1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm

165 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Tác giả Ngô Thị Bạch Yến
Người hướng dẫn PGS.TS.BS Trịnh Thị Diệu Thường
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học cổ truyền
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp ii
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Viêm da cơ địa theo Y học hiện đại (14)
    • 1.2. Viêm da cơ địa theo Y Học Cổ Truyền (31)
    • 1.3. Các công trình nghiên cứu có liên quan (45)
  • CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (52)
    • 2.1. Thiết kế nghiên cứu (52)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (52)
    • 2.4. Phương pháp tiến hành (55)
    • 2.5. Các tiêu chí đánh giá (60)
    • 2.6. Liệt kê và định nghĩa các biến số theo dõi (64)
    • 2.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (70)
    • 2.8. Vấn đề y đức (70)
    • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (71)
      • 3.1. Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến AD (71)
      • 3.2. Các triệu chứng lâm sàng ở 2 nhóm trước điều trị (77)
      • 3.3. Kết quả điều trị của 2 nhóm (79)
      • 3.4. Biến cố bất lợi (88)
    • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (89)
      • 4.1. Phương pháp nghiên cứu (89)
      • 4.2. Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan (89)
      • 4.3. Hiệu quả điều trị AD người lớn giai đoạn mạn tính bằng phương pháp cấy chỉ (97)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm lâm sàng, phân phối ngẫu nhiên, có đối chứng.

Đối tượng nghiên cứu

Tại Đơn vị điều trị - Chăm sóc da và khoa Khám Bệnh Bệnh viện Y Học Cổ Truyền (TP.HCM), tất cả bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh chàm (AD) theo tiêu chuẩn AAD 2014 ở giai đoạn mãn tính, với định nghĩa theo YHCT là AD thể huyết hư phong táo.

Sơ đồ 1: Chọn bệnh nhân và phân nhóm

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu Áp dụng công thức so sánh 2 tỷ lệ 2 :

Kỹ thuật phân nhóm ngẫu nhiên

Nhóm 1 Cấy chỉ +bài thuốc Tiêu phong Bài thuốc Tiêu phong tánNhóm 2

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Trong nghiên cứu, sai lầm loại I được xác định với α = 0.05, tương ứng với Z1-α/2 = 1,96, trong khi sai lầm loại II được chọn là β = 0.2 với Z1-β = 0,84 Tỷ lệ bệnh nhân (BN) đạt mức điều trị hiệu quả ở nhóm chứng là 79,7% (p1 = 0,797) theo nghiên cứu của tác giả Hui - Man Cheng Đối với nhóm can thiệp, tỷ lệ BN đạt mức điều trị hiệu quả kỳ vọng cao hơn nhóm chứng 15%, với tỷ lệ cụ thể là 92,86% theo nghiên cứu của tác giả Li Kai và Tan Ying.

→ p2 = 0,947. r: tỷ số cỡ mẫu n1/n2→ r = 1. n1: cỡ mẫu tối thiểu dành cho nhóm chứng (cấy chỉ). n2: cỡ mẫu tối thiểu dành cho nhóm can thiệp (dùng bài thuốc).

Cỡ mẫu tối thiểu cho mỗi nhóm được tính là 77 bệnh nhân, với tỷ lệ mất mẫu dự kiến là 20% Do đó, chúng tôi đã quyết định tuyển chọn 92 bệnh nhân cho mỗi nhóm, dẫn đến tổng số bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 184.

Lựa chọn BN có đầy đủ các tiêu chuẩn sau:

− BN nam hoặc nữ điều trị ngoại trú tại Đơn vị điều trị - Chăm sóc da và khoa Khám Bệnh BVYHCT TP.HCM.

− Từ đủ 18 tuổi trở lên.

− BN được chẩn đoán xác định AD theo tiêu chuẩn của AAD cập nhật năm 2014

Tiêu chuẩn chọn bệnh theo YHCT cho AD thể huyết hư phong táo bao gồm các triệu chứng như da dày, khô, thô sẩn, sạm nhạt, và ngứa nhiều, đặc biệt là ngứa tăng vào ban đêm và khi thời tiết nóng.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

44 có mụn nước Bệnh hay xuất hiện ở đầu, mặt, cổ chân, cổ tay, khuỷu tay, đầu gối).

− Đồng ý tham gia nghiên cứu.

BN có một trong các tình trạng sau sẽ được loại ra khỏi nghiên cứu:

BN có dấu hiệu bị bệnh tim, phổi, gan, thận, nặng (men gan hoặc chức năng thận cao hơn 1,5 lần so với giới hạn trên bình thường)

BN hiện đang gặp phải nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm các bệnh lý ác tính như ung thư, suy giảm miễn dịch do HIV/AIDS, và các bệnh lý nội khoa nặng như suy tim và suy hô hấp Ngoài ra, BN cũng có các bệnh lý da liễu khác như ghẻ, viêm da tiết bã, viêm da tiếp xúc, lymphoma tế bào T ở da, vảy nến, viêm da nhạy cảm ánh sáng và đỏ da toàn thân do nguyên nhân khác Các rối loạn chức năng tiểu cầu, việc sử dụng liệu pháp chống đông và nhiễm khuẩn toàn thân cũng là những yếu tố cần được xem xét trong tình trạng sức khỏe của BN.

Da vùng huyệt bị viêm nhiễm hoặc mắc bệnh ngoài da.

BN đang dùng các loại thuốc chống viêm có corticoid, ức chế miễn dịch. Tiểu cầu < 150.000/ mm 3

Dị ứng với chỉ tự tiêu.

BN có bệnh tâm thần nặng.

BN đang có thai hoặc đang cho con bú.

BN bị tác dụng phụ của corticoid: teo da, giãn mạch, rậm lông, rạn da…

BN bị AD nặng có biểu hiện sốt cao, khó thở, đau bụng và rối loạn tiêu hóa, có nguy cơ tiến triển thành các thể dị ứng nghiêm trọng hơn như hồng ban đa dạng, hội chứng Steven Johnson và hội chứng Lyell.

BN không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2.4.3 Tiêu chuẩn ngưng nghiên cứu

Các trường hợp sau sẽ ngưng NC và xếp vào thất bại điều trị:

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

− BN có các tác dụng ngoại ý do phương pháp can thiệp gây ra khiến BN khó chịu và từ chối tiếp tục tham gia NC.

− BN xuất hiện các diễn biến bệnh lý đi kèm không thuận lợi đòi hỏi phải có hướng điều trị khác trong thời gian tham gia NC.

− BN không tuân thủ các chế độ điều trị của NC: Ngưng can thiệp > 1 lần.

− BN từ chối tiếp tục tham gia NC vì bất cứ lý do nào.

Tiêu chí xếp vào nhóm thất bại điều trị:

BN có thể gặp phải các triệu chứng lâm sàng không dung nạp với cấy chỉ, bao gồm các tác dụng phụ không mong muốn Những triệu chứng này gây khó chịu cho BN, dẫn đến việc họ từ chối tiếp tục tham gia thử nghiệm Khi đó, nghiên cứu sẽ bị ngưng lại và được coi là thất bại.

Trong quá trình điều trị, nếu bệnh nhân gặp phải diễn biến bệnh không thuận lợi, việc áp dụng các biện pháp điều trị bổ sung như corticoid có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị và được ghi nhận trong số bệnh nhân thất bại.

‒ BN không giảm triệu chứng sau 4 tuần điều trị (chuyển sang phác đồ điều trị của bệnh viện): tổng kết vào số BN thất bại.

Kỹ thuật phân bố ngẫu nhiên được áp dụng để phân loại bệnh nhân (BN) thành hai nhóm: nhóm chứng và nhóm nghiên cứu, sử dụng phần mềm GraphPad Nghiên cứu này bao gồm 184 BN, trong đó nhóm cấy chỉ được chọn số lẻ và nhóm sử dụng bài thuốc được chọn số chẵn.

