Bộ y tế viện y học lao động và vệ sinh môi trường Báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu Nghiên cứu mô hình bệnh tật và bệnh nghề nghiệp liên quan dến điều kiện lao động đặc thù của cá
Trang 1Bộ y tế
viện y học lao động và vệ sinh môi trường
Báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu
Nghiên cứu mô hình bệnh tật và bệnh nghề nghiệp liên quan dến điều kiện lao
động đặc thù của cán bộ y tế
Thuộc đề tài KHCN độc lập cấp nhà nước:
“Nghiên cứu điều kiện lao động đặc thù
và sức khoẻ nghề nghiệp của cán bộ y tế trong giai đoạn
hiện nay đề xuất giải pháp khắc phục”
Mã số: ĐTĐL -2004/11 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS nguyễn thị hồng tú
7048-2
05/12/2008
Hà Nội- 2008
Trang 2Bộ Khoa học công nghệ
Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
Số 1B – Yec Xanh – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội
Nghiên cứu mô hình bệnh tật và bệnh nghề nghiệp liên quan
đến Điều kiện lao động đặc thù của cán bộ y tế
Bản quyền 2006 thuộc Viện YHLĐ&VSMT
Đơn xin sao chép toàn bộ hoặc từng phần tài liệu này phải gửi đến Viện trưởng Viện YHLĐ&VSMT trừ trường hợp sử dụng với mục đích nghiên cưú.
Trang 3Bộ Khoa học công nghệ
Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
Số 1B – Yec Xanh – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội
Nghiên cứu mô hình bệnh tật và bệnh nghề nghiệp liên quan
đến Điều kiện lao động đặc thù của cán bộ y tế
Hà Nội, 12 - 2006
Bản quyền 2006 thuộc Viện YHLĐ&VSMT
Đơn xin sao chép toàn bộ hoặc từng phần tài liệu này phải gửi đến Viện trưởng Viện YHLĐ&VSMT trừ trường hợp sử dụng với mục đích nghiên cưú.
Trang 4đề tài độc lập cấp nhà nước, Mã số ĐTĐL-2004/11
Danh sách những người th
Danh sách những người thực hiện ực hiện ực hiện
TT Họ và tên, học vị Cơ quan công tác Chức vụ
1. PGS.TS Nguyễn Thị Thu Đại học Y Hà Nội P.Trưởng khoa
2. TS Nguyễn Phúc Thái Viện VSPD quân đội Trưởng khoa
3. PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Tú Cục Y tế dự phòng Việt Nam Phó Cục trưởng
4. PGS TS Nguyễn Khắc Hải Viện YHLĐ-VSMT Viện Trưởng
5. ThS Nguyễn Bích Diệp Viện YHLĐ-VSMT P Trưởng Phòng
6. TS Ngô Văn Toàn Đại học Y Hà Nội Giảng viên
7. ThS Vũ Minh Phượng Bộ môn Diều dưỡng, Đại
học Y HN Cán bộ
8. ThS Lương Ngọc Tuấn Viện VSPD quân đội NCV
9. TS Tạ Thị Tuyết Bình Viện YHLĐ-VSMT Trưởng khoa
10. TS Viên Văn Đoan Khoa Khám bệnh , BV Bạch
Trang 5GMHS G©y mª håi søc
Trang 6MTLĐ Môi trường lao động
TCVSCP Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
Trang 71.1 Vai trò và tính chất, tác hại nghề nghiệp của lao động ngành y tế 5
Chương 2: Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 17
2.2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 17
3.1.2 Thông tin về nhân khẩu học của đối tượng NC 22
3.2 Kết quả nghiên cứu mô hình bệnh tật và bệnh nghề nghiệp liên quan đến
điều kiện lao động đặc thù của CBYT
26
3.2.1 Kết quả nghiên cứu về tình hình sức khoẻ và bệnh tật của CBYT qua
điều tra phỏng vấn
26
3.2.2 Kết quả nghiên cứu về tình hình sức khoẻ và bệnh tật của CBYT qua
khám lâm sàng và xét nghiệm
39
3.2.2.2 Tình hình bệnh tatạ của CBYT qua khám lâm sàng 41
3.2.2.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ và bệnh 45
Trang 83.2.4 KÕt qu¶ xÐt nghiÖm vµ mét sè yÕu tè liªn quan 50
Phô lôc 1: Danh s¸ch c¸c c¬ së y tÕ ®iÒu tra
Phô lôc 2: C¸c mÉu phiÕu ®iÒu tra
Trang 9tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng tình hình sức khoẻ, mô hình bệnh tật
và bệnh nghề nghiệp có liên quan đến điều kiện lao động đặc thù của cán bộ y tế tại một số cơ sở y tế
Đề tài đ! kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau bao gồm nghiên cứu
định tính và định lượng để thu thập thông tin Đề tài đ! tiến hành điều tra 132 CSYT, phỏng vấn 9437 CBYT, tiến hành khám lâm sàng cho 2016 CBYT ở các chuyên khoa khác nhau, làm xét nghiệm và hồi cứu số liệu sức khoẻ và bệnh tật
Các kết quả nghiên cứu cho thấy:
Về tình hình sức khoẻ: Đa số CBYT có sức khoẻ loại tốt (23,6% tự đánh giá và 21,1% qua khám lâm sàng) và sức khoẻ loại trung bình (74% CBYT tự nhận xét và 76,2% qua khám lâm sàng) Không có sự khác nhau về phân loại sức khoẻ theo hệ, chức danh và khoa
Về tình hình bệnh tật chung: Điều kiện lao động đặc thù của ngành y tế đ! ảnh
h-ưởng tới sức khoẻ của CBYT được thể hiện:
- Tỷ lệ CBYT bị ốm ít nhất một lần trong vòng 1 tháng trước khi nghiên cứu là 28,4% Trong đó chiếm hàng đầu là ho, cảm cúm 12,7%, tiếp theo là bệnh cơ xương khớp (7,9%), TMH (5,6%), đau đầu (3,3%) và đáng lưu ý là có 30 trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút (0,3%)
- Có 28,3% CBYT bị mắc một số bệnh mạn tính, trong đó chủ yếu loét dạ dày và viêm gan mạn
Trang 102
- 57,3% ở NVYT hệ điều trị và 34,7% ở NVYT hệ dự phòng bị tổn thương do vật sắc nhọn Tỷ lệ tổnthương vật sắc nhọn ở điều dưỡng (64,3%) cao hơn hẳn các đối tượng khác có ý nghĩa thống kê (p<0,01) Các thao tác gây TNRR NN do các vật sắc nhọn chủ yếu là tái sử dụng và rửa dụng cụ (40%), đóng nắp kim và phẫu thuật (31,3-32,4%), tiêm truyền và làm thủ thuật cũng gây tổn thương cho 1/4 số CBYT được phỏng vấn (25,1-25,4%) Ca ngày xảy ra nhiều trưng hợp bị TNRR NN do các vật sắc nhọn (56,7%) và cao hơn ca đêm (23,5%) và ca tối (19,8%)
- Khám lâm sàng cho thấy tỷ lệ CBYT mắc các bệnh RHM, TMH và mắt là cao nhất (lần lượt 38,8%, 32,2% và 24,7%) Tiếp theo là các bệnh tiêu hoá (7,6%), da (6,1%)
và tim mạch (5%) Tỷ lệ CBYT mắc các bệnh thần kinh, xương khớp và hô hấp dao
động từ 3,2%-4,4%
Về bệnh có liên quan đến nghề nghiệp:
- 17,2% NVYT hệ điều trị và 14,1% NVYT hệ dự phòng bị lây nhiễm bệnh trong quá trình làm việc Nguy cơ lây nhiễm bệnh cao gấp 3-5 lần khi tiếp xúc với yếu tố vi sinh vật, máu dịch cơ thể, bị bắn máu dịch vào da, niêm mạc và tổn thương vật sắc nhọn (p<0,001-0,0001)
- Kết quả xét nghiệm cho thấy có 19,7% số CBYT có HbsAg (+) và có mối liên quan giữa công việc đang làm với tỷ lệ nhiễm viêm gan B: Tỷ lệ HbsAg (+) ở NVYT hệ
điều trị (21,9%) cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,001) so với NVYT hệ dự phòng (2,6%) Tỷ lệ này ở NVYT làm lâm sàng (36,2%) cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,0001) so với NVYT làm xét nghiệm (4,7%) và làm công tác y tế dự phòng (2,6%)
Trang 113
Phần B Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu
Đặt vấn đề
Nghiên cứu các vấn đề sức khoẻ và mô hình bệnh tật của các cộng đồng khác nhau đ! và đang được quan tâm không chỉ trên thế giới, của các nước đang phát triển, các nước trong khu vực trong đó có nước ta Hiện nay, Việt Nam có một hệ thống y tế phát triển tương đối mạnh để đảm bảo thực hiện công tác phòng bệnh và chữa bệnh Số lượng cán bộ y tế hiện nay vào khoảng 200.000 người Tình hình sức khoẻ của lực lượng này là một vấn đề quan trọng Vấn đề này có ảnh hưởng lớn đến công tác phòng, chữa bệnh cho những bệnh nhân ở trong BV và cả những người dân sống tại cộng đồng dân
cư
