ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Báo cáo hàng loạt ca tiến cứu
Đối tượng nghiên cứu
Sản phụ có chỉ định mổ lấy thai chủ động nhập viện tại khoa Sản bệnh viện Nhân dân Gia Định.
Sản phụ có chỉ định mổ lấy thai chủ động nhập viện tại khoa Sản bệnh viện Nhân dân Gia Định.
Từ ngày 02/12/2021 đến 31/05/2022, các sản phụ có chỉ định mổ lấy thai đã chủ động nhập viện tại khoa Sản bệnh viện Nhân dân Gia Định và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Z(1-α/2) bằng 1,96 tương ứng với độ tin cậy 95%. p = 0,04 tỷ lệ NKVM trên thai phụ sau MLT
Theo nguyên cứu tác giả Huỳnh Kim Khoe Kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2007 d: độ chính xác tuyệt đối (chọn d = 0,05).
Thay các giá trị vào công thức trên, chúng tôi tính được: n = 59
Chúng tôi tiến hành thu thập dữ liệu từ tất cả các sản phụ có chỉ định mổ lấy thai chủ động tại khoa Sản, bệnh viện Nhân dân Gia Định, trong khoảng thời gian từ 02/12/2021 đến 31/05/2022, những người đã đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Sản phụ có chỉ định mổ lấy thai chủ động nhập viện tại khoa Sản bệnh viện Nhân dân Gia Định thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu từ 02/12/2021 đến 31/05/2022.
- Sốt hoặc có tình trạng nhiễm khuẩn trước mổ
- Dùng kháng sinh trong vòng 12 giờ trước mổ.
- Suy giảm miễn dịch hoặc dùng thuốc corticoid.
- Ối vỡ ≥ 6 giờ, hoặc bất kỳ thời điểm nào trước mổ nghi ngờ có nhiễm khuẩn ối.
- Tiền sử dị ứng cephalosporin hoặc dị ứng kháng sinh thời điểm tiêm.
- Tất cả trường hợp có chỉ định mổ lấy thai cấp cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu : từ 02/12/2021 đến 31/05/2022 Địa điểm: tại khoa Sản bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành Phố Hồ ChíMinh.
Các biến số
Bảng 2.1 Bảng mô tả và định nghĩa các biến số nghiên cứu
Biến số và định nghĩa Loại biến số
1 Tuổi thai phụ lúc mổ lấy thai
Tuổi tính bằng năm sinh dương lịch
Biến định lượng, biến phân loại
2 Tuổi thai Đơn vị tuần
Biến định lượng, biến phân loại
Con so: chưa sinh con lần nào
Con rạ: sinh con ≥ 1 lần
Biến phân loại, Biến số rời
Thành Phố Hồ Chí Minh
Biến phân loại, biến số rời
6 BMI = cân nặng (kg) chiều cao (m 2 ) BMI theo WHO cho người châu Á
Biến số liên tục, biến định lượng
Biến số và định nghĩa Loại biến số
35 ≤ BMI ≤ 39,9: béo phì độ II
BMI ≥ 40: béo phì độ III
7 Tiền sử mổ lấy thai
Ghi nhận tiền sử đã từng sinh mổ ở các lần sinh trước
8 Thời gian nhập viện trước phẫu thuật
Thời gian từ lúc nhập viện đến lúc rạch da mổ (giờ).
Có 2 cơn co dài ≥ 20 giây/ 10 phút gây đau, xóa mở CTC
≥ 30%, thành lập đầu ối, ối căng phồng khi tử cung co.
Chưa chuyển dạ khi không có các tiêu chuẩn trên.
Có chuyển dạ Chưa chuyển dạ
10 Số lần khám âm đạo
11 Tình trạng ối Ối vỡ Ối chưa vỡ
Xét nghiệm công thức máu trước mổ (g/dl)
Xét nghiệm công thức máu trước mổ (K/ul)
Theo ACOG 2019, việc đánh giá lượng máu mất cần được thực hiện ngay khi thai nhi được lấy ra Cần xác định lượng nước ối trong bình hút trước khi lấy nhau và đo lượng máu mất sau khi lấy nhau.
Biến số trong nghiên cứu này bao gồm loại bình chứa máu và tấm phủ Sau khi kết thúc cuộc mổ, cần cân tất cả băng gạc thấm máu và chuyển đổi chúng sang thể tích Cuối cùng, tính tổng thể tích máu trong bình, gạc và tấm phủ để có cái nhìn tổng quan về lượng máu đã mất.
Trắng đục, xanh, vàng, đỏ lẫn máu
Từ lúc rạch da đến mũi khâu da cuối cùng (phút)
Tê tủy sống (trường hợp)
Gây mê NKQ (trường hợp)
18 Đường rạch da khi phẫu thuật
Rạch da ngang trên vệ (đây là đường mổ chủ yếu được thực hiện trong mổ lấy thai).
Rạch dọc rốn vệ thường được áp dụng trong các trường hợp mổ cấp cứu như suy thai cấp, nhau tiền đạo, hoặc khi cần thực hiện mổ lập lại sau lần mổ trước đó.
Ngang trên xương vệ Dọc rốn vệ
19 Phản ứng phụ của thuốc
Phản ứng theo phân độ của sốc phản vệ
Biến số rời Có/ Không
20 Nhiễm khuẩn vết mổ theo CDC
Nhiễm khuẩn vết mổ nông: gồm các nhiễm khuẩn ở lớp da hoặc tổ chức dưới da tại vị trí rạch da.
Nhiễm khuẩn vết mổ sâu: gồm các nhiễm khuẩn tại lớp cân và, hoặc cơ tại vị trí rạch da.
Nhiễm khuẩn cơ quan: gồm nhiễm khuẩn ở bất kỳ khoang giải phẫu hoặc cơ quan trong cơ thể khác vị trí
Biến số rờiCó/ Không
Biến số và định nghĩa Loại biến số nhiễm khuẩn tại vị trí rạch da.
21 Viêm nội mạc tử cung có các triệu chứng sau
Tử cung tăng cảm giác đau khi sờ
Biến số rời Có/ Không
Nhiệt độ ≥ 38 0 C 2 ngày liên tiếp không kể 24 giờ đầu hậu phẫu
23 Nhiễm khuẩn ối: Có 2 trong 6 tiêu chuẩn sau
Tăng cảm giác đau khi khám
Nước ối đổi màu, có mùi hôi
Bạch cầu ≥ 15000 hoặc lần 2 tăng ≥ 30%
Biến số rời Có/ Không
25 Thời gian nằm viện (ngày)
Thời gian từ lúc nhập viện đến lúc xuất viện.
Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu
Ban giám đốc và Ban lãnh đạo khối Sản của bệnh viện Nhân dân Gia Định đã quyết định cho phép thực hiện đề tài nghiên cứu Trong buổi giao ban khối sản hàng ngày, các nghiên cứu viên sẽ trình bày kết quả và tiến độ của đề tài này.
- Lợi ích của kháng sinh dự phòng.
- Tiêu chuẩn lựa chọn mẫu.
- Tên kháng sinh, liều dùng theo phác đồ kháng sinh dự phòng của bệnh viện.
Trưởng khối sản đồng ý cho thực hiện đề tài, chúng tôi bắt đầu nghiên cứu
- Kiểm tra dự trù đủ thuốc kháng sinh cefazolin trong thời gian nghiên cứu.
- Sản phụ có chỉ định mổ thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh.
- Bác sĩ tư vấn, ký đồng thuận
- Nữ hộ sinh chuẩn bị thai phụ trước mổ.
- Nữ hộ sinh lãnh thuốc chuyển kèm theo bệnh nhân lên phòng mổ.
Kỹ thuật viên gây mê thực hiện việc hỏi bệnh và kiểm tra tiền sử dị ứng của bệnh nhân, sau đó bác sĩ gây mê sẽ xác nhận lại thông tin này Trước khi tiến hành gây tê tủy sống, kỹ thuật viên sẽ tiêm tĩnh mạch kháng sinh 15 phút Nếu cần gây mê nội khí quản, việc tiêm kháng sinh cũng sẽ được thực hiện trước khi khởi mê, với thời gian từ lúc tiêm đến khi rạch da không vượt quá 30 phút.
- Khám đánh giá trong thời gian hậu phẫu, ghi vào bộ câu hỏi thu thập số liệu.
- Hướng dẫn theo dõi sau xuất viện Nghiên cứu viên sẽ gọi điện hỏi thăm vào các ngày 07, 14, 21, 30 sau mổ.
Trong hai tuần đầu, nghiên cứu viên và bác sĩ tại khoa thực hiện, giám sát và triển khai quy trình nghiên cứu Sau đó, các tua trực tiếp tiếp tục thực hiện cho đến khi kết thúc thời gian nghiên cứu, với sự giám sát chặt chẽ từ nghiên cứu viên trong suốt quá trình.
Cefazolin là kháng sinh cephalosporin thế hệ I.
Hình 2.1 Cefazolin kháng sinh dự phòng cephalosporin thế hệ I
Cefazolin có hoạt chất chính cefazolin natri 1g, dạng bào chế là bột pha tiêm, hạn sử dụng 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Nhà sản xuất: Công ty cổ phần dược phẩm Minh Dân - VIỆT NAM Đường dùng: tiêm tĩnh mạch chậm theo Hướng dẫn kháng sinh của Bộ
Liều dùng Cefazolin là 2g tiêm tĩnh mạch chậm trước khi rạch da 30 phút Đối với bệnh nhân có cân nặng dưới 120kg, liều dùng là 2g; còn với bệnh nhân có cân nặng từ 120kg trở lên, liều dùng là 3g, theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh trong quyết định 708/QĐ-BYT.
2.5.2.2 Bộ câu hỏi thu thập số liệu phần phụ lục
Số liệu được thu thập từ lúc nhập khoa sản có chỉ định MLT chủ động đến thời điểm sau mổ đủ 30 ngày.
Khối sản bệnh viện Nhân dân Gia Định bao gồm 05 khoa: Sản Bệnh, Phòng Sanh, Sản Thường, Phụ Khoa và Phòng khám Trong đó, 03 khoa có chỉ định mổ lấy thai chủ động Khi sản phụ đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, nhóm bác sĩ sẽ giải thích rõ ràng về mục đích, hiệu quả, lợi ích và bất lợi của việc sử dụng kháng sinh dự phòng Nếu sản phụ đồng ý, họ sẽ được hướng dẫn ký đồng thuận tham gia nghiên cứu Tất cả thông tin của sản phụ sẽ được bảo mật tuyệt đối, và không có sự phân biệt đối xử đối với những người không tham gia nghiên cứu.
Các bác sĩ phẫu thuật viên thực hiện các ca phẫu thuật từ trung phẫu đến đại phẫu, dựa trên quyết định phân loại phẫu thuật viên trong lĩnh vực Sản.
Tại khoa Sản, khi sản phụ được chỉ định mổ lấy thai, bác sĩ sẽ ghi hồ sơ chỉ định kháng sinh dự phòng cefazolin với liều 2g cho những bệnh nhân có cân nặng dưới 120kg và 3g cho những bệnh nhân nặng hơn.
≥ 120kg) thực hiện tại phòng mổ trước rạch da 30 phút.
Nữ hộ sinh chuẩn bị sản phụ trước mổ.
Hướng dẫn tắm toàn thân cho sản phụ bằng xà phòng kháng khuẩn chlorhexidine 4% là rất quan trọng để đảm bảo vệ sinh trước khi phẫu thuật Chỉ nên cạo lông khi cần thiết, tức là khi lông cản trở vùng phẫu thuật, và nên sử dụng tông đơ điện thay vì dao cạo để giảm nguy cơ tổn thương da.
Lập đường truyền tĩnh mạch.
Chuyển sản phụ lên phòng mổ.
Bác sĩ và kỹ thuật viên gây mê tiếp nhận sản phụ, kiểm tra tim thai và theo dõi sinh hiệu qua máy monitor Họ cũng kiểm tra đường truyền và lập thêm đường truyền mới nếu cần, đồng thời hỏi về tiền sử dị ứng với thuốc kháng sinh, thuốc tê và thuốc mê.
Tiêm tĩnh mạch kháng sinh dự phòng Cefazolin, theo dõi sát phản ứng dị ứng, sinh hiệu Tiến hành tê tủy sống.
Thông tiểu lưu với ống Foley vô khuẩn
Rửa bụng bằng dung dịch Povidon Iod 4% (sau khi tê hoặc trước khi mê)
Phẫu thuật viên rửa tay vô khuẩn, mặc áo phẫu thuật mang găng vô khuẩn, rửa bụng lần cuối với dung dịch Povidin Iod 10% Trải săng vô khuẩn.
