Sách là sản phẩm tinh hoa văn hóa của nhân loại, là công cụ để tích lũy và truyền bá tri thức từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đọc sách là một thói quen tốt giúp con người tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần to lớn vào việc bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, hình thành và phát triển nhân cách con người. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp các bằng chứng xác thực về ảnh hưởng của các yếu tố (cá nhân và môi trường bên ngoài) có ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên dựa trên quy mô khảo sát 120 mẫu. Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết quả chỉ ra rằng có 6 yếu tố (Thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, môi trường giáo dục, thời gian và khả năng tài năng tài chính) ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, trong đó yếu tố môi trường giáo dục có ảnh hưởng tích cực và quan trọng nhất đối trong việc hình thành thói quen đọc sách của sinh viên.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÓI QUEN ĐỌC SÁCH CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện: 1 Dương Anh Duy
2 Vũ Văn Hùng
3 Nguyễn Văn Phương
4 Tạ Mạnh Quỳnh
5 Phạm Anh Tú
GVHD: TS Bùi Thị Thu Loan
Trang 2Hà Nội, tháng 4 /2021
ĐỀ TÀI: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÓI QUEN ĐỌC SÁCH CỦA SINH
VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI.
Thực hiện: Nhóm 4
Dương Anh Duy 1 , Vũ Văn Hùng 1 , Nguyễn Văn Phương 1 ,
Tạ Mạnh Quỳnh 1 , Phạm Anh Tú 1
TÓM TẮT
Sách là sản phẩm tinh hoa văn hóa của nhân loại, là công cụ để tích lũy và truyền bá tri thức từ thế hệ này qua thế hệ khác Đọc sách là một thói quen tốt giúp con người tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần to lớn vào việc bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, hình thành và phát triển nhân cách con người Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp các bằng chứng xác thực về ảnh hưởng của các yếu tố (cá nhân và môi trường bên ngoài) có ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên dựa trên quy mô khảo sát
120 mẫu Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết quả chỉ ra rằng có 6 yếu tố (Thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, môi trường giáo dục, thời gian và khả năng tài năng tài chính) ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, trong đó yếu tố môi trường giáo dục có ảnh hưởng tích cực và quan trọng nhất đối trong việc hình thành thói quen đọc sách của sinh viên
Từ khóa: thói quen đọc sách, môi trường giáo dục, Thời gian, Khả năng tài chính,
sinh viên.
1 Lớp QTKD5-K14, Khoa quản lý kinh doanh, Đại học Công nghiệp Hà Nội.
1 GIỚI THIỆU
Đọc sách là thói quen tích cực, không chỉ giúp chúng ta tích lũy tri thức, nâng cao sự hiểu biết mà còn thể nét đẹp văn hóa truyền thống Nhưng hiện nay, với sự phát triển của công nghệ số, đã tạo ra nhiều nhiều sự quan tâm mới, thói quen mới Thói đọc sách trong giới trẻ ngày càng bị mai một và bị thay thế bởi thói quen như nghe nhạc, xem phim, chơi game, Sinh viên dành nhiều thời gian hơn trên mạng xã hội, đọc sách để củng cố thêm kiến thức chưa được các quan tâm nhiều trong quá trình học tập Đặc biệt, tỉ lệ đọc sách của người Việt Nam nói chung và sinh viên nói riêng của chúng ta hiện nay còn ít so với các nước trên thế giới cũng như khu vực lân cận
