MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xác định hiện trạng và phân bố của các thành phần như trứng cá, cá con, ấu trùng tôm và tôm con kinh tế là rất quan trọng Cần nghiên cứu bãi đẻ và mùa vụ sinh sản để bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đồng thời, xác định các vùng hạn chế (cấm) khai thác sẽ giúp duy trì sự phát triển bền vững cho các loài này.
• Đề xuất các biện pháp bảo vệ hợp lý.
CÁCH TIẾP CẬN
PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Trong quá trình phát triển, các loài thuỷ hải sản trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, bắt đầu từ các vùng nước ven bờ và cửa sông giàu dinh dưỡng Khi trưởng thành, chúng di chuyển ra vùng nước ngoài khơi có độ muối cao hơn, nhưng lại trở về cửa sông và ven biển để sinh sản Do đó, các khu vực này đóng vai trò quan trọng trong việc tập trung và phát triển các loài thuỷ sản Ngoài ra, các yếu tố như vật lý thuỷ văn, chế độ thuỷ triều, chất lượng môi trường nước và phương thức khai thác cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố và quần tụ của các loài thuỷ hải sản.
Đề tài này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn giống hải sản nhằm khôi phục và phát triển nguồn lợi hải sản Để đưa ra các đề xuất thực tiễn, cần tiến hành khảo sát để nắm bắt hiện trạng về thành phần loài, phân bố mật độ TCCC và ATT-TC, cũng như tình hình khai thác và môi trường ảnh hưởng Qua đó, xác định các khu vực cần hạn chế hoặc cấm khai thác trong một thời gian nhất định và áp dụng cho từng loại ngư cụ khai thác.
CÁCH TIẾP CẬN
3.2.1 Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây
Kế thừa và so sánh các kết quả nghiên cứu trước đây về TCCC và ATT-TC, bài viết này đóng góp vào việc hoàn thiện đề cương, phương pháp nghiên cứu và định hướng cho đề tài.
3.2.2 Trên cơ sở khoa học
Các hoạt động nghiên cứu của Đề tài sẽ được thực hiện một cách đồng bộ theo các giải pháp tiếp cận chủ yếu sau:
+ Điều tra/ khảo sát đánh giá hiện trạng và một số yếu tố môi trường chính ảnh hưởng đến trứng cá - cá con và ấu trùng tôm - tôm con
Chương trình khảo sát được thực hiện rộng rãi với các trạm thu mẫu hoạt động liên tục, cả ngày lẫn đêm Ngoài việc thu mẫu TCCC và ATT-TC, các thông số như nhiệt độ, độ muối, độ trong, chất nền đáy, dòng chảy và sinh vật phù du cũng sẽ được thu thập tại khu vực biển nghiên cứu.
Khi đã xác định được các khu vực tập trung TCCC và ATT-TC (60 trạm), năm thứ 2
Đề tài sẽ thực hiện điều tra tại 70 trạm trong khu vực trọng điểm để kiểm chứng các yếu tố môi trường chính liên quan, theo quy trình đã đề ra.
+ Giám sát hoạt động khai thác
Chương trình giám sát hoạt động khai thác trên tàu ngư dân tại các ngư trường truyền thống được triển khai ở một số tỉnh trọng điểm, nhằm kiểm tra thành phần, kích thước và sản lượng của các loài cá và tôm con Hoạt động này kết hợp với chương trình phỏng vấn và thu mẫu nghề cá để đảm bảo tính chính xác trong việc đánh giá nguồn lợi thủy sản.
Quá trình giám sát hoạt động khai thác trên các tàu lưới kéo đáy, lưới vây và nghề đáy được thực hiện tại vùng biển nghiên cứu Mẫu phân tích được lấy ngẫu nhiên từ sản lượng của mỗi mẻ, xác định thành phần loài, đo kích thước và cân khối lượng Khối lượng mẫu sau đó được nhân lên để tính cho toàn bộ mẻ lưới, giúp xác định phần trăm cá và tôm con bị đánh bắt bởi các loại ngư cụ trong tổng sản lượng khai thác.
+ Phỏng vấn và thu mẫu nghề cá
Chương trình thu mẫu và phỏng vấn nghề cá được triển khai nhằm xác định thành phần loài, sản lượng cá và tôm con bị đánh bắt, cũng như thời gian sinh sản của chúng Các loại nghề như lưới kéo đáy, lưới vây và nghề đáy tại các bến cá ven biển trọng điểm được khảo sát Sau khi thu thập thông tin qua phiếu phỏng vấn, mẫu phân tích được lấy ngẫu nhiên từ tổng sản lượng của chuyến biển, bao gồm tôm cá tạp và cá phân Thời gian thu mẫu diễn ra trong suốt 12 tháng trong năm, tương tự như chương trình giám sát hoạt động khai thác.
Đề tài sẽ cử người tham quan, học tập kinh nghiệm làm tiêu bản mẫu và các phương pháp thu mẫu, phân tích, xử lý mẫu TCCC và ATT-TC trong và ngoài nước Đồng thời, sẽ mời chuyên gia TCCC và ATT-TC quốc tế để trao đổi kinh nghiệm, tập huấn cho các bộ nghiên cứu, tổ chức hội thảo nhằm thu nhận thông tin đa chiều.
3.2.3 Tiếp cận tổng hợp, liên ngành
Kết hợp với các Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hợp tác xã địa phương và các cơ quan quản lý, nhằm thu thập tài liệu và phối hợp công tác là rất quan trọng Quá trình này diễn ra thường xuyên, với sự trao đổi thẳng thắn và mang tính thực tiễn cao.
3.2.4 Tăng cường quan hệ quốc tế
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của dữ liệu, cần tận dụng nguồn tài liệu và nhân lực trong nước, đồng thời hợp tác quốc tế bằng cách mời các chuyên gia về TCCC và ATT-TC từ nước ngoài tham gia vào quá trình đào tạo, phân tích và chuẩn hóa các mẫu thu thập được.