Phương pháp tiến hành

2.4.1 Đánh giá trước nghiên cứu

Ghi nhận các đặc điểm ban đầu của đối tượng tham gia NC, bao gồm:

− Các biến số nền: tuổi, giới, nghề nghiệp, tuổi khởi phát bệnh, thời gian mắc bệnh, yếu tố khởi phát, tiền căn cá nhân và gia đình.

− Đánh giá độ nặng theo thang điểm SCORAD, điểm DLQI.

Nghiên cứu kéo dài 4 tuần, trong đó bệnh nhân được chia thành hai nhóm: một nhóm điều trị bằng cách cấy chỉ kết hợp với bài thuốc Tiêu phong tán và nhóm còn lại chỉ sử dụng bài thuốc Tiêu phong tán.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp cấy chỉ kết hợp với bài thuốc Tiêu phong tán cho 92 bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ Chỉ catgut được sử dụng trong liệu trình cấy chỉ, thực hiện 2 lần, cách nhau 14 ngày Bài thuốc Tiêu phong tán được bào chế dưới dạng thang sắc, đóng gói sẵn tại bệnh viện, mỗi thang chia thành 2 gói, và bệnh nhân uống 2 lần mỗi ngày, mỗi lần 1 gói sau bữa ăn.

Nhóm chứng nghiên cứu sử dụng bài thuốc Tiêu phong tán với 92 bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ Bài thuốc được bào chế dưới dạng thang sắc và đóng gói sẵn tại bệnh viện, mỗi thang chia thành 2 gói Bệnh nhân sẽ uống 2 lần mỗi ngày, mỗi lần 1 gói sau bữa ăn.

− Bảng thông tin về nghiên cứu: Phụ lục 1.

− Giấy chấp nhận tham gia nghiên cứu: Phục lục 1.

− Phiếu thu thập thông tin nghiên cứu: Phụ lục 2.

− Phiếu hướng dẫn chăm sóc - phòng ngừa tái phát AD: Phụ lục 3 21,219

Bệnh nhân (BN) được khám lâm sàng để xác định bệnh và lập hồ sơ bệnh án theo quy định Mỗi bệnh nhân sẽ được theo dõi và điều trị trong vòng 4 tuần.

Sau khi bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Alzheimer theo tiêu chuẩn AAD 2014 giai đoạn mạn, với thể huyết hư phong táo, họ sẽ được chọn vào dân số nghiên cứu nếu đáp ứng đủ các tiêu chí đã nêu Bệnh nhân sẽ được giải thích về mục tiêu, quy trình nghiên cứu, phương pháp theo dõi và các tác dụng có thể xảy ra từ việc cấy chỉ.

BN đồng ý ký tên vào phiếu thỏa thuận tham gia nghiên cứu BN hoàn toàn có quyền ngừng tiến hành nghiên cứu với bất cứ lý do gì.

− Bước 2: BN thực hiện các xét nghiệm trước khi điều trị

 Cận lâm sàng khi bắt đầu nghiên cứu để loại trừ: công thức máu, glucose đói, AST, ALT, ure máu, creatinine máu.

 Nhóm nghiên cứu và nhóm chứng đều được hướng dẫn chăm sóc và phòng ngừa tái phát AD.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

− Bước 3: BN được chia làm 2 nhóm theo thứ tự ngẫu nhiên.

 Nhóm nghiên cứu: điều trị cấy chỉ và dùng bài thuốc Tiêu phong tán với thời gian 4 tuần.

Quy trình kỹ thuật: Theo quy trình cấy chỉ chung của Bộ Y Tế 22

Liệu trình: 2 tuần cấy chỉ và thăm khám lại 1 lần.

Thời gian nghiên cứu: 4 tuần.

Bảng 2.1: Phác đồ huyệt nghiên cứu

Bài thuốc Tiêu phong tán bao gồm các thành phần như Kinh giới (12g), Phòng phong (12g), Đương quy (12g), Sinh địa (12g), Khổ sâm cho lá (12g), Thương truật (8g), Thuyền thoái (4g), Ngưu bàng tử (12g), Thạch cao (12g), Tri mẫu (10g), Trạch tả (6g), và Cam thảo (6g) Thuốc được sắc và đóng gói tự động thành dạng cao lỏng 1:1 theo quy trình tiêu chuẩn tại Khoa Dược - BV Y Học Cổ Truyền Tp HCM, với mỗi gói chứa 180ml Liều dùng là 2 lần mỗi ngày, mỗi lần 1 gói, và tất cả các vị thuốc đều được bào chế đạt tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam.

V và tiêu chuẩn cơ sở.

STT Tên huyệt Vị trí 5,17

Gấp cắng tay lại, bàn tay để phía trên ngực cho nối rõ nét gấp khuỷu, huyệt nằm ở cuối nếp gấp khuỷu (phía ngoài).

(SP10) Điểm giữa bờ trên xương bánh chè đo lên 1 thốn vào trong 2 thốn.

Hõm dưới ngoài xương bánh chè đo xuống 3 thốn, cách mào chày 1 thốn.

Nguyên huyệt - du thổ huyệt của Tâm Huyệt còn có tên đoài lệ, đoài xung, trung đô, duệ trung.

5 Tam âm giao (SP6) Trên chỗ nhô cao mắt cá trong ba thốn, ngay sát bờ sau xương chày.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Phòng thủ thuật đạt tiêu chuẩn với các thiết bị y tế cần thiết như chỉ catgut chromic cỡ 4/0, kim tiêm vô khuẩn dùng một lần số 23G, và kim châm cứu thông nòng kích thước 0,3 x 25 mm Ngoài ra, cần có khay men, kẹp có mấu, bông gạc vô khuẩn, cồn 90°, băng dính và găng tay vô trùng Đặc biệt, hộp thuốc chống shock cũng là một phần quan trọng trong phòng thủ thuật.

Người bệnh sẽ được tư vấn và giải thích rõ ràng trước khi tiến hành điều trị Họ sẽ được khám bệnh và lập hồ sơ bệnh án theo quy định Trong quá trình điều trị, tư thế của người bệnh sẽ được điều chỉnh để bộc lộ các huyệt cấy chỉ.

Người thực hiện : bác sĩ được đào tạo về chuyên ngành YHCT, được cấp chứng chỉ hành nghề theo qui định của pháp luật về khám bệnh chữa bệnh.

Để thực hiện cấy chỉ catgut, trước tiên cần rửa tay sạch sẽ và mang găng tay vô trùng Cắt chỉ catgut thành từng đoạn khoảng 1cm và luồn chỉ vào nòng kim Xác định chính xác huyệt cần cấy chỉ và sát trùng vùng huyệt đó Châm kim nhanh qua da và đưa vào huyệt, sau đó đẩy nòng kim để chỉ nằm lại trong huyệt Nhẹ nhàng rút kim ra và đặt gạc vô trùng lên huyệt vừa cấy chỉ catgut, cuối cùng cố định gạc bằng băng dính.

‒ Mỗi lần cấy chỉ catgut có tác dụng trong khoảng 14 ngày Sau 14 ngày cấy chỉ catgut đến khám lại để có chỉ định tiếp theo.

‒ Thuốc thang sắc uống ngày 01 thang x 28 thang.

Bài thuốc Tiêu phong tán bao gồm các thành phần như Kinh giới, Phòng phong, Đương quy, Sinh địa, Khổ sâm, Thương truật, Thuyền thoái, Ngưu bàng tử, Thạch cao, Tri mẫu, Trạch tả và Cam thảo, với liều lượng cụ thể cho từng loại Thuốc được bào chế dưới dạng thang sắc, đóng gói sẵn tại bệnh viện, và quy trình sắc thuốc được thực hiện bằng máy tự động, chuyển đổi thành dạng cao lỏng 1:1 tại Khoa Dược.