Phẫu thuật viên rạch da khi thời gian tiêm kháng sinh được 30 phút, tối đa không quá 60 phút.
Tại khoa hậu phẫu, các nghiên cứu viên và bác sĩ thực hiện việc khám và theo dõi hàng ngày các dấu hiệu sinh hiệu, tình trạng co hồi tử cung, kiểm tra vú và vết mổ Quá trình thăm khám được ghi chép cẩn thận vào hồ sơ bệnh án và điền vào bộ câu hỏi để thu thập số liệu.
Hướng dẫn xuất viện cần chú ý đến các dấu hiệu như sốt, sưng, nóng, đỏ, đau, chảy dịch từ vết mổ, sản dịch có mùi hôi, và đau bụng ngày càng tăng Nếu gặp phải những triệu chứng này, sản phụ nên nhập viện ngay hoặc liên hệ với nghiên cứu viên để được hướng dẫn Nghiên cứu viên sẽ liên lạc với sản phụ vào các ngày 07, 14, 21, 30 sau khi xuất viện để đánh giá tình trạng vết mổ và tư vấn các thắc mắc, khó khăn mà bệnh nhân có thể gặp phải sau sinh mổ, đặc biệt là với những sản phụ từ tỉnh, thành phố khác đến bệnh viện, nhằm tránh tình trạng mất dấu.
Quy trình nghiên cứu
Hình 2.2 Quy trình nghiên cứu
Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ của CDC, được xây dựng từ quy trình đánh giá và giám sát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện Hoa Kỳ Đây là tiêu chuẩn phổ biến hiện nay trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam Việc sử dụng tiêu chuẩn CDC giúp đánh giá chính xác tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ và tạo điều kiện so sánh với các cơ sở y tế khác trên thế giới Nhóm nghiên cứu đã theo dõi sản phụ trong thời gian nằm viện và thực hiện các cuộc gọi liên hệ để thu thập thông tin.
Tư vấn lợi ích KSDP
NHS chuẩn bị thai phụ
Tiền sử dị ứng Tiêm KSDP
Tê tủy sống PTV rạch da
Hướng dẫn dấu hiệu tái khám
Cung cấp số điện thoại NCV
NCV gọi sản phụ ngày 07, 14, 21, 30.
NCV cùng BS khoa tiến hành khám và ghi nhận bệnh án cho bệnh nhân Họ sẽ điền vào bộ câu hỏi thu thập số liệu bệnh nhân vào các ngày 07, 14, 21, 30 sau khi xuất viện để đánh giá tình trạng vết mổ Qua điện thoại, họ sẽ hỏi kỹ sản phụ về việc có vào bệnh viện khác điều trị hay không, đồng thời kiểm tra các triệu chứng như sốt, tình trạng hai vú, sản dịch, và vết mổ (sưng, nóng, đỏ, đau, chảy mủ) theo bảng thu thập dữ liệu trong phần phụ lục.
Theo vị trí nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn vết mổ được phân thành 3 mức độ
- Nhiễm khuẩn vết mổ nông.
- Nhiễm khuẩn vết mổ sâu.
- Nhiễm khuẩn cơ quan hoặc khoang cơ thể 50,51
Hình 2.3 Sơ đồ phân loại nhiễm khuẩn vết mổ
Nguồn: Hướng dẫn phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn vết mổ
Nhiễm khuẩn vết mổ nông, theo Bộ Y Tế 2012, bao gồm các nhiễm khuẩn xảy ra ở lớp da hoặc tổ chức dưới da tại vị trí rạch da Để được xác định là nhiễm khuẩn vết mổ nông, tình trạng này phải thỏa mãn các tiêu chí cụ thể.
- Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật.
- Chỉ xuất hiện vùng da hoặc dưới da tại đường mổ.
- Có ít nhất một trong các triệu chứng sau:
+ Chảy mủ từ vết mổ nông.
+ Phân lập vi khuẩn từ cấy dịch hay mô được lấy vô khuẩn từ vết mổ.
+ Có ít nhất một trong những dấu hiệu hay triệu chứng sau: sưng, nóng, đỏ, đau và cần mở bung vết mổ, trừ khi cấy vết mổ âm tính.
+ Bác sĩ lâm sàng hoặc phẫu thuật viên chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ nông.
Nhiễm khuẩn vết mổ sâu là tình trạng nhiễm khuẩn xảy ra tại lớp cân và cơ tại vị trí rạch da, có thể phát sinh từ nhiễm khuẩn vết mổ nông và lan sâu vào lớp cân cơ Để được xác định là nhiễm khuẩn vết mổ sâu, tình trạng này cần thỏa mãn các tiêu chuẩn cụ thể.
- Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật.
- Xảy ra ở mô mềm sâu cân hoặc cơ của đường mổ.
- Có ít nhất một trong các triệu chứng sau:
+ Chảy mủ từ vết mổ sâu nhưng không từ cơ quan hay nơi phẫu thuật
Vết thương hở da sâu có thể xảy ra tự nhiên hoặc do phẫu thuật viên mở khi bệnh nhân có ít nhất một trong các triệu chứng như sốt trên 38 độ C, sưng, nóng, đỏ và đau, trừ khi kết quả cấy vết mổ là âm tính.
+ Áp xe hay bằng chứng nhiễm khuẩn vết mổ sâu qua thăm khám, phẫu thuật lại, X- quang hay giải phẫu bệnh.
+ Bác sĩ lâm sàng hoặc phẫu thuật viên chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ sâu
Nhiễm khuẩn cơ quan hoặc khoang cơ thể đề cập đến tình trạng nhiễm khuẩn xảy ra ở bất kỳ khoang giải phẫu hoặc cơ quan nào trong cơ thể, không chỉ giới hạn ở vị trí rạch da.
- Nhiễm khuẩn vết mổ tại cơ quan hoặc khoang phẫu thuật phải thỏa các tiêu chuẩn:
- Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật.
- Xảy ra ở bất kỳ nội tạng, loại trừ da, cân, cơ, đã xử lý trong phẫu thuật.
- Có ít nhất một trong các triệu chứng sau:
+ Chảy mủ từ dẫn lưu nội tạng.
+ Phân lập vi khuẩn từ cấy dịch hay mô được lấy vô khuẩn ở cơ quan hay khoang nơi phẫu thuật.