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Báo cáo sử dụng số liệu từ 07 chuyến điều tra, bao gồm 4.200 mẫu TCCC và ATT-TC, với 700 mẫu cho mỗi yếu tố môi trường; 10 chuyến giám sát hoạt động khai thác với 152 mẻ lưới; và 12 chuyến thu mẫu cùng phỏng vấn nghề cá thương phẩm, với 353 lượt tàu tại các bến cá của 6 tỉnh trọng điểm trong năm 2007-2008.
Bảng 1 Các chuyến thu mẫu của Đề tài trong năm 2007-2008
Giám sát khai thác x x x x x x x x x Đào tạo x x x x x
4.1.1 Đối tượng và tàu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là Trứng cá - cá con; và Ấu trùng tôm - tôm con ở vùng ven biển Đông Tây Nam Bộ Những đối tượng có số lần bắt gặp nhiều; bắt gặp với số lượng lớn hoặc thuộc nhóm cá kinh tế sẽ được nghiên cứu sâu về thành phần loài (nếu có thể) và mật độ phân bố
Bảng 2 Danh sách các đối tượng nghiên cứu ở vùng ven biển Đông Tây Nam Bộ
Trứng cá - cá con Ấu trùng tôm - tôm con
1/ Cá Sơn - Apogonidae 8/ Cá Đàn lia - Callionymidae 1/ Tôm Gõ mõ - Alpheidae 2/ Cá Trỏng – Engraulidae 9/ Cá Đù - Sciaenidae 2/ Pasiphaeidae
3/ Cá Liệt – Leiognathidae 10/ Cá Mối - Synodontidae 3/ Tôm He - Penaeidae 4/ Cá Khế - Carangidae 12/ Cá Hố - Trichiuridae 4/ Moi biển - Sergestidae 5/ Cá Trích - Clupeidae 13/ cá Chình rắn - Ophichthidae
13/ Cá Tuyết tê giác - Bregmacerotidae
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng biển ven bờ Đông và Tây Nam Bộ, với độ sâu dưới 30m Khu vực nghiên cứu được giới hạn bởi kinh tuyến 105°00'E, phân chia giữa vùng biển Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, như thể hiện trong hình 1.
Hình 1 Sơ đồ trạm vị nghiên cứu của Đề tài năm 2007 (A) và 2008 (B)
Các loài hải sản ở vùng biển Việt Nam, đặc biệt là ven biển Đông Tây Nam Bộ, có chu kỳ sinh sản diễn ra quanh năm, với hai đợt đẻ chính vào tháng 4-6 và tháng 10-12 Ngoài ra, còn có những lần đẻ với mật độ thấp hơn vào tháng 2-3 và tháng 8 Nghiên cứu này được thực hiện trong năm 2007-2008.
- Thời gian điều tra diện rộng được tiến hành vào các tháng 2-3, 5, 8 và 11 hàng năm
- Thời gian giám sát trên tàu dân: vào các tháng 2-3, 4-5, 7-8 và 10-11
- Thời gian thu mẫu nghề cá thương phẩm: Từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2007
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.2.1 Điều tra hiện trạng thành phần, phân bố và số lượng trứng cá - cá con và ấu trùng tôm - tôm con, cùng một số yếu tố môi trường có liên quan
Tại mỗi trạm nghiên cứu, mẫu TCCC và ATT-TC được thu thập bằng 3 loại lưới (tầng mặt, thẳng đứng và đáy) cùng với các yếu tố môi trường như độ muối, nhiệt độ, dòng chảy, ô sinh vật phù du, độ trong nước biển và chất nền đáy Tại phòng thí nghiệm, các mẫu được phân tích thành phần loài cho các nhóm riêng biệt như trứng cá, cá con, ấu trùng tôm, tôm con, động vật phù du, thực vật phù du, dòng chảy, chất nền đáy, nhiệt độ và độ muối Số lượng TCCC và ATT-TC được tính toán trên 1000m³ nước biển, và điều kiện môi trường tại các trạm nghiên cứu được so sánh với mật độ của TCCC và ATT-TC.
4.2.2 Nghiên cứu đánh giá tác động của một số ngư cụ khai thác đối với cá con và ấu trùng tôm, tôm con ở vùng biển nghiên cứu
Trong các chuyến giám sát hoạt động khai thác trên tàu ngư dân, chúng tôi tiến hành thu mẫu và phân tích thành phần loài, khối lượng, cũng như đo chiều dài các cá thể được bắt gặp Đồng thời, phỏng vấn thông tin liên quan đến hoạt động nghề cá, ngư lưới cụ và ngư trường khai thác Ngoài ra, chúng tôi xác định tỷ lệ sản lượng và tần suất chiều dài của cá và tôm con bị khai thác bởi một số loại ngư cụ.
4.2.3 Xây dựng bản đồ bãi đẻ, mùa vụ sinh sản của một số đối tượng bắt gặp ở khu vực nghiên cứu theo không gian và thời gian
Các bản đồ phân bố trứng cá, cá con, ấu trùng tôm và tôm con ở vùng biển ven bờ Đông Tây Nam Bộ sẽ được thể hiện qua phần mềm MapInfo Professional 7.5 SCP Những bản đồ này bao gồm bản đồ phân bố chung cho từng đối tượng nghiên cứu, bản đồ phân bố theo họ và bản đồ phân bố theo loài, được phân tích theo không gian và thời gian với đơn vị là cá thể trên 1000m³ nước biển.
4.2.4 Đề xuất các biện pháp bảo vệ hợp lý
Để bảo vệ, khôi phục, tái tạo và phát triển nguồn lợi hải sản vùng ven biển Đông-Tây Nam Bộ, cần triển khai các biện pháp kỹ thuật, pháp lý và xã hội hiệu quả Đồng thời, việc nghiên cứu tiếp tục ở các vùng biển khác cũng rất quan trọng nhằm đảm bảo sự bền vững cho nguồn lợi hải sản trong tương lai.