BV Y Học Cổ Truyền Tp HCM cung cấp sản phẩm với mỗi gói chứa 180ml Khuyến cáo sử dụng 2 lần mỗi ngày, mỗi lần 1 gói Tất cả các vị thuốc được bào chế theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V và tiêu chuẩn cơ sở.

Bệnh nhân: Được tư vấn, giải thích trước khi điều trị Được khám và làm hồ sơ bệnh án theo qui định.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Liệu trình điều trị: Thuốc thang sắc uống ngày 01 thang x 28 thang.

Theo dõi và xử trí tai biến 22

− Xử trí tai biến nếu có:

Vựng châm: theo phác đồ của bệnh viện.

Khi bị chảy máu, hãy sử dụng bông gạc khô vô khuẩn để ấn tại chỗ mà không day Nếu có đau và sưng ở vùng cấy chỉ, nên chườm nóng và sử dụng thuốc chống phù nề hoặc kháng sinh uống nếu nghi ngờ có nhiễm khuẩn.

Bước 4: Tiêu chuẩn theo dõi và đánh giá

Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu ở cả hai nhóm đều được theo dõi và đánh giá các thông số lâm sàng trong 4 tuần tại ba thời điểm: T0 (trước khi cấy chỉ lần 1), T2 (trước khi cấy chỉ lần 2) và T4 (sau khi kết thúc liệu trình cấy chỉ) Trong suốt quá trình nghiên cứu, bệnh nhân được thăm khám và theo dõi các triệu chứng lâm sàng cùng các biến cố bất lợi mỗi 2 tuần.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Sơ đồ 2: Các bước tiến hành nghiên cứu thu thập số liệu.

Các tiêu chí đánh giá

2.5.1 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả 8,10,27

Điều trị PP được xem là hiệu quả khi chỉ số SCORAD và DLQI giảm một cách có ý nghĩa thống kê Việc đánh giá kết quả điều trị cần được thực hiện trên từng bệnh nhân để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của phương pháp.

Khám lâm sàng xác định bệnh, cho các xét nghiệm nếu có nghi ngờ các tiêu chí loại (Công thức máu, glucose đói, ure, Creatinin, AST, ALT)

184 BN nghiên cứu đủ tiêu chuẩn Bốc thăm số nghiên cứu chia làm 2 nhóm

Lập hồ sơ và cho BN thực hiện chế độ nghiên cứu Thời gian nghiên cứu 4 tuần Thăm khám BN mỗi 2 tuần.

Nhóm NC: cấy chỉ 5 cặp huyệt Khúc trì,

Huyết hải, Túc tam lý, Thần môn, Tam âm giao + bài thuốc Tiêu phong tán

Nhóm chứng dùng bài thuốc Tiêu phong tán

Thất bại điều trị Ngưng nghiên cứu Khám và đánh giá sau điều trị thang điểm tại các thời điểm: T0, T2, T4

Phân tích thống kê và đánh giá kết quả

Hướng dẫn chế độ chăm sóc (phụ lục 3)

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Đánh giá mức độ hồi phục của bệnh nhân (BN) sau 2 và 4 tuần điều trị được thực hiện thông qua thang điểm SCORAD Kết quả cho thấy có sự cải thiện lâm sàng đáng kể khi điểm SCORAD tăng ≥8,7, với tỷ lệ hồi phục đạt 51%.

− Hiệu quả điều trị được đánh giá bằng sự thay đổi tổng số điểm SCORAD trước điều trị và sau khi kết thúc điều trị (tuần thứ 4).

− Tỷ lệ cải thiện điểm SCORAD = [(Điểm SCORAD ban đầu - Điểm SCORAD sau 4 tuần điều trị) / Điểm SCORAD ban đầu] × 100%.

− Hiệu quả điều trị được đánh giá bằng 4 mức độ 254,256 :

 Khỏi bệnh: Ngứa da, phát ban, bong tróc da và các triệu chứng khác biến mất hoàn toàn và tỷ lệ cải thiện điểm SCORAD là ≥ 95%.

 Hiệu quả rõ rệt: da tiết dịch, ngứa, bong tróc da và các triệu chứng khác được cải thiện đáng kể và tỷ lệ cải thiện điểm SCORAD là 60% - 94%.

 Có hiệu quả: Các triệu chứng tiết dịch da, ngứa và bong tróc da đã được cải thiện và tỷ lệ cải thiện điểm SCORAD là 20% - 59%.

Sản phẩm không có tác dụng trong việc cải thiện tình trạng tiết dịch da, ngứa, bong tróc và các triệu chứng khác, thậm chí có thể làm tổn thương da trở nên nghiêm trọng hơn, với tỷ lệ cải thiện điểm SCORAD dưới 20%.

Chất lượng cuộc sống được đánh giá ở ba thời điểm: trước điều trị, sau 2 tuần và sau 4 tuần điều trị Tổng điểm DLQI được phân loại thành 5 mức độ, phản ánh ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

2 - 5 Ảnh hưởng mức độ nhỏ

6 - 10 Ảnh hưởng mức độ trung bình

Mức giảm điểm DLQI được tính theo công thức:

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Mức giảm DLQI = DLQI trước điều trị - DLQI sau điều trị.

Thay đổi 5 điểm DLQI được coi là thay đổi chất lượng cuộc sống của BN.

Bệnh nhân được coi là đạt hiệu quả điều trị tối thiểu khi điểm SCORAD giảm trên 20% và/hoặc cải thiện 5 điểm DLQI nếu điểm DLQI ban đầu > 5, hoặc DLQI đạt 0 hoặc 1 nếu điểm DLQI ban đầu < 5 Mục tiêu điều trị trong thực hành được xác định khi điểm SCORAD giảm trên 60% và/hoặc DLQI bằng 0 hoặc 1 Việc đánh giá kết quả điều trị sẽ được thực hiện cho từng nhóm bệnh nhân.

So sánh tỷ lệ hồi phục của 2 nhóm 8,244

So sánh mức độ cải thiện lâm sàng giữa hai nhóm được thực hiện tại các thời điểm 2 tuần và 4 tuần sau khi điều trị bằng thang điểm SCORAD Phương pháp điều trị được coi là hiệu quả khi điểm trung bình SCORAD sau điều trị giảm có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị.

So sánh hiệu quả điều trị của 2 nhóm

PP điều trị được coi là hiệu quả khi điểm SCORAD trung bình sau điều trị giảm một cách có ý nghĩa thống kê so với trước khi bắt đầu điều trị.

2.5.2 Tiêu chí ngưng nghiên cứu

− BN không xét nghiệm đúng thời gian quy định của nghiên cứu.

− BN không tuân thủ điều trị.

− BN có biểu hiện dị ứng với các phương tiện nghiên cứu như thuốc, kim, chỉ….

− BN trong thời gian điều trị có dùng thêm phương pháp điều trị khác.

− BN từ chối tiếp tục tham gia nghiên cứu do bất cứ lý do nào.

2.5.3 Tiêu chí xếp vào nhóm thất bại điều trị

BN có thể gặp phải các biểu hiện lâm sàng không dung nạp điều trị, dẫn đến việc xuất hiện các tác dụng không mong muốn gây khó chịu Khi đó, nếu BN từ chối tiếp tục tham gia, thử nghiệm sẽ bị ngưng và được xem như là một thất bại trong nghiên cứu.