+ Áp xe hay bằng chứng khác của nhiễm khuẩn qua thăm khám, phẫu thuật lại, X- quang hay giải phẫu bệnh.
+ Bác sĩ lâm sàng hoặc phẫu thuật viên chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ tại cơ quan hoặc khoang phẫu thuật.
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
- Đánh giá theo những biến số nghiên cứu, biến số liên quan như đã định nghĩa trong nghiên cứu.
- Phân tích số liệu bằng:
+ Biểu diễn dữ liệu bằng: trung bình ± độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm.
+ Phép kiểm chi bình phương, Binary Logistic, Fisher Exact nghiên cứu tương quan giữa một hay nhiều yếu tố nguy cơ với nhiễm khuẩn vết mổ.
+ P < 0,05 xem như có ý nghĩa thống kê.
+ Phần mềm thống kê được sử dụng là SPSS statistics 20.
Vấn đề y đức
Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi đã thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của bệnh viện Nhân dân Gia Định.
Nghiên cứu này mang lại lợi ích cho người tham gia, vì Tổ chức Y tế Thế giới đã công nhận kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai là “điều trị có lợi” Theo CDC, kháng sinh dự phòng đã được chứng minh là hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ qua các nghiên cứu lâm sàng Hướng dẫn của Hội dược sĩ Bệnh viện Hoa Kỳ (ASHP) năm 2013 chỉ định kháng sinh dự phòng cho các phẫu thuật sạch có yếu tố nguy cơ, bao gồm tất cả các phẫu thuật sạch – nhiễm và phẫu thuật nhiễm.
Kháng sinh dự phòng đã được Bộ Y tế đưa vào "Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản" năm 2003, xác nhận tính hợp pháp cho việc áp dụng tại các cơ sở y tế trên toàn quốc Theo tài liệu hướng dẫn sử dụng kháng sinh ban hành kèm quyết định 708/QĐ-BYT năm 2015, kháng sinh dự phòng được chỉ định cho tất cả các can thiệp phẫu thuật sạch – nhiễm.
Các sản phụ được giải thích tất cả các lợi ích, nguy cơ, và đồng ý tham gia nghiên cứu mới được nhận vào nghiên cứu.
Các sản phụ tham gia nghiên cứu tự nguyện có quyền ngừng tham gia bất kỳ lúc nào nếu họ không muốn tiếp tục.
Không có sự phân biệt đối xử giữa các sản phụ đồng ý và không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Thông tin thu thập từ sản phụ chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, đảm bảo tính bảo mật và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của sản phụ tham gia nghiên cứu
3.1.1 Tuổi, địa chỉ và nghề nghiệp
Bảng 3.1 Phân bố các sản phụ theo tuổi, địa chỉ và nghề nghiệp Đặc điểm Số sản phụ Tỷ lệ (%)
Thành Phố Hồ Chí Minh
Trong nghiên cứu về kháng sinh dự phòng, đa số sản phụ tham gia có độ tuổi từ 30 trở lên, chiếm 56,7% Trong khi đó, có 17 trường hợp sản phụ dưới 20 tuổi, tương đương 5,7% Số lượng sản phụ trong độ tuổi từ 20 đến 29 là 113 trường hợp, chiếm 37,6% Tuổi trung bình của các sản phụ tham gia nghiên cứu là 31 ± 5,8 tuổi.
Sản phụ ở các Tỉnh, Thành phố khác có 126 trường hợp chiếm 42%, sản phụ ở Thành phố Hồ Chí Minh là 174 trường hợp chiếm 58 %.
Trong nghiên cứu, công nhân và nhân viên công chức là hai nhóm chiếm ưu thế với tỷ lệ lần lượt là 33,3% và 28,3% Ngoài ra, tỷ lệ nội trợ là 22%, trong khi buôn bán chiếm 11,7% và các ngành nghề khác chỉ chiếm 4,7%.
3.1.2 Tiền thai, vết mổ cũ
Bảng 3.2 Tiền thai, vết mổ cũ Đặc điểm Số sản phụ Tỷ lệ (%)
Số sản phụ đã sinh từ hai con trở lên có 155 sản phụ chiếm đa số 51,7%, số sản phụ con so có 145 sản phụ chiếm tỷ lệ 48,3%.
Trong nghiên cứu, có 145 sản phụ chưa từng mổ lấy thai, chiếm 48,3% tổng số, trong khi 131 sản phụ đã mổ lấy thai 1 lần, tương đương 43,7% Số sản phụ mổ lấy thai từ 2 lần trở lên chỉ chiếm 8%, với 24 trường hợp.
3.1.3 Phân bố trung bình các yếu tố trước mổ lấy thai
Bảng 3.3 Phân bố trung bình các yếu tố trước mổ lấy thai Đặc điểm Trung bình ± Độ lệch chuẩn
BMI trung bình trước mang thai
(17 – 37) Tuổi thai trung bình (tuần) 39,6 ± 0,6
(36 – 41) Thời gian nằm viện trước mổ (giờ) 8 ± 5
Máu mất trung bình (ml) 350 ± 130,4
Thời gian mổ lấy thai (phút) 45 ± 10
Bạch cầu trước mổ (k/ul) 9,6 ± 1
Thời gian nằm viện (ngày) 4,2 ± 0,9
Trung bình chỉ số khối cơ thể (BMI) của các sản phụ trước khi mang thai là 25,8 ± 3,3 (Kg/m²) Trong đó, chỉ số BMI cao nhất ghi nhận là 37, chiếm 0,7% với 2 thai phụ, trong khi chỉ số BMI thấp nhất là 17, chiếm 0,3% với 1 sản phụ.
Tuổi thai trung bình của sản phụ là 39,6 ± 0,6 (tuần) Tuổi thai thấp nhất là 36 tuần, tuổi thai cao nhất là 41 tuần.
Thời gian nằm viện trước khi phẫu thuật trung bình là 8 giờ, với khoảng dao động là ± 5 giờ Thời gian ngắn nhất bệnh nhân lưu lại trước mổ là 2 giờ, trong khi thời gian dài nhất có thể lên tới 48 giờ.
Máu mất trung bình 350 ± 130,4 (ml) Máu mất ít nhất là 200 ml, máu mất nhiều nhất là 950 ml.
Thời gian phẫu thuật trung bình là 45 ± 10 (phút) Thời gian phẫu thuật thấp nhất là 30 phút, thời gian phẫu thuật dài nhất là 80 phút.