Các nhà quản lý cần lập kế hoạch phát triển nghề cá bằng cách nghiêm cấm hoặc hạn chế khai thác tại các khu vực có bãi đẻ và bãi giao vĩ của tôm cá, cũng như nơi sinh cư tự nhiên của cá Cần thực hiện các biện pháp cấp bách để bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở vùng ven bờ Đồng thời, việc tuyên truyền về tầm quan trọng của bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là TCCC và ATT-TC, đến cộng đồng ngư dân ven biển là rất cần thiết.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.3.1 Tàu và thiết bị thu mẫu
Tàu sử dụng không thay đổi trong các chuyến điều tra Địa điểm xuất phát và kết thúc là cảng cá Vũng Tàu (Bảng 3)
Bảng 3 Các thông số kỹ thuật của tàu sử dụng trong nghiên cứu
1 Đăng kí tàu : BV 7603 TS 5 Công suất máy chính: 200CV
2 Chiều dài tàu: 18,50m 6 Chất liệu vỏ tàu: Gỗ
3 Chiều rộng tàu: 5,20m 7 Năm đóng tàu: 1998
4 Chiều cao mớn nước: 2,60m 8 Máy đo độ sâu, định vị: Furuno
+ Thiết bị thu mẫu TCCC và ATT-TC
Lưới kéo tầng mặt được làm từ sợi ni-lon, có miệng hình chữ nhật với kích thước dài 1m và rộng 0,5m, kích thước mắt lưới là 450 Thiết kế lưới có hình chóp nón, chiều dài từ miệng lưới đến ống đáy là 3m, được sử dụng để thu mẫu ở tầng nước từ 0,5 đến 0m.
- Lưới kéo thẳng đứng (xiên): Lưới có miệng hình tròn, đường kính 0,8m Lưới có cấu tạo giống như lưới kéo tầng mặt
Lưới kéo tầng đáy có thiết kế miệng lưới hình chữ nhật với chiều dài 1,00m và chiều rộng 0,75m, kích thước mắt lưới là 2a = 1mm Khung lưới được làm từ sắt chống gỉ, với ván trượt có chiều ngang 0,2m, chiều dài 1m và cách đáy 0,2m (Hình 2).
- Máy đo lượng nước qua lưới của Mỹ, độ chính xác +/- 3%, độ nhạy 0,2-2,0m/giây
+ Thiết bị thu mẫu môi trường
- Nhiệt độ không khí được đo bằng nhiệt kế, sóng, gió được quan trắc bằng mắt thường theo quy phạm quan trắc trên biển
Nhiệt độ nước biển ở tầng mặt được xác định thông qua nhiệt kế và thiết bị TOA-A22, trong khi nhiệt độ ở tầng đáy được đo bằng nhiệt kế đảo Độ muối của nước biển được đo bằng máy WTW LF197-S và TOA-A22.
- Độ trong nước biển được đo bằng đĩa secchi
- Dòng chảy được tính được đo bằng máy lưu hướng kế CM-2 (Nhật Bản)
Thông số kỹ thuật: - Khoảng đo: 0,0 - 500 cm/s
Sinh vật phù du được thu thập bằng lưới hình chóp có diện tích miệng lưới rộng 0,2m² Lưới sử dụng có cỡ mắt lưới 100µm (hay No 64) để thu TVPD, và cỡ mắt lưới 330µm.
No 38) dùng để thu ĐVPD (Hình 3)
Hình 2.Dụng cụ thu mẫu tầng thẳng đứng (A), mặt (B), đáy (C) và đo lượng nước qua lưới (D)
Hình 3 Dụng cụ thu mẫu động vật phù du (A) và thực vật phù du (B)
4.3.2 Thiết kế trạm điều tra Đề tài tiến hành điều tra/ khảo sát ở khu vực có độ sâu < 30m nước, được chia thành
Trong năm 2007, đề tài sẽ thực hiện 04 đợt khảo sát, mỗi đợt khảo sát gồm 60 trạm, với tổng cộng 600 mẫu được thu thập mỗi lần khảo sát Các mặt cắt được khảo sát có khoảng cách 15-20 hải lý và số lượng trạm từ 1 đến 5 tùy theo từng mặt cắt, với mỗi trạm được khảo sát 04 lần trong các tháng 2, 5, 8 và 11 Trong đó, có 08 trạm thu mẫu liên tục 4 giờ một lần.
Vào năm 2008, sau khi xác định các khu vực tập trung TCCC và ATT-TC, đề tài sẽ tiến hành điều tra và khảo sát tại những khu vực trọng điểm cùng với các yếu tố môi trường liên quan Để nâng cao hiệu quả nghiên cứu, các khu vực có TCCC và ATT-TC cao sẽ được bổ sung thêm 70 trạm vị trong mỗi đợt nghiên cứu (Hình 1).
Tại mỗi trạm nghiên cứu, sau khi tàu dừng lại khoảng 15 phút để mặt biển ổn định, tiến hành thu mẫu TCCC và ATT-TC ở các tầng thẳng đứng và quan trắc các yếu tố môi trường Mẫu động - thực vật phù du, TCCC và ATT-TC ở tầng mặt và tầng đáy được thu thập với tốc độ tàu chạy khoảng 2 hải lý/giờ trong khoảng thời gian 5-10 phút.
4.3.3.1 Thu m ẫ u tr ứ ng cá - cá con và ấ u trùng tôm - tôm con
Lưới kéo tầng mặt được thả cách mạn tàu khoảng 30m và cố định vào mạn tàu, cho phép tàu di chuyển ngược sóng với tốc độ khoảng 2 hải lý/giờ Thời gian thu mẫu được tính từ khi lưới ổn định cho đến khi bắt đầu vớt lên, thường dao động từ 5 đến 10 phút.