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ của người CBYT thì điều kiện lao động (ĐKLĐ) trong BV là yếu tố quan trọng nhất Vì vậy việc nghiên cứu về ĐKLĐ để phát hiện, hạn chế dần dần tiến tới loại trừ những yếu tố có hại đến sức khoẻ, cải thiện điều kiện làm việc là một nhiệm vụ quan trọng mà ngành y tế cần phải thực hiện nhằm nâng cao sức khoẻ người CBYT Từ đó gián tiếp nâng cao hiệu quả công tác CSSK nhân dân Hiện trạng môi trường lao động trong ngành y tế cho thấy vấn đề ô nhiễm khá trầm trọng, đặc biệt tại các BV Tình trạng chất thải BV (chất thải rắn, lỏng ) chưa được xử
lý trước khi đưa ra môi trường ngoài và thiếu các văn bản pháp qui hướng dẫn thực hiện nguyên tắc vệ sinh trong BV có thể gây ảnh hưởng tới các yếu tố môi trường như đất, nước, không khí trong và ngoài BV Nguy hiểm hơn, BV còn tạo ra môi trường vi sinh vật gây bệnh kháng thuốc Điều này đ! tạo điều kiện thuận lợi cho việc lây lan và lây chéo bệnh tật, chủ yếu là các bệnh truyền nhiễm [13]
Hàng ngày, CBYT phải tiếp xúc với các tác hại lây nhiễm và không lây nhiễm Tác hại lây nhiễm là các vi khuẩn, vi rút gây bệnh, kể cả HIV/AIDS, có thể truyền trực tiếp
đến CBYT phục vụ hay qua bệnh phẩm như máu, đờm r!i Tác hại không lây nhiễm bao gồm các hoá chất trong đó có hoá chất dùng để tiệt trùng, những tác hại vật lý như
nóng, tiếng ồn, bức xạ ion hoá, siêu âm , các tác hại đến da và stress Cùng với sự phát
triển của khoa học, các cơ sở y tế, đặc biệt là các BV tuyến Trung Ương đ! và đang sử dụng các loại thiết bị y tế chuyên dùng, các hoá chất để điều trị và nghiên cứu các thiết
bị phóng xạ, các chất phóng xạ, các hoá chất độc [13]
Trang 124 ĐKLĐ của các CBYT cũng đầy khó khăn: lao động ca kíp, trực đêm, sự tập trung chú ý cao độ và căng thẳng, trách nhiệm đòi hỏi phải cao, sự phục vụ đòi hỏi phải tận tuỵ, ngoài ra nhiều lúc còn phải đối phó với nạn bạo hành trong BV Trong điều kiện như vậy, CBYT phải chịu các stress nghề nghiệp nặng nề, những tác động bên ngoài gây rối loạn sự cân bằng bên trong, ảnh hưởng đến tính cách, đến khả năng làm việc, hậu quả rõ rệt về mặt tâm lý và sinh lý của các CBYT [13] Hơn nữa, dân số nước ta ngày một tăng, dẫn đến các CBYT phải làm việc với cường độ lao động và áp lực tăng hơn trước
Đ! có một số nghiên cứu trong và ngoài nước về ĐKLĐ và tình hình sức khoẻ của CBYT Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về ảnh hưởng của đặc thù nghề nghiệp, ĐKLĐ tới tình hình sức khoẻ và bệnh tật liên quan của CBYT Vì vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu sau:
Mô tả tình hình sức khoẻ, mô hình bệnh tật và bệnh nghề nghiệp có liên quan
đến điều kiện lao động đặc thù của cán bộ y tế một số cơ sở y tế
Trang 13
5
Chương 1 Tổng quan tài liệu 1.1.Vai trò và tính chất, tác hại nghề nghiệp của lao động trong ngành y tế,
Vai trò lao động của cán bộ ngành y tế
Sức khoẻ là vốn quí nhất của mỗi con người và của toàn x! hội, là nhân tố quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đảng, Chính Phủ và nhân dân đ! tin tưởng và giao nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân cho ngành y tế [2] Theo nghị quyết Trung Ương IV, khóa VII nêu rõ: “Sức khoẻ là vốn quý của mỗi con người và toàn x! hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc, vì vậy chúng ta phấn đấu để mọi người dân đều được quan tâm CSSK" Sự nghiệp y tế là của toàn dân, của nhiều ngành trong đó ngành y tế đóng vai trò cơ bản
[11]
Tính chất lao động đặc thù của ngành y tế
CBYT: là những người lao động trong ngành y tế, bao gồm những người làm ngành
Y như các bác sỹ, y tá điều dưỡng, y sỹ, hộ lý những người làm trong ngành dược như dược sỹ, dược tá những người làm công tác xét nghiệm, cán bộ y tế thôn bản, cán bộ tuyên truyền y tế, đội y tế lưu động [2],[11]
CBYT: là những người trực tiếp làm việc liên quan đến bảo vệ và chăm sóc, nâng cao sức khoẻ cho con người, lao động của CBYT là lao động có tránh trước SK của con
người nói chung và người bệnh nói riêng [2],[11]
CBYT một mặt là người cung cấp các dịch vụ y tế, mặt khác họ cũng là những người lao động ĐKLĐ của CBYT mang những nét đặc thù rõ rệt, mỗi chuyên khoa có một đặc điểm riêng biệt về điều kiện lao động, nhiều chuyên khoa phải tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ liên quan đến tác hại nghề nghiệp Nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động trong ngành y tế Các yếu tố nguy cơ liên quan đến môi trường lao động như: hóa chất phóng xạ, máu, bệnh phẩm Gây ảnh hưởng xấu sức khỏe của CBYT và nguy cơ lây nhiễm cao Tuy chức trách của bác sỹ, y tá điều dưỡng, hộ lý trong bệnh viện là khác nhau nhưng họ có chung một đặc điểm là cường độ lao động rất cao, đặc biệt là CBYT làm việc trong các bệnh viện tuyến trung ương, trách nhiệm công việc lớn, cường độ lao động kéo dài
Ngoài ra các CBYT còn phải trực đêm, lao động trong điều kiện không phù hợp với quy luật sinh lý của con người ( nghỉ ngơi vào ban đêm, làm việc vào ban ngày) [3][10]
Trang 146
Đặc tính của CBYT trong trường hợp cấp cứu là đòi hỏi họ phải đặt tính mạng, sự
an toàn của bệnh nhân lên trên bản thân mình Các thất bại trong điều trị, cái chết của bệnh nhân, yêu cầu khẩn trương của công việc cũng gây ra stress và ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của chính CBYT
CBYT hàng ngày làm việc rất căng thẳng, nặng nhọc, chịu nhiều stress nghề nghiệp và đặc biệt là các rủi ro nghề nghiệp do phải tiếp xúc với quá nhiều nguy cơ lây nhiễm nguy hiểm hàng ngày hàng giờ
Làm việc trong ngành y tế đòi hỏi CBYT có ý thức trách nhiệm cao đối với sức khoẻ nhân dân, có tình yêu thương, cảm thông với người bệnh, sẵn sàng làm việc quên mình, khẩn trương để cứu chữa người bệnh và phòng chống dịch bệnh trong mọi hoàn cảnh
Tóm lại CBYT thực sự là người lao động trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm
Điều kiện lao động và tác hại nghề nghiệp đặc thù đối với cán bộ y tế
Lao động của những người trong ngành y tế có vai trò x! hội to lớn CBYT thường xuyên phải tiếp xúc với rất nhiều những nguy cơ độc hại cao tại nơi làm việc Các nguy cơ này có thể phân thành các nhóm: nguy cơ sinh học, hoá học, vật lý, ecgônômi, các vấn đề về tổ chức và căng thẳng tâm lý
Các nguy cơ về sinh học
CBYT tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân nên nguy cơ bị lây nhiễm các loại bệnh
là rất lớn Vi rus: viêm gan, HIV, Vi khuẩn: lao, lepto, tả dịch hạch…, nấm mốc là những bệnh lây nhiễm thường trực đối với CBYT Điều tra của Viện Y học lao động -
Vệ sinh môi trường trong một số BV Trung ương và BV đa khoa tỉnh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm gan vi rút B là 13,10% CBYT, tỷ lệ nhiễm trong CBYT cao gấp 3 lần nhóm ít nguy cơ lây nhiễm BV là nơi hội tụ những người mắc các bệnh tật khác loại, đa số là bệnh nặng Trong môi trường BV có sự giao lưu, tiếp xúc giữa bệnh nhân với bệnh nhân, bệnh nhân với cán bộ y tế, bệnh nhân với người nhà bệnh nhân Sự giao tiếp này cũng là cơ hội để bệnh có thể lây lan từ người này sang người kia, tạo sự lây chéo trong
BV do môi trường bị ô nhiễm hoặc do bất cẩn trong thao tác kỹ thuật hoặc tiếp xúc [10]
Các nguy cơ về hoá học
CBYT phơi nhiễm với rất nhiều loại hoá chất khác nhau trong BV cũng như các