Hemoglobin trước mổ trung bình 11,6 ± 1,2 (g/dl) Chỉ số hemoglobin trước mổ thấp nhất 9,7g/dl, Chỉ số hemoglobin trước mổ cao nhất 14,5g/dl
Bạch cầu trước mổ trung bình 9,6 ± 1 (k/ul) Chỉ số bạch cầu trước mổ thấp nhất 7,6k/ul, Chỉ số bạch cầu trước mổ cao nhất 12,3k/ul.
Thời gian nằm viện trung bình là 4,2 ± 0,9(ngày) Thời gian nằm viện ngắn nhất là 4 ngày, thời gian nằm viện dài nhất là 10 ngày.
Tỷ lệ các yếu tố trước và trong phẫu thuật
Bảng 3.4 Tỷ lệ các yếu tố trước và trong phẫu thuật Đặc điểm Số sản phụ Tỷ lệ (%)
Thời gian nằm viện trước mổ
Số lần khám âm đạo trước mổ
Trong nghiên cứu, thời gian nằm viện trước phẫu thuật của sản phụ cho thấy 278 trường hợp, chiếm 92,7%, nằm viện dưới 24 giờ, trong khi chỉ có 22 sản phụ có thời gian nằm viện dài hơn.
Số lần khám âm đạo < 6 lần là 294 sản phụ chiếm đa số 98%, số lần khám âm đạo ≥ 6 lần là 6 sản phụ chiếm 2%.
Trong một nghiên cứu về sản phụ trước phẫu thuật, 276 sản phụ, chiếm 92%, có ối chưa vỡ, trong khi 24 sản phụ, tương đương 8%, có ối vỡ dưới 6 giờ Đường mở bụng chủ yếu là đường ngang, với 297 sản phụ, chiếm 99%.
Trong số các sản phụ, chỉ có 1% thực hiện mổ dọc do vết mổ trước đó Trong khi đó, 100% các ca sinh mổ đều sử dụng đường rạch ngang ở đoạn dưới tử cung để lấy bé.
Các sản phụ tham gia nghiên cứu đa số chưa chuyển dạ có 282 sản phụ chiếm 94%, có chuyển dạ có 18 sản phụ chiếm 6%.
Các sản phụ tham gia nghiên cứu Hemoglobin trước mổ bình thường có
127 sản phụ chiếm 42,3%, hemoglobin trước mổ thiếu máu nhẹ có 173 sản phụ chiếm 57,7%.
Các sản phụ tham gia nghiên cứu bạch cầu trước mổ bình thường có 293 sản phụ chiếm 97,7%, bạch cầu trước mổ tăng có 7 sản phụ chiếm 2,3%.
Kết quả sau phẫu thuật
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm khuẩn hậu phẫu
Kết quả sau phẫu thuật Tần suất Tỷ lệ (%) Nhiễm khuẩn vết mổ
Viêm nội mạc tử cung
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ lành vết mổ đạt 98,7% (296/300), trong khi tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ nông chỉ là 1% (3/300) và nhiễm khuẩn vết mổ sâu là 0,3% (1/300) Đặc biệt, không có sản phụ nào gặp phải tình trạng nhiễm khuẩn cơ quan hoặc khoang cơ thể.
Sản phụ 30 tuổi, làm công nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhập viện để sinh con thứ hai khi thai 40 tuần chưa chuyển dạ Trước khi mổ, chỉ số BMI của sản phụ là 28 kg/m², bạch cầu 13 k/ul và hemoglobin 8 g/dl Sau 6 giờ nằm viện và qua 2 lần khám âm đạo, sản phụ được chỉ định mổ lấy thai bằng phương pháp gây tê tủy sống Cuộc mổ kéo dài 64 phút với tổng lượng máu mất là 950ml, và sản phụ được tiêm thêm 1 liều Cefazolin sau 4 giờ Sau phẫu thuật, sản phụ được chuyển đến khu vực hồi sức để theo dõi.
Bệnh nhân có dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau tại vết mổ, kèm theo dịch mủ chảy ra và sốt 38.5°C Kết quả phân lập vi khuẩn từ dịch tiết cho thấy sự hiện diện của cầu khuẩn gram dương Staphylococcus aureus Bệnh nhân được điều trị theo kháng sinh đồ và đã xuất viện sau 10 ngày điều trị.
Sản phụ II, 36 tuổi, nội trợ tại Long An, có tiền sử sinh mổ một lần Nhập viện khi thai 40 tuần mà chưa chuyển dạ, với BMI trước mang thai là 25 kg/m² Sau 8 giờ nằm viện và 4 lần khám âm đạo, sản phụ được chỉ định mổ lấy thai do Bạch cầu 13k/ul và Hemoglobin 8 g/dl Cuộc phẫu thuật kéo dài 60 phút với mất máu tổng cộng 400ml, sử dụng gây tê tủy sống và tiêm Cefazolin Sau mổ, sản phụ sốt 38.5°C vào ngày thứ 4, vết mổ sưng, nóng, đỏ, và chảy dịch mủ Kết quả phân lập vi khuẩn từ dịch tiết cho thấy có Staphylococcus aureus (+) Sản phụ được điều trị theo kháng sinh và xuất viện sau 10 ngày.
Sản phụ 37 tuổi, đã trải qua 2 lần sinh mổ, nhập viện khi thai được 40 tuần mà chưa chuyển dạ Với BMI trước mang thai là 25 kg/m², sản phụ được gây tê tủy sống và thực hiện phẫu thuật lấy thai sau 10 giờ nhập viện Cuộc mổ kéo dài 50 phút, mất 900ml máu, và được tiêm thêm Cefazolin Sau phẫu thuật, sản phụ sốt 38.5°C vào ngày thứ 4, với vết mổ sưng, nóng, đỏ và có dịch mủ chảy ra Kết quả cấy vi khuẩn cho thấy có Staphylococcus aureus Sản phụ được điều trị theo kháng sinh và xuất viện vào ngày thứ 10.