Thực tế hiện nay, viêc đọc sách online, sách điện tử e-book, báo điện tử …đang dần trở lên phổ biến Tuy nhiên, đọc sách truyền thống vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong việc ghi chép, tổng hợp và áp dụng kiến thức vào thực tế Vì vậy việc thay đổi nhận thức của sinh viên về vai trò của việc đọc sách, khuyến khích phát triển văn hóa đọc sách trong giới trẻ là vấn đề cấp thiết Vấn đề nghiên cứu thói quen đọc sách đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến như: Chucks Daniel và cộng sự (2017), Foluke Florence (2012), Nathanson (2008)…thực hiện nghiên cứu thói quen đọc sách tại các nước khác nhau Các nghiên cứu thực hiện trên một thực hiện trên mẫu một số trường và các ngành học nhất định như: Lê Thị Thúy Hiền (2011), Nguyễn Thanh Thủy và Vũ Thị Thu Hiền (2017)…giúp cung cấp về vấn đề này nhưng đối tượng của các nghiên cứu trên
Trang 3không thể đại diện cho sinh viên đang học các trường và các ngành học khác Một số nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố có ảnh hưởng đến thói quen đọc sách: Nguyễn Thúy Quỳnh Loan và Võ Hoàng Duy (2013), chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên là do nội dung, ngoài ra các yếu tố môi trường xã hội tác động tích cực và môi trường thế giới ảo là nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến thói quen này bên cạnh các yếu tố về trình độ giáo dục cá nhân trong nghiên cứu của Nguyễn Hữu Viêm (2009) Ngoài ra nghiên cứu của Belden L Liswaniso và Georgina N Mubangakhoa giáo giục ngôn ngữ, trường giáo giục, đại học mở quốc gia Nigeria (2012) cho rằng yếu tố môi trường gia đình và Internet ảnh hưởng quan trọng đến thói quen đọc sách của sinh viên Mặc dù các nghiên cứu trên đã chỉ một số yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên nhưng mới chỉ phù hợp với các đối tượng trong phạm vi nhất định và ở mỗi phạm vi nghiên cứu khác nhau thói quen đọc sách của sinh viên lại chịu sự tác động của các yếu tố khác nhau Nghiên cứu này thực hiện trong phạm vi trường Đại học công nghiệp Hà Nội sẽ tìm ra thêm yếu tố có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến thói quen đọc sách của sinh viên trường Đại học công nghiệp Hà Nội
Trên cơ sở đó, theo hướng tiếp cận của Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) nghiên cứu này áp dụng phân tích định lượng để kiểm tra mức độ ảnh hưởng và chiều hướng ảnh hưởng của các yếu tố: Thái độ, chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Thời gian, Môi trường giáo dục và Khả năng tài chính đến thói quen đọc sách của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of planned behavior)
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) để lý giải hầu hết các hành vi của con người và đã được chứng minh rất hữu dụng trong việc giải thích và dự đoán các hành vi cá nhân ở rất nhiều ngữ cảnh nghiên cứu khác nhau Theo lý thuyết này, ý định thực hiện hành vi của một cá nhân chịu ảnh hưởng của 03 yếu tố, đó là: Thái độ (Attitude) phản ánh sự đánh giá ưa thích hay không ưa thích của một cá nhân đối với một hành vi nào đó, và nó ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ của hành vi hoặc niềm tin về những kết quả có thể xảy ra ; Chuẩn chủ quan (Subjective Norm) thể hiện nhận thức của một cá nhân về những áp lực từ phía người thân hoặc xã hội đối với dự định thực hiện một hành vi cụ thể nào đó của họ; Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control) là nhận thức về mức độ dễ hay khó khi thực hiện hành động đó Lý thuyết TPB được nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển và mở rộng để giải thích và dự đoán hành