đơn vị CSSK Các tác nhân hoá học gồm có:,các chất tẩy uế, các hoá chất tẩy trùng, các
Trang 157 chất ướp xác và các hoá chất dùng trong phòng thí nghiệm Một số hoá chất có tính chất kích thích da và đường hô hấp, những hóa chất khác gây phản ứng dị ứng
Tiếp xúc với chất hóa hóa học cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của cán bộ y tế đặc biệt là hít phải chất gây mê Những khí này phân bố trong buồng mổ, buồng tiểu phẫu, buồng tiểu phẫu, buồng hậu phẫu Nồng độ chất gây mê ở vùng thở của phẫu thuật viên
và người gây mê trong phòng mổ đ! thấy cao hơn giới hạn cho phép 2-14 lần Tiếp xúc với chất gây mê có thể đưa tới tổn thương chức năng sinh sản, tổn thướng phôi thai [10] Trong phòng điều trị, nơi tiêm nhiều nồng độ thuốc trong vùng thở của y tá có thể vượt quá mức cho phép Tiếp xúc với thuốc trong không khí có thể xảy ra khi bơm, tráng bơm tiêm, đuổi khí ra khỏi bơm tiêm và khi điều trị bằng khí dung [10]
Các hóa chất có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cán bộ y tế là Hexachloropren (có thể gây quái thai), formalin (một chất kích thích gây mẫn cảm và gây ung thư), Ethylen oxid (là chất gây đột biến gen và gây ung thư), các chất kháng sinh và gây dị ứng ức chế phản ứng miễn dịch, các hormon Có khả năng tiếp xúc với các hóa chất công nghiệp
được dùng để cọ rửa và bảo dưỡng cũng như chất diệt côn trùng [10]
Nguy cơ do tác nhân vật lý
Các yếu tố vật lý độc hại ở đơn vị nào cũng có, nhất là các BV và phòng khám, các yếu tố vật lý bao gồm: bức xạ ion hoá, tiếng ồn, nóng, lạnh, rung và từ trường Bức xạ ion hoá gây biến đổi gen và nhiễm sắc thể, có thể làm chậm hoặc huỷ hoại phân chia
tế bào và can thiệp vào quá trình chuyển hoá Ngoài ra còn có các ảnh hưởng khác như ung thư máu, ung thư da, ung thư tuyến giáp Các bức xạ ion hoá không chỉ gây ảnh hưởng cho các nhân viên tại các khoa chẩn đoán X quang, CT scanner, y học hạt nhân, ung bướu mà còn gây ảnh hưởng cho các nhân viên tại các labo, các nha sĩ, các nhân viên sử dụng kính hiển vi điện tử, các nhân viên phòng mổ
Yếu tố ecgônômi
Tư thế làm việc cũng là điều quan trọng đối với CBYT, một số công việc phải làm trong tư thế bất lợi và khó chịu đặc biệt trong một số chuyên khoa như nha khoa, nh!n khoa, ngoại khoa (đặc biệt là vi phẫu thuật) lao động đòi hỏi thời gian đứng lâu, kéo dài là một trong những tư thế liên quan đến gi!n tĩnh mạch chân và bệnh trĩ
Chấn thương hay gặp nhất là các chấn thương cơ bắp do nâng, nhấc bệnh nhân (chấn thương này hay gặp ở y tá) Các chấn thương cơ bắp còn gặp phải khi đứng nhiều hoặc phải quỳ, cúi khom lưng để thao tác mà những tư thế này rất hay gặp ở CBYT
Trang 168 ngoại khoa, nha khoa, tai mũi họng, chỉnh hình, sản phụ khoa cũng như CBYT khác như lao công, y công, hộ lý
được chuẩn bị chu đáo về tinh thần [3], [10]
Yếu tố bạo lực
Bạo lực là yếu tố rất thường gặp khi CBYT phải tiếp xúc những bệnh nhân
đang trong tình trạng hiểm nghèo Sự mất mát dễ làm tăng cường cơn giận dữ của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân Có thể nói bạo lực là yếu tố nghề nghiệp đặc thù trong ngành y tế nhất là những người làm việc trong các khoa phòng cấp cứu hoặc trong các
BV tâm thần Các CBYT nữ dễ bị tác động của bạo lực hơn là nam giới Trong quá trình khám chữa bệnh, đ! có rất nhiều vụ bạo lực xảy ra trong ngành y tế, có cả trường hợp người nhà bắn bác sĩ và rất nhiều CBYT bị tấn công do gia đình người bệnh không kìm nén được trước sự mất mát của người thân [10],
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, vv từ những thập kỷ 70 và 80 đ! có rất nhiều các nghiên cứu về điều kiện lao động đặc thù và những hướng dẫn về bảo vệ an
toàn vệ sinh lao động cho các cán bộ y tế trong bệnh viện (NIOSH 1988)[49] Các
nghiên cứu đ! chỉ ra những nguy cơ đặc thù của cán bộ y tế là nguy cơ cao lây các bệnh truyền nhiễm như bệnh lao, viêm gan vi rút B, C, HIV, vv ; nguy cơ tiếp xúc với các tác hại không truyền nhiễm như tiếp xúc với các hóa chất tiệt trùng, tiếp xúc với tiếng
ồn, nguy hiểm do tiếp xúc với bức xạ ion hóa, sóng siêu âm, điện từ trường tần số cao và các chất độc hại cũng như các chất gây dị ứng như các chất khử trùng, khí gây mê, các thuốc độc tố tế bào và các khí dùng trong y học (như pentamidine, ribavirin), các chất thải trong bệnh viện và ngoaì ra là stress thể lực và tâm thần khi phải chăm sóc bệnh nhân (Brandenburg, 2002, Leprine, 2002, Eickman 2002) [24, 41, 29]
Bệnh viêm gan B là tác hại lây nhiễm nghề nghiệp lớn ở các cán bộ y tế và là một mô hình lây nhiễm các mầm bệnh trong máu Trung tâm Phòng chống bệnh của Mỹ
Trang 179 (CDC) đ! ước lượng hàng năm có khoảng 500-600 cán bộ y tế phải nằm viện do tiếp xúc với máu người bệnh với hơn 200 tử vong (12-15 do viêm gan, 170-200 do xơ gan và 40-
50 do ung thư gan) Các nghiên cứu cũng chỉ ra từ 10-40% cán bộ y tế hoặc nha khoa có thể có nhiễm HBV huyết thanh (Palmer et al., 1983)[50] Chi phí y tế cho viêm gan B và viêm gan không A và không B ở các cán bộ y tế ước chừng 10-12 triệu USD hàng năm (Grady and Kane, 1981) [33] Đánh giá sự lây nhiễm của virus viêm gan C cho các cán
bộ y tế tại các bệnh viện trung ương tại Hungary, 477 cán bộ y tế đ! được xét nghiệm máu tìm kháng thể kháng virus viêm gan C trong năm 2001 Kết quả cho thấy 2,7% số cán bộ làm việc tại bệnh viện có HCV dương tính Trong đó 2,7% là y tá và 2,9% là nhân viên của bệnh viện có HCV dương tính (Mihaly & cs., 2001) [46] Tỷ lệ nhiễm HCV mạn tính chiếm 46% trong số những người nhiễm HCV dương tính 10/17 bệnh viện có cán bộ y tế nhiễm HCV Tỷ lệ hiện nhiễm HCV dao động từ 1,2-6,5% tuỳ các khoa lâm sàng, cao nhất là khoa truyền nhiễm Tỷ lệ lây nhiễm cũng rất khác nhau theo tuổi 0% ở những người dưới 21 tuổi và 9,5% ở những người trên 50 tuổi Như vậy rõ ràng là tỷ lệ nhiễm HCV có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp, nghĩa là thời gian làm việc tại bệnh viện càng dài thì tỷ lệ nhiễm HCV càng lớn
Theo báo cáo của WHO năm 2002, trong số 35 triệu cán bộ y tế, mỗi năm có 2 triệu người bị tiếp xúc qua da với bệnh truyền nhiễm Trong đó 40% nhiễm viêm gan B, 40% nhiễm viêm gan C và 2,5% nhiễm HIV/AIDS ở cán bộ y tế do tổn thương kim châm Một nghiên cứu do Casten Mantel cho thấy trong 20 nước có đánh giá về an toàn trong khi tiêm, hàng năm có 1-9 trường hợp cán bộ y tế bị tổn thương do kim châm Một nghiên cứu khác do WHO vùng Trung Đông cho thấy trung bình mỗi năm có 4 trường hợp bị tổn thương do kim châm Gome’z Etchebare và Jagger (2002) [31] cũng chỉ ra nguy cơ đe doạ cuộc sống của các cán bộ y tế ở các nước Châu Mỹ Latin là nhiễm các mầm bệnh trong máu (HBV, HIV, HCV) từ các tổn thương do kim tiêm (PIs) và tiếp xúc với máu Trong năm 2001 có khoảng 10,9 tổn thương do kim tiêm trên 100 giường bệnh
và so sánh với tỷ lệ hàng năm của Nhật là 3,3, của ý là 14,0 và 32,8 ở Mỹ Tổn thương
do kim tiêm thường đựơc gặp ở các y tá và xuất hiện nhiều trong các phòng bệnh nhân
