bộ; Quy định số 52 về phõn cụng phối hợp giải quyết tố cỏo và Quy định số 53 về quy chế kiểm tra cỏn bộ Đồng thời, thụng qua cỏc quy định núi trờn, Bộ Chớnh trị cũng chỉ đạo cỏc tổ chức đảng cấp dưới xõy dựng cỏc văn bản nhằm cụ thể hoỏ phự hợp với điều kiện, tỡnh hỡnh ở địa phương, đơn vị Đến nay, đó cú 61% tỉnh, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương và 42,5% quận, huyện, thị uỷ và tương đương, 20% cấp uỷ cơ sở xõy dựng được quy chế phối hợp và tổ chức thực hiện Theo kết quả khảo sỏt, đỏnh giỏ, cú 53,5% tổ chức trực thuộc Trung ương, 40% huyện, quận, thị uỷ và tương đương, 19,5% cấp cơ sở thực hiện tốt sự phối hợp, kết hợp trong cụng tỏc kiểm tra Ở những nơi làm tốt đó đưa cụng tỏc kiểm tra, giải quyết tố cỏo đạt kết quả tốt, gúp phần vào cụng tỏc xõy dựng Đảng, trước hết là phục vụ cuộc vận động xõy

Trang 28

dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2); phục vụ đại hội đảng bộ cỏc cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Bước đầu cú sự thống nhất trong việc đỏnh giỏ, bố trớ, sử dụng cỏn bộ hoặc xử lý đối với tổ chức đảng và cỏn bộ, đảng viờn cú sai phạm cả về kỷ luật đảng và về chớnh quyền

Từ năm 2001-2005, Uỷ ban kiểm tra cỏc cấp đó chủ trỡ và phối hợp với cỏc tổ chức đảng, ban ngành cú liờn quan tiến hành kiểm tra đảng viờn khi cú dấu hiệu vi phạm, gần 97 nghỡn trường hợp, bằng 60% so với nhiệm kỳ VIII Trong đú, kiểm tra nội dung vi phạm về tham nhũng 2.837 trường hợp, bằng 24% so với nhiệm kỳ VIII Đó chủ trỡ và phối hợp với cỏc tổ chức đảng, cỏc cơ quan liờn quan tiến hành giải quyết tố cỏo đối với đảng viờn hơn 30 nghỡn trường hợp, bằng 97% so với nhiệm kỳ VIII Trong đú, giải quyết tố cỏo đối với đảng viờn vi phạm tham nhũng là 2.347 trường hợp, bằng 51% so với nhiệm kỳ VIII Qua kiểm tra khi cú dấu hiệu vi phạm và giải quyết tố cỏo đối với cỏn bộ, đảng viờn vi phạm tham nhũng 5.184 trường hợp, đó thi hành kỷ luật 3.494 cỏn

bộ, đảng viờn, bằng 49% so với nhiệm kỳ VIII

c) Trong công tác lónh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện cỏc chủ trương, giải phỏp phũng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước đ∙ đạt đ−ợc một

số thành tựu rất quan trọng

Nhiệm kỳ 2001- 2005, Bộ Chớnh trị, Ban Bớ thư đó trực tiếp tổ chức 6 cuộc kiểm tra và chỉ đạo cấp uỷ cỏc cấp tiến hành kiểm tra cỏc cụng tỏc cú liờn quan tới phũng, chống tham nhũng Việc lónh đạo, chỉ đạo giải quyết khiếu nại,

tố cỏo của cụng dõn theo Chỉ thị số 09-CT/TW của Ban Bớ thư; việc lónh đạo, chỉ đạo thực hiện Quy định của Bộ Chớnh trị về những điều đảng viờn khụng được làm; việc quản lý, sử dụng đất đai, xõy dựng cơ bản, cụng tỏc cỏn bộ Kết quả kiểm tra đó thu hồi tài sản cho ngõn sỏch và cụng quỹ, xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viờn sai phạm, đó cú kết quả tốt, đem lại hiệu quả thiết thực Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng chỳ trọng kiểm tra theo chuyờn đề hoặc một số cụng trỡnh,

dự ỏn trọng điểm, tạo sự chuyển biến trong đấu tranh phũng, chống tham nhũng

Với sự nỗ lực của toàn Đảng và toàn dõn, cuộc đấu tranh phũng, chống tham nhũng, tiờu cực trong thời gian qua đó đạt được một số kết quả nhất định

và cú sự chuyển biến bước đầu Nhiều chủ trương, biện phỏp phũng chống tham nhũng được ban hành và triển khai thực hiện đồng bộ trong cả hệ thống chớnh trị, cỏc cấp cỏc ngành từ Trung ương tới cơ sở Đảng đó chỉ đạo đổi mới cụng tỏc xột xử cỏc vụ ỏn, xử lý nghiờm minh những kẻ vi phạm phỏp luật, trong đú

cả những người giữ chức vụ quan trọng trong bộ mỏy cụng quyền, thực hiện nghiờm việc xem xột, kỷ luật đảng đối với những cỏn bộ, đảng viờn cú sai phạm Nhiều vụ ỏn lớn, tồn động kộo dài từ nhiều năm trước đõy được Bộ Chớnh trị, Ban Bớ thư, cấp uỷ cỏc cấp tập trung chỉ đạo, đưa ra xột xử đỳng người đỳng tội, được nhõn dõn đồng tỡnh Theo thống kờ của 50 tỉnh, thành uỷ và 71 cơ quan Trung ương thỡ: "Tổng số vụ việc nổi cộm, bức xỳc được nờu ra trong kiểm

Trang 29

điểm tự phờ bỡnh và phờ bỡnh là 727, đến giữa thỏng 10/2001 đó giải quyết xong

551 (76%), đang giải quyết 165 (22%), chưa giải quyết 11 (2%) Số vụ mới phỏt sinh sau kiểm điểm là 280, đó giải quyết 104 (37%), đang giải quyết 159 (57%)”2

d) Phong trào phũng, chống tham nhũng cũng thu hỳt được sự tham gia của nhiều ban, ngành, đoàn thể, từ cỏc tổ chức Đảng, Chớnh quyền đến Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niờn