vi của con người trong bối cảnh cụ thể, như: Chang (1998), Choo và cộng sự (2004), đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng tích cực của các yếu tố Thái độ, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định thực hiện hành vi
2.2 Lý thuyết động lực
Tác giả Vallerand (1977) là người đầu tiên đề xuất khái niệm về động lực có tính hoàn cảnh (Situational Motivation), đó là những động lực mà một cá nhân nhận thức được trong quá trình họ thực hiện một hành động cụ thể nào đó Từ nền tảng này, Deci và Ryan (1985) tiếp tục đề xuất lý thuyết sự tự quyết (self-determination) nói về cảm giác của cá nhân khi được tự do lựa chọn hành động của mình, và phân chia động lực thành hai thành phần là: Động lực bên trong (intrinsic motivation) thể hiện cho lý do thực hiện hành động đó để đạt được sự hài lòng, sảng khoái và vui thích Trái ngược với đó là động
Trang 4lực bên ngoài (extrinsic motivation) bao gồm các lý do khác dẫn đến hành vi mà không phải là từ nội tại Từ đây, lý thuyết động lực trên đã được nhiều học giả nghiên cứu bằng các nghiên cứu định lượng để giải thích cho nhiều hành vi khác nhau của con người (Bock, Zmud, Kim, & Lee, 2005; H F Lin, 2007; Pelletier et al.1995)
Dựa vào mô hình gốc theo lý thuyết TPB của Ajzen (1991) và Lý thuyết động lực của Vallerand (1977), tác giả xây dựng mô hình cho nghiên cứu này gồm 06 yếu tố nhằm kiểm định sự ảnh hưởng của các yếu tố đến thói quen đọc sách của sinh viên (hình 1)
Hình 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Thói quen đọc sách
Trong nghiên cứu này, tiếp cận theo lý thuyết TPB và lý thuyết động lực, Thói quen đọc sách là sự lặp đi lặp lại thể hiện sự ưu thích và sở thích đọc sách của cá nhân, được
đo bằng thời gian dành cho việc đọc sách Khi các hành vi đọc sách đã trở thành thói quen, nó khiến con người tự thực hiện việc đọc sách một cách vô thức mà không cần đến
lý do Vì vậy, nghiên cứu thói quen đọc sách của sinh viên nhằm mục đích nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách, làm cơ sở khuyến khích tinh thần đọc sách của
sinh viên hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra giả thuyết như sau: H1, Thái độ có mối quan hệ thuận chiều đối với thói quen đọc sách của sinh viên; H2, Chuẩn chủ quan có mối quan hệ thuận chiều đối với thói quen đọc sách của sinh viên; H3, Nhận thức về
kiểm hành vi có mối quan hệ thuận chiều đối với thói quen đọc sách của sinh viên
Vai trò của môi trường giáo dục, vấn đề thời gian và những khả năng tài chính
Yếu tố vai trò của môi trường giáo dục bao gồm vai trò của nhà trường và gia đình Nhà trường, đặc biệt là các giảng viên và các câu lạc bộ sách đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích việc đọc sách của sinh viên Nghiên cứu của MeKool (2007) chỉ
ra Giảng viên góp phần cải thiện việc đọc sách tự nguyện thông qua việc thúc đẩy tìm kiếm và cung cấp kiến thức để tiếp cận tài liệu Bên cạnh đó giáo dục từ gia đình cũng ảnh hưởng rất lớn đến thói quen đọc sách Theo Nathanson và cộng sự (2008), có bằng chứng thống kê rằng bố mẹ có ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành thói quen đọc sách của con cái Số lượng sinh viên ít đọc sách thường xuất phát từ các gia đình ít có sự quan tâm đến sách (Hanka, 2011) Thời gian cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách, những sinh viên bận rộn thường ít đọc sách và không có thời gian dành cho việc đọc Ngoài ra, thói quen đọc sách cũng bị chi phối bởi khả năng tài chính của sinh viên Đa số sinh viên đều đang sống phụ thuộc trợ cấp của bố mẹ, còn một số có
Thái độ
(+) (-)
(+) (+) (+) (+)
Khả năng tài chính
Thời gian