và do tiêm gây ra nhiều nhất Aubrey và cs (2002) [22] đ! nghiên cứu 2.362 cán bộ y tế bao gồm các y tá, các xét nghiệm viên, nhân viên lấy máu, nhân viên quét dọn, nhân viên cấp cứu tiếp xúc với bệnh nhân lao và các mẫu vật phẩm trong phòng thí nghiệm và
886 nhân viên không tiếp xúc Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tích luỹ 33 tháng là 5,8% ở các nhân viên tiếp xúc và 2.0% ở nhóm không tiếp xúc (RR 3.6; 95%
Trang 1810 CI; 2.2–5.8) Như vậy, ở nhóm tiếp xúc nguy cơ mắc bệnh cao hơn Theo Kristensen P
G (2002) [39] nguy cơ lây nhiễm HIV cao ở các nữ y tá và hộ lý ở Zambia cả ở nơi làm việc và trong cuộc sống x! hội Cứ 4 tử vong ở các y tá độ tuổi lao động thì có 3 là do AIDS
Bên cạnh những tác hại lây nhiễm, cán bộ y tế phải tiếp xúc với rất nhiều tác hại không lây nhiễm, bao gồm các hóa chất trong đó có hóa chất dùng để tiệt trùng, những tác hại vật lý như nóng, tiếng ồn, bức xạ ion hóa, siêu âm , các tác hại đến da và stress Nhiều hóa chất tiệt trùng được sử dụng trong bệnh viện, trong đó chủ yếu là các hóa chất như cồn isopropyl, clo, iốt, phenol, các hợp chất amoni bậc 4, glutaraldehyde và formaldehyde Các hóa chất tiệt trùng này chủ yếu dùng để tiệt trùng các dụng cụ gây
mê, dụng cụ mổ, nhiệt kế, kim tiêm, diệt các vi khuẩn vv và là chất ướp xác như formaldehyde và glutaraldehyde Tiếp xúc với các hóa chất này có một số tác hại như kích thích mắt và niêm mạc, đau đầu và khó thở, kích thích da, dị ứng da vv và có thể gây ung thư như formaldehyde (ACGIH, 1987) [19] Hansen (1983) [34] nghiên cứu 541 nhân viên vệ sinh trong bệnh viện cho thấy 39,1% nhân viên bị bệnh da trong quá trình làm việc, 21% nhân viên bị bệnh viêm da tiếp xúc do sử dụng clo, formaldehyde và glutaraldehyde Một nghiên cứu khác của NIOSH (1983) [48] chỉ ra khi nồng độ của glutaraldehyde trong không khí là 0,4ppm (1,5mg/m3) thì các nhân viên tiếp xúc có các triệu chứng như kích thích mắt, họng, phổi (45%) và các triệu chứng khác như ho, đau ngực, đau đầu, kích thích da và có các triệu chứng như hen Ô xít Ethylen cũng được sử dụng khử trùng các vật liệu nhạy cảm với tất cả các vi sinh vật Hậu quả cuả tiếp xúc là các ảnh hưởng về thần kinh, ung thư và sinh sản không bình thường (Joveleviths, 2003) [37] Tiếp xúc nghề nghiệp với thuốc chống ung thư là nguy cơ của các cán bộ y tế khi chuẩn bị, sử dụng và làm hoá trị liệu chống ung thư Carrieri và cs (2003) [25] đ! đánh giá sự tiếp xúc với thuốc chống ung thư bằng chỉ số cyclophosphamide Các tác giả tìm thấy ô nhiễm thuốc chống ung thư ở trên bề mặt các nơi chuẩn bị (khoảng <0.05-2011.68ng/cm2) và thậm chí ở cả trên quần áo nhân viên (<0.15—94.28ng/cm2)
Tiếp xúc với tiếng ồn cao cũng là một trong những tác hại nghề nghiệp của các cán bộ y tế và ngược lại với suy nghĩ bệnh viện là nơi yên tĩnh, nhiều nơi cũng rất ồn ào Trong nghiên cứu về mức ồn ở 26 bệnh viện, các nơi được xác định là rất ồn làm giảm năng suất làm việc như phòng ăn, phòng xét nghiệm, phòng ghi hồ sơ và phòng y tá (Seidlitz 1981) [54]
Tiếp xúc với bức xạ ion hóa ở các khoa chẩn đoán X quang, huỳnh quang, tia X
Trang 1911 mạch, X quang nha khoa, CT scanner, chữa bệnh tia X, da liễu, y học hạt nhân trong quá trình chẩn đoán và chữa bệnh cũng gây tác hại cho sức khỏe của các cán bộ y tế Tiếp xúc tích lũy với liều thấp có thể gây những hủy hoại về mặt sinh học Bức xạ ion hóa gây biến đổi gen và nhiễm sắc thể, có thể làm chậm hoặc huỷ hoại phân chia tế bào và can thiệp vào các quá trình chuyển hoá Ngoài ra còn có các ảnh hưởng khác bao gồm các dạng ung thư như ung thư máu, xương, da và tuyến giáp vv (NIOSH 1988) [49]
Chất thải bệnh viện cũng là nguồn tác hại lớn đến sức khoẻ của các cán bộ y tế Những cán bộ y tế tiếp xúc với chất thải y tế nhiều nhất là các y tá, hộ lý, những người dọn vệ sinh và người làm bếp Tỷ lệ tổn thương do các vật sắc nhọn từ chất thải y tế hàng năm ở những công việc này là khoảng 10-20 người /1000 người Cán bộ y tế dọn vệ sinh
có tỷ lệ tổn thương cao nhất: 180/1000 người trong 1 năm cao hơn hơn 2 lần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại Ước tính các cán bộ y tế thuộc bệnh viện bị tổn thương do các vật sắc nhọn từ chất thải y tế hàng năm là: y tá:17700/22200,
hộ lý: 11700/45300, xét nghiệm viên: 800/7500, các bác sĩ và nha sĩ là 100/400 Ước tính số lượng cán bộ y tế bệnh viện bị nhiễm HBV liên quan đến chất thải y tế do những tổn thương là y tá: 26/45, hộ lý: 23/91, xét nghiệm viên: 2/15, bác sĩ và nha sĩ: < 1 (Adrian Coad 1992) [16]
Nguy cơ sức khoẻ do tiếp xúc với các chất sinh học như máu, dịch, cũng là một trong những vấn đề phổ biến trong bệnh viện Silveia et al (2002) [53] đ! ghi lại 352 trường hợp tiếp xúc từ tháng 1/1999 đến tháng 12/2001 trong một bệnh viện 79.3% tiếp xúc với vật sắc nhọn, 17% tiếp xúc trong niêm mạc và 3,4% qua da Đối với tiếp xúc với vật sắc nhọn, 58.1% vật tiếp xúc là kim tiêm, 11,5% là dao mổ, 11.1% là kim khâu vết thương, 2.9% là thuỷ tinh và 15% là các vật khác Có 55,4% tiếp xúc với máu và các sản phẩm của máu,trong đó 0,3% chứa HIV và 13,4% dung dịch không biết 52.6% tiếp xúc xảy ra trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, 13,1% do đánh đổ các chất sinh học, 12.8% tiếp xúc với các vật sắc trong thùng rác hoặc ở ngoài nơi làm việc, 5,4% trong quá trình
đóng gói hoặc đổ kim tiêm, 5,1% do bê thùng rác và 2% với lý do khác
Nhiều nghiên cứu đ! chỉ ra các cán bộ y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác Nghiên cứu của Linn LS, et al (1985) [42] Agius RM et al (1996) [17] cho thấy có tới 25% các bác sĩ lâm sàng bị stress, trầm cảm, lo âu và kiệt sức ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đến sức khoẻ là mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, không thoả m!n với công việc, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân, nghiện rượu, số ngày nghỉ ốm cao,
Trang 2012
về hưu sớm, và mắc một số bệnh liên quan đến stress như loét dạ dày, nhồi máu cơ tim, cao huyết áp vv Ước tính chi phí cho stress nghề nghiệp rất cao Theo Viện nghiên cứu Stress của Mỹ, chi phí lên tới 150 tỷ USD Trung bình Viện này phải chi 73.270 USD cho những người lao động bị mất khả năng lao động do stress Mỗi năm ở Mỹ có khoảng 550.000 trường hợp bị tử vong đột ngột do nhồi máu cơ tim có liên quan đến stress Viện Quốc gia về An toàn Vệ sinh lao động Mỹ (NIOSH) phân loại bệnh do stress gây ra là một trong 10 bệnh hàng đầu liên quan đến công việc (Micheal S Vinas, 1999) [45]
Điều kiện làm việc của các cán bộ y tế liên quan đến gánh nặng công việc và thời gian làm việc kéo dài, nhịp điệu công việc được coi là những tác hại nghề nghiệp quan trọng nhất theo đa số (58%) đối tượng nghiên cứu là các y bác sĩ, y tá, kỹ thuật viên trong nghiên cứu của Uva và cs (2003) [55] Lee Won Chul (1994) [40] điều tra mức độ và các yếu tố liên quan stress công việc ở các y tá làm việc ở phòng khám đa khoa bằng bảng câu hỏi tự đánh giá nhận thấy: cảm giác stress cao nhất khi các y tá phải nhận mức tiền lương thấp cho sự phục vụ của họ (5,21), trực đêm (5,06) và cảm giác stress ở các khoa khác nhau được xếp loại khác nhau: phòng khám đa khoa (4,7), phòng hồi sức cấp cứu (4,69), phòng bệnh nhân ngoại trú (4,11) (điểm tối đa là 6 điểm) Còn trong nghiên cứu của David Koh và cộng sự, 1998 [26] nhận thấy: các y tá làm việc tại khoa hồi sức cấp cứu có mức độ stress cao nhất, các y tá khoa ngoại, phòng khám, khoa bệnh nhân ngoại trú có điểm đánh giá và tự cảm nhận stress ở các mức độ thấp hơn Trầm cảm và lo âu là dấu hiệu của ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đến sức khoẻ Demiral et al (2002) [27] đ! nghiên cứu trên 300 bác sĩ ở các chuyên khoa khác nhau và tìm thấy tỷ lệ chung về trầm cảm và lo âu là 18,9 % và 27,4% ở các bác sĩ Meirelles et