Tỷ lệ nhõn dõn tham gia vào cỏc hoạt động phũng, chống tham nhũng khỏ cao như: đọc tài liệu về chống tham nhũng, nghe phổ biến tổng kết chống tham nhũng, tham gia thanh tra, kiểm tra…thể hiện từng bước phỏt huy cú hiệu quả quy chế dõn chủ ở cơ sở Bờn cạnh đú, Ban Bớ thư, cấp uỷ cỏc cấp chỉ đạo chặt chẽ cỏc tổ chức chớnh trị - xó hội, cỏc cơ quan bỏo chớ chủ động, tớch cực tham gia cỏc hoạt động chống tham nhũng theo chức năng, nhiệm vụ của cỏc tổ chức

đú, tạo nờn sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh này và đó thu được những kết quả đáng khích lệ

Quan liờu, tham nhũng đó, đang và sẽ trở thành tỏc nhõn lớn đe doạ đoàn kết trong nội bộ Đảng, làm xúi mũn mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, nhõn dõn và cỏc tổ chức chớnh trị xó hội trong hệ thống chớnh trị nước ta Đảng ta là Đảng cầm quyền, là người khởi xướng và lónh đạo cụng cuộc đổi mới, sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ đất nước theo định hướng xó hội chủ nghĩa Mọi thắng lợi và thành tựu cũng như mọi khiếm khuyết, tổn thất của sự nghiệp cỏch mạng đều gắn liền với trỏch nhiệm và sự lónh đạo của Đảng Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khoỏ VIII về cuộc vận động xõy dựng, chỉnh đốn Đảng, từ sau Đại hội IX của Đảng đến nay tỡnh hỡnh trong Đảng cú chuyển biến tớch cực trờn một số mặt Việc thực hiện nguyờn tắc tập trung dõn chủ trong sinh hoạt đảng được coi trọng hơn, gắn liền với việc thực hiện đổi mới cụng tỏc cỏn bộ và thực hiện Quy chế Dõn chủ ở cơ sở đó tạo được bước chuyển trong nhận thức về tư cỏch, đạo đức của người cỏn bộ trong điều kiện mới Nhỡn chung, nhiều người trong đội ngũ cỏn bộ lónh đạo, quản lý cỏc cấp đó hạn chế được bệnh quan liờu, lối sống thực dụng, vun vộn cỏ nhõn, nhờ đú đó củng cố được lũng tin của nhõn dõn, xõy dựng khối đoàn kết trong nội bộ Đảng Việc phỏt hiện và đó đưa ra xột xử kịp thời một số vụ ỏn kinh tế - xó hội lớn; thỏi độ kiờn quyết, nghiờm khắc của Đảng trong xử lý số cỏn bộ, đảng viờn vi phạm kỷ luật Đảng, phỏp luật của Nhà nước, kể cả những người giữ cương vị lónh đạo cao trong hệ thống chớnh trị đó cú tỏc dụng phòng ngừa tham nhũng Do vậy, gúp phần: củng cố lũng tin của nhõn dõn vào sự lónh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; phỏt triển kinh tế - xó hội một cách bền vững; ổn định chớnh trị của đất nước Cỏc cấp, cỏc ngành đó chỳ trọng hơn việc giỏo dục, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cỏch mạng cho cỏn bộ, cụng chức Nhiều cơ quan, tổ chức,

2 Bỏo cỏo của Bộ Chớnh trị tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoỏ IX

Trang 30

đơn vị đề ra những quy định cụ thể như: kờ khai tài sản nhà đất, cơ sở sản xuất kinh doanh, nguồn tài trợ cho vợ, con đi học và du lịch nước ngoài; nghiờm cấm dựng ngõn sỏch nhà nước, tập thể làm quà biếu, quà tặng; xử lý và cụng khai trỏch nhiệm cỏn bộ lónh đạo cơ quan đó để cơ quan mỡnh, ngành mỡnh xảy ra những vụ tham nhũng lớn nhằm răn đe hạn chế cỏc điều kiện dễ nảy sinh tham nhũng

Đối với cỏn bộ, cụng chức, chỳng ta đó bắt đầu thực hiện các biện pháp kờ khai nhà đất và tài sản cú giỏ trị đối với cỏn bộ từ trưởng phũng cấp huyện trở lờn; nghiờm cấm việc tớch tụ ruộng đất; cấm vợ (hoặc chồng), con cỏi kinh doanh cỏc ngành nghề mà người đú trực tiếp quản lý Cỏc biện phỏp này cú ý nghĩa nhất định trong việc đề cao tớnh tự giỏc, thực hiện kỷ luật trong đảng viờn, cỏn bộ, cụng chức; là cơ sở cho cấp ủy và chớnh quyền quản lý, xem xột, đỏnh giỏ, bố trớ, bổ nhiệm cỏn bộ Cỏc ngành, cỏc cấp cố gắng chỉ đạo cụng tỏc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cỏo gắn với cụng tỏc đấu tranh chống tham nhũng, đặc biệt là chống tham nhũng trong các lĩnh vực trọng điểm dễ phỏt sinh tham nhũng và lóng phớ, như: quản lý, sử dụng đất đai; xõy dựng cơ bản; tài chớnh, tớn dụng; cỏc chương trỡnh, dự ỏn đầu tư Do đú, đó phỏt hiện và thu hồi cho nhà nước hàng nghỡn tỉ đồng, hàng ngàn hộc-ta đất, cựng nhiều tài sản cú giỏ trị khỏc; xử lý hàng chục nghỡn cỏn bộ, cụng chức sai phạm Việc phỏt hiện và

xử lý theo kỷ luật của Đảng, phỏp luật của Nhà nước những vụ tham nhũng lớn cũng đó cú tỏc dụng phũng ngừa, răn đe giỏo dục, nõng cao nhận thức của nhõn dõn đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng

Tham nhũng ngày càng lan rộng và phổ biến Trong đú, cơ quan hành chớnh Nhà nước là khu vực nhạy cảm dễ phỏt sinh tham nhũng, vỡ đõy là nơi mọi hoạt động quan hệ trực tiếp nhiều nhất, cụ thể nhất, hàng ngày hàng giờ và liờn quan đến đến quyền và lợi ớch của mọi người dõn Để hạn chế tỡnh trạng vũi vĩnh, sỏch nhiễu của một số cỏn bộ, cụng chức, thời gian qua, chỳng ta đó đẩy mạnh cải cỏch hành chớnh và theo quyết định của Chớnh phủ, việc triển khai

