1.1 T ổng quan về suy tim mạn
Ch ất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy tim mạn
Mục tiêu chăm sóc sức khỏe y khoa không chỉ là kéo dài tuổi thọ mà còn giảm triệu chứng và cải thiện sức khỏe tổng thể Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sức khỏe được định nghĩa là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật Chất lượng cuộc sống (CLCS) là khái niệm bao quát nhiều khía cạnh của đời sống con người, trong đó CLCS liên quan đến sức khỏe chú trọng vào ảnh hưởng của bệnh tật và hiệu quả điều trị, bao gồm triệu chứng, hoạt động thể lực, tình trạng tinh thần và tương tác xã hội CLCS là một kết cục quan trọng, tương đương với tỷ lệ tử vong và tái nhập viện ở bệnh nhân suy tim Đánh giá bệnh sử bệnh nhân là một phương pháp để xem xét hiệu quả điều trị, tuy nhiên, các công cụ đánh giá CLCS tiêu chuẩn hóa mang lại độ tin cậy cao hơn và toàn diện hơn trong việc phản ánh lợi ích cũng như hạn chế của các can thiệp điều trị.
Suy tim mạn là bệnh lý nghiêm trọng làm giảm chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân, thậm chí còn tồi tệ hơn so với các bệnh lý như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và đột quỵ CLCS của bệnh nhân suy tim có mối liên hệ chặt chẽ với tỷ lệ tái nhập viện và tử vong, do đó, việc cải thiện CLCS được xem là một trong ba mục tiêu chính trong điều trị Mặc dù các chỉ số như tử vong và tái nhập viện dễ đo lường, CLCS lại khó đánh giá một cách khách quan chỉ dựa vào bệnh sử và thăm khám lâm sàng Từ năm 2019, FDA đã chấp thuận các thuốc và dụng cụ chỉ cần dựa vào bằng chứng cải thiện CLCS Bệnh nhân thường gặp khó khăn trong các hoạt động hàng ngày do triệu chứng cơ năng, vấn đề tâm lý và tác động của điều trị, dẫn đến sự giảm tương tác xã hội và vai trò trong cộng đồng CLCS là một đánh giá chủ quan dựa trên cảm nhận của bệnh nhân về sức khỏe của họ so với mức tối ưu mong muốn, và việc đánh giá CLCS nên được thực hiện thường xuyên trong các lần tái khám để phát hiện sớm sự suy giảm và có biện pháp can thiệp kịp thời.
Các thang đo chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy tim mạn
Trong nghiên cứu về bệnh nhân suy tim, có nhiều thang đo đánh giá chất lượng cuộc sống sức khỏe (CLCS) được phân loại thành hai nhóm chính: nhóm dành cho các bệnh mạn tính chung và nhóm chuyên biệt cho bệnh nhân suy tim mạn Nhóm thang đo cho bệnh mạn tính bao gồm Nottingham Health Profile (NHP) và Sickness Impact.
Cả thang đo NHP và SIP đều có nhược điểm là không nhạy với sự thay đổi triệu chứng ở bệnh nhân suy tim mạn, trong đó NHP đặc biệt chú trọng đến triệu chứng đau không điển hình của bệnh Mặc dù thang đo SF-36 có ưu điểm phù hợp cho thử nghiệm lâm sàng và so sánh dự hậu ở bệnh nhân suy tim mạn, nhưng lại gặp khó khăn trong việc áp dụng cho bệnh nhân lớn tuổi do thường bỏ trống phần trả lời về công việc và hoạt động thể lực cường độ cao.
Các thang đo dành cho bệnh nhân suy tim mạn bao gồm QLQ-SHF, Chronic Heart Failure Questionnaire, MLHFQ và KCCQ Trong đó, QLQ-SHF có độ nhạy vừa phải nhưng phức tạp và cần người phỏng vấn được đào tạo KCCQ và MLHFQ được khuyến cáo sử dụng vì đánh giá toàn diện triệu chứng suy tim và có giá trị tiên lượng MLHFQ với 21 câu hỏi tập trung vào ba lĩnh vực: thể chất, kinh tế xã hội và tâm lý, dễ hiểu và dễ sử dụng, nhưng không phân biệt rõ mức độ nặng của suy tim KCCQ, phát triển từ năm 1996 và công bố năm 2000, đã trở thành công cụ phổ biến trong các nghiên cứu lâm sàng để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy tim.