- Lưới kéo thẳng đứng (xiên): Khi thu mẫu lưới được thả theo phương thẳng đứng, sao cho miệng lưới vừa chạm đáy
Lưới kéo tầng đáy được thả ở phía sau tàu với chiều dài dây tùy thuộc vào độ sâu nơi thu mẫu Tàu chạy ngược sóng với tốc độ khoảng 2 hải lý/giờ, và thời gian thu mẫu kéo dài từ 5-10 phút kể từ khi lưới ổn định cho đến khi vớt lên Lưới này có khả năng thu được cá và tôm con ở giai đoạn hậu ấu trùng và con non.
Lượng nước qua lưới được đo bằng máy flowmetter gắn tại miệng lưới Sau khi rửa sạch mẫu bùn đất, toàn bộ mẫu được chuyển vào lọ nhựa 1 lít và bảo quản trong dung dịch formaldehyd 5-7% để mang về phòng thí nghiệm phân tích.
4.3.3.2 Thu m ẫ u môi tr ườ ng
Tại các trạm nghiên cứu, các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, độ trong nước biển, dòng chảy, chất nền đáy, và động - thực vật phù du được thu thập và phân tích theo Quy định điều tra tổng hợp biển của Ủy ban Khoa học & Kỹ thuật Nhà nước (1981) và Quy định về phương pháp QT&PT môi trường của Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (2004).
Các trạm nghiên cứu TCCC, ATT-TC và các yếu tố môi trường thực hiện việc thu mẫu liên tục trong 24 giờ, với tần suất 04 giờ một lần vào các thời điểm 2 giờ, 6 giờ, 10 giờ, 14 giờ, 18 giờ và 22 giờ Đối với yếu tố dòng chảy, mẫu được thu mỗi giờ một lần.
4.3.3.3 Phân tích m ẫ u TCCC, ATT-TC và sinh v ậ t phù du
+ Phân tích mẫu TCCC và ATT-TC
- Trang thiết bị phân tích mẫu bao gồm: Kính giải phẫu Nikon SWZ1000, KRUSS (Đức), kính hiển vi Nikon E200 dùng để xác định mẫu…
Tài liệu phân loại TCCC và ATT-TC được xây dựng dựa trên các nghiên cứu của nhiều tác giả nổi bật như Nguyễn Hữu Phụng (1973, 1976-1982, 1991, 1994), Deslman H.C (1920, 1938), Mito.S (1960, 1966), Zvjagina O.A (1965), Muneo Okiyama (1988), cùng với J M Lei và D S Rennis (1983), cũng như J.M Lei và T Trunski Những tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về phân loại và ứng dụng của TCCC và ATT-TC trong các lĩnh vực liên quan.
(1989), Jeffrey M.Leis và Brooke M Carson-Ewart (2000), A M Shadrin et al (2003)…
TCCC và ATT-TC được tách biệt khỏi sinh vật phù du và rác bẩn, sau đó được đưa vào ống nghiệm có nút bông thấm nước và bảo quản trong bình chứa formaldehyd 5-7% để đảm bảo mẫu không bị khô và hư hỏng.
- Mẫu TCCC được xác định dựa vào các giai đoạn phát triển theo Rass T S (1965): Trứng cá chia làm 4 giai đoạn:
• Giai đoạn phân cắt trứng (Giai đoạn I): Từ khi trứng được thụ tinh đến khi trên cực động vật của noãn hoàng xuất hiện vòng phôi
• Giai đoạn mầm phôi (Giai đoạn II): Vòng phôi bao 1/2 noãn hoàng, đầu phôi xuất hiện đến khi vòng phôi biến mất, trứng đã sang thời kỳ phôi vị
Trong giai đoạn hình thành thể phôi (Giai đoạn III), các cơ quan phôi bắt đầu xuất hiện, hình thành đuôi phôi Khi đuôi phôi tách khỏi noãn hoàng, thân phôi đã bao phủ từ 1/2 đến 3/4 diện tích noãn hoàng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
5.1.1 Yếu tố khí tượng, hải văn và môi trường
Trong tháng 2-3, sóng chủ yếu hướng Đông Bắc (NE) với tần suất 57,07%, trong khi các hướng Đông (E) và Đông Nam (SE) có tần suất thấp hơn lần lượt là 14,14% và 10,61% Cấp độ sóng chủ yếu từ II đến III, tập trung vào hướng Đông Bắc, với tỷ lệ lặng sóng là 8,42% Nhìn chung, hướng sóng quan trắc tương đồng với hướng gió, cho thấy sóng trong vùng biển chủ yếu là sóng gió.
Vào tháng 5, hướng sóng quan trắc chuyển từ Đông (E) sang Tây Bắc (NW), trong khi hướng gió chủ đạo là Tây Nam (SW) với tần suất 67,00% Hướng Tây chiếm 17,00%, các hướng khác có tần suất nhỏ hơn Cấp sóng chủ yếu là cấp III và IV, với tần suất lần lượt là 23,00% và 18,00%, trong khi tần suất lặng gió chỉ đạt 4,00% Đặc biệt, vùng biển Đông Nam Bộ thường có cấp sóng cao hơn so với vùng biển Tây Nam Bộ.
Các quan trắc sóng trong các chuyến khảo sát chưa phản ánh đầy đủ tính khái quát của toàn bộ vùng biển do chỉ được thực hiện trong điều kiện thời tiết thuận lợi Tuy nhiên, kết quả cho thấy rằng vào tháng 5 năm 2007 và 2008, sóng hướng Tây Nam là phổ biến, và sóng được quan trắc chủ yếu là sóng gió.