Trong quá trình điều trị, nếu bệnh nhân gặp phải diễn biến bệnh lý không thuận lợi, cần có hướng điều trị khác Những trường hợp này sẽ được tổng kết vào danh sách bệnh nhân thất bại.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

2.5.4 Tiêu chí đánh giá tác dụng không mong muốn

Đánh giá tính an toàn của phương pháp điều trị bao gồm việc ghi nhận các tác dụng không mong muốn từ thời điểm T0 đến T4 và trong suốt thời gian nghiên cứu Các tác dụng không mong muốn này sẽ được đánh giá dựa trên triệu chứng lâm sàng mà bệnh nhân trải qua.

Tác dụng không mong muốn là những triệu chứng mới xuất hiện trong và sau quá trình can thiệp, gây khó chịu cho bệnh nhân và được xác định do phương pháp điều trị Những tác dụng này được bác sĩ ghi nhận thông qua việc hỏi han và quan sát bệnh nhân.

Sưng đau sau cấy chỉ.

Chảy máu: dùng bông gạc khô vô khuẩn ấn tại chỗ, không day.

Triệu chứng toàn thân có thể bao gồm nặng đầu, chóng mặt, mẫn ngửa và sốc, được đánh giá theo các tiêu chuẩn lâm sàng thông thường Đánh giá này được thực hiện theo 4 mức độ khác nhau để xác định mức độ nghiêm trọng của tình trạng bệnh.

Mức độ 0 (–): Không có triệu chứng Mức độ 1 (+): Có triệu chứng nhẹ, thoáng qua.

Mức độ 2 (++): Có triệu chứng vừa, cần phải nghỉ ngơi, có thể tự hết.

Mức độ 3 (+++): Có triệu chứng nặng, cần sự can thiệp của y tế.

Tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn trong từng nhóm được tính toán dựa trên triệu chứng Cụ thể, tỷ lệ này được xác định bằng cách lấy số bệnh nhân có triệu chứng từ mức độ 1 đến 3 chia cho tổng số bệnh nhân trong nhóm đó.

Các BN bỏ điều trị sẽ được đánh giá tại cảc thời điểm trước khi bỏ điều trị và tìm hiểu nguyên nhân bỏ điều trị.

Các BN được ghi nhận các thông tin về địa chỉ, số điện thoại để liên lạc khi

BN không đến tái khám theo hẹn

Bác sĩ khám và nhận bệnh theo đúng tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại bệnh trong nghiên cứu.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Lập hồ sơ nghiên cứu.

BN sau khi được chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được phân nhóm ngẫu nhiên vào 1 trong 2 nhóm theo thứ tự của bảng ngẫu nhiên.

Bác sĩ phụ trách cấy chi theo phác đồ, ghi kết quả vào phiếu theo dõi.

Bác sĩ sẽ được đào tạo về kỹ thuật cấy chỉ và phải trải qua kiểm tra để đảm bảo sự đồng nhất trước khi thực hiện trên bệnh nhân Quy trình cấy chỉ sẽ được thực hiện theo phác đồ đã định sẵn, và kết quả sẽ được ghi chép vào phiếu theo dõi để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả.

Liệt kê và định nghĩa các biến số theo dõi

Là biến số về PP điều trị được áp dụng cho BN tham gia nghiên cứu.

Tên biến số: Nhóm nghiên cứu.

Phân loại biến số: Là biến định tính (biến định danh).

Quy ước: Gồm 2 giá trị là nhóm nghiên cứu và nhóm chứng.

Nhóm BN đáp ứng các tiêu chí chọn vào và loại ra.

Chế độ điều trị: Cấy chỉ kết hợp bài thuốc Tiêu phong tán và chế độ tiết chế ăn uống (phụ lục 3).

Công thức huyệt cấy chỉ bao gồm việc cấy 10 chỉ vào các huyệt: Khúc trì, Huyết hải, Túc tam lý, Thần môn, và Tam âm giao Quy trình thực hiện theo hướng dẫn kỹ thuật cấy chỉ của Bộ Y Tế.

Bài thuốc này bao gồm các thành phần như Kinh giới 12g, Phòng phong 12g, Đương quy 12g, Sinh địa 12g, Khổ sâm cho lá 12g, Thương truật 08g, Thuyền thoái 04g, Ngưu bàng tử 12g, Thạch cao 12g, Tri mẫu 10g, và Trạch tả 06g Mỗi thành phần trong bài thuốc đều có công dụng riêng, giúp hỗ trợ sức khỏe và cải thiện tình trạng bệnh lý Việc kết hợp các thảo dược này tạo nên một bài thuốc hoàn chỉnh, mang lại hiệu quả cao trong việc điều trị.

Liệu trình: 2 tuần cấy chỉ và thăm khám lại 1 lần.

Thời gian nghiên cứu: 4 tuần.

Nhóm BN đáp ứng các tiêu chí chọn vào và loại ra.

Chế độ điều trị: Dùng bài thuốc Tiêu phong tán kết hợp chế độ tiết chế ăn uống (phụ lục 3).

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Bài thuốc bao gồm các thành phần: Kinh giới 12g, Phòng phong 12g, Đương quy 12g, Sinh địa 12g, Khổ sâm cho lá 12g, Thương truật 08g, Thuyền thoái 04g, Ngưu bàng tử 12g, Thạch cao 12g, Tri mẫu 10g, Mộc thông 06g, Trạch tả 06g, và Cam thảo 06g Liệu trình yêu cầu bệnh nhân tái khám sau mỗi 2 tuần, với thời gian nghiên cứu kéo dài 4 tuần.

Là các biến số đo lường hiệu quả và các ảnh hưởng khác của PP điều trị tác động đến BN.

Biến số phụ thuộc chính

Thời điểm xác định biến số: Trước, trong và sau can thiệp.

Phân loại biến số: Là biến định lượng Đơn vị: điểm.

Quy ước: Các thời điểm cần đo lường: Trước nghiên cứu, sau mỗi 2 tuần và ngay sau khi kết thúc nghiên cứu.

Cách tính: SCORAD = A/5 + 7B/2 + C, trong đó:

A: độ lan rộng của thương tổn tính bằng “luật số 9” theo phần trăm diện tích cơ thể B: mức độ tổn thương, đánh giá các triệu chứng ban đỏ(erythema), sẩn/phù (edema/papules),tiết dịch/vảy tiết(oozing/crusts),xước da(excoriations), liken hóa

Lichenification và khô da xuất hiện ở vùng không có sang thương, được đánh giá bằng thang điểm từ 0 đến 3, tương ứng với các mức độ không, nhẹ, trung bình và nặng Tổng điểm B sẽ được tính dựa trên các triệu chứng này.

Bảng 2.2: Điểm của các thương tổn 73

Các thương tổn Mức độ nặng

Ban đỏ Sẩn/Phù Tiết dịch/vảy tiết Xước da

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Lichen hóa Khô da (vùng da lành)

C: độ ngứa và mất ngủ trong 3 ngày đêm gần đây Bệnh nhân tự đánh giá mức độ nặng dựa trên thang điểm từ 0 - 10 cho mỗi triệu chứng.

Tổng điểm SCORAD từ 0 - 103 Phân nhóm độ nặng theo điểm SCORAD Nhẹ: SCORAD < 25 Trung bình: SCORAD 25 - 50 Nặng: SCORAD > 50

2.DLQI (Chỉ số chất lượng cuộc sống da liễu)

Thời điểm xác định biến số bao gồm trước, trong và sau can thiệp, với việc phân loại biến số là biến định lượng Các thời điểm cần đo lường được quy ước là trước nghiên cứu, sau mỗi 2 tuần và ngay sau khi kết thúc nghiên cứu Để tính chỉ số DLQI, bệnh nhân sẽ trả lời bộ 10 câu hỏi, trong đó điểm số được chấm như sau: Ảnh hưởng rất nhiều 3 điểm, Ảnh hưởng nhiều 2 điểm, Ảnh hưởng ít 1 điểm và Không ảnh hưởng 0 điểm Chỉ số DLQI được tính bằng tổng số điểm của mỗi câu hỏi, với kết quả tối đa là 30 và tối thiểu là 0 Điểm số càng cao cho thấy chất lượng cuộc sống (CLCS) càng bị giảm sút.