Sản phụ 27 tuổi, làm công nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã trải qua 2 lần sinh mổ và 1 lần thai ngoài tử cung bên phải, cùng với 1 lần sảy thai 6 tuần Nhập viện lần thứ ba khi thai được 36 tuần, sản phụ có chỉ số BMI trước mang thai là 33 kg/m², đã nằm viện 48 giờ trước khi mổ Sau khi khám âm đạo 8 lần và phát hiện ối vỡ tự nhiên, chỉ số bạch cầu trước mổ là 11k/µl và hemoglobin là 14g/dl, sản phụ được chỉ định mổ lấy thai Cuộc phẫu thuật kéo dài 74 phút với lượng máu mất 950ml, trong đó có tiêm thêm 1 liều Cefazolin sau 4 giờ Sau 3 ngày ở hậu phẫu, sản phụ đã xin xuất viện sớm.
Hai ngày sau khi xuất viện, nghiên cứu viên và cộng sự đã kiểm tra vết mổ và nhận thấy tình trạng ổn Tuy nhiên, vào ngày thứ bảy, sản phụ đã gọi điện thông báo vết mổ sưng, nóng, đỏ, đau và có dịch mủ chảy ra, kèm theo sốt 38.5°C Sản phụ được nhập viện lần hai và thực hiện mổ thoát lưu dịch mủ, cắt lọc vết thương và cấy dịch mủ Chúng tôi đã chăm sóc vết thương tại chỗ, thay băng, rửa vết mổ và âm hộ âm đạo hai lần mỗi ngày, đồng thời điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ Trong khi chờ kết quả, chúng tôi đã sử dụng Meropenem, Metronidazol và Amikacin Sau hai ngày, kết quả cấy dịch mủ cho thấy sự hiện diện của Staphylococcus aureus, nhạy cảm với kháng sinh.
Chúng tôi đã sử dụng Meropenem trong 10 ngày và thực hiện thay băng rửa vết thương hàng ngày Sau 7 ngày, vết mổ đã khô, hai mép vết mổ mềm, không đau, không đỏ nóng, và đáy vết mổ không còn giả mạc với mô hạt phát triển tốt Sản phụ đã được may vết mổ và xuất viện vào ngày thứ 10, đồng thời được hướng dẫn cắt chỉ tại trạm y tế sau 5 ngày.
Chúng tôi đã ghi nhận 14 ca vết mổ nề ở sản phụ trong thời gian nằm viện Tuy nhiên, những trường hợp này không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ và không cần điều trị kháng sinh bổ sung.
2: Nhiễm khuẩn vết mổ nông
3: Nhiễm khuẩn vết mổ sâu
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ lành vết mổ
Các yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ
3.4.1 Tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp và nhiễm khuẩn vết mổ
Bảng 3.6 Tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp và nhiễm khuẩn vết mổ.
Yếu tố VM lành NKVM POR (KTC 95%) P
Thành phố Hồ Chí Minh 172 (98,9%) 2 (1,1%)
Làm ruộng và khác 14 (100%) 0 (0%) ٭ Binary Logistic, phép kiểm Fisher Exact
Tuổi: có 1 sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ nông thuộc nhóm tuổi 25→ 29 tuổi.
Có 2 sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ nông, 1 sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ sâu thuộc nhóm tuổi ≥ 30 tuổi Không có liên quan giữa tuổi của sản phụ với nhiễm khuẩn vết mổ, với POR = 0,984 khoảng tin cậy 95% (0,970 – 1,000), p = 0,417. Địa chỉ: có 2 sản phụ trong tổng số 174 sản phụ sống tại Hồ Chí Minh bị nhiễm khuẩn vết mổ, 1 sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ nông, 1 sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ sâu Có 2 sản phụ trong tổng số 126 sản phụ sống tại Tỉnh, Thành phố khác bị nhiễm khuẩn vết mổ nông Không có liên quan giữa nơi ở của sản phụ với nhiễm khuẩn vết mổ, với POR = 0,721 khoảng tin cậy 95% (0,1 –
Trong nghiên cứu, có một sản phụ làm nghề nội trợ bị nhiễm khuẩn vết mổ, cùng với ba sản phụ làm công nhân cũng gặp tình trạng tương tự Tuy nhiên, không có mối liên quan rõ ràng giữa nghề nghiệp và nhiễm khuẩn vết mổ, với tỷ lệ odds ratio (POR) là 0,976 và khoảng tin cậy 95% là từ 0,953 đến 1,000, cùng với giá trị p là 0,131.
3.4.2 Tiền thai, vết mổ cũ và nhiễm khuẩn vết mổ
Bảng 3.7 Tiền thai, vết mổ cũ và nhiễm khuẩn vết mổ.
Các yếu tố VM lành NKVM POR (KTC 95%) P Tiền sử sinh
3 (12%) 7,875 (1,948– 31,835) 0,004 ٭ ٭ Binary Logistic, phép kiểm Fisher Exact
Nghiên cứu cho thấy tiền sử sinh 4 ở sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ thuộc nhóm con rạ có tỷ lệ odds ratio (POR) là 1,026 với khoảng tin cậy 95% từ 1,001 đến 1,053 và p = 0,051 Kết quả này chỉ ra rằng không có mối liên hệ rõ ràng giữa số con và nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ.
Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa nhiễm khuẩn vết mổ và tiền căn mổ lấy thai, với tỷ lệ nhiễm khuẩn cao hơn ở sản phụ đã mổ lấy thai từ 2 lần trở lên (3/25) so với nhóm chỉ mổ 1 lần (1/130), với POR = 7,875 và p = 0,004 Sự biến đổi cấu trúc sau mỗi lần mổ, cùng với tăng sinh mạch máu bất thường và thiếu máu nuôi cục bộ, có thể làm tăng nguy cơ chảy máu và chậm lành vết thương, dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn cao hơn Tuy nhiên, cỡ mẫu nhỏ trong nghiên cứu này có thể không phản ánh chính xác mối liên quan, do đó cần có các nghiên cứu tiếp theo để xác định rõ hơn và đề xuất biện pháp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn cho nhóm sản phụ có tiền căn mổ lấy thai.
3.4.3 Đường rạch da, thời gian phẫu thuật, máu mất và nhiễm khuẩn vết mổ.
Bảng 3.8 Đường rạch da, thời gian phẫu thuật, máu mất và nhiễm khuẩn vết mổ.