Tháng 8 trong năm 2007&2008 hướng sóng quan trắc được khá ổn định và hướng thịnh hành là hướng Tây Nam (SW) với tần suất 89,78%, các hướng Đông Nam (SE) và hướng Tây (W) chiếm tần suất là 3,23% và 2,15% Cấp sóng chủ yếu vẫn là cấp II và cấp III, thống kê chi tiết kết quả quan trắc gió trên vùng biển nghiên cứu được thể hiển trong bảng 5 Như vậy trong tháng 8 sóng hướng Tây Nam đã hoạt động mạnh và ổn định
Trong tháng 11, độ phân tán hướng sóng quan trắc giảm so với tháng 2 và 3, với hướng sóng chủ đạo có tần suất thấp hơn Hướng gió chủ đạo trong tháng 11 là Đông Bắc (NW), chiếm tần suất 62,11% Cấp sóng quan trắc dao động từ cấp I đến cấp VI, chủ yếu tập trung ở cấp II và cấp III Điều này cho thấy gió mùa Đông Bắc đã ảnh hưởng đến trường gió và làm thay đổi trường sóng trong khu vực nghiên cứu so với tháng 8.
Hướng gió Đông Bắc (NE) chiếm ưu thế trong tháng 2 và 3 với tần suất 38,58%, chủ yếu ở cấp độ III đến IV Gió tập trung nhiều ở hướng Đông Bắc và Đông Đông Bắc, trong khi các hướng gió khác có tần suất thấp hơn, với cấp II là 9,14% và cấp V là 12,18% Đặc biệt, vùng biển Đông Nam Bộ thường ghi nhận cấp gió cao hơn so với vùng biển Tây Nam Bộ.
Vào tháng 5, hướng gió quan trắc thay đổi từ Đông (NE) sang Tây Bắc (NW), với hướng gió chủ đạo là Tây Nam (SW) chiếm 67,50% Hướng Tây chiếm 19,50%, trong khi các hướng còn lại có tần suất nhỏ Cấp gió chủ yếu là cấp III và IV, với tần suất lần lượt là 31,50% và 33,50%, trong khi tần suất lặng gió chỉ chiếm 1,50% Vùng biển Đông Nam Bộ thường có cấp gió cao hơn so với Tây Nam Bộ, nhưng Tây Nam Bộ lại thường xuyên xuất hiện những cơn giông với cường độ gió mạnh trên cấp V và hướng gió phức tạp hơn.
Tháng 8 hướng gió quan trắc được khá ổn định và hướng gió thịnh hành là hướng Tây Nam (SW) với tần suất 93,30%, các hướng Đông Nam (SE) và hướng Tây (W) chiếm tần suất là 3,91% và 2,23% Cấp gió chủ yếu vẫn là cấp II và cấp III Như vậy trong tháng 8, gió mùa Tây Nam đã hoạt động mạnh và ổn định
Trong tháng 11, hướng gió quan trắc được có sự phân tán thấp hơn so với tháng 2 và 3, với hướng gió chủ đạo là Đông Bắc (NW) chiếm tần suất 60,00% Cấp gió cũng không tập trung như hai tháng trước, mà phân tán từ cấp I đến cấp VI Điều này cho thấy gió mùa Đông Bắc đã ảnh hưởng đến trường gió trong vùng biển, tuy nhiên, mức độ hoạt động và cường độ của hệ thống gió này vẫn chưa ổn định.
5.1.1.3 Nhi ệ t độ n ướ c bi ể n a/ Biến đổi nhiệt độ theo thời gian
Nhiệt độ trung bình toàn bộ khối nước vùng biển Đông Nam Bộ được ghi nhận là 28,0 °C, với mức cao nhất là 34,3 °C và thấp nhất là 20,8 °C Trong tháng 2 và 3, nhiệt độ trung bình là 27,4 °C, trong khi tầng 10m và tầng đáy đều đạt 27,0 °C, cho thấy chênh lệch nhiệt độ không đáng kể Đến tháng 5, nhiệt độ trung bình tăng lên 29,5 °C, với cả tầng 10m và tầng đáy đều đạt 29,5 °C, nhưng không có sự chênh lệch giữa hai tầng này Tháng 8, nhiệt độ trung bình toàn bộ khối nước là 28,3 °C, trong đó nhiệt độ tầng mặt là 28,7 °C, tầng 10m là 28,0 °C và tầng đáy là 27,9 °C, cho thấy sự gia tăng chênh lệch giữa tầng mặt và tầng đáy, mặc dù mức chênh lệch này không lớn Đến tháng 11, nhiệt độ nước biển không thay đổi so với tháng 8, với nhiệt độ tầng 10m và tầng đáy đều là 28,0 °C Nhìn chung, nhiệt độ nước biển vùng Đông Nam Bộ có xu hướng tăng vào tháng 5 và giảm nhẹ vào tháng 8, với giá trị chênh lệch lớn nhất giữa tầng mặt và tầng 10m trong khoảng thời gian này.
Nhiệt độ trung bình của vùng biển Tây Nam Bộ là 28,2 °C, với mức cao nhất đạt 30,7 °C và thấp nhất là 24,6 °C Trong tháng 2 và 3, nhiệt độ trung bình đạt 27,4 °C, với nhiệt độ ở tầng 10m và tầng đáy đều là 27,0 °C, cho thấy chênh lệch nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy không đáng kể Vào tháng 5, nhiệt độ trung bình ở tầng mặt là 29,5 °C, trong khi nhiệt độ ở tầng 10m và tầng đáy cũng đạt 29,5 °C, cho thấy sự đồng nhất về nhiệt độ trong khu vực này.
Trong tháng 8, nhiệt độ trung bình của khối nước là 28,3°C, với nhiệt độ TM là 28,7°C, tầng 10m là 28,0°C và tầng đáy là 27,9°C Mặc dù có sự tăng giá trị chênh lệch giữa nhiệt độ nước TM và tầng đáy, sự chênh lệch giữa tầng 10m và tầng đáy không lớn Đến tháng 11, nhiệt độ nước TM không thay đổi so với tháng 8, trong khi nhiệt độ tầng 10m và tầng đáy đều đạt 28,0°C Như vậy, nhiệt độ nước biển ở vùng biển Đông Nam Bộ có xu hướng tăng vào tháng 5 và giảm nhẹ vào tháng 8, với giá trị trung bình nhiệt độ TM và tầng 10m cao nhất trong thời gian này Biến đổi nhiệt độ nước tại vùng biển Tây Nam Bộ được thể hiện rõ trong hình 5.