"một cửa" cấp xó, phường đó được tiến hành đồng loạt trờn cả nước kể từ

1/1/2005 Bước đột phỏ này của khõu cải cỏch thủ tục hành chớnh làm cho vấn

nạn nhũng nhiễu, tiờu cực “ớt cú cơ hội” hoành hành Tớnh cụng khai minh bạch

trong lĩnh vực tài chớnh, cụng tỏc tổ chức cỏn bộ, kinh phớ ngõn sỏch được cấp, cỏc khoản thu, khoản chi được thực hiện nghiêm túc khiến những kẻ cú ý định lợi dụng tham ụ, tham nhũng phải dố chừng, bớt liều lĩnh, sợ bị phỏt giỏc, phanh phui Đõy là rào cản để ngăn chặn, phũng ngừa tệ tham nhũng, thực hiện phương chõm phũng bệnh, ngừa bệnh từ sớm, khụng để bệnh nặng rồi mới chữa chạy,

dẫn đến “tiền mất, tật mang”, mất tiền, mất cỏn bộ, mất lũng tin của nhõn dõn

e) Trờn mặt trận chống tham nhũng, hoạt động thanh tra chống tham nhũng trong thời gian qua cũng cú nhiều chuyển biến tớch cực

Trang 31

Thụng qua cụng tỏc thanh tra, nhiều sai phạm của cỏc cấp, cỏc ngành đó được phỏt hiện và xử lý nghiờm minh, đặc biệt là những lĩnh vực dễ nảy sinh tham nhũng như đất đai, tài chớnh, ngõn hàng, hải quan, xõy dựng cơ bản Trong quỏ trỡnh kiểm soỏt, xem xột việc chấp hành chớnh sỏch, phỏp luật của cỏc cơ quan, tổ chức, cỏ nhõn cú trỏch nhiệm trong bộ mỏy Nhà nước, cơ quan thanh tra cũng đó phỏt hiện ra những sơ hở, khiếm khuyết trong cơ chế, chớnh sỏch làm phỏt sinh tham nhũng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Bờn cạnh đú, cụng tỏc giải quyết khiếu nại, tố cỏo của cỏc cơ quan thanh tra cũng gúp phần khụng nhỏ trong việc phỏt hiện, phũng ngừa và chống tham nhũng

Việc phũng, chống tham nhũng là việc vụ cựng khú khăn, vất vả và lõu dài Nhưng với sức mạnh tổng hợp của toàn dõn và của cả hệ thống chớnh trị, dưới sự lónh đạo của Đảng, cụng cuộc đấu tranh phũng, chống tham nhũng đó bước đầu thu được những kết quả quan trọng, gúp phần thắng lợi cụng cuộc đổi mới đất nước Mặc dự vậy, tỡnh hỡnh tham nhũng hiện nay vẫn rất nghiờm trọng, gõy nhiều hậu quả to lớn trờn cỏc lĩnh vực chớnh trị - kinh tế - văn hoỏ - xó hội bởi cụng tỏc phũng, chống tham nhũng vẫn cũn nhiều bất cập, thiếu sút

f) Trong công tác khởi tố, điều tra, xét xử các vụ án tham nhũng đ∙ đạt

được một số hiệu quả nhất định

Thực hiện chủ trương của Nhà nước là kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, phát hiện, điều tra xử lý nghiêm minh tội phạm tham nhũng, các lực lượng chức năng đã tập trung lực lượng giải quyết dứt điểm các vụ án tham nhũng bảo đảm

đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Công tác điều tra các vụ án tham nhũng

đều tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật, phục vụ yêu cầu chính trị Nhiều cán

bộ điều tra sáng tạo, mưu trí, linh hoạt thực hiện tinh thần tấn công tội phạm tham nhũng một cách kiên quyết nên đạt được hiệu quả cao trong phát hiện điều tra tội phạm, truy bắt tội phạm cũng như thu hồi tài sản đã chiếm hưởng trái phép trong các vụ án kinh tế

2.1.2 Những hạn chế, thiếu sót trong công tác phòng ngừa và phát hiện tham nhũng

Bên cạnh những thành tựu, kết quả tốt đã đạt được, trong công tác phòng ngừa và phát hiện tham nhũng còn có những hạn chế, thiếu sót sau:

nhũng còn chậm và thiếu với những quy định chưa chặt chẽ, tính khả thi chưa cao

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoỏ IX (T11/2004) đó đỏnh giỏ: “Chưa cú những chủ trương, biện phỏp đồng bộ, cú hiệu lực để khắc phục tỡnh trạng tham nhũng, lóng phớ trong hệ thống chớnh trị, nhất là trong bộ mỏy Nhà nước và trong cỏc tổ chức kinh tế”3 và “… một số chủ trương chớnh

3 Một số văn bản của Đảng về phũng, chống tham nhũng, NXB Chớnh trị Quốc gia, HN, 2005, tr.179

Trang 32

sách nhằm ngăn ngừa đấu tranh chống tệ tham nhũng, lãng phí quy định chưa chặt chẽ, hợp lý, tính khả thi chưa cao, còn ít hiệu quả… Quy định về kê khai nhà đất, tài sản, quy chế dân chủ ở cơ sở, xử lý trách nhiệm, cấm đưa nhận quà biếu… còn có những nội dung chưa cụ thể hoặc còn thiếu chặt chẽ, chính xác, thiếu chế tài đối với những trường hợp vi phạm”

Từ năm 1999, Bộ chính trị đã ban hành Quy định số 55-QĐ/TW (nay là quy định số 19-QĐ/TW, ngày 3/1/2002) về những điều Đảng viên không được làm, trong đó có một số quy định về phòng ngừa tham nhũng, nhưng lại chưa quy định về vai trò giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện Quy định; chưa

đề cập đến hình thức và mức độ xử lý cụ thể nếu vi phạm những điều trong quy định này, nên tác dụng cũng hạn chế