Nghiên cứu của Yee và cộng sự (2019) trên 738 bệnh nhân suy tim mạn cho thấy KCCQ có khả năng tiên lượng tốt hơn MLHFQ trong việc dự đoán tử vong, ghép tim và sử dụng dụng cụ hỗ trợ thất, với c-statistic lần lượt là 0,702 so với 0,658 (p 6 METs) Các lựa chọn từ 1 đến 5 đánh giá mức độ hạn chế thể lực, từ rất giới hạn đến không bị giới hạn, trong khi lựa chọn thứ 6 dành cho bệnh nhân không hoạt động thể lực hoặc bị hạn chế do nguyên nhân khác, như viêm khớp Mỗi thay đổi một mức độ lựa chọn trong câu trả lời của lĩnh vực giới hạn thể lực sẽ dẫn đến sự thay đổi 4,2 điểm trong KCCQ-23 và 8,3 điểm trong KCCQ-12.
Hình 1.7: Thay đổi câu trả lời ảnh hưởng đến điểm KCCQ
Sự thay đổi điểm KCCQ theo thời gian có liên quan mật thiết đến kết cục lâm sàng, với ngưỡng thay đổi 5 điểm mang ý nghĩa quan trọng Nghiên cứu của Kosiborod và cộng sự năm 2007 chỉ ra rằng cải thiện mỗi 5 điểm KCCQ giảm 10% nguy cơ các kết cục lâm sàng xấu, trong khi giảm mỗi 5 điểm KCCQ làm tăng 10% nguy cơ tử vong do tim mạch và tử vong tổng quát Hơn nữa, sự thay đổi điểm KCCQ có mối tương quan tuyến tính thống kê với kết cục lâm sàng Thay đổi điểm KCCQ cũng liên quan đến khả năng gắng sức, được đánh giá qua nghiệm pháp đi bộ 6 phút (6MWT) và nghiệm pháp gắng sức tim phổi (CPET) Nghiên cứu HF-ACTION của Flynn và cộng sự cho thấy sự thay đổi 5 điểm KCCQ cải thiện quãng đường đi được trung bình 112 m và tăng VO2 2,5 mL/kg/phút.
Bảng 1.1: Tương quan lâm sàng của sự thay đổi điểm KCCQ
Thay đổi quãng đường đi được 6MWT (m)
Thay đổi VO2 (mL/kg/phút)
Tỷ số số chênh tử vong/ nhập viện (%)
Tỷ số số chênh tử vong (%)
Thay đổi nhiều - rất nhiều (20 điểm) 450 10 52 42
1.4.4 Sử dụng thang đo KCCQ trong các thử nghiệm lâm sàng
Hầu hết các nghiên cứu lâm sàng đều tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp thông qua việc so sánh sự khác biệt về điểm số trung bình hoặc sự thay đổi điểm số giữa các nhóm.
Các nghiên cứu SHIFT, PARADIGM-HF, HF-ACTION và TOPCAT cho thấy sự khác biệt trung bình về điểm KCCQ giữa nhóm điều trị và giả dược lần lượt là 2,4 điểm, 1,3 điểm, 1,9 điểm và 1,5 điểm, với tất cả các khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê Mặc dù các kết quả này cho thấy lợi ích điều trị, khi áp dụng nguyên tắc “thay đổi 5 điểm là tương đối nhỏ nhưng có ý nghĩa lâm sàng quan trọng”, có thể kết luận rằng lợi ích từ các phương pháp điều trị này có ý nghĩa thống kê nhưng không có ý nghĩa lâm sàng Tuy nhiên, việc này có thể được coi là lạm dụng nguyên tắc, vì nó bỏ qua sự khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân Nguyên tắc này chỉ nên được áp dụng khi không có yếu tố gây nhiễu và có sự đồng nhất trong hiệu quả điều trị giữa các bệnh nhân.