Biến trình nhiệt độ nước trung bình, lớn nhất và nhỏ nhất của tầng mặt, tầng 10m và tầng đáy ở vùng biển Đông Nam Bộ đã được ghi nhận qua các chuyến khảo sát.
Biến trình nhiệt độ nước biển tại vùng biển Tây Nam Bộ cho thấy sự chênh lệch nhiệt độ không lớn, với giá trị lớn nhất chỉ dưới 2°C, và giảm xuống còn 0,4°C ở tầng đáy vùng Đông Nam Bộ và 0,8°C ở Tây Nam Bộ Thời gian nhiệt độ đạt cao nhất trong ngày là từ 14 - 18 giờ và thấp nhất vào khoảng 2 giờ Sự biến đổi nhiệt độ nước biển trong ngày tại khu vực nghiên cứu có sự đồng pha, tương tự như các nghiên cứu trước đây, phản ánh đặc trưng tự nhiên của vùng biển Đông Tây Nam Bộ.
Hình 6, 7 Nhiệt độ nước biển trung bình tại các trạm ngày đêm ở ĐNB (trái) và TNB (phải) b/ Biến đổi nhiệt độ nước biển theo không gian
Nhiệt độ nước biển ít biến đổi theo độ sâu, với chênh lệch trung bình giữa tầng mặt và tầng đáy khoảng 0,3 độ C trong toàn bộ vùng biển nghiên cứu, và khoảng 0,4 độ C tại vùng biển Đông Nam Bộ Sự chênh lệch này thể hiện rõ đặc trưng của vùng biển nông, trong đó vùng biển Đông Nam Bộ có độ sâu lớn hơn so với Tây Nam Bộ, dẫn đến giá trị chênh lệch nhiệt độ lớn hơn Phân bố nhiệt độ nước biển tại các trạm nghiên cứu theo độ sâu cũng minh chứng cho đặc điểm này.
HIỆN TRẠNG TRỨNG CÁ - CÁ CON
Qua 7 chuyến thu mẫu, đã xác định được 220.912 TC và 193.278 CC Trong đó, tầng mặt thu được 169.971 TC và 41.140 CC, chiếm 76,94% và 21,29% so với tổng số; tầng thẳng đứng thu được 5.198 TC và 6.150 CC, chiếm 2,35% và 3,18% so với tổng số; và tầng đáy thu được 45.743 TC và 145.988 CC, chiếm 20,71% và 75,53% so với tổng số Bước đầu đã xác định được 185 loài thuộc 125 giống và 88 họ TCCC (Phụ lục II) Ngoài ra còn 149.604 TC và
290 CC chiếm 67,12% tổng số mẫu và 0,15% CC chưa xác định được thành phần loài Trong đó, TC chủ yếu là loại có một giọt dầu, trong khi CC chủ yếu là các cá thể bị nát hoặc mất một phần cơ thể.
Nhìn chung, thành phần loài phong phú nhất bắt gặp ở các họ cá Trỏng - Engraulidae
Trong khu vực nghiên cứu, đã ghi nhận 15 loài cá, bao gồm cá Bống trắng thuộc họ Gobiidae với 11 loài, cá Khế họ Carangidae có 10 loài, và cá Sơn họ Apogonidae với 8 loài Ngoài ra, các họ cá như Leiognathidae, Sciaenidae, Scombridae, và Synodontidae cũng được tìm thấy với số lượng từ 7 loài trở xuống Một số họ cá như Ariidae, Balistidae, và Echeneidae chỉ xuất hiện với 1 hoặc 2 cá thể trong năm Trong khi đó, các họ cá như Clupeidae, Callionymidae, và Bregmacerotidae mặc dù có ít loài (dưới 4 loài) nhưng lại có số lượng cá thể và tần suất xuất hiện cao Các loài cá có giá trị kinh tế như cá Hồng (Lutjanidae), cá Mú (Serranidae), và cá Tráp (Sparidae) thường sống rải rác và với số lượng ít Đặc biệt, trong tháng 2-3, đã xác định được TC của 17 họ cá.
Trong các tháng khảo sát, tháng 7 chiếm tỷ lệ cao nhất với 39,49%, tiếp theo là tháng 8 với 27,10%, tháng 5 đạt 19,64%, và tháng 11 thấp nhất chỉ 13,76% Có 9 họ cá xuất hiện trứng trong tất cả các chuyến khảo sát, trong đó 6 họ thường xuyên được ghi nhận với số lượng lớn gồm họ cá Trích - Clupeidae, họ cá Trỏng - Engraulidae, họ cá Bơn lưỡi - Cynoglossidae, họ cá Chình rắn - Ophichthidae, họ cá Mối - Synodontidae và họ cá Hố - Trichiuridae Về thành phần loài và số lượng cá, có 47 họ được phát hiện trong tất cả các đợt khảo sát, trong đó 10 họ thường xuyên xuất hiện với tần suất và số lượng lớn như cá Sơn - Apogonidae, cá Tuyết tê giác - Bregmacerostidae, cá Đàn lia - Callionymidae, cá Khế - Carangidae, cá Trích - Clupeidae, cá Bơn lưỡi - Cynoglossidae, cá Trỏng - Engraulidae, cá Bống trắng - Gobiidae, cá Liệt - Leiognathidae và họ cá Đù - Sciaenidae.
Bảng 9 Tỉ lệ % của một số họ cá chiếm ưu thế bắt gặp ở vùng ven biển Đông Tây Nam Bộ
TC CC TC CC TC CC TC CC
Trong 13 họ cá được nghiên cứu, có 6 họ có cả trứng cá (TC) và cá con (CC), trong khi 7 họ chỉ có cá con Tỷ lệ phần trăm của trứng cá xuất hiện trong các đợt thu mẫu cho thấy rằng các họ cá này sinh sản rải rác suốt cả năm.