al (2003) [44] đ! nghiên cứu các y tá ở một Trung tâm phẫu thuật ung thư ở Brazil cho thấy có nhiều yếu tố gây stress ở trung tâm này, đặc biệt là môi trường liên quan đến ung thư và các y tá phải chăm sóc các bệnh nhân ung thư 62,9% cho rằng môi trường trong trung tâm này gây stress mạnh Các yếu tố stress chính là công việc quá tải, thời gian làm việc quá dài và thiếu nhân lực 80% y tá có biểu hiện lo âu từ trạng thái trung bình
đến cao Một số lượng lớn các nghiên cứu đ! chỉ ra 25-30% cán bộ y tế bị kiệt sức là hậu quả các công việc của họ trong ngành y tế (Grassi & Magnani, 2000) Các yếu tố nguy cơ là gánh nặng công việc, tổ chức lao động tồi, mâu thuẫn nhóm và phải chăm sóc các bệnh nhân nặng, tiếp xúc hàng ngày với người chết và các vấn đề tử vong, những phản ứng thái quá từ các gia đình bệnh nhân là những nguồn stress lớn Estrin-Behar và CS
Trang 2113 (1990) [30] đ! nghiên cứu gánh nặng tâm lý trên 1505 cán bộ y tế nữ tại Pháp trong năm 1990 Năm chỉ số y tế được nghiên cứu: sự mệt nhọc, suy nhược, sử dung thuốc chống trầm cảm, sử dụng thuốc ngủ, sử dụng thuốc an thần, và các rối loạn tâm lý Kết quả cho thấy mất ngủ liên quan nhiều đến căng thẳng nghề nghiệp Tất cả 5 chỉ số trên
đều liên quan đến quá tải trong công việc
Tai nạn nghề nghiệp ở các y tá ở Natal, Brazil được Nicolete (2003) nghiên cứu [47]: trong 200 y tá, có khoảng 10,6% tai nạn được báo cáo Các tai nạn chủ yếu xảy ra
ở ca đêm (100% 80,5% y tá cho rằng nguyên nhân của các tai nạn có liên quan đến điều kiện làm việc Tương tự, Abreu et al (2002) [18] hồi cứu những số liệu tai nạn báo cáo ở Trung tâm Y tế Quận Bauru, Brazil từ 1996 đên 1999 cho thấy 266 tai nạn lao động được báo cáo, trong đó có 189 là tai nạn tại nơi làm việc Tổng số ngày nghỉ việc là 1094 ngày Tại nơi làm việc, các dụng cụ cầm tay không chạy điện gây 65 trường hợp tai nạn, trong đó phần lớn (48 trường hợp) có liên quan đến kim tiêm Pousa, Malek and Benati (2003) [51] cũng cho rằng vứt kim tiêm bừa b!i trong môi trường lao động gây 14,3% tai nạn Các tổn thương do kim đâm là 41,3% 33 nhân viên là nạn nhân của hai hay nhiều tai nạn, phần lớn họ ở khoa hồi sức cấp cứu
Rối loạn cơ xương được nghiên cứu nhiều ở các cán bộ y tế ở Mỹ gần một nửa bồi thường dành cho cán bộ y tế do đau lưng (Health Alert 1978) [35] Năm 1978 đau lưng làm mất gần 25 triệu ngày nghỉ việc và chi phí khoảng 14 tỷ USD cho chữa trị (Goldberg et al 1980) [32] Số liệu từ Văn phòng thống
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
ở trong nước đ! có một số nghiên cứu về cán bộ y tế Nguyễn Ngọc Ngà (2002) [10] đ! đưa ra một số nét về điều kiện lao động trong bệnh viện Trong lao động các cán
bộ y tế phải tiếp xúc với rất nhiều yếu tố nguy cơ cho sức khỏe như các yếu tố vi sinh vật gây bệnh, bụi trong không khí có vi trùng lao, bức xạ ion hóa trong các phòng chụp
X quang, sóng siêu âm tần số cao, tiếng ồn, các chất gây mê, các loại thuốc, stress nghề nghiệp và các tư thế làm việc bất lợi vv Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hải và cs (2003) [7] về tiếp xúc nghề nghiệp và ảnh hưởng tới sức khỏe những người làm việc ở phòng X quang tư nhân cho thấy 42,5% số phòng để lọt tia X quang ra ngoài vượt quá tiêu chuẩn cho phép, kể cả nơi bệnh nhân ngồi chờ Tỷ lệ bất thường nhiễm sắc thể của nhân viên
X quang chiếm 4,12% Nguyễn Xuân Hiên và cs (1998) [8] nghiên cứu về an toàn phòng ốc, máy X quang, phương tiện bảo hộ cá nhân của nhân viên X quang ở một bệnh
Trang 2214 viện Kết quả cho thấy an toàn bức xạ iôn hoá chưa đảm bảo, nhất là tuyết huyện và nhân viên X quang có nhiều dấu hiệu ảnh hưởng của tia X Tương tự, nghiên cứu của Phan Tuấn (1998) [11] về các cán bộ y tế ở Hải Phòng làm việc với tia bức xạ ion hoá cho thấy thiết bị trong các phòng X quang quá lạc hậu, điều kiện làm việc chưa an toàn Trong số 86 cán bộ thường xuyên tiếp xúc với bức xạ ion, có người đ! vô sinh, suy giảm bạch cầu, sùi tay, sinh con dị dạng quái thai, 5 trường hợp ung thư và không ít trường hợp mẫn cảm dị ứng phải chuyển sang bộ phận khác Nguyễn Thế Công và cs (2003) [3] đ! nghiên cứu điều kiện lao động của các nữ công nhân viên chức các ngành nghề trong đó có ngành y tế Kết quả nghiên cứu đ! chỉ ra nữ viên chức y tế làm việc trong môi trường không khí bị ô nhiễm vi khuẩn và nấm mốc, đặc biệt phòng khám cấp cứu
đa khoa Nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Lan và cs (1995) [9] đ! đánh giá điều kiện lao
động của khoa cấp cứu và khoa ngoại Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố vệ sinh môi trường lao động ở các khoa đều không đạt tiêu chuẩn cho phép như nhiệt độ không khí cao hơn TCCP từ 1,6-4,2 0C, cường độ tiếng ồn cao hơn TCCP từ 7-22dB, nồng độ CO2 cao hơn TCCP 2-3 lần, liều xuất phóng xạ X quang trong phòng chụp tại khoa hồi sức cấp cứu cao hơn TCCP 28-33 lần, ở ngoài hành lang và các phòng lân cận gấp 3-4 lần Đặc biệt buồng bệnh nhân tầng dưới, liều suất đo được cao hơn TCCP gần 70 lần Chất thải y tế là nguồn gây ô nhiễm cho các bệnh viện Theo nghiên cứu của Đinh Hữu Dung và cs (2003) [5] ở 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh cho thấy tổng lượng chất thải thải ra trung bình/giường bệnh/24h là 0,62-1,27 kg, trong đó chất thải lâm sàng chiếm 18,2-18,9% và chất thải hóa học là 0,3-0,5% Các chỉ số về vi sinh và hóa lý của nước cống thải chính ở các bệnh viện chưa xử lý nước thải đều cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép Số lượng vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn tan máu, bào tử nấm mốc ở sát khu vực bệnh viện nghiên cứu cũng cao hơn tiêu chuẩn cho phép Tỷ lệ người bị thương tích do chất thải y tế trong một năm là 19,2- 20,6%
Điều kiện làm việc của các cán bộ y tế có nhiều stress nghề nghiệp do tính đặc thù nghề nghiệp tiếp xúc với nhiều bệnh nhân ốm đau, bệnh tật và tử vong Nguyễn Thu
Hà và cs (2000) [6] nghiên cứu ở 31 cán bộ y tế của một khoa hồi sức cấp cứu thuộc tuyến trung ương về stress nghề nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy 22,6% đối tượng
có điểm stress ở mức cao, 41,9% ở mức trung bình và 35,5% ở mức thấp Các biến đổi chức năng hệ thần kinh trung ương, hệ tim mạch sau ca làm việc và sau ca trực đ! phản
ánh stress trong công việc của các cán bộ y tế
Trang 2315 Các nghiên cứu tình trạng sức khoẻ và bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nghề nghiệp của cán bộ y tế ở nước ta thường ở qui mô nhỏ và chưa nêu rõ được mối liên quan giữa