0 - 1 điểm = không ảnh hưởng đến CLCS của BN.

2 - 5 điểm = ảnh hưởng mức độ nhỏ đến CLCS của BN.

6 - 10 điểm = ảnh hưởng mức độ trung bình đến CLCS của BN.

11 - 20 điểm = ảnh hưởng rất lớn đến CLCS của BN.

21 - 30 điểm = ảnh hưởng nghiêm trọng đến CLCS của BN.

Biến số phụ thuộc phụ 3,9 Mạch

Thời điểm xác định: Trước nghiên cứu, sau 2 tuần, 4 tuần Phân loại biến số: biến định lượng Đơn vị: Lần/phút

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Quy ước xác định tần số mạch quay trong 1 phút bởi cùng một người theo dõi, thực hiện trước nghiên cứu và sau mỗi 2 tuần Người tham gia cần nghỉ ngơi 15 phút trước khi đếm mạch Mạch được coi là tăng khi vượt quá 100 lần/phút và giảm khi dưới 50 lần/phút.

Thời điểm xác định: Trước nghiên cứu, sau 2 tuần, 4 tuần Phân loại biến số:

Là biến định lượng Đơn vị: mmHg.

Để đảm bảo tính chính xác trong nghiên cứu, huyết áp được đo bằng máy đo huyết áp đồng hồ, với cùng một người theo dõi và thực hiện vào thời điểm trước khi nghiên cứu bắt đầu cũng như sau mỗi 2 tuần Trước khi đo huyết áp, bệnh nhân cần nghỉ ngơi ít nhất 15 phút Huyết áp được coi là tăng khi huyết áp tâm thu vượt quá 140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương trên 90 mmHg, trong khi đó, huyết áp được xác định là giảm khi huyết áp tâm thu dưới 85 mmHg.

Tác dụng không mong muốn

Sau can thiệp, tác dụng không mong muốn được xác định là những triệu chứng mới xuất hiện, gây khó chịu cho bệnh nhân và liên quan đến phương pháp điều trị Biến số này thuộc loại định tính và được phân loại thành 4 mức độ khác nhau Bác sĩ sẽ ghi nhận các triệu chứng này thông qua việc hỏi và quan sát bệnh nhân.

Mức độ 0 (–): Không có triệu chứng.

Mức độ 1 (+): Có triệu chứng nhẹ/ thoáng qua.

Mức độ 2 (++): Có triệu chứng vừa, kéo dài 15 - 30 phút, cần phải nghỉ ngơi, có thể tự hết.

Mức độ 3 (+++): Có triệu chứng nặng, cần sự can thiệp của y tế.

Tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn được xác định theo từng triệu chứng, tính bằng tỷ số giữa số bệnh nhân có triệu chứng và tổng số bệnh nhân trong nhóm.

1 – 3 và tổng số BN của nhóm đó.

Các biến số xuất hiện trước hoặc trong quá trình nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến kết quả, bao gồm đặc điểm tuổi, giới, yếu tố nguy cơ, việc tuân thủ chế độ chăm sóc và phân loại bệnh theo YHCT của bệnh nhân Những đặc điểm này điều tiết tác động của biến số độc lập lên biến phụ thuộc.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Tuổi là một biến số quan trọng được xác định trước khi can thiệp Nó có thể được phân loại thành biến định lượng với đơn vị tính là năm, hoặc biến định tính với hai giá trị là dưới 50 tuổi và từ 50 tuổi trở lên.

50 tuổi) Quy ước: Số tuổi = Năm tiếp nhận BN nghiên cứu - Năm sinh của BN (tính theo năm dương lịch).

Giới tính được xác định trước khi can thiệp và được phân loại là biến định tính với hai giá trị là nam và nữ Quy ước sử dụng giới tính trên chứng minh nhân dân của bệnh nhân.

Nghề nghiệp được xác định trước can thiệp và được phân loại thành biến định tính với bốn giá trị chính: HSSV, CNVC, LĐCT và khác Quy ước sử dụng giới tính trên chứng minh nhân dân của bệnh nhân để phân loại.

Tuổi khởi phát:Thời điểm xác định: Trước can thiệp Phân loại biến số: Là biến định lượng Đơn vị: năm.

Tiền căn cá nhân: Thời điểm xác định: Trước can thiệp Phân loại biến số:

Là biến định tính Có 3 giá trị: VMDU (viêm mũi dị ứng), HPQ (hen phế quản) và không có 2 tiền căn trên.

Tiền căn gia đình: Thời điểm xác định: Trước can thiệp Phân loại biến số:

Là biến định tính Có 3 giá trị: VMDU (viêm mũi dị ứng), HPQ (hen phế quản) và không có 2 tiền căn trên.

Bảng 2.3: Các biến số nghiên cứu

STT Tên biến Loại biến Đo lường

2 Giới Định tính 2 giá trị: nam, nữ

3 Nghề nghiệp Định tính 4 giá trị: HSSV,

4 Tuổi khởi phát Định lượng Năm

5 Tiền căn cá nhân Định tính 3 giá trị: VMDƯ, HPQ, không có 2 tiền căn trên

6 Tiền căn gia đình Định tính VMDU, HPQ, không có

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

7 Giai đoạn bệnh Định tính 3 giá trị: cấp tính, bán cấp, mạn tính

8 Điểm SCORAD Định lượng Điểm

9 Phân nhóm độ nặng theo điểm SCORAD Định tính

10 Diện tích tổn thương da

(BSA) - phần A Định lượng Phần trăm (%)

11 Mức độ tổn thương - phần B Định lượng Điểm

Các triệu chứng đánh giá mức độ tổn thương trong SCORAD: Hồng ban, sẩn phù, rỉ dịch đóng mài, trầy xước, lichen hóa, khô da Định tính

13 Triệu chứng chủ quan - phần C Định lượng Điểm

14 Điểm số DLQI Định lượng Điểm

Kiểm soát sai lệch trong việc chọn lựa bệnh nhân là rất quan trọng, vì vậy cần tuân thủ quy trình phân bổ ngẫu nhiên bệnh nhân vào nhóm điều trị Phương pháp này sử dụng phần mềm GraphPad để thực hiện phân nhóm ngẫu nhiên một cách chính xác.

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thông qua các phiếu theo dõi Sử dụng phần mềm R phiên bản 4.1.1.

Trong thống kê mô tả, các biến định lượng được trình bày qua giá trị trung bình và độ lệch chuẩn nếu phân phối có dạng chuẩn, trong khi đó, trung vị và tứ phân vị được sử dụng cho các biến không có phân phối chuẩn Để kiểm tra tính chuẩn của phân phối, phép kiểm Shapiro - Wilk được áp dụng, với p > 0,05 cho thấy phân phối đạt chuẩn Đối với các biến định tính, chúng được mô tả thông qua tần số và tỷ lệ phần trăm.

Để phân tích thống kê, nếu biến định lượng có phân phối chuẩn, sử dụng t-test để so sánh sự khác biệt giữa các giá trị trung bình Ngược lại, nếu biến định lượng không có phân phối chuẩn, áp dụng phép kiểm Mann-Whitney Đối với biến định tính, sử dụng phép kiểm chi bình phương (χ²) để so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ; tuy nhiên, nếu số ô có tần suất kỳ vọng nhỏ hơn 5 chiếm hơn 20% trong bảng 2 x n, cần thay thế bằng phép kiểm chính xác Fisher Giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.