Một số loài cá có tỷ lệ cá thể (TC) không phải là hiếm, nhưng do hạn chế trong tài liệu và năng lực phân tích, khoảng 67% TC vẫn chưa được phân tích Tỷ lệ % cá thể cao nhất được ghi nhận vào tháng 11 và tháng 5 đối với cá Bống trắng (27,91% và 23,57%), tháng 8 đối với cá Trỏng (21,53%), và tháng 2-3 đối với cá Đàn lia (19,42%).
So sánh thành phần các loài cá lớn tại vùng biển ven bờ Đông Tây Nam Bộ cho thấy thành phần TCCC phản ánh đầy đủ đặc tính của khu hệ nước ven bờ Tần suất xuất hiện của các nhóm cá đáy và cá nổi khác nhau ở mỗi tiểu vùng, cho thấy sự khác biệt của môi trường Đặc biệt, thành phần cá ở giai đoạn cá con đa dạng và phong phú hơn so với giai đoạn cá hương và cá bột, mặc dù về số lượng, cá bột lại chiếm ưu thế hơn.
Theo danh sách cá kinh tế của biển Việt Nam của Bộ Thuỷ Sản năm 1996 (có khoáng
Trong nghiên cứu, đã ghi nhận 28 họ và 38 loài cá trong tổng số 40 họ và 100 loài được khảo sát Số còn lại chủ yếu là cá tạp với kích thước nhỏ và không có giá trị kinh tế.
Trong số 12 họ cá thường gặp với tỷ lệ % CC cao từ 87,85% đến 93,87%, có 7 họ cá thuộc loại cá tạp 5 họ cá còn lại chỉ xuất hiện một số ít loài có giá trị kinh tế, với tỷ lệ % CC thu được ở những họ này cũng rất thấp, khoảng 20% tổng số.
Đỗ Văn Nguyên (1981) đã nghiên cứu TCCC tại vùng biển Thuận Hải - Minh Hải và công bố danh sách gồm 95 họ, 98 giống và 105 loài Đến năm 2000, chương trình hợp tác nghiên cứu với SEAFDEC đã cung cấp thêm danh sách 78 họ và 90 giống cho toàn bộ vùng biển Việt Nam.
94 loài Termvidchakorn (1999) khi nghiên cứu về thành phần loài và sự phân bố mật độ của
Nghiên cứu về thành phần loài cá ở vùng bờ phía Đông của Sabah, Sarawak và Brunei Darussalam đã xác định được 112 họ và 184 loài So với các nghiên cứu trước, cấu trúc thành phần loài trong nghiên cứu này thiếu một số nhóm cá sống ở tầng nước sâu như Opisthoproctidae và Myctophidae, cũng như các nhóm cá sống ở đảo chìm và rạn đá san hô như Erythrocles và Chaetodontidae Các nhóm cá ven bờ, cá nổi, tầng đáy và sát đáy có thành phần tương đối giống nhau Các nghiên cứu trước đó của Đỗ Văn Nguyên và đồng nghiệp đã chỉ ra rằng vùng biển ĐNB có 48 họ, 72 loài và vùng biển TNB có 45 họ, 67 loài Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy vùng biển ĐNB có 53 họ, 75 loài và vùng biển TNB có 51 họ, 70 loài, cho thấy cấu trúc thành phần loài tương đối giống nhau nhưng số lượng thành phần loài có sự khác biệt, điều này có thể do vùng nghiên cứu, số lượng mẫu và thời gian thu mẫu khác nhau.
5.2.1.1 Thành ph ầ n loài theo vùng bi ể n
Số lượng họ và loài tham gia sinh sản tại hai vùng biển Đông Nam Bộ (ĐNB) và Tây Nam Bộ (TNB) trong các mùa nghiên cứu dao động từ 50 đến 61 họ Đặc biệt, vào tháng 8 và tháng 11, ĐNB có số lượng loài tham gia sinh sản nhiều hơn TNB, trong khi TNB lại vượt trội hơn ĐNB vào tháng 2-3 và tháng 5 Tháng 8 ghi nhận số lượng loài phong phú nhất ở ĐNB với 103 loài, trong khi tháng 11 tại TNB chỉ có 73 loài.
Bảng 10 Số lượng họ, giống, loài cá tham gia sinh sản theo vùng ở Đông Tây Nam Bộ
Vùng biển Mùa Họ Giống Loài
Tháng 11 50 54 73 Đối với TC: Nhìn chung số lượng TC đã xác định được chiếm tỉ lệ không nhiều Họ cá Trích thu được ở vùng ĐNB luôn cao hơn vùng TNB, cao nhất ở vùng ĐNB đạt 20,36% so với tổng số, trong khi đó ở vùng TNB chỉ đạt 3,96% so với tổng số vào tháng 5 Họ cá Trỏng vào các tháng 2-3, 5 và 8 số lượng TC thu được ở vùng TNB nhiều hơn ĐNB, nhưng vào tháng 11 thì lại ngược lại, ở vùng ĐNB lại cao hơn TNB Họ cá Bơn lưỡi vào tháng 5, ở vùng TNB thu được nhiều hơn ĐNB, còn các mùa khác thì ở ĐNB lại cao hơn TNB
Trứng cá Mối và cá Hố chỉ xuất hiện ở hai vùng biển với tỷ lệ thấp, lần lượt là 3,60% và 2,46% Tuy nhiên, trứng cá Chình rắn có tỷ lệ rất thấp trong suốt các mùa, nhưng vào tháng 8 tại vùng ĐNB, tỷ lệ này tăng mạnh lên 22,99%, đặc biệt tại trạm số 6 và 3a ở vùng ven biển Vũng Tàu, nơi có độ sâu dưới 20m, được thu bằng lưới tầng mặt từ 22 giờ đến 2 giờ sáng hôm sau Số lượng CC xác định được chiếm tỷ lệ rất cao, như thể hiện trong Hình 25.