điều kiện lao động đặc thù và bệnh tật của cán bộ y tế Nguyễn Thị Thu & cs (2001) [12] trong đề tài độc lập cấp nhà nước “Khảo sát điều kiện lao động và đề xuất cơ sở khoa học các giải pháp khống chế tác hại nghề nghiệp bảo vệ sức khoẻ nữ công nhân viên chức và lao động trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”, đ! nghiên cứu tình hình sức khoẻ cán bộ y tế trong mối liên quan tới điều kiện lao động
đặc thù của ngành Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chung cho tất cả các loại bệnh và triệu chứng là 98% trong vòng 2 năm, nghĩa là gần như người nào cũng mắc bệnh ít nhất
1 lần trong vòng 2 năm Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn nam giới (100% so với 61%) Tập trung vào phân tích tình trạng sức khoẻ và bệnh tật của nữ cán bộ y tế, kết quả cho thấy
10 bệnh và triệu chứng thường gặp nhất ở cán bộ y tế nữ là các bệnh răng hàm mặt (38,5%), mắt (16,2%), tim mạch (11,5%), tai mũi họng (10,1%), các bệnh ngoại khoa (8,1%), sản phụ khoa (7,4%), bệnh đường tiêu hoá (5,4%), đau xương khớp (4,73%), thiếu máu (3,4%) và các bệnh đường hô hấp ( 2,7%) Trong khi đó 10 bệnh phổ biến nhất ở nam tương tự như ở nữ nhưng xếp số thứ tự có khác: bệnh về mắt (13,8%), tai mũi họng (9,2%), răng hàm mặt (8,3%), các bệnh ngoại khoa (6,4%), tim mạch (6,4%), bệnh đường tiêu hoá (5,5%), hô hấp (2,8%), đau xương khớp (2,8%), thiếu máu (1,8%)
và các bệnh nội tiết (1,83%) Cũng theo nghiên cứu này, tình trạng lây nhiễm cho cán
bộ y tế tại bệnh viện là khá cao và đáng báo động Tỷ lệ lây nhiễm chung là 13%, trong
đó tỷ lệ lây nhiễm từ bệnh nhân tại khoa Truyền nhiễm là 42,6%, tại phòng khám là 13,6% và tại khoa HSCC là 7% Nghiên cứu này cũng chỉ ra tình trạng sức khoẻ của cán
bộ y tế nữ sau giờ làm việc Chỉ có 34,6% có tình trạng thoải mái và bình thường sau giờ làm việc, số còn lại là mệt mỏi Trong đó số có trạng thái rất mệt mỏi và căng thẳng là 20,4% Tỷ lệ rất mệt mỏi và căng thẳng khác nhau theo từng chuyên khoa Ví dụ, tại khoa HSCC, có đến 37,6% trong khi tại khoa truyền nhiễm chỉ có 9,5% và tại Phòng khám chỉ có 9,2% có tình trạng rất mệt mỏi và căng thẳng
Theo kết quả điều tra của Uỷ ban phòng chống AID cho thấy số tai nạn rủi ro nghề nghiệp ở các phòng xét nghiệm HIV (theo thống kê chưa đầy đủ) riêng trong năm
1999 tới 62 vụ (trong số 695.097 mẫu xét nghiệm HIV được làm), đây là một kiểu tai nạn do kim lấy máu châm vào tay cán bộ y tế, như vậy nguy cơ lây nhiễm bệnh từ bệnh nhân HIV/AID qua đường máu là rất cao Ngoài ra ở các bệnh viện, các khoa thần kinh, tâm thần, khoa ngoại, nhiều cán bộ y tế bị người bệnh tâm thần, người nhà bệnh nhân hành hung vô cớ, đ! có những trường hợp cán bộ y tế bị thiệt mạng vì những lý do trên
Trang 2416 Viên Chinh Chiến (1997) [2] nghiên cứu 694 cán bộ y tế tại 9 bệnh viện, cơ quan của 3
tỉnh Miền Trung Kết quả đ! chỉ ra tỷ lệ mang HBsAg là 17,6%, tỷ lệ có kháng thể
(anti-HBs) là 52,9% và tỷ lệ HBV là 70,5% Tỷ lệ HBsAg(+) và tỷ lệ nhiễm HBV nói chung của cán bộ y tế cao hơn hẳn quần thể dân cư đối chứng với p<0,05 Tương tự, Khúc Xuyền & cs (1999) [14] đ! đánh giá tỷ lệ nhiễm HBV ở 474 cán bộ y tế các khoa
dễ lây nhiễm như khoa truyền nhiễm, huyết học và truyền máu, khoa ngoại, khoa sản, khoa xét nghiệm của bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định và 10 bệnh viện huyện Nam Định Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm gan virut B ở cán bộ y tế với HbsAg (+) là 13,1% Mặt khác khi so sánh với nhóm nhân viên bưu
điện, các tác giả cho thấy các cán bộ y tế có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2,65 lần ( OR từ 1,03- 6,76) Phùng thị Thanh Tú (1998) [13] tiến hành khảo sát trên cán bộ y tế các bệnh viện duyên hải Miền Trung cho thấy tỷ lệ HbsAg (+) ở nhóm bác sỹ là 23,4%, ở nhóm hộ lý là 16,6% Một nghiên cứu tại khoa Hồi sức cấp cứu và Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai năm 2000 cho thấy trong số 65 cán bộ y tế hiện đang công tác tại khoa
có 6 cán bộ y tế bị viêm gan, 2 lao phổi, 10 viêm loét dạ dày-tá tràng, 4 cao huyết áp (Nguyễn Thị Dụ, 2000)
Trang 2517
Chương 2 Mục tiêu, đối tượng và phương pháp ngiên cứu
2.1 mục tiêu của nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm vào hai mục tiêu là:
2.1.1 Xác định mô hình bệnh tật của CBYT có liên quan đến điều kiện lao động đặc thù;
2.1.2 Xác định các bệnh nghề nghiệp có liên quan đến điều kiện lao động đặc thù và đề
xuất các giải pháp nâng cao bảo vệ sức khoẻ cho CBYT
2.2 đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp với hồi cứu số liệu
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu:
- Tuyến Trung ương : BV Bạch Mai, BV Việt Đức, BV Nhi VN-TĐ, BV Phụ sản TW,
BV Tâm thần TW, BV K, BV Hữu Nghị, Viện Lao và bệnh phổi, BV Quân đội 103, BV Quân đội 354, Viện VSDT TW, Viện SR& KST và CT, Viện VSDT quân đội
- Tuyến tỉnh/ Thành phố/ Quân khu : Nam Định, Hải Phòng, Yên BáI, Nghệ An, Khánh Hoà, Thừa Thiên Huế, Đắc Lắc, Bến Tre, Tiền Giang
- Tuyến huyện, quận huỵện, x! được chọn từ các tỉnh trên
2.2.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Các cán bộ y tế đang làm việc trong các cơ sở trên
- Các cán bộ quản lý tại các cơ sở y tế nghiên cứu
- Các hồ sơ, sổ sách về sức khoẻ của cán bộ y tế tại y tế cơ quan,
2.2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
- Cỡ mẫu cho phỏng vấn các cán bộ y tế sẽ được tính theo công thức tính cỡ mẫu
nghiên cứu ngang mô tả:
pq
n =Z 2 (1-α/2) - DE
d 2
Trang 26- Cỡ mẫu cho khám lâm sàng cán bộ y tế : Trên cơ sở số cán bộ y tế được phỏng vấn sẽ chọn ngẫu nhiên 1/5 số cán bộ đó để khám lâm sàng và xét nghiệm (2000 người) Do kinh phí hạn hẹp chúng tôi chỉ chọn số khám sức khoẻ và xét nghiệm tại các Bệnh viện, Viện Trung Ương và ở các Khoa có nguy cơ cao như : Khoa ngoại, gây mê hồi sức, hồi sức cấp cứu, sản , nhi, truyền nhiễm, tâm thần , xét nghiệm, ung thư, chẩn đoán hình
Quy trình chọn mẫu như sau:
• Tại tuyến trung ương: tất cả các bệnh viện trung ương và các cơ sở y tế làm công tác phòng chống dịch trung ương Các đơn vị được chọn để nghiên cứu sẽ bao gồm cả các đơn vị dân y và quân y
• Tuyến tỉnh sẽ được chia ra làm 3 vùng: thành phố, đồng bằng và trung du miền
núi Mỗi vùng sẽ lấy đại diện ba tỉnh để điều tra nghiên cứu Tất cả các bệnh
Trang 2719 viện và các đơn vị làm công tác phòng chống dịch trực thuộc tỉnh đó sẽ được chọn vào mẫu nghiên cứu Tương ứng là các bệnh viện tuyến Quân khu và trung tâm y tế dự phòng quân khu cũng sẽ chọn vào mẫu nghiên cứu
• Tuyến huyện: tại mỗi tỉnh trên, 2 trung tâm y tế huyện sẽ được chọn ngẫu nhiên vào mẫu nghiên cứu cùng với các bệnh xá quân đoàn
Cụ thể trong đề tài này chúng tôi đã thực hiện:
- Điều tra tình hình sức khoẻ của các cán bộ y tế bằng phiếu điều tra cơ sở và phiếu cá nhân: 9437 phiếu cá nhân và 132 phiếu cơ sở
• Phiếu cơ sở: điều tra tình hình sức khoẻ và bệnh tật, tai nạn thương tích của
CBYT: Phân loại sức khoẻ theo khám SKĐK, tình hình bệnh nghề nghiệp, tình
hình nghỉ ốm, tình hình mắc các bệnh truyền nhiễm, vv (Phụ lục 2: Phiếu số 1
& 2.)