Chuẩn chủ quan
Môi trường giáo dục
Nhận thức kiểm soát hành vi Thói quen đọc sách
của sinh viên
Trang 5công việc làm thêm để cải thiện khả năng tài chính của bản thân nên việc dành một số tiền cố định cho việc mua sách là là điểm hạn chế
Trên cơ sở đó, các giả thuyết được đề xuất như sau: H4, Môi trường giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến thói quen đọc sách của sinh viên; H5, Thời gian có ảnh hưởng tích cực đến thói quen đọc sách của sinh viên và ; H6, Khả năng tài chính có ảnh hưởng tiêu
cực đến thói quen đọc sách của sinh viên
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích dữ liệu sơ cấp thu được từ một mẫu khảo sát là 120 sinh viên đang học trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Đối tượng khảo sát là tất cả sinh viên đang học tại trường các ngành kỹ thuật (Cơ khí, Điện
tử, Ô tô) hoặc ngành kinh tế (Tài chính-Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh, Kế toán) thông qua phần mềm SPSS 22 Số phiếu phát ra là 120 (gửi qua biểu mẫu khảo sát Google) Số phiếu thu về là 120, số phiếu hợp lệ được sử dụng trong phân tích hồi quy là 102 phiếu, trong đó, nam giới chiếm tỷ lệ 42,2% và nữ giới chiếm tỷ lệ 57,8% Khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức điểm, tương ứng với 1 điểm
là Hoàn toàn không đồng ý cho đến 5 điểm là Hoàn toàn đồng ý Các câu hỏi cho các thang đo trong nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở kế thừa từ kết quả các nghiên cứu trước đây của lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991), nghiên cứu của MeKool (2007), Chang (1998), Choo và cộng sự (2004), Vallerand (1977), Bock, Zmud, Kim, & Lee, 2005; H F Lin, 2007; Pelletier et al.1995, lý thuyết động lực của Vallerand (1977) Các biến được mô tả chi tiết trong bảng 1
Bảng 1: Thang đo biến số quan sát
Thái
độ
TĐ1 Đọc sách giúp ích nhiều cho cuộc sống của bạn
Likert mức 5 điểm
Lý thuyết TPB của Aijen năm 1991, Chang
(1998), Choo và cộng sự (2004), Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2013)
TĐ2 Bạn là một người yêu thích và đam mê đọc sách
TĐ3 Đọc sách là một thói quen cần
thiết mà sinh viên cần làm
Chuẩ
n chủ
quan
CC
Q1 Bạn ủng hộ thói quen đọc sách của sinh viên hiện nay Likert
mức 5 điểm
Lý thuyết TPB của Aijen năm 1991, Chang
(1998), Choo và cộng sự (2004)
CC
Q2
Tôi thấy hiện nay mọi người có thói quen đọc sách nên tôi cũng đọc sách
Nhận
thức
kiểm
soát
hành
vi
NT1 Đọc sách là một thói quen tốt của sinh viên
Likert mức 5 điểm
Lý thuyết TPB của Aijen năm 1991, Chang
(1998), Choo và cộng sự (2004)
NT2
Tôi nghĩ rằng mình nên tiếp tục đọc sách
Môi
trườn MTGD Các hoạt động liên quan đến sách do trường và câu lạc bộ tổ chức mức 5Likert MeKool (2007), Nathanson và cộng sự
Trang 6giáo
dục
1 thúc đẩy việc đọc sách của bạn
điểm
(2008) MT
GD
2
Gia đình và bạn bè có ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của bạn
Thời
gian
TG1 Thời gian ảnh hưởng sâu sắc đến thói quen đọc sách của bạn Likert
mức 5 điểm
Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2013)
TĐ2 Bạn dành nhiều thời gian để đọc sách
Khả
năng
thanh
toán
KN
TT Bạn sẵn sàng mua một cuốn sách với mức giá cao
Likert mức 5 điểm
Nguyễn Hữu Viêm (2009)
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đánh giá thang đo
Kết quả phân tích Cronbach Alpha (bảng 2) cho thấy, thang đo của 04 yếu tố thì 2 yếu
tố là thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi lớn hơn 0,6 có thể coi như một phần đảm bảo
độ tin cậy, giá trị KMO bằng 0,724 và 1<0,724>0,5 cho thấy dữ liệu phân tích các nhân