Trong một số chủ trương, chính sách của Đảng có những quy định không

đi vào cuộc sống nhưng chưa được đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để uốn nắn, chấn chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời Những văn bản quy định về phòng, chống tham nhũng phần lớn còn mang tính chủ trương, định hướng, chưa tạo được cơ chế, thiết chế đầy đủ làm cơ sở cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng Các văn bản về chống tham nhũng còn tản mát, chưa tạo được hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ và hoàn chỉnh, gây khó khăn không nhỏ cho việc thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống tham nhũng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Một

số chủ trương như: kê khai tài sản, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị nếu để xảy ra tham nhũng, tiền tệ hoá thu nhập của cán bộ, công chức, bảo vệ an toàn cho người tố cáo tham nhũng, thực hiện quy chế dân chủ ở

cơ sở… chưa được thể chế hoá và cụ thể hoá đầy đủ bằng chính sách, pháp luật, thành các chương trình kế hoạch hành động cụ thể nên chưa phát huy tác dụng tích cực trong phòng, chống tham nhũng Chủ trương kê khai tài sản đối với cán

bộ, công chức là một chủ trương hết sức đúng đắn, có tác dụng rất lớn trong việc phát hiện tham nhũng nhưng chế định này chỉ mang tính hình thức, một phần do chế độ quản lý tiền tệ và thanh toán qua ngân hàng còn hết sức yếu kém, mặt khác việc quản lý tài sản, đặc biệt là nhà đất ở nước ta hầu như không thực hiện được Bên cạnh đó, do không có cơ quan chủ trì, tổng hợp, kiểm tra, xử lý vàkhôngcócác quy định hợplý về việc kê khai tài sản nên biện pháp này hầu như ch−a có tác dụng

Công dân và báo chí chưa có cơ chế hữu hiệu được tạo thuận lợi trong việc phát hiện các hành vi tham nhũng, chưa có cơ chế để bảo vệ người tố giác tránh được sự trả thù, trù dập và cũng chưa có quy định khen thưởng về vật chất

để khuyến khích động viên người tố cáo đúng, góp phần ngăn chặn tham nhũng

và thu hồi tài sản cho Nhà nước đã bị hành vi tham nhũng chiếm đoạt Hiện nay, hiệu quả phát hiện tham nhũng là rất thấp (chỉ phát hiện được khoảng 5% số vụ việc tham nhũng xảy ra trên thực tế - theo tổng kết của ngành Công an) Bởi tham nhũng là một loại tội phạm đặc biệt, chủ thể của nó là những người có chức vụ, quyền hạn, có trình độ nên thực hiện hành vi tham nhũng rất tinh vi,

Trang 33

khó phát hiện và trong nhiều trường hợp kẻ vi phạm dùng nhiều thủ đoạn kể cả dưới danh nghĩa cơ quan Nhà nước để cản trở điều tra và truy cứu trách nhiệm

Vụ việc tham nhũng lớn như vụ chạy quota ở Bộ Thương mại mà một người có

vị trí quan trọng như Thứ trưởng Mai Văn Dâu, cho đến nay cơ quan điều tra mới chúng minh được hành vi nhận hối lộ chỉ là 6000 USD, sai phạm về kinh tế rất lớn trong quá trình xây dựng sân vận động Mỹ Đình mà cuối cùng phải kết luận là “chưa thấy có động cơ tư lợi” và không ai bị xử lý về hành vi tham nhũng là điều dư luận đang đặt dấu hỏi lớn

Luật phòng, chống tham nhũng được Quèc héi thông qua ngày 29/11/2005 đã đưa ra các biện pháp phòng ngừa cụ thể nhưng còn thiếu một giải pháp phòng ngừa rất quan trọng là cải thiện chế độ tiền lương cho cán bộ, công chức nên công tác phòng, chống tham nhũng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc

b) Hạn chế trong việc thực hiện chủ trương, giải pháp của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng

Việc thực hiện một số quy định về phòng, chống tham nhũng mà Đảng và Nhà nước đề ra còn mang tính hình thức, nửa vời, thiếu kiên quyết, nói nhiều làm ít, mang tính đối phó trước sức ép của dư luận Một chủ trương có tác dụng phòng ngừa rất hiệu quả đã được nêu ra từ lâu là cải cách chế độ tiền lương, bảo đảm cho công chức có thể sống được bằng tiền thu nhập từ tiền lương nhưng việc triển khai chủ trương này vừa chậm vừa không có hiệu quả Cơ chế trả lương chưa xứng đáng với sức lao động đã đẩy nhiều người đến hành vi sai trái

để duy trì sự sống, dẫn đến tham nhũng và khó huy động toàn xã hội vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiệu quả

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá IX đã chỉ rõ: “Chưa chỉ đạo chặt chẽ việc sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời có những biện pháp mạnh mẽ tiếp theo, nhất là việc giải quyết các vụ việc tiêu cực nổi cộm đã được nêu ra trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình”4 Cấp uỷ Đảng và chính quyền ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa chủ động phản ánh với cấp uỷ

và chính quyền cấp trên về những khó khăn, hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách; chưa kiến nghị, đề xuất kịp thời những vấn đề cần nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi, ban hành

Hiện nay, các vụ việc liên quan đến tham nhũng, lãng phí, quan liêu tiếp tục được giải quyết một cách có hiệu quả nhưng cũng còn không ít những hạn chế Các cấp uỷ, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ công chức, đảng viên thực hiện không nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ Tình trạng vi phạm hoặc thực hiện sai lệch, không đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp Điều đáng lưu ý là các cấp uỷ,