• Phiếu cá nhân: Tình hình sức khoẻ và bệnh tật: các biểu hiện và triệu chứng sau giờ làm việc, tình hình đau mỏi cơ xương, các bệnh m!n tính mắc phải, tình hình lây nhiễm bệnh, tình hình tai nạn thương tích và tổn thương do các vật sắc nhọn ,
vv (Phụ lục 2: Phiếu số 3 & 4.)
- Hồi cứu hồ sơ sức khoẻ, hồ sơ khám sức khoẻ định kỳ: 1969 hồ sơ
- Khám lâm sàng: Khám lâm sàng toàn diện bao gồm đo các chỉ tiêu thể lực và khám các chuyên khoa như nội (hô hấp, tim mạch, tiêu hoá), xương khớp, thần kinh, tiết niệu, tai mũi họng, mắt, ngoài da theo mẫu khám sức khoẻ do các bác sỹ của Phòng khám BV Bạch Mai và BV 103 Quân đội đảm nhiệm Phân loại sức khoẻ theo quy
Trang 2820
2.3 Nội dung nghiên cứu và Phương pháp thu thập thông tin :
- Đánh giá tình hình sức khoẻ, bệnh tật và các dấu hiệu, triệu chứng bệnh qua phỏng vấn theo bộ câu hỏi
- Khám lâm sàng toàn diện bao gồm đo các chỉ tiêu thể lực và khám các chuyên khoa như nội ( hô hấp, tim mạch, tiêu hoá), xương khớp, thần kinh, tiết niệu, tai mũi họng, mắt, ngoài da theo mẫu khám sức khoẻ do các bác sỹ của Phòng khám BV Bạch Mai
và BV 103 Quân đội đảm nhiệm Phân loại sức khoẻ theo quy định của Bộ Y Tế năm
1997
- Cận lâm sàng : Các xét nghiệm được tiến hành tại Khoa xét nghiệm Bệnh viện Bạc Mai và BV Quân đội 103:
+ Xét nghiệm máu: Công thức máu bằng máy phân tích Sysmex KX-21
+ Xét nghiệm HbsAg bằng phương pháp ELISA với máy PW 40 và PW 210
+ Thử nghiệm sàng lọc (ELISA chẩn đoán nhiễm HIV theo phản ứng kháng nguyên với kháng thể IgG trong huyết tương trên phiến nhựa
+ Xét nghiệm GOT, GPT bằng phương pháp so mầu trên máy Screen Master của
ý
+ Xác định kháng thể KST sốt rét bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang (IFA)
+ Đo chức năng hô hấp bằng máy Spiro- Analyzer- CT 300 của Nhật Bản
+ Điện tim bằng máy điện tim 3 cần
+ Chụp X quang và siêu âm được làm tại các bệnh viện đến khám với các máy móc hiện đại đang được sử dụng theo quy trình kỹ thuật của ngành y tế
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá điều kiện làm việc cũng như tình trạng sức khỏe của cán bộ y té để đề xuất các giải pháp nâng cao sức khỏe cho người lao
động Đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích và tự nguyện tham gia Các trường hợp phát hiện bệnh được điều trị Các thông tin mà họ cung cấp được giữ kín
2.6 Xử lý kết quả: Các kết quả được xử lý theo các thuật toán thống kê trên chương trình Epi Info, và SPSS 10.0
Trang 2921
Chương 3 Các kết quả nghiên cứu
3.1.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.1.1: Phân bố cán bộ y tế được điều tra trong các CSYT theo các tuyến
Tỷ lệ (%) Số
lượng
Tỷ lệ (%)
Số NVYT được điều tra chủ yếu tập trung ở tuyến trung ương (chiếm 57,3%) và
số lượng giảm dần ở các tuyến dưới (Bảng 3.1.1)
Dự phòng:
12,5 %
Điều trị:
87,5 %
Biểu đồ 3.1.1: Phân bố nhân viên y tế được điều tra theo hệ dự phòng và điều trị
Số NVYT được điều tra trong các CSYT điều trị cũng chiếm đa số (87,5%) (Biểu
đồ 3.1.1)
Trang 303.1.2 Thông tin về nhân khẩu học của các đối t−ợng nghiên cứu:
Tuổi của CBYT đ−ợc điều tra từ 19 đến 75, với tuổi trung bình là 39,7±9 So sánh
tuổi của CBYT điều trị không có sự khác biệt so với tuổi của CBYT dự phòng (P>0,05) Nh−ng số CBYT trên 60 tuổi vẫn còn làm việc nhiều hơn ở các CSYT điều trị so với CSYT dự phòng
Bảng 3.1.3: Thông tin về nhân khẩu học của các CBYT đ−ợc điều tra trong các
CSYT quân dân y theo hệ điều trị và dự phòng
21-62 41,3 +9,3
26-35 2309 27,9 276 23,5 36-45 2752 33,3 397 33,8
Trang 314.3 1.9
Biểu đồ 3.1.2: Phân bố tuổi đời của các đối t−ợng nghiên cứu theo hệ điều trị và dự phòng
Số CBYT nữ chiếm hơn 2/3 số CBYT đ−ợc điều tra trong các CSYT điều trị (67,5%)
và chiếm hơn 1/2 trong các CSYT dự phòng (53,3%) (Bảng 3.1.3)
Về tình trạng hôn nhân, hầu hết CBYT đ−ợc điều tra đều có gia đình, chiếm 84,3% Các CBYT đ−ợc điều tra hầu hết có trình độ văn hoá hết phổ thông trung học
82,1-(chiếm 92,8-96,9%) Số rất ít có trình độ văn hoá trung học cơ sở và tiểu học (Bảng 3.1.3)
Trang 32khoảng 11% Y công chiếm 8,7% và dược sĩ chỉ chiếm 3,6% (Bảng 3.1.4)
Đối với các CSYT dự phòng, số bác sĩ được điều tra nhiều nhất, chiếm 29,6% Số điều dưỡng được điều tra ít hơn so với trong các CSYT điều trị, chiếm 29,7% Số kỹ thuật viên
được điều tra nhiều hơn so với các CSYT điều trị (16%) và tương tự các ngành nghề khác
chiếm tới 18,3% (Bảng 3.1.4)
Các công việc đang làm của các CBYT được điều tra trong các CSYT điều trị nhiều nhất là chuyên khoa nội (chiếm 28,2%), sau đó là chuyên khoa ngoại, chiếm 25,7%, xét
nghiệm chiếm 10,7% (Bảng 3.1.4)
Đối với các CSYT dự phòng, phòng dịch chiếm nhiều nhất gần 1/2 tổng số CBYT
điều tra (46,7%) Sau đó đến những người làm công tác xét nghiệm, chiếm gần 20%
(Bảng 3.1.4)
Trang 3325
Trong số CBYT được điều tra, số CBYT làm thêm ngoài giờ sau giờ làm việc
không nhiều, chỉ chiếm 6,2% ở các CSYT điều trị và 4% ở các CSYT dự phòng (Bảng
21-25 năm
26-30 năm
Biểu đồ 3.1.3. Phân bố tuổi nghề làm việc của các CBYT trong các CSYT được điều tra