Nhìn chung, yếu tố quan trọng trong đánh giá hiệu quả phương pháp lượng giá
CLCS, như một thang đo KCCQ, giúp xác định tình trạng sức khỏe ban đầu của bệnh nhân Khi điểm số trung bình KCCQ có sự khác biệt thống kê, cần phân nhóm bệnh nhân theo các mức thay đổi điểm KCCQ 5, 10 hoặc 20 điểm để so sánh tỷ lệ bệnh nhân có sự thay đổi lâm sàng quan trọng giữa các phương thức điều trị Trong nghiên cứu DEFINE-HF, Nassif và cộng sự ghi nhận rằng nhóm dapaglifozin có sự cải thiện trung bình điểm KCCQ cao hơn 3,7 điểm so với giả dược (p 0,037) và phân nhóm thay đổi điểm KCCQ 50 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tiến triển nặng thấp hơn ở nhóm dapaglifozin (18% so với 25% giả dược) Hơn nữa, tỷ lệ bệnh nhân có cải thiện điểm KCCQ ≥5 điểm ở nhóm dapaglifozin cũng cao hơn đáng kể (43% so với 33%), cho thấy hiệu quả cải thiện CLCS rõ ràng hơn khi phân nhóm sự thay đổi điểm KCCQ.
1.4.5 Sử dụng thang đo KCCQ trong thực hành lâm sàng
Thang đo KCCQ là một công cụ chuẩn hóa quan trọng, tập trung vào tác động của suy tim đối với triệu chứng, chức năng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Mặc dù các bác sĩ có thể thu thập thông tin bệnh sử tốt hơn, nhưng những yếu tố như sự bận rộn và xao nhãng trong thực hành lâm sàng có thể làm thay đổi thông tin này theo thời gian Do đó, KCCQ nên trở thành một phần tiêu chuẩn trong quá trình thăm khám Nó giúp bác sĩ nhanh chóng đánh giá tình trạng bệnh nhân giống như việc kiểm tra sinh hiệu Ngoài ra, thang đo KCCQ có giá trị tiên lượng về tử vong và tái nhập viện, với điểm số gần nhất được cho là có ý nghĩa tiên lượng tốt nhất Việc sử dụng thang đo KCCQ lặp lại sẽ giúp theo dõi và đánh giá liên tục nguy cơ của bệnh nhân.
Sơ lược các nghiên cứu trong và ngoài nước
1.5.1 Nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy tim
Nghiên cứu của Green năm 2000 tại Hoa Kỳ đã sử dụng thang đo KCCQ để đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) ở 70 bệnh nhân suy tim mạn và 59 bệnh nhân suy tim cấp, cho thấy điểm KCCQ thay đổi ít ở bệnh nhân suy tim mạn ổn định sau 3 tháng theo dõi, trong khi có sự thay đổi đáng kể ở bệnh nhân suy tim mạn mất bù Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng KCCQ có độ nhạy cao hơn so với thang đo MLHFQ và SF-36 Kết luận cho thấy KCCQ là thang đo đáng tin cậy để đánh giá CLCS và kết cục lâm sàng trong các nghiên cứu tim mạch.
Nghiên cứu của tác giả Angela M.Gallagher và cộng sự năm 2018 tiến hành trên
163 bệnh nhân suy tim tại Anh, đánh giá CLCS qua 3 thang đo MLHFQ, KCCQ,
EQ-5D-3L, có 94% bệnh nhân sẵn lòng tham gia nghiên cứu, chứng minh được
Nghiên cứu cho thấy thang đo NYHA có mối tương quan chặt chẽ hơn với KCCQ (-0,61) so với MLHFQ (0,59) Ba thang đo đánh giá chất lượng cuộc sống có sự tương quan tốt với nhau, đặc biệt là giữa MLHFQ và KCCQ với hệ số r = -0,88 và p < 0,01 Tuy nhiên, không có mối liên quan nào được phát hiện giữa các yếu tố nhân khẩu học, PSTM, BNP và chức năng thận với bất kỳ thang đo nào về chất lượng cuộc sống.
Nghiên cứu Alberta HEART tại Canada, do Sepehrvand thực hiện, đã thu thập dữ liệu từ 621 bệnh nhân trong giai đoạn 2010-2014, chia thành bốn nhóm: người khỏe mạnh, người có nguy cơ suy tim, suy tim PSTM bảo tồn và suy tim PSTM giảm Kết quả cho thấy điểm KCCQ trung vị là 73 ở nhóm suy tim PSTM bảo tồn và 78 ở nhóm suy tim PSTM giảm Sau 12 tháng theo dõi, 30,5% bệnh nhân suy tim đã cải thiện ≥5 điểm, mà không có sự khác biệt giữa hai nhóm suy tim Nhóm có điểm KCCQ giảm sau 12 tháng gặp nhiều biến cố lâm sàng hơn so với nhóm có điểm KCCQ ổn định Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự thay đổi NTproBNP là yếu tố tiên đoán độc lập cho sự thay đổi điểm KCCQ sau 12 tháng, mặc dù có ít sự tương quan giữa CLCS và sự thay đổi NTproBNP theo thời gian.
1.5.2 Nghiên cứu đánh giá điều trị nội khoa lên cải thiện chất lượng cuộc sống qua thang đo KCCQ ở bệnh nhân suy tim PSTM giảm
Nghiên cứu SHIFT của Swedberg (2010) cho thấy ivabradine cải thiện điểm KCCQ tổng thể ở bệnh nhân suy tim mạn PSTM, cao hơn 2,4 điểm so với nhóm chứng Nghiên cứu PARADIGM-HF của McMurray (2014) cũng xác nhận sacubitril/valsartan cải thiện điểm KCCQ tổng thể 1,13 điểm so với enalapril sau 8 tháng điều trị Thêm vào đó, nghiên cứu của Stephen J Greene (2019) tại Hoa Kỳ trên 2588 bệnh nhân suy tim mạn PSTM cũng chỉ ra sự khác biệt trong điểm KCCQ tổng thể giữa các nhóm thuốc.
ACE-i, ARB, ARNI, chẹn beta cao hơn khi đạt được liều đích ổn định so với nhóm không điều trị hoặc chưa đạt liều đích 55
1.5.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu của Lương Thị Thu Giang và cộng sự năm 2020 tại bệnh viện đa khoa Kiến An, Hải Phòng, đã khảo sát 104 bệnh nhân suy tim nội trú và ghi nhận điểm trung bình chất lượng cuộc sống đạt 57,16 ± 15,24 điểm Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về chất lượng cuộc sống giữa nam và nữ, nhưng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo mức độ nặng của bệnh Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện tuổi có mối tương quan thuận với chất lượng cuộc sống, với hệ số tương quan là 0,64.
Tại miền Nam, hai nghiên cứu về chất lượng cuộc sống (CLCS) ở bệnh nhân suy tim mạn đã được thực hiện Nghiên cứu của Lê Minh Đức trên 135 bệnh nhân cho thấy CLCS giảm ở tất cả các lĩnh vực, với tỷ lệ bệnh nhân có sức khỏe thể chất và tinh thần tốt lần lượt là 63% và 84,4% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Minh, thực hiện trên 283 bệnh nhân, cũng cho kết quả tương tự, cho thấy điểm số CLCS thấp, đặc biệt là ở lĩnh vực sức khỏe thể chất so với sức khỏe tâm thần, và có sự tương quan nghịch giữa tuổi tác và điểm số hoạt động thể chất Cả hai nghiên cứu đều chỉ ra rằng điểm số CLCS ở nhóm suy tim PSTM và bảo tồn đều giảm mà không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, các nghiên cứu này đã được thực hiện gần 10 năm trước, và việc sử dụng thang đo SF-36, mặc dù phổ biến cho các bệnh lý mạn tính, có nhiều hạn chế khi áp dụng cho người cao tuổi, đối tượng chủ yếu của bệnh nhân suy tim mạn.
Tại Việt Nam, việc đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) cho bệnh nhân suy tim vẫn chưa được chú trọng đúng mức, và thang đo Kansas City Cardiomyopathy Questionnaire (KCCQ) vẫn chưa được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về suy tim Do đó, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu đánh giá CLCS ở bệnh nhân suy tim mạn điều trị ngoại trú thông qua thang đo KCCQ.
2.1 Thi ết kế nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Dân số mục tiêu: suy tim
2.2.2 Dân số chọn mẫu: suy tim mạn điều trị ngoại trú
- Bệnh nhân được chẩn đoán suy tim mạn tính theo ESC 2021, đang tái khám và điều trị ngoại trú ≥1 tháng.
- Bệnh nhân hiểu được quy trình thực hiện nghiên cứu và sẵn lòng kí vào giấy đồng thuận tham gia nghiên cứu.
- Nhập viện trong vòng 1 tháng qua.
- Phụ nữ có