4 Một số văn bản của Đảng về phòng, chống tham nhũng, NXB Chính trị Quốc gia, HN, 2005, tr.179

Trang 34

tổ chức đảng chưa kiên quyết chỉ đạo, tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc về tham nhũng Một số chủ trương, biện pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn thực hiện nửa vời, mang tính hình thức, chiếu lệ Nhiều cấp ủy thực hiện chưa nghiêm túc, thậm chí còn né tránh những vụ án tham nhũng lớn, nương nhẹ trong xử lý một số cán bộ có liên quan; không xử lý hoặc

xử lý không nghiêm đối với người đứng đầu

Tự phê bình và phê bình là biện pháp rất quan trọng để phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn tham nhũng, quan liêu Nhưng không ít cấp ủy, tổ chức đảng

sử dụng kém hiệu quả vũ khí sắc bén này Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa tự giác tự phê bình và phê bình, chưa làm gương cho cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống tham những Nhiều vụ việc tham nhũng của cán bộ, đảng viên không được đấu tranh, phát hiện từ trong nội bộ cấp ủy, tổ chức đảng mà do quần chúng tố cáo, phát hiện Nhiều nơi chưa hướng dẫn, tổ chức, lấy ý kiến của nhân dân tham gia đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên; chưa công khai kết quả

tự phê bình và phê bình để phát huy vai trò của nhân dân tham gia giám sát cán

bộ, đảng viên

Một số cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cơ quan, đơn vị gia trưởng, độc đoán, không thực hiện đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; lợi dụng chức quyền chạy theo đồng tiền, coi thường sự lãnh đạo của tập thể để

tham nhũng, quan liêu Có người lấy cớ "dân chủ tập thể", nhân danh tập thể cấp

ủy, tổ chức ra những quyết định trái với nghị quyết của cấp trên, hòng bao che hoặc tạo điều kiện cho tham nhũng, quan liêu phát triển

Hiện nay, chúng ta đang thực hiện chương trình tổng thể về cải cách Hành chính Nhà nước của Chính phủ giai đoạn 2001 – 2010, nhưng bộ máy hành chính rườm rà, nhiều tầng nấc, thủ tục hành chính trung gian nên tham nhũng có

cơ hội phát triển Cơ quan hành chính Nhà nước là khu vực nhạy cảm dễ phát sinh tham nhũng vì đây là nơi mọi hoạt động quan hệ trực tiếp nhiều nhất, cụ thể nhất, hàng ngày hàng giờ và liên quan đến đến quyền và lợi ích của mọi người dân Thủ đoạn thường thấy là lợi dụng sự không rõ ràng của pháp luật hoặc qui định của pháp luật tuy rõ ràng cụ thể nhưng cơ quan có thẩm quyền hoặc các cán

bộ, công chức có thẩm quyền đã tìm cách gây khó khăn, phiền hà để buộc người dân và doanh nghiệp quà cáp biếu xén Thủ tục rườm rà có thể do những qui

định hiện hành hoặc do những “sáng tạo” thêm của từng cơ quan công quyền nhằm có cớ để “làm ăn” Mọi việc đều phải trải qua nhiều khâu, nhiều cấp,

nhiều cửa, nhiều dấu khác nhau mà mỗi cửa đều làm hao tốn khá nhiều thời gian

và tiền bạc nếu người dân không biết thủ tục “đầu tiên” Điển hình của kiểu

hành dân này là chuyện muốn xây nhà vệ sinh công cộng ở Đà Nẵng phải có đủ

24 con dấu mà có lần báo chí đã nêu Mặc dù pháp luật đã có qui định để đề cao tính công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức cũng như quyền của người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, tạo điều kiện để công dân và doanh nghiệp đấu

Trang 35

tranh với các biểu hiện quan liêu hách dịch, cửa quyền, tạo cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý những cơ quan, cá nhân có trách nhiệm đã có hành vi

vi phạm nhưng hiện tượng này vẫn xảy ra thường xuyên

Bên cạnh đó, mỗi khi xảy ra tham nhũng, tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị mà mình quản lý hoặc phụ trách chưa được

đề cao Năng lực yếu kém trong quản lý, thiếu trách nhiệm trong quản lý, bao che cho hành vi tham nhũng của người đứng đầu chưa được xử lý nghiêm minh

Tệ hại nhất là khi đã có đầy đủ những qui định giải quyết các sự việc a, b, c ,

và những qui định ấy đều hợp lý, nhưng thay vì hướng dẫn tận tình cho dân rõ

lại đem ra áp dụng theo kiểu “dân hỏi tới đâu trả lời tới đó” hoặc “chung chi

tới đâu, tháo gỡ tới đó” thay vì chủ động hướng dẫn rõ ràng các bước đi cần

thiết cho dân Ví dụ như thay vì ngay từ đầu hướng dẫn cho dân là “anh chị hãy

mua mẫu đơn để điền vào” thì lại chỉ nói “hãy làm đơn đi” để rồi sau đó khi

dân làm xong đơn lại bắt chẹt “đơn viết tay không hợp lệ, phải mua mẫu đơn”

Thiếu tinh thần trách nhiệm còn có thể do cố tình hiểu sai (vì cố tình hoặc

do năng lực kém) các qui định của Nhà nước đối với các sự việc mà dân cần giải

quyết, hoặc không chịu nhận trách nhiệm về mình khi đứng trước các sự việc của dân Chẳng hạn như việc đăng ký thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hiện nay dân không biết phải gõ cửa nào vì sang công chứng nhà nước thì bảo sang chi cục thuế, sang chi cục thuế thì lại bảo việc này do công chứng giải quyết khiến dân không biết đâu mà lần.5

Ngoài ra, quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng cũng còn có nhiều vấn đề nổi cộm Nhiều cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật không chỉ ở cơ sở mà cả ở các cơ quan trung ương cũng có hành vi nhận hối lộ, thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái… với mục đích bảo kê, bao che, thậm chí tiếp tay cho bọn tội phạm Những vụ án lớn như vụ buôn lậu ma tuý của Vũ Xuân Trường (sỹ quan Công an), vụ Khánh Trắng (Hà nội), vụ Trương Văn Cam và đồng bọn (TP Hồ Chí Minh) đều có sự tiếp tay của những cán bộ thoái hoá biến chất trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, chủ yếu là lực lượng Công an

và Viện kiểm sát Trong hoạt động xét xử cũng không thiếu trường hợp thẩm phán nhận hối lộ trực tiếp hoặc qua môi giới trung gian để giảm nhẹ hình phạt hoặc vòi vĩnh, sách nhiễu đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế khi thực hiện công vụ của mình trong quá trình xét xử Trong mấy năm qua, một loạt các vụ việc thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận hối lộ để chạy án đã

bị cơ quan điều tra phát hiện và xử lý; vụ Thẩm phán Võ Trọng Hiếu nhận hối lộ

3 cây vàng và 6 triệu đồng trong một vụ án dân sự đã bị xử phạt 3 năm 6 tháng tù…