Số năm công tác của các CBYT tại các CSYT được điều tra trung bình là 13,1±2,4 (năm) với số năm thấp nhất là 1 năm và cao nhất là 56 năm Số CBYT giảm dần ở số năm công tác càng cao Số CBYT được điều tra có số năm công tác từ 1-5 năm chiếm 27,2%;
từ 6-10 năm chiếm 17,6%; 11-15 năm chiếm 11,3; 16-20 năm và 21-25 năm có 14% CBYT Thâm niên nghề từ 26-30 năm và trên 30 năm chiếm hơn 12% So sánh thâm niên
nghề nghiệp giữa CBYT điều trị và dự phòng không có sự khác biệt (Biều đồ 3.1.3)
Biểu đồ 3.1.4: Thu nhập của các cán bộ y tế theo hệ điều trị và dự phòng
Thu nhập của các CBYT nói chung là thấp, chủ yếu dưới 2 triệu đồng (chiếm 88,7%) Số CBYT thu nhập từ 2-3 triệu đồng chiếm khoảng hơn 7% và số thu nhập trên 3
87,4-triệu đồng chiếm tỷ lệ nhỏ (2-3,2%) (Biều đồ 3.1.4)
Trang 34Bảng 3.2.1 Tỷ lệ CBYT tự đánh giá tình trạng SK theo hệ điều trị và DP
Kết quả bảng 3.2.1 cho thấy có sự khác biệt về tình trạng sức khoẻ giữa CBYT
đang công tác trong hệ dự phòng và hệ điều trị Tỷ lệ CBYT có tình trạng sức khoẻ tốt cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) ở hệ điều trị so với hệ dự phòng (24% so với 21,4%) Tỷ lệ CBYT có tình trạng sức khoẻ trung bình ở hệ dự phòng cao hơn hệ điều trị nh−ng không có ý nghĩa thống kê (75,9% so với 73,7%)
24 73.7
2.3
21.4 75.9
2.7 0
20 40 60 80
Tốt Trung bình Yếu
Tỷ lệ %
So sánh tỷ lệ CBYT tự đánh giá sức khoẻ theo chức danh cho thấy số bác sỹ và
kỹ thuật viên (26,9% và 24,5%) có sức khoẻ tốt cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,001
và p<0,02) so với d−ợc sỹ (18,2%) So với các chức danh khác nh− y tá, hộ lý và CBYT
Trang 3527 khác, bác sĩ và KTV cũng có tỷ lệ đánh giá SK loại tốt cao hơn nh−ng sự khác biệt
Trang 3628 chuyªn khoa kh¸c cã tû lÖ søc khoÎ tèt thÊp h¬n (tõ 19,2%- 23,5%) Tuy nhiªn sù kh¸c
biÖt kh«ng cã ý nghÜa thèng kª (víi p>0,05) (B¶ng 3.2.3)
3.2.1.2 T×nh h×nh søc khoÎ vµ bÖnh tËt cña CBYT qua pháng vÊn:
B¶ng 3.2.4 Tû lÖ CBYT bÞ èm trong vßng 1 th¸ng tr−íc khi ®iÒu tra
So s¸nh tû lÖ CBYT bÞ èm trong vßng 1 th¸ng tr−íc khi ®iÒu tra cho thÊy kh«ng
cã sù kh¸c biÖt vÒ t×nh tr¹ng m¾c bÖnh gi÷a CBYT ®ang c«ng t¸c trong hÖ dù phßng vµ
Trang 3729
Tû lÖ d−îc sü, b¸c sü, y t¸ vµ kü thuËt viªn bÞ èm trong vßng 1 th¸ng tr−íc khi nghiªn cøu cao h¬n nhãm hé lý vµ c¸c nhãm CBYT kh¸c (27,3%-34,1% so víi 22,5% -23,2%) Tuy nhiªn sù kh¸c biÖt kh«ng cã ý nghÜa thèng kª (víi p>0,05)
B¶ng 3.2.6 Ph©n bè tû lÖ CBYT bÞ èm trong vßng 1 th¸ng theo chuyªn khoa
Tû lÖ CBYT t¹i c¸c khoa Ung th−, nhi, HSCC, phßng kh¸m, ngo¹i, truyÒn nhiÔm, xÐt nghiÖm vµ khoa kh¸c cã tû lÖ èm cao (27,3%-37,6%) vµ cao h¬n nhãm CBYT thuéc chuyªn khoa chÈn ®o¸n h×nh ¶nh, t©m thÇn vµ s¶n (24,3-26,4%) Sù kh¸c biÖt chØ cã ý nghÜa khi so s¸nh gi÷a khoa ung th−, truyÒn nhiÔm víi c¸c khoa chÈn ®o¸n h×nh ¶nh,
Trang 38tr−êng hîp CBYT §T so víi 3 tr−êng hîp CBYT DP) (B¶ng 3.2.7)
B¶ng 3.2.8 Thêi gian nghØ èm cña CBYT trong th¸ng qua
b×nh (ngµy)
§é lÖch chuÈn (ngµy)
Thêi gian nghØ èm trung b×nh cho tÊt c¶ c¸c CBYT lµ 2,2 ngµy Thêi gian nghØ
èm trung b×nh cho CBYT hÖ ®iÒu trÞ cao h¬n CBYT hÖ dù phßng Thêi gian nghØ èm dµi nhÊt lµ ë kü thuËt viªn (3,8 ngµy), tiÕp theo lµ hé lý (2,9 ngµy), d−îc sü (2,2 ngµy), y t¸
(2 ngµy) vµ thêi gian nghØ èm ng¾n nhÊt lµ b¸c sü (1,8 ngµy)
3.2.1.3 T×nh h×nh m¾c bÖnh m¹n tÝnh ë CBYT
B¶ng 3.2.9 T×nh h×nh nghØ èm vµ bÖnh tËt cña CBYT 1 n¨m tr−íc khi
nghiªn cøu qua pháng vÊn vµ håi cøu sè liÖu søc khoÎ (n=19769)
Trang 39Phỏng vấn các cán bộ quản lý của 132 cơ sở y tế được nghiên cứu và hồi cứu các
số liệu bệnh tật của các CBYT tại các CSYT này cho thấy tổng số CBYT của 132 CSYT
điều tra là 19769, trong đó có 18219 CBYT điều trị (chiếm 92,1%) và 1550 CBYT dự phòng (chiếm 7,8%) Trong năm trước khi tiến hành nghiên cứu (năm 2004 hoặc 2005)
số CBYT nghỉ ốm là 1992 người, chiếm 10%, trong đó CBYT điều trị (10,5%) nghỉ ốm nhiều hơn so với CBYT dự phòng (5,5%) Số ngày nghỉ ốm trung bình/người/năm là 7,5 ngày CBYT nghỉ ốm chủ yếu do một số bệnh: bệnh hô hấp có tỷ lệ cao nhất (2,9%), sau đó là bệnh loét dạ dày, tá trạng (1,2%), bệnh cao huyết áp (1,1%), xương khớp mạn
Trang 4032 bệnh mạn tính Tỷ lệ hiện mắc bệnh loét dạ dày tá tràng của CBYT là cao nhất (5,7%), tiếp theo là các bệnh liên quan nghề nghiệp (3,1%), bệnh cao huyết áp (2,9%) và bệnh hô hấp (2,7%) Tỷ lệ mắc các bệnh khác nói chung là thấp dưới 1,5% Có 0,8% số
CBYT hiện đang mắc bệnh lao và 0,2% mắc bệnh viêm gan mạn tính (Bảng 3.3.10)
ở NVYT hệ điều trị, tỷ lệ mắc bệnh loét dạ dày tá tràng cao nhất (chiếm 6,2%) Tiếp theo là các bệnh hô hấp và cao huyết áp (3,1%) Đáng chú ý có 20 trường hợp viêm
gan mạn (0,3)%) và 12 NVYT mắc bệnh lao (0,2%) (Bảng 3.3.10)
ở NVYT hệ dự phòng, số NVYT mắc bệnh loét dạ dày tá tràng cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (5,5%), sau đó là các bệnh cao huyết áp và tim mạch (3,3% và 2,4%) Không
có trường hợp nào mắc lao và viêm gan mạn (Bảng 3.3.10)
Bảng 3.2.11 Tỷ lệ CBYT bị mắc bệnh mạn tính theo chức danh
10 ChNn đoỏn hỡnh ảnh (n=326) 108 33,1 P 10 &3 ,P 10 &4 <0,01