Vấn đề y đức

Nghiên cứu này đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Đại học Y Dược TPHCM phê duyệt, với thời gian thực hiện từ tháng 11/2021 đến tháng 08/2022, theo quyết định số 849/HĐĐĐ - ĐHYD ký ngày 21/12/2021.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ tháng 11/2021 đến tháng 08/2022, có 184 bệnh nhân Alzheimer (BN AD) từ 18 tuổi trở lên đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, 188 BN AD đủ tiêu chuẩn đã được chọn vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng và được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 94 bệnh nhân Tuy nhiên, trong thời gian theo dõi điều trị kéo dài 4 tuần, nhóm chứng đã có 2 trường hợp.

Trong nghiên cứu này, có 2 bệnh nhân (2,12%) không được đưa vào phân tích do phát hiện thêm tiêu chí loại và không tuân thủ điều trị Do đó, kết quả chỉ được phân tích dựa trên tổng số 184 bệnh nhân, với mỗi nhóm gồm 92 bệnh nhân.

3.1 Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến AD

3.1.1 Các đặc điểm lâm sàng

Các triệu chứng lâm sàng

Bảng 3.1: Các triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng Nhóm chứng

Viêm da bàn tay, bàn chân 54 (58,69%) 62 (67,39%)

Nếp cổ phía trước 31 (33,69%) 20 (21,73%) Chứng vẽ nổi màu trắng 27 (29,34%) 12 (13,04%)

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Khi đánh giá các triệu chứng lâm sàng trước can thiệp, kết quả cho thấy 100% BN có triệu chứng ngứa, khô da, mất ngủ.

Trong nghiên cứu về các triệu chứng của bệnh, viêm da bàn tay - bàn chân có tỷ lệ cao, với 58,69% ở nhóm chứng và 67,39% ở nhóm nghiên cứu Viêm môi cũng ghi nhận tỷ lệ đáng kể, đạt 51,08% ở nhóm chứng và 34,78% ở nhóm nghiên cứu Ngoài ra, nếp cổ phía trước có tỷ lệ mắc ở mức độ trung bình, với 33,69% ở nhóm chứng và 21,73% ở nhóm nghiên cứu.

Các triệu chứng gặp với tần suất thấp hơn bao gồm: chứng vẽ nổi màu trắng (29,34% nhóm chứng, 13,04% nhóm nghiên cứu), thâm quanh mắt (26,08% nhóm chứng, 9,78% nhóm nghiên cứu), nếp Denni Morgan (18,47% nhóm chứng, 6,52% nhóm nghiên cứu), vảy phấn trắng (14,13% nhóm chứng, 4,34% nhóm nghiên cứu), dày sừng nang lông (11,95% nhóm chứng, 3,26% nhóm nghiên cứu), vảy cá (10,86% nhóm chứng, 2,17% nhóm nghiên cứu) và chàm núm vú (5,43% nhóm chứng, 2,17% nhóm nghiên cứu).

3.1.2 Các yếu tố liên quan đến AD người lớn

Bảng 3.2: Phân bố theo giới

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Tỷ lệ mắc bệnh Alzheimer (AD) ở nữ giới chiếm ưu thế trong cả hai nhóm nghiên cứu, với 76,1% ở nhóm nghiên cứu và 70,7% ở nhóm chứng Trong khi đó, tỷ lệ ở nam giới chỉ đạt 23,9% trong nhóm nghiên cứu và 29,3% trong nhóm chứng Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.3: Phân bố theo tuổi

Trung bình ± ĐLC 46,1 ± 18,4 44,6 ± 17,9 0,6 Độ tuổi

Theo nghiên cứu, bệnh Alzheimer (AD) chủ yếu xuất hiện ở nhóm tuổi trên 50, với tỷ lệ 37,0% trong nhóm nghiên cứu và 40,7% trong nhóm chứng Tuổi mắc AD nhỏ nhất ở nhóm chứng là 20 và lớn nhất là 88, với tuổi trung bình là 44,6 ± 17,9 Trong khi đó, nhóm nghiên cứu có tuổi mắc AD nhỏ nhất là 18 và lớn nhất là 92, với tuổi trung bình là 46,1 ± 18,4 Sự khác biệt về độ tuổi giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Bảng 3.4: Phân bố theo học vấn và nghề nghiệp

Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân Alzheimer (AD) chủ yếu là nhân viên văn phòng, với 33,7% trong nhóm nghiên cứu và 34,8% trong nhóm chứng, trong khi tỷ lệ học sinh hoặc sinh viên chỉ chiếm 9,8% và 14,1% tương ứng.

Tiền sử bản thân và gia đình bị các bệnh cơ địa

Bảng 3.5: Tiền sử bản thân và gia định bị các bệnh cơ địa

Không có 2 tiền căn VMDU 0,4

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Không có 2 tiền căn VMDU 0,9

Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân Alzheimer (AD) không có tiền sử VMDU và HPQ chiếm ưu thế, với 72,8% ở nhóm nghiên cứu và 77,2% ở nhóm chứng Bệnh nhân AD có tiền sử VMDU chiếm 21,7% (nhóm nghiên cứu) và 18,5% (nhóm chứng), trong khi tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử HPQ thấp nhất, chỉ 5,4% (nhóm nghiên cứu) và 4,3% (nhóm chứng) Về tiền sử gia đình, không có VMDU và HPQ chiếm 87,0% (nhóm nghiên cứu) và 85,9% (nhóm chứng), trong khi tiền sử gia đình có VMDU là 8,7% (nhóm nghiên cứu) và 9,8% (nhóm chứng), và tỷ lệ có HPQ là 4,3% cho cả hai nhóm Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Yếu tố khởi phát AD

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Biểu đồ 3.1: Các yếu tố khởi phát AD

Trong nghiên cứu, 72,8% bệnh nhân AD trong nhóm nghiên cứu và 75,0% trong nhóm chứng không xác định được yếu tố khởi phát Tỷ lệ bệnh nhân AD có yếu tố khởi phát do dị ứng thức ăn là 19,6% ở nhóm nghiên cứu và 17,4% ở nhóm chứng Đáng chú ý, tỷ lệ bệnh nhân có yếu tố khởi phát từ dị nguyên thức ăn và dị nguyên tiếp xúc ở cả hai nhóm nghiên cứu là thấp hơn.

Bảng 3.6: Tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Trong nghiên cứu này, phần lớn bệnh nhân Alzheimer (AD) khởi phát bệnh sau 12 tuổi, với tỷ lệ lần lượt là 88,0% ở nhóm nghiên cứu và 91,3% ở nhóm chứng Ngược lại, tỷ lệ bệnh nhân khởi phát bệnh dưới 12 tuổi và trong khoảng từ 2 đến 12 tuổi là rất thấp Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các đặc điểm nền giữa hai nhóm (p > 0,05).

3.2 Các triệu chứng lâm sàng ở 2 nhóm trước điều trị

3.2.1 Triệu chứng ngứa và mất ngủ trước điều trị

Bảng 3.7: So sánh triệu chứng ngứa của 2 nhóm trước điều trị

Trước can thiệp 100% BN AD tham gia điều trị có ngứa Mức độ ngứa trung bình của nhóm chứng là 7,1 ± 1,4; của nhóm nghiên cứu là 7,1 ± 1,3 Không thấy sự

Mức độ ngứa (thang điểm 10) (TB ± ĐLC)

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

68 khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ ngứa và mức độ ngứa giữa 2 nhóm nghiên cứu với p > 0,05.