Ban Chấp hành TW đã thẳng thắn thừa nhận rằng: “… việc xử lý một số

vụ việc nổi cộm chưa nghiêm, vẫn còn có biểu hiện “trên nhẹ, dưới nặng” và “có

5 Báo Sài Gòn giải phóng, số ra ngày 21-8-2004

Trang 36

những vụ tham nhũng lớn, một số cỏn bộ cú liờn quan, dớnh lớu chưa được xột xử

cụng minh Khụng xử lý hoặc xử lý khụng nghiờm về trỏch nhiệm đối với người

đứng đầu nơi để xảy ra những vụ việc tiờu cực, tham nhũng lớn”6 Trong một số

vụ ỏn tham nhũng lớn, trong giai đoạn điều tra thỡ bỏo chớ cho biết cú dớnh lớu

đến một số cỏn bộ cấp cao, nhưng khi truy tố và xột xử thỡ tỏch ra làm 2 phần,

mà phần 1 thường là chỉ xử lý những đối tượng bờn ngoài xó hội và những cỏn

bộ cấp thấp, phần hai thường để lại là liờn quan đến cỏn bộ cấp cao và việc xử lý

rất chậm, rất khú khăn Đõy cũng là kết quả của sự thiếu phối hợp chặt chẽ giữa

cỏc cơ quan bảo vệ phỏp luật trong điều tra, xột xử, thi hành ỏn

2.2 Thực tiễn công tác điều tra tội phạm tham

nhũng và những vấn đề đang đặt ra

2.2.1 Thực tiễn công tác khởi tố, điều tra các tội phạm tham nhũng

a) Tình hình tội phạm tham nhũng thời gian qua

Trong những năm qua, các lực lượng chức năng đã tăng cường các biện

pháp quản lý nhà nước về an ninh trật tự, đổi mới các mặt công tác nghiệp vụ,

tích cực, chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương làm tốt công tác

phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, bước đầu đạt được những thành tích

quan trọng Nhiều vụ tham nhũng gây thất thoát nghiêm trọng tài sản của Nhà

nước được phát hiện, điều tra và xử lý, góp phần kiềm chế sự gia tăng của các

loại tội phạm, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội

Tuy nhiên, tình hình tội phạm tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, nghiêm

trọng với nhiều thủ đoạn tinh vi, tác động tiêu cực đến hiệu quả thực hiện các

chính sách kinh tế - xã hội và công cuộc đổi mới, gây thất thoát ngân sách nhà

nước Vì vậy, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp

tục khẳng định: "Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, gây bất bình

trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta" Nhận

thức rõ tính chất quan trọng của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, ngày

21/11/1992 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 114-TTg Về những

biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng và buôn lậu Trên

cơ sở đó, các ngành các cấp trong cả nước đã khẩn trương triển khai các mặt

công tác đấu tranh chống tham nhũng và đã đạt được nhiều kết quả đáng kể

Trong thời gian từ 1993 đến 2004, lực lượng Công an đã phát hiện 9.960

vụ tham nhũng, gây thiệt hại 7.558 tỷ đồng Số vụ tham nhũng và thiệt hại do các

vụ tham nhũng gây ra từng năm như sau:

Năm Số vụ Thiệt hại (triệu đồng)

6 Một số văn bản của Đảng về phũng, chống tham nhũng, NXB Chớnh trị Quốc gia, HN, 2005, tr.180,181.

Trang 37

Hành vi tham nhũng thường gắn liền với hành vi lãng phí ở khu vực nhà

nước, trong nhiều trường hợp trở thành “hai mặt của một vấn đề” Mối liên hệ

này biểu hiện dưới các yếu tố sau đây:

+ Tham nhũng và lãng phí đều dẫn đến hậu quả là làm thất thoát nghiêm

trọng tài sản của Nhà nước; đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, cơ chế "xin- cho",

vi phạm trong cấp, phát vốn đã gây thất thoát lớn ngân sách Nhà nước Kết quả

kiểm tra năm 2001- 2002 tại 43 tỉnh, thành phố và 7 bộ, ngành thấy: Các đơn vị

này đã mua 420 xe ô tô vượt giá quy định là 31,8 tỷ đồng Theo báo cáo của 18

đơn vị tự kiểm tra và 6 đơn vị được kiểm tra đã mua 396 xe ô tô vượt giá quy

định 52,56 tỷ đồng Về số tiền sử dụng điện thoại qua kiểm tra của Bộ Tài chính,

tại 27 bộ, ngành và 58 tỉnh, thành phố trong năm 200l- 2002 đã chi sai chế độ

10,45 tỷ đồng

Về tình trạng lãng phí trong việc chi phí cho hội nghị, tiếp khách, tặng quà

diễn ra ở hầu hết các bộ, ngành, cơ quan doanh nghiệp và các địa phương Từ

năm 2001 đến tháng 6/2003, tại 23 tỉnh, thành và một bộ đã tổ chức 160.340 hội

nghị, hội thảo với số tiền chi phí là 242,93 tỷ đồng; chi tiếp khách của 24 tỉnh,

thành và một bộ số tiền là 305,5 tỷ đồng; chi quà tặng của 29 tỉnh thành và 18

bộ, ngành là 13,7 tỷ đồng

+ Trong nhiều trường hợp, tình trạng lãng phí chính là môi trường thuận

lợi để người phạm tội chiếm đoạt tài sản nhà nước; mục đích của hành vi lãng

phí là lợi dụng để trục lợi Lãng phí đã trở thành điều kiện để hành vi tham

nhũng nảy sinh và phát triển; đồng thời cũng tạo ra những hoàn cảnh nhất định

để đối tượng tham nhũng dễ dàng che dấu hành vi vi phạm của mình Tại những

cơ quan, đơn vị xảy ra lãng phí thì hành vi tham nhũng sẽ rất khó bị phát hiện; và

khi có nguy cơ bị phát hiện, đối tượng tham nhũng sẽ tìm cách nguỵ biện, cho

Trang 38

rằng đó chỉ là việc làm lãng phí nhằm làm giảm đi tính chất nghiêm trọng của sai phạm, đặc biệt là nhằm trốn tránh trách nhiệm trước pháp luật