Các yếu tố VM lành NKVM POR (KTC 95%) P Đường rạch da
3 (11,5%) 35,609 (3,560 – 358,175) 0,002 ٭ ٭ Binary Logistic, phép kiểm Fisher Exact
Trong nghiên cứu về phương pháp mổ lấy thai, hầu hết sản phụ được thực hiện mổ bụng qua đường rạch da ngang trên vệ, với tổng số 297 sản phụ Trong số này, có 2 sản phụ gặp phải nhiễm khuẩn vết mổ nông và 1 sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ sâu Đường mổ dọc chỉ được áp dụng cho những sản phụ đã có mổ dọc trước đó, với 3 trường hợp mổ dọc và 1 sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ nông Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ là POR = 0,02 với khoảng tin cậy 95% (0,001– 0,291) và p = 0,028.
Có liên quan giữa đường rạch da với nhiễm khuẩn vết mổ.
Trong nghiên cứu, thời gian phẫu thuật dưới 60 phút có 278 trường hợp, chiếm 99,3%, trong đó ghi nhận 2 sản phụ bị nhiễm khuẩn vết mổ nông Ngược lại, thời gian phẫu thuật từ 60 phút trở lên có 1 sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ nông và 1 sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ sâu.
= 13,8 khoảng tin cậy 95% (1,846–103,182), p = 0,028 Tìm thấy mối liên quan giữa thời gian phẫu thuật với nhiễm khuẩn vết mổ.
Trong nghiên cứu, có 274 sản phụ mất máu dưới 500 ml, trong đó chỉ có 1 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ nông Trong khi đó, 26 sản phụ mất máu từ 500 ml trở lên, trong đó có 2 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ nông và 1 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ sâu Kết quả cho thấy mối liên quan giữa lượng máu mất và nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ, với POR là 35,609 và khoảng tin cậy 95% từ 3,560 đến 358,175, p = 0,002.
3.4.4 Thời gian nằm viện trước mổ, ối vỡ, số lần khám âm đạo, đặc điểm ối và nhiễm khuẩn vết mổ
Bảng 3.9 Thời gian nằm viện trước mổ, ối vỡ, số lần khám âm đạo, đặc điểm ối và nhiễm khuẩn vết mổ.
Các yếu tố VM lành NKVM POR (KTC 95%) P Thời gian nằm viện trước mổ
Chưa vỡ ối vỡ < 6 giờ
Số lần khám âm đạo trước mổ
1,014 (1,000– 1,028) 1,000 ٭ ٭ Binary Logistic, phép kiểm Fisher Exact
Nghiên cứu cho thấy, trong số 294 sản phụ nằm viện trước phẫu thuật dưới 24 giờ, không có trường hợp nào bị nhiễm khuẩn vết mổ Ngược lại, trong 6 sản phụ nằm viện từ 24 giờ trở lên, có 3 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ nông và 1 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ sâu Thời gian nằm viện trước phẫu thuật không có mối liên hệ với nhiễm khuẩn vết mổ, với POR 0,333 và khoảng tin cậy 95% từ 0,108 đến 1,034 (p = 0,141) Đối với tình trạng ối, trong số 274 sản phụ chưa vỡ ối, chỉ có 3 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ nông Trong khi đó, 26 sản phụ có ối vỡ dưới 6 giờ chỉ ghi nhận 1 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ sâu Kết quả cho thấy, tình trạng ối chưa vỡ hoặc vỡ dưới 6 giờ cũng không liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ, với POR = 3,613 và khoảng tin cậy 95% từ 0,362 đến 36,038 (p = 0,305).
Trong nghiên cứu, 294 sản phụ có số lần khám âm đạo trước mổ dưới 6 lần không ghi nhận ca nhiễm khuẩn vết mổ nào Ngược lại, trong số 6 sản phụ có số lần khám âm đạo trước mổ từ 6 lần trở lên, có 3 ca nhiễm khuẩn vết mổ nông và 1 ca nhiễm khuẩn vết mổ sâu Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa số lần khám âm đạo trước mổ và nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ, với tỷ lệ odds ratio (POR) là 0,333 và khoảng tin cậy 95% từ 0,108 đến 1,034, cùng với giá trị p là 0,141.
Trong một nghiên cứu về tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ ở sản phụ, nhóm nước ối màu trắng đục có 287 sản phụ, trong đó ghi nhận 3 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ nông và 1 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ sâu Ngược lại, nhóm nước ối màu xanh và vàng không có sản phụ nào bị nhiễm khuẩn Kết quả cho thấy màu sắc nước ối không liên quan đến tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ, với tỷ lệ Odds Ratio (POR) là 1,014 và khoảng tin cậy 95% từ 1,000 đến 1,028, p = 1,000.
3.4.5 Tình trạng chuyển dạ, thời gian nằm viện, BMI trước mang thai và nhiễm khuẩn vết mổ
Bảng 3.10 Tình trạng chuyển dạ, thời gian nằm viện, BMI trước mang thai và nhiễm khuẩn vết mổ.
Các yếu tố VM lành NKVM POR (KTC 95%) P
0,978 (0,956 – 1,000) 0,153 ٭ ٭ Binary Logistic, phép kiểm Fisher Exact
Trong giai đoạn chưa chuyển dạ, có 282 sản phụ, trong đó ghi nhận 3 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ nông và 1 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ sâu Ngược lại, trong giai đoạn có chuyển dạ, không có sản phụ nào bị nhiễm khuẩn vết mổ, cho thấy không có mối liên hệ giữa giai đoạn chuyển dạ và nhiễm khuẩn vết mổ, với tỷ lệ odds ratio (POR) là 0,986 và khoảng tin cậy 95% từ 0,972 đến 1,000, p = 1,000.
Nghiên cứu cho thấy, trong số 293 sản phụ nằm viện dưới 7 ngày, chỉ có 2 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ, bao gồm 1 ca nhiễm khuẩn nông và 1 ca nhiễm khuẩn sâu Trong khi đó, ở nhóm sản phụ nằm viện từ 7 ngày trở lên, có 7 trường hợp, trong đó 2 ca nhiễm khuẩn vết mổ nông Kết quả cho thấy thời gian nằm viện ngắn hơn 7 ngày có liên quan đến việc giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ.
≥ 7 ngày với POR= 0,017 khoảng tin cậy 95% (0,002 – 0,148), p = 0,003.