tố đảm bảo phù hợp với các yếu tố
Bảng 2 Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo
Nhận thức kiểm soát
hành vi
Môi trường giáo dục 0,624 2
KMO 0,724
Bartlett’ss Test Sig =0,000
Phân tích hồi quy
Kết quả phân tích hồi quy bội kiểm tra (bảng 3) cho thấy, mô hình nghiên cứu là phù hợp Các yếu tố trong mô hình có thể giải thích được 72,4 % thói quen đọc sách của sinh viên Mô hình nghiên cứu không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số VIF trung bình nhỏ hơn 5) và hiện tượng tự tương quan (hệ số Dorbin- Watson là 1,885)
Bảng 3 Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên
Trang 7Coefficients a
zed Coefficients
Standar dized Coefficie nts
t Sig Collinearity
Statistics
Erro r
1 (Constant) 1,64
6 0,478 3,445 THAIDO 0,33
3 0,000 0,495 1,742 0,000 0,816 1,125 CHUANC
Q
0,50 0
0,000 0,659
-1,31 6
0,000 0,343 2,915
NHANTH
UC
0,33 3
0,000 0,459 0,91
1
0,000 0,816 1,124
MOITRUO
NG GD 0,500 0,000 0,670 -0,34 0,000 0,888 1,126 THOIGIA
N
1,00 0
0,000 1,000 0,000 1,000 1,000
D
o Dorbin-Watson 1,885
Thông qua kết quả phân tích hồi quy cho thấy yếu tố chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên (beta= 0,659, p<0,05) ,yếu tố thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên lần lượt là 0,495 và
0,459 Như vậy, kết quả cho thấy các giả thiết H1, H2, H3 được chấp nhận Thái độ,
Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng thuận chiều với thói quen đọc sách của sinh viên
Kết quả thu được thông qua phiếu khảo sát được tạo trên Google form cho thấy rằng
31 sinh viên (chiếm tỷ lệ 3 0,39%) trả lời là có đọc sách; 71 sinh viên (chiếm tỷ lệ 69,61%) trả lời là không đọc sách Kết quả phân tích ở nhóm sinh viên trả lời khảo sát là
có đọc sách cho thấy, sinh viên học các ngành kinh tế có nhu cầu đọc sách nhiều hơn (chiếm 65,52%) so với sinh viên học các ngành kỹ thuật (chiếm 34,48%) Các ngành kinh
tế bao gồm: quản trị kinh doanh, quản trị văn phòng, kế toán, du lịch, tài chính – ngân hàng; ngành kỹ thuật bao gồm: điện tử, cơ khí, công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật
ô tô
Thói quen đọc: Tỷ lệ sinh viên trả lời có đọc sách hàng ngày chiếm 8,8%, hai ngày
đọc sách một lần là 25,24%; một tháng đọc một lần là 66,65% và không bao giờ đọc sách chiếm tỷ lệ rất ít 3,3% Như vậy, số sinh viên Đại học Công nghiệp đọc sách để tìm hiểu thêm kiến thức đang ở mức trung bình Hơn nữa, kết quả khảo sát cũng cho thấy, số sinh viên đọc với mục đích có thêm kiến thức chiếm tỷ lệ cao nhất với 63,3% và ngay sau đó
Trang 8là nhu cầu giải trí với 54,4% Kết hợp với loại sách sinh viên thường đọc, sách kỹ năng sống và sách chuyên ngành là 2 loại sách chiếm tỷ lệ cao (55,6% và 30%) Như vậy, thói quen đọc sách để lĩnh hội kiến thức và giải trí là thói quen chủ yếu của sinh viên và nó hoàn toàn tốt trong môi trường Đại học với việc phục vụ quá trình tự học, lĩnh hội kiến thức và vui chơi giải trí của sinh viên hiện nay
Đọc sách hàng ngày; 8; 7.84%
Hai ngày m t lần; ột lần;
25; 24.51%
M t tháng m t ột lần; ột lần;
lần; 66; 64.71%
Không bao giờ đọc; 3; 2.94%
Hình 2 Thói quen đọc sách của sinh viên hiện nay
Thái độ đối với thói quen đọc sách: Thái độ, sự yêu thích khi đọc sách của sinh
viên ảnh hưởng không nhỏ đến thói quen đọc sách Khi họ yêu thích và coi thói quen này
là tích cực thông qua những hành động cho thấy ý thức và văn hóa của mỗi con người Kết quả điều tra cho thấy, 43,13% sinh viên trả lời mình là người đam mê và yêu thích đọc sách 47,05% sinh viên trả lời là tôi không yêu thích đọc sách và 9,82% còn lại trả lời