Từ trước đến nay, do hậu quả của một thời gian dài buông lỏng quản lý,

do cơ chế quan liêu bao cấp nên đã nảy sinh một tư tưởng khá phổ biến trong

quản lý, sử dụng tài sản nhà nước là tình trạng “cha chung không ai khóc” Hành

vi lãng phí thường bị xem nhẹ, coi đó là chuyện thường ngày và trong bối cảnh

đó, đối tượng tham nhũng sẽ dễ dàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng

được che dấu bằng hành vi lãng phí

Xem xét các số liệu về tình trạng lãng phí trong mua sắm phương tiện và chi hội nghị, hội thảo, tiếp khách ở các cơ quan nhà nước nêu ở trên cho thấy thật khó có thể coi đó chỉ là sự lãng phí Nhiều trường hợp người được giao đi mua tài sản đã thoả thuận với người bán để nâng giá tài sản lên, sau đó người bán

“lại quả” cho người đi mua với số tiền nhiều khi lên đến hàng trăm triệu đồng (thủ đoạn này thường được gọi là “gửi giá”) Hoặc kể cả việc mua bán là đúng giá thị trường, nhưng đối với những tài sản có giá trị lớn như ô tô, tàu thuỷ, nhà

đất, máy móc, trang thiết bị đắt tiền thì người bán luôn có tỷ lệ “hoa hồng” nhất định đối với những khách hàng đi mua bằng tiền Nhà nước Do có lợi ích trong việc mua, bán tài sản nên cán bộ quản lý tài sản thường chủ động đề xuất hoặc quyết định mua tài sản vượt quá định mức quy định, vượt quá giá thị trường; hoặc trong trường hợp được giao hoá giá, bán tài sản của Nhà nước thì lại

định giá thấp hơn giá trị thực của tài sản (đặc biệt là trong việc thanh lý hoặc

định giá tài sản khi thực hiện cổ phần hoá) và tất cả đều mang lại lợi ích cho cá nhân thông qua việc mua bán đó Tình trạng này nếu nhìn bề ngoài thì chỉ là lãng phí, nhưng thực chất đó chính là tham nhũng núp dưới cái vỏ của lãng phí

Việc sử dụng tài sản, ngân sách Nhà nước để chi quà biếu nhân dịp lễ, tết vừa có hành vi lãng phí, vừa có hành vi tham nhũng Đã có không ít trường hợp người hoặc cơ quan, tổ chức nhận quà chỉ có “trên giấy”, hoặc chỉ được nhận rất

ít so với số tiền thực chi đã được thanh, quyết toán Một vấn đề tâm lý mang tính quy luật là đối tượng được nhận quà biếu thường không bao giờ kiểm tra xem số tiền hoặc giá trị quà biếu thực chất là bao nhiêu, có bị “ăn bớt” hay không Do vậy, nhiều người đã lợi dụng việc này để trục lợi Họ thường đề xuất danh sách rất nhiều người sẽ được nhận quà biếu với giá trị lớn, thậm chí có sự thông đồng giữa cán bộ đề xuất và thủ trưởng duyệt chủ trương biếu và thanh quyết toánđể

ănchialợiích.ở đây thật khó phân biệt đó là lãng phí hay tham nhũng

+ Tuy cùng là hành vi gây thất thoát tài sản, nhưng pháp luật quy định những chế tài khác nhau giữa hai hành vi tham nhũng và lãng phí Bộ luật hình

sự chỉ quy định các tội phạm về tham nhũng (mục A chương XXI, gồm các điều

từ Điều 278 đến Điều 284), mà không có tội lãng phí tài sản Trong một số trường hợp cụ thể, hành vi lãng phí có thể bị coi là phạm tội: thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước; tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản; thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng Nghiên cứu quy

định của Bộ luật hình sự về các tội phạm này thấy: trong khi các tội phạm về

Trang 39

tham nhũng hầu hết là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với khung hình phạt rất nghiêm khắc, thì hành vi lãng phí trong một số rất ít trường hợp chỉ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144), tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145), tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285) là những tội nhẹ hơn nhiều so với các tội phạm về tham nhũng Đối tượng tham nhũng biết rất rõ điều này, và họ đã triệt để lợi dụng nhằm trốn tránh trách nhiệm trước pháp luật về hành vi vi phạm của mình

Nhận thức được mối liên hệ mật thiết giữa tham nhũng và lãng phí trong khu vực Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật dưới dạng này Chính vì lãng phí và tham nhũng thường xuất hiện rất gần nhau, cái nọ ẩn trong cái kia nên trong nhiều trường hợp, lãng phí là một trong những biểu hiện bên ngoài của tham nhũng Do

đó, tiến hành thanh tra, điều tra làm rõ hiện tượng lãng phí đã trở thành một trong những phương pháp hữu hiệu để phát hiện và đấu tranh với tội phạm tham nhũng Các cơ quan chức năng khi thấy dấu hiệu hoặc dư luận của tình trạng lãng phí cần liên hệ ngay đến hành vi tham nhũng để định hướng điều tra, xác minh làm rõ Thực tế cho thấy, nhiều vụ án lúc đầu chỉ khởi tố với các tội danh

về thiếu trách nhiệm, nhưng quá trình điều tra do ý thức được mối quan hệ nêu trên nên đã làm rõ và khởi tố đối tượng về các tội phạm tham nhũng như tham ô, nhận hối lộ , bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

- Tổng hợp bỏo cỏo của 47 tỉnh thành phố và 20 bộ ngành từ năm 2000 đến 2004 đó phỏt hiện và xử lý 8.851 vụ tham nhũng với trờn 12.438 người Tổng số cỏn bộ, cụng chức cú hành vi tham nhũng bị xử lý kỷ luật hành chớnh là

9665 người Phõn tớch số liệu thống kê của 26 tỉnh, 03 Bộ, ngành thấy:

+ Cỏn bộ, cụng chức cấp xó hoặc ở cỏc đơn vị thuộc Bộ là 2.101 người; + Cán bộ cấp huyện hoặc cấp phũng thuộc thuộc Bộ là 582 người;