% CC của 10 họ cá thường xuyên thu được với số lượng lớn ở các chuyến khảo sát để so sánh
Tỷ lệ thu được của các loài cá như cá Sơn, cá Khế, cá Bơn lưỡi và cá Liệt không có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng biển và các tháng trong năm, dao động từ 0,69% cho cá Sơn đến 9,42% cho cá Bơn lưỡi.
HIỆN TRẠNG ẤU TRÙNG TÔM - TÔM CON
Trong số 30 họ tôm và 90 loài đã được xác định, có 4 họ chiếm ưu thế với hơn 73% tổng số Hai trong số bốn họ này, họ tôm He và họ Moi biển, mặc dù có số lượng ATT-TC cao nhất, nhưng họ tôm He lại có tỷ lệ thấp nhất (5,42-9,54%) Các họ tôm khác, mặc dù thu được nhiều ATT-TC, nhưng lại không có giá trị kinh tế đáng kể Riêng họ tôm Hùm cũng cần được xem xét.
Trong họ tôm He - Penaeidae, đã phân loại được 7 giống, bao gồm: Atypopenaeus (tôm He mắt dài), Metapenaopsis (tôm Vỏ đỏ), Metapenaeus (tôm Rảo), Parapenaeopsis (tôm Sắt), Penaeus (tôm He), Parapenaeus (tôm He giả) và Trachypenaeus (tôm Đanh) Đáng chú ý, chỉ có 3 cá thể thuộc họ Palinuridae được ghi nhận.
Sắt và tôm Đanh là hai loài thu được với số lượng lớn nhất, điều này chứng tỏ rằng số lượng và thành phần giống loài của ATT-TC phù hợp với đặc điểm phân bố tự nhiên của chúng.
Họ Moi biển chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt trong các tháng 8 và 11, với hơn 50% tổng số Trong khi đó, các họ tôm Gõ mõ và Pasiphaeidae có tỷ lệ dao động từ 1,51% đến 29,80% so với tổng số.
Bảng 17.Tỉ lệ % của một số họ tôm chiếm ưu thế bắt gặp ở vùng ven biển Đông Tây Nam Bộ
TT Tên khoa học Tháng 2-3 Tháng 5 Tháng 8 Tháng 11
5.3.1.1 Thành ph ầ n loài theo vùng bi ể n
Vùng biển Đông Tây Nam Bộ với đặc điểm địa lý thuận lợi đã tạo điều kiện cho sự sinh trưởng, phát triển và sinh sản của nhiều sinh vật biển, bao gồm cả tôm biển Số lượng các họ, giống, loài tôm tham gia sinh sản ở hai vùng biển này tương đối giống nhau trong các tháng thu mẫu, tuy nhiên, tỷ lệ bắt gặp lại khác nhau ở từng tháng riêng lẻ.
Trong tháng 2-3, khu vực Nam Bộ ghi nhận số lượng họ tôm cao nhất với 24 họ và 46 loài Ngược lại, tháng 11 có số lượng họ tôm thấp nhất, chỉ với 16 họ và 38 loài Tình hình này đặc biệt rõ ràng ở vùng biển Tây Nam Bộ.
Tháng 8 là thời điểm thu hoạch số lượng họ tôm lớn nhất với 23 họ và 42 loài, tuy nhiên, sự chênh lệch không đáng kể so với tháng 2-3 với 22 họ và 47 loài Ngược lại, tháng 11 ghi nhận số lượng họ tôm thấp nhất, chỉ với 11 họ và 27 loài.
Sự chênh lệch số lượng họ, giống, loài tôm có thể được lý giải bởi yếu tố mùa vụ sinh sản, đặc biệt từ tháng 2 đến tháng 8, thời điểm mà hầu hết các loài tôm sinh sản [Bộ Thuỷ Sản, 1996] Do đó, tỷ lệ bắt gặp tôm cao trong khoảng thời gian này so với tháng 11 là điều hoàn toàn hợp lý Điều này cho thấy sự khác biệt rõ rệt về số lượng giống, loài tôm giữa hai vùng Đông và
Tây Nam Bộ, chúng tôi đưa số lượng bắt gặp của một số họ tôm chính trong bảng 18 và hình
Bảng 18 Số lượng họ, giống, loài tôm tham gia sinh sản theo vùng ở Đông Tây Nam Bộ
Vùng biển Mùa Họ Giống Loài
Tỉ lệ % của các họ tôm ở hai vùng biển ĐNB và TNB có sự khác biệt rõ rệt qua các chuyến khảo sát Trong tháng 2-3, họ Moi biển Sergestidae chiếm ưu thế tại ĐNB với 29,43%, trong khi ở TNB, họ Pasipaeidae vượt trội với 42,71% Họ tôm He tại ĐNB đạt 12,53%, nhưng chỉ 7,23% ở TNB Đến tháng 5, tỉ lệ % của họ Moi biển và tôm He ở ĐNB lại cao hơn TNB, ngược lại, họ Alpheidae và Pasiphaeidae tại TNB lại có tỉ lệ cao hơn so với ĐNB.
Vào tháng 8 và tháng 11, họ Moi biển đạt tỉ lệ thu hoạch lớn nhất ở vùng biển Đông Nam Bộ (trên 60%), trong khi đó, ở vùng Tây Nam Bộ, họ Pasiphaeidae chiếm ưu thế với tỉ lệ trên 38% Họ Alpheidae cũng được thu hoạch vào tháng này.
Trong tháng 11, tỷ lệ tôm He rất thấp, chỉ khoảng 1%, trong khi tháng 8 ghi nhận tỷ lệ 7,12% ở vùng biển ĐNB và 24,05% ở TNB Tỷ lệ thu được của họ tôm He dao động từ 4,85% ở ĐNB đến 8,48% ở TNB Họ Pasiphaeiadae, đặc biệt là giống Leptochela, chiếm tỷ lệ cao nhất và xuất hiện ở hầu hết các trạm, nhưng có kích thước cơ thể nhỏ (