là rất thích đọc sách; 76,47% sinh viên trả lời đọc sách giúp ích nhiều cho cuộc sống và 23,53% sinh viên trả lời không giúp ích gì cho cuộc sống
Chuẩn chủ quan: Kết quả khảo sát 67,64% sinh viên trả lời ủng hộ thói quen đọc
sách hiện nay của sinh viên và 32,36% sinh viên trả lời không ủng hộ thói quen này; 78,43% sinh viên cho rằng đọc sách là một thói quen tốt đối với sinh viên và 21,57% cho rằng đó là thói quen không tốt nó gây mất thời gian đối với công việc cũng như việc học hành của sinh viên Tôi thấy mọi người có thói quen đọc sách nên tôi cũng đọc sách có 35,29% sinh viên đồng ý với quan điểm này và 64,71% sinh viên không đồng ý
Nhận thức kiểm soát hành vi: Có 57,8% sinh viên đồng ý cho rằng đọc sách là một
thói quen tốt, 30% là rất đồng ý, 11,1% là không đồng ý cũng không phản đối, còn lại là không đồng ý 60% sinh viên cho rằng họ nên tiếp tục đọc sách Như vậy, nhận thức kiểm soát hành vi chỉ là 1 phần nhỏ ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên
Môi trường giáo dục: Đây cũng là một nhân tố có tác động đến thói quen đọc sách
của sinh viên hiện nay Thông qua khảo sát, các hoạt động liên quan đến sách do trường
và câu lạc bộ tổ chức thúc đẩy 56,86% sinh viên đọc sách và 43,14% còn lại không quan tâm đến vấn đề xung quanh hay không ảnh hưởng đến việc đọc hay không đọc của họ; ngoài ra gia đình và bạn bè cũng có tác động đến thói quen đọc sách, 53% sinh viên bị tác động bởi nhân tố này
Trang 9Thời gian: 22,5% sinh viên cho rằng họ không có đủ thời gian để đọc sách và 77,5%
làm những việc khác ví dụ như học hành hay chơi game, lướt Web Tuy vậy thời gian vẫn ảnh hưởng đến việc đọc sách của sinh viên
Khả năng thanh toán: Kết quả khảo sát cho thấy 62,2% sinh viên không sẵn sàng
mua 1 quyển sách với mức giá quá cao, còn lại là sẵn sàng mua Đối với sinh viên hiện nay việc mua một quyển sách mình yêu thích là điều không dễ, chỉ có những người có khả năng cao về tài chính và đam mê sách họ sẽ đầu tư không tính toán để theo đuổi đam
mê Đối với những người tài chính không ổn định, họ có thể tìm đến thư viện để đọc sách, tuy nhiên sách trên thư viện phần đa là sách chuyên ngành do đó, để sở hữu một quyển sách đối với họ là khó
Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng, Môi trường giáo dục và Thời gian ảnh hưởng tích cực đến thói quen đọc của sinh viên Còn yếu tố Khả năng thanh toán có ảnh hưởng tiêu cực
Thảo luận
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng: (i) các yếu tố Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận
thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến thói quen đọc sách Đồng thời, nghiên
cứu cũng chỉ ra (ii) môi trường giáo dục ảnh hưởng nhất định đến hành vi đọc sách của
sinh viên theo chiều thuận Sự giáo dục và định hướng của nhà trường và gia đình là vô cùng quan trọng đối với việc nhận thức về vai trò của việc đọc sách đối với sinh viên Các giảng viên trong nhà trường là những người thúc đẩy thói quen đọc sách của sinh viên thông qua hoạt động giảng dạy, yêu cầu tìm kiếm thu thập thông tin, tài liệu Bên cạnh đó, nếu gia đình quan tâm đến việc đọc sách thì sinh viên cũng được hình thành thói quen đọc sách từ rất sớm Ngược lại, những sinh viên ít có thói quen đọc sách đa phần xuất phát từ việc gia đình ít quan tâm đến sách, không nhận thức rõ vai trò của việc đọc
sách Ngoài ra, (iii) khả năng thanh toán ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực đến thói