+ Cỏn bộ cấp sở hoặc cấp vụ ở Bộ là 53 người;

+ Cỏn bộ cấp tỉnh hoặc lónh đạo Bộ là 151 người;

+ Lónh đạo và cỏn bộ trong cỏc doanh nghiệp nhà nước là 569 người; + Đối tượng khỏc là 747 người

Tổng số cỏn bộ bị xử lý hỡnh sự là 2773 người Phõn tớch số liệu thống kê của 27 tỉnh và 03 bộ ngành thỡ số lượng này được “phõn bố” như sau:

+ Cỏn bộ cấp xó hoặc đơn vị thuộc bộ là 433 người;

+ Cỏn bộ cấp huyện hoặc cấp phũng thuộc Bộ là 162 người;

+ Cỏn bộ cấp tỉnh hoặc lónh đạo Bộ là 73 người;

+ Lónh đạo và cỏn bộ trong cỏc doanh nghiệp nhà nước là 309 người; + Đối tượng khỏc là 390 người

Trang 40

Số liệu nờu trờn cho thấy tham nhũng cú ở mọi cấp và đang dần trở thành phổ biến Tuy nhiờn đú chỉ là những phần nhỏ so với thực tế bởi vỡ đú là cỏc số liệu khụng đầy đủ ở cỏc tỉnh, thành, bộ, ngành

Cú một vấn đề đặt ra là việc đỏnh giỏ thực trạng tham nhũng dựa trờn những tiờu chớ nào hoặc bao gồm những nội dung gỡ, đối tượng là những ai? Đõy là vấn đề hết sức phức tạp khiến cho việc tổng hợp số liệu khụng đầy đủ và khú cú thể làm căn cứ phõn tớch thực trạng này Theo qui định của phỏp luật hiện hành thỡ, về cơ bản khi một hành vi vi phạm xảy ra thỡ người thực hiện hành vi đú cú thể bị xử lý về: kỷ luật, hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

b) Công tác khởi tố, điều tra

Thực hiện chủ trương của Nhà nước là kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, phát hiện, điều tra xử lý nghiêm minh tội phạm tham nhũng, các lực lượng chức năng đã tập trung tấn công mạnh vào các vụ án tham nhũng Công tác điều tra các vụ án tham nhũng đều tuân thủ các nguyên tắc pháp luật, chính trị; luôn sáng tạo, mưu trí, linh hoạt thực hiện tinh thần tấn công tội phạm tham nhũng một cách kiên quyết nên đạt được hiệu quả cao trong phát hiện điều tra tội phạm, truy bắt tội phạm cũng như thu hồi tài sản đã chiếm hưởng trái phép trong các vụ án kinh tế Có thể nói đa số các vụ án kinh tế đều xử lý đúng người, đúng tội; đặc biệt là các vụ án Tân Trường Sanh, EPCO - Minh Phụng, Tamexco, Dệt Nam

Định, vụ Lã Thị Kim Oanh, vụ Ngân hàng Việt Hoa, vụ buôn lậu của Công ty

Đông Nam

Cơ quan điều tra các cấp có nhiều cố gắng trong hoạt động điều tra tố tụng, khẩn trương tập trung điều tra các vụ án lớn, trọng điểm để kịp thời đưa ra truy tố, xét xử đáp ứng yêu cầu trừng trị tội phạm, bảo đảm yêu cầu xử lý đúng người, đúng tội, không để lọt tội phạm Tình trạng oan sai trong hoạt động điều tra đã được hạn chế rất nhiều Trong đó, lực lượng Công an nhân dân luôn xác

định được vai trò xung kích trên mặt trận này và trong thực tế đã khẳng định

được vị trí là trung tâm giáp mối, liên kết và thúc đẩy các cấp các ngành trong phòng ngừa cũng như đấu tranh không khoan nhượng với tội phạm tham nhũng

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 114-TTg ngày 21/11/1992, các ngành, các cấp đã thành lập Ban thường trực chống tham nhũng, buôn lậu ở 27 bộ, ngành, 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 70 tổng công

ty thành lập theo quyết định 90, 91 của Thủ tướng Chính phủ

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, các lực lượng chức năng đã phối hợp thực hiện đồng bộ chương trình này tại cộng đồng dân cư cũng như trong các cơ quan, doanh nghiệp Đến nay đã triển khai thực hiện Nghị quyết số

Ngày đăng: 04/10/2023, 21:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2005
2. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2005
3. Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác đấu tranh chống tham nhũng, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác đấu tranh chống tham nhũng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
6. GS, TS Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm có tổ chức, Mafia và toàn cầu hoá tội phạm, Nhà xuất bản Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm có tổ chức, Mafia và toàn cầu hoá tội phạm
Tác giả: GS, TS Nguyễn Xuân Yêm
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
7. Liên hợp quốc, Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
Tác giả: Liên hợp quốc
9. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2001), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa CHXHCN Việt Nam và các nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa CHXHCN Việt Nam và các nước
Tác giả: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Quốc hội nước CHXHCNVN, Bộ luật Hình sự năm 1999, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự năm 1999
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2000
11. Quốc hội nước CHXHCNVN, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Quốc hội nước CHXHCNVN, Hiến pháp năm 1992, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1992
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1995
13. Quốc hội nước CHXHCNVN, Luật An ninh quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật An ninh quốc gia
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
14. Quốc hội nước CHXHCNVN, Luật Phòng chống ma tuý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Phòng chống ma tuý
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
15. Thanh tra Chính phủ, Viện Khoa học Thanh tra, Với Công ước liên hợp quốc về chống tham nhũng, Nhà xuất bản tư pháp, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Với Công ước liên hợp quốc về chống tham nhũng
Tác giả: Thanh tra Chính phủ, Viện Khoa học Thanh tra
Nhà XB: Nhà xuất bản tư pháp
Năm: 2004
16. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 114-TTg ngày 21/11/1992 "Về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng và buôn lậu&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng và buôn lậu
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1992
4. CHXHCN Việt Nam, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN Khác
5. CHXHCN Việt Nam, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự và Hiệp định về dẫn độ với Hàn Quốc Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w