Bảng 3.8: So sánh triệu chứng mất ngủ của 2 nhóm trước điều trị

Mất ngủ Nhóm nghiên cứu

Mức độ mất ngủ (thang điểm 10) (TB ± ĐLC) 6,1 ± 2,1 6,2 ± 2,2 0,1

Trước khi can thiệp, 100% bệnh nhân Alzheimer tham gia đều gặp tình trạng mất ngủ Mức độ mất ngủ trung bình của nhóm chứng là 6,2 ± 2,2, trong khi nhóm nghiên cứu là 6,1 ± 2,1 Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ và mức độ mất ngủ trung bình giữa hai nhóm với p > 0,05.

3.2.2 Mức độ nặng trước điều trị

Bảng 3.9: Độ nặng theo SCORAD trước điều trị

Trước can thiệp mức độ nặng bệnh: Nhóm chứng: Điểm SCORAD thấp nhất

38, cao nhất là 70,7; TB = 54,8 ± 8,2 điểm Nhóm nghiên cứu: Điểm SCORAD thấp Độ nặng (SCORAD) Nhóm nghiên cứu

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

69 nhất 36,2; cao nhất là 81,1; TB = 55,3 ± 9,2 điểm Không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ nặng theo SCORAD TB giữa 2 nhóm với p > 0,05.

3.3 Kết quả điều trị của 2 nhóm

3.3.1 Kết quả điều trị theo triệu chứng lâm sàng

Bảng 3.10: Kết quả điều trị theo triệu chứng lâm sàng của nhóm chứng

Trung bình (Độ lệch chuẩn)

Diện tích da tổn thương 36,2 (14,6) 36,1 (14,5) 35,8 (14,4)

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Kết quả phân tích cho thấy, các yếu tố cận lâm sàng của nhóm chứng có xu hướng giảm dần từ t0 đến t4.

Bảng 3.11: Kết quả điều trị theo triệu chứng lâm sàng của nhóm nghiên cứu

Trung bình (Độ lệch chuẩn)

Diện tích da tổn thương 36,4 (14,9) 36,2 (15,0) 35,0 (13,1)

Kết quả phân tích cho thấy rằng các yếu tố lâm sàng trong nhóm nghiên cứu có xu hướng giảm dần từ thời điểm t0 đến t4 Cụ thể, điểm SCORAD và DLQI giảm chậm ở tuần t2 nhưng giảm mạnh hơn ở tuần t4.

Bảng 3.12: Triệu chứng lâm sàng giữa 2 nhóm

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Nhóm chứng Trung bình (Độ lệch chuẩn)

Nhóm nghiên cứu Trung bình (Độ lệch chuẩn) p

Diện tích da tổn thương

Diện tích da tổn thương

Diện tích da tổn thương

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Nhóm chứng Trung bình (Độ lệch chuẩn)

Nhóm nghiên cứu Trung bình (Độ lệch chuẩn) p

(Kiểm định bằng t-test với phương sai đồng nhất)

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Khi so sánh triệu chứng lâm sàng giữa hai nhóm tại các thời điểm điều trị t0, t2 và t4, kết quả cho thấy tại thời điểm t2, nhóm nghiên cứu có điểm số khô da và mức độ tổn thương cao hơn nhóm chứng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Đồng thời, điểm số mất ngủ của nhóm nghiên cứu thấp hơn nhóm chứng tại t0 và t4, cũng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Cuối cùng, điểm số TC chủ quan của nhóm nghiên cứu thấp hơn nhóm chứng tại thời điểm t4, thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

3.3.2 Kết quả điều trị theo thang điểm SCORAD

Bảng 3.13: Mức độ giảm điểm SCORAD (%) của nhóm chứng

Thời điểm SCORAD Mức độ giảm so với ban đầu Điểm % p

Khi đánh giá hiệu quả điều trị của nhóm chứng dựa trên mức độ giảm điểm SCORAD, kết quả cho thấy điểm SCORAD giảm dần từ tuần t2 đến tuần t4, với mức độ giảm chậm ở tuần t2 và nhanh hơn vào tuần t4 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Bảng 3.14: Mức độ giảm điểm SCORAD (%) của nhóm nghiên cứu

Thời điểm SCORAD Mức độ giảm so với ban đầu Điểm % p

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Khi đánh giá hiệu quả điều trị bằng thang điểm SCORAD, nhóm nghiên cứu ghi nhận sự giảm điểm SCORAD từ t0 đến t2 và t4, với mức giảm chậm ở tuần t2 và giảm nhanh vào tuần t4 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Hình 3.1: So sánh SCORAD giữa hai nhóm theo thời gian Nhận xét:

Thang điểm SCORAD giữa 2 nhóm sau các tuần điều trị khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

3.3.3 Kết quả điều trị theo thang điểm DLQI

Bảng 3.15: Mức độ giảm điểm DLQI (%) của nhóm chứng

Thời điểm DLQI Mức độ giảm so với ban đầu Điểm % p

BÀN LUẬN

Nghiên cứu này nhằm chứng minh hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị bệnh Alzheimer (AD), với mục tiêu giúp bệnh nhân mau lành bệnh, giảm tỷ lệ tái phát, và giảm gánh nặng tâm lý cũng như kinh tế cho bệnh nhân, gia đình và xã hội Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu sẽ được thiết kế dưới hình thức thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCT), bao gồm hai nhóm: một nhóm điều trị bằng bài thuốc thang Tiêu phong tán đường uống và nhóm còn lại điều trị bằng sự kết hợp giữa bài thuốc này và phương pháp cấy chỉ Qua đó, chúng tôi sẽ đánh giá hiệu quả của cấy chỉ trong việc hỗ trợ điều trị bệnh nhân AD.

4.2 Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan

- Ngứa:là triệu chứng cơ năng chính và cũng là một trong những tiêu chuẩn chính để chẩn đoán AD.

Theo y văn, có khoảng 80 - 100% BN AD có triệu chứng ngứa 60,70 Trong nghiên cứu của chúng tôi 100% BN có ngứa Châu Văn Trở và cs 28 nghiên cứu trên

128 BN AD người lớn 100% có ngứa Nguyễn Thị Kiều Oanh và cs 285 nghiên cứu trên 41 BN AD cũng thấy 100% có ngứa.

Ngứa là triệu chứng chính khiến bệnh nhân gãi và chà xát, dẫn đến các tổn thương thứ phát như nhiễm trùng, da dày, thâm nhiễm và vết trầy xước Triệu chứng này không chỉ gây mất ngủ mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, tạo nên vòng xoắn bệnh lý khiến tình trạng bệnh ngày càng nặng hơn Do đó, trong chiến lược điều trị viêm da cơ địa (AD), cần đặc biệt chú trọng đến triệu chứng ngứa của bệnh nhân.

Mất ngủ là một vấn đề nghiêm trọng mà bệnh nhân (BN) mắc bệnh Alzheimer (AD) thường gặp phải Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động tiêu cực đến tinh thần của BN, gây ra lo âu và trầm cảm Bệnh diễn tiến mạn tính và tái phát nhiều lần, làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu cho thấy 100% bệnh nhân gặp phải tình trạng mất ngủ Cụ thể, theo Nguyễn Thị Kiều Oanh và cộng sự, tỷ lệ bệnh nhân mất ngủ là 78,05%, trong khi Châu Văn Trở và cộng sự ghi nhận con số này là 75%, và Hà Nguyễn Phương Anh cùng cộng sự cho biết tỷ lệ là 48,5% Sự khác biệt trong tỷ lệ mất ngủ giữa các nghiên cứu có thể do đây là triệu chứng chủ quan của bệnh nhân, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác ngoài trầm cảm.

- Khô da:Kết quả nghiên cứu 100% BN có biểu hiện khô da Theo Châu Văn Trở và cs 28 ; 78,91% BN có khô da.