quen đọc sách Kết quả này cũng tương đồng với thực tiễn hiện nay, sinh viên là đối tượng đang trong quá trình học tập, nguồn tài chính sinh hoạt hàng tháng chủ yếu là nhờ
sự trợ cấp từ gia đình Mặc dù một số sinh viên trong quá trình học cũng có công việc làm thêm để có thêm thu nhập hàng tháng, tuy nhiên công việc làm thêm mang tính part-ttime, nguồn thu nhập chưa ổn định Hiện nay, nền kinh tế đất nước đang phát triển, thu nhập người dân ngày càng tăng lên Mức sống của sinh viên vì thế cũng được cải thiện, xong sinh viên cũng còn nhiều khoản chi tiêu hằng ngày nên khả năng tài chính cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc đọc của sinh viên Đặc biệt là các cuốn sách nước ngoài, với mức giá tương đối cao nhiều sinh viên không sẵn sàng mua những cuốn sách với mức giá
cao Kết quả kiểm định cũng cho thấy, (iv) Yếu tố thời gian cũng ảnh hưởng đến thói
quen đọc sách, những sinh viên bận rộn, có công việc làm thêm thường ít đọc sách hơn Dựa vào kết quả nghiên cứu trên, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy thói quen đọc sách cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội như sau:
Thứ nhất, các nhà xuất bản cần có trách nhiệm trong việc lựa chọn sách khi xuất
bản, nội dung của các cuốn sách cần bổ ích, hay; không xuất bản các cuốn sách có các nội dung không phù hợp, có hại cho nhận thức của đọc giả Nhà xuất bản cũng cần có các chương trình khuyến mại, giảm giá, tặng sách cho sinh viên để kích thích thói quen đọc
Trang 10sách Phát hành sách điện tử song hành cùng sách in giúp thuận lợi cho việc đọc sách mọi lúc mọi nơi
Thứ hai, gia đình cần khích lệ, động viên tình yêu và niềm đam mê đọc sách của các
thành viên trong gia đình Cha mẹ cần hướng dẫn con cách đọc và chọn sách, rèn luyện cho con cái thói quen đọc sách từ nhỏ Trong môi trường giáo dục và nhà trường cần tăng cường giáo dục, thay đổi nhận thức của sinh viên về vai trò của việc đọc sách Giảng viên nên chia sẻ, giới thiệu các cuốn sách bổ trợ cho các học phần đang học và giúp đỡ sinh viên nghiên cứu sách Nhà trường cần tổ chức ngày hội đọc sách, triển lãm sách; có các hoạt động, cuộc thi về sách để thúc đẩy văn hóa đọc trong sinh viên Thành lập các câu lạc bộ sách để chia sẻ, giúp cải thiện kĩ năng đọc sách Chú trọng đầu tư cho hệ thống thư viện để có đa dạng có đầu sách, tạo điều kiện cho sinh viên có thể dễ dàng mượn và đọc sách
Thứ ba, mỗi sinh viên cần tạo cho mình thói quen đọc sách, cải thiện kĩ năng đọc,
lựa chọn sách một cách có định hướng để phục vụ quá trình học tập Nâng cao tính chủ động của bản thân trong quá trình học và nghiên cứu, tăng cường đọc sách bổ sung, mở rộng kiến thức của bản thân để có được vốn kiến thức sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực
5 KẾT LUẬN
Trên cơ sở kế thừa lý thuyết TPB và lý thuyết động lực, thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu này đã đánh giá, đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố (Thái độ; Chuẩn chủ quan; Nhận thức kiểm soát hành vi; Môi trường giáo dục, Thời gian, Khả năng tài chính ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên Tuy nhiên, phạm vi, đối tượng khảo sát trong nghiên cứu này còn hạn chế, chỉ dừng lại ở trường đại học Công nghiệp Hà Nội Vì vậy, hướng nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này sẽ
mở rộng phạm vi nghiên cứu thói quen đọc sách của sinh viên các trường đại học khác để
có cơ sở so sánh, đánh giá và phân tích thói quen đọc sách của sinh viên đại học trên địa bàn Hà Nội; hoặc hướng sự quan tâm vào các nhân tố bên ngoài tác động đến thói quen đọc sách của sinh viên