Trong một nghiên cứu về mối liên hệ giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) trước mang thai và nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ, có 156 sản phụ thừa cân, trong đó 3 người bị nhiễm khuẩn vết mổ nông Đối với nhóm có BMI béo phì, có 24 sản phụ, trong đó 1 người gặp phải nhiễm khuẩn vết mổ sâu Kết quả cho thấy BMI trước mang thai không có mối liên hệ đáng kể với nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ, với POR = 0,978 và khoảng tin cậy 95% từ 0,956 đến 1,000, p = 0,153.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của sản phụ tham gia nghiên cứu
4.1.1 Tuổi, địa chỉ và nghề nghiệp
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 56,7% sản phụ tham gia có độ tuổi từ 30 trở lên, với tuổi trung bình là 31 ± 5,8 tuổi Sự gia tăng độ tuổi kết hôn của nữ giới phản ánh sự phát triển của xã hội, khi tuổi kết hôn trung bình lần đầu đã tăng từ 22,8 tuổi vào năm 2009 lên 23,1 tuổi vào năm 2019 Đặc biệt, tuổi kết hôn lần đầu của nữ giới ở thành phố thường cao hơn so với khu vực nông thôn.
Bảng 4.1 Tuổi trung bình của một số mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu N (số ca) Tuổi trung bình
Khi so sánh tuổi trung bình của sản phụ trong nghiên cứu của chúng tôi với các nghiên cứu khác, tuổi trung bình là 31 ± 5,8, cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Khuyên Cụ thể, tác giả Huỳnh Thị Ngọc Hạnh ghi nhận tuổi trung bình là 30,4 ± 5,3, với nhóm tuổi 24 – 30 chiếm 48,4% Tác giả Bashier Osman và Amna Abbas có tuổi trung bình là 30,5 ± 7,4, trong khi tác giả Lê Thị Hồng Vân ghi nhận tuổi trung bình là 30,07 ± 4,18 Những kết quả này cho thấy sự khác biệt trong độ tuổi của các sản phụ tham gia nghiên cứu.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có một sản phụ trong nhóm tuổi 25-29 bị nhiễm khuẩn vết mổ nông, trong khi nhóm tuổi ≥ 30 ghi nhận hai sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ nông và một sản phụ nhiễm khuẩn vết mổ sâu Kết quả cho thấy không có mối liên hệ giữa tuổi tác của sản phụ và nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ, với tỷ lệ Odds Ratio (POR) là 0,984 và khoảng tin cậy 95% từ 0,970 đến 1,000, p = 0,417.
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, sản phụ ở Thành phố Hồ Chí Minh là
Trong tổng số 174 trường hợp, 58% là thai phụ sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu là công nhân và nhân viên công chức, chiếm lần lượt 33,3% và 28,3% Sự gia tăng này phù hợp với bối cảnh thành phố vừa trải qua đại dịch COVID-19, dẫn đến nhiều tổn thất về sức khỏe, tinh thần và vật chất Để thu hút người dân từ các tỉnh khác trở lại, các nhà lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành chính sách hỗ trợ cho các công ty và khu công nghiệp lớn Chính vì vậy, số lượng thai phụ tham gia nghiên cứu chủ yếu là công nhân và nhân viên công chức.
Hồ Chí Minh ghi nhận có 1 sản phụ bị nhiễm khuẩn vết mổ nông và 1 sản phụ bị nhiễm khuẩn vết mổ sâu trong tổng số 126 sản phụ từ các tỉnh, thành phố khác Nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ giữa nơi ở của sản phụ và nhiễm khuẩn vết mổ, với POR = 0,721 và p = 0,744 Đa số sản phụ là công nhân và nhân viên công chức vừa trải qua đại dịch COVID-19, ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần và điều kiện sống, dẫn đến khả năng nhiễm khuẩn vết mổ Tuy nhiên, cỡ mẫu nghiên cứu có thể chưa đủ lớn để đưa ra kết luận chính xác Cần tiến hành điều tra xã hội học để đánh giá điều kiện sống và môi trường làm việc của công nhân và nhân viên công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4.1.2 Tiền thai, tuổi thai, vết mổ cũ
Trong nghiên cứu, 51,7% sản phụ đã sinh từ một con trở lên, trong khi 48,3% là sản phụ con so Tỷ lệ mổ lấy thai giữa sản phụ lần đầu và lần 2 trở lên gần như tương đương, với phần lớn quyết định sinh con của nhóm sản phụ mổ lần 2 bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 Kết quả nghiên cứu không cho thấy mối liên quan giữa số con và nhiễm khuẩn vết mổ, với POR = 1,026 và khoảng tin cậy 95% là (1,001-1,053), p = 0,051 So với các nghiên cứu khác, kết quả này cung cấp cái nhìn mới về tình hình sinh nở trong bối cảnh dịch bệnh.
Nghiên cứu Sinh con rạ (%) Sinh con so (%)
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ sinh con rạ cao hơn so với sinh con so, tương đồng với nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Ngọc Hạnh.
Theo nghiên cứu của Huỳnh Kim Khoe và Nguyễn Ngọc Khuyên, tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ sinh con so cao hơn so với sản phụ sinh con rạ Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ này lại ngược lại, có thể do 51,7% sản phụ sinh con rạ đã có vết mổ cũ và được mổ lại.
Tuổi thai trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 39,6 ± 0,6 tuần, cho thấy chỉ định mổ lấy thai chủ yếu được thực hiện ở thai kỳ đủ trưởng thành Việc thực hiện mổ lấy thai vào thời điểm này giúp đảm bảo sức khỏe cho sơ sinh và giảm thiểu các biến chứng liên quan đến sinh non.
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa vết mổ cũ và nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ ở sản phụ Cụ thể, trong số 130 sản phụ đã từng trải qua phẫu thuật lấy thai một lần, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ đáng chú ý cần được xem xét.
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa nhiễm khuẩn vết mổ và tiền căn mổ lấy thai ở sản phụ Trong số 25 sản phụ mổ lấy thai ≥ 2 lần, có 3 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở nhóm sản phụ đã mổ lấy thai từ 2 lần trở lên cao hơn đáng kể so với nhóm chưa mổ, với POR = 7,875 (khoảng tin cậy 95%: 1,948 – 31,835) và p = 0,004 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Huỳnh Kim Khoe.
Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở những trường hợp có vết mổ cũ cao gấp 3 lần so với vết mổ lần đầu, do vết mổ cũ thường gặp khó khăn hơn trong quá trình phẫu thuật, thời gian mổ kéo dài và mô bị tác động nhiều hơn Nghiên cứu của Lê Thị Thu Hà cũng chỉ ra rằng vết mổ cũ dính làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ với tỷ lệ OR 4, KTC 95% (2,57 - 8,34), p