Theo nghiên cứu của Nilsson.L, khoảng 50-70% bệnh nhân mắc bệnh chàm (AD) gặp phải tình trạng da khô do giảm sản xuất filaggrin, giảm lượng ceramide và tăng mất nước qua da Da khô không chỉ khiến bệnh nhân dễ bị kích thích và ngứa ngáy mà còn làm tình trạng AD trở nên nghiêm trọng hơn Vì vậy, việc sử dụng các sản phẩm dưỡng da và giữ ẩm là rất quan trọng trong quá trình điều trị bệnh chàm.

Ngoài các tổn thương chính của bệnh chàm dị ứng (AD), việc phát hiện các triệu chứng lâm sàng khác cũng rất quan trọng trong việc chẩn đoán, đặc biệt khi các tổn thương cơ bản không điển hình Những triệu chứng này đóng vai trò như các tiêu chuẩn phụ trong tiêu chí chẩn đoán theo Hanifin và Rajka.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân (BN) mắc viêm da bàn tay - bàn chân đạt 58,7% ở nhóm chứng và 67,4% ở nhóm nghiên cứu Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Châu Văn Trở và cộng sự, cho thấy 57,81% bệnh nhân cũng bị viêm da bàn tay - bàn chân.

Theo nghiên cứu của Hanifin và cộng sự, khoảng 30% bệnh nhân viêm da cơ địa (AD) ở người lớn khởi phát bằng viêm da bàn tay và 58,9% có tổn thương chàm ở tay Vệ sinh tay là yếu tố quan trọng trong việc ngăn ngừa lây lan virus, nhưng việc rửa tay quá nhiều trong đại dịch COVID-19 mà không bảo vệ da đúng cách có thể dẫn đến tổn thương da tay Quá trình chà xát và sử dụng hóa chất tẩy rửa có thể làm hỏng hàng rào bảo vệ da, thay đổi hệ vi sinh vật trên da, và làm trầm trọng thêm triệu chứng viêm da Nhu cầu thị trường về sản phẩm chăm sóc da tăng cao trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19.

- 19, dung dịch sát khuẩn không kịp đáp ứng nhu cầu của người dân Chính vì thế

Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.

Gần đây, đã xuất hiện tình trạng một số cơ sở sản xuất làm giả và làm nhái dung dịch sát khuẩn, bán ra thị trường Việc người dân sử dụng các sản phẩm sát khuẩn không rõ nguồn gốc có thể dẫn đến những phản ứng phụ tại chỗ như viêm da kích ứng hoặc dị ứng.

Viêm môi là một tình trạng phổ biến, với nghiên cứu cho thấy 51,1% bệnh nhân trong nhóm chứng và 34,8% trong nhóm nghiên cứu mắc phải Theo Nguyễn Thị Kiều Oanh và cộng sự, tỷ lệ này là 46,34%, trong khi Châu Văn Trở và cộng sự ghi nhận 47,56% Đặc biệt, viêm môi ở bệnh nhân mắc bệnh tự miễn (AD) thường có mức độ nặng, khó điều trị và dễ tái phát.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự xuất hiện của nếp cổ phía trước ở 33,7% bệnh nhân trong nhóm chứng và 21,7% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Oanh và cộng sự, tỷ lệ này là 34,15%, trong khi nghiên cứu của Châu Văn Trở và cộng sự ghi nhận tỷ lệ cao hơn, đạt 42,18%.

Chứng da vẽ nổi màu trắng là tình trạng phổ biến, với tỷ lệ mắc bệnh lên tới 29,3% ở nhóm chứng và 13,04% ở nhóm nghiên cứu Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Oanh cho thấy 41,46% bệnh nhân mắc chứng này, trong khi Châu Văn Trở ghi nhận tỷ lệ là 40,62%.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 26,1% bệnh nhân trong nhóm chứng và 9,8% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu có dấu hiệu thâm quanh mắt Những con số này tương đồng với nghiên cứu của Châu Văn Trở và cộng sự (26,56%) cũng như nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Oanh và cộng sự (21,95%).

Nếp dưới mắt của Dennie Morgan: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có 18,5%

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Oanh và các cộng sự, 6,5% bệnh nhân (BN) trong nhóm nghiên cứu và 17,07% BN trong nhóm chứng có dấu hiệu viêm Dấu hiệu này xuất hiện ở 25% bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer (AD) nói chung, nhưng tỷ lệ này tăng lên 83% ở BN AD có viêm mi, trong khi chỉ có 17% ở BN AD không kèm theo viêm mi Điều này cho thấy tình trạng viêm và phù ở mi mắt dưới do dị ứng là một dấu hiệu quan trọng cần được chú ý.

Nghiên cứu về vảy phấn trắng Alba cho thấy có 14,1% bệnh nhân trong nhóm chứng và 4,3% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu xuất hiện dấu hiệu này Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Oanh và cộng sự, ghi nhận 12,2% bệnh nhân, cũng như nghiên cứu của Châu Văn Trở và cộng sự với tỷ lệ 18,75%.

Ngày đăng: 04/10/2023, 20:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Vai trò của NF - κB trong các rối loạn dị ứng 68 - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Hình 1.1 Vai trò của NF - κB trong các rối loạn dị ứng 68 (Trang 18)
Bảng 1.4: Bài thuốc Long đởm tả can thang 1 - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 1.4 Bài thuốc Long đởm tả can thang 1 (Trang 33)
Bảng 1.7: Bài thuốc cổ phương “Tiêu phong tán” (Y tông kim giám) 18 - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 1.7 Bài thuốc cổ phương “Tiêu phong tán” (Y tông kim giám) 18 (Trang 36)
Hình 1.2: Cơ chế của châm cứu điều chỉnh NF- κ B 68 - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Hình 1.2 Cơ chế của châm cứu điều chỉnh NF- κ B 68 (Trang 39)
Sơ đồ 1: Chọn bệnh nhân và phân nhóm - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Sơ đồ 1 Chọn bệnh nhân và phân nhóm (Trang 52)
Sơ đồ 2: Các bước tiến hành nghiên cứu thu thập số liệu. - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Sơ đồ 2 Các bước tiến hành nghiên cứu thu thập số liệu (Trang 60)
Bảng 2.2: Điểm của các thương tổn 73 - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 2.2 Điểm của các thương tổn 73 (Trang 65)
Bảng 2.3: Các biến số nghiên cứu - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 2.3 Các biến số nghiên cứu (Trang 68)
Bảng 3.6: Tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 3.6 Tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh (Trang 76)
Bảng 3.8: So sánh triệu chứng mất ngủ của 2 nhóm trước điều trị - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 3.8 So sánh triệu chứng mất ngủ của 2 nhóm trước điều trị (Trang 78)
Bảng 3.10: Kết quả điều trị theo triệu chứng lâm sàng của nhóm chứng - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 3.10 Kết quả điều trị theo triệu chứng lâm sàng của nhóm chứng (Trang 79)
Bảng 3.12: Triệu chứng lâm sàng giữa 2 nhóm - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 3.12 Triệu chứng lâm sàng giữa 2 nhóm (Trang 80)
Hình 3.1: So sánh SCORAD giữa hai nhóm theo thời gian Nhận xét: - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Hình 3.1 So sánh SCORAD giữa hai nhóm theo thời gian Nhận xét: (Trang 84)
Bảng 4.1: Đối sánh mức độ giảm điểm SCORAD của các nghiên cứu - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 4.1 Đối sánh mức độ giảm điểm SCORAD của các nghiên cứu (Trang 101)
Bảng 4.2: Đối sánh điểm DLQI của các nghiên cứu - đánh giá hiệu quả của phương pháp cấy chỉ trong hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa giai đoạn mạn tính tại bệnh viện y học cổ truyền tp hcm
Bảng 4.2 Đối sánh điểm DLQI của các nghiên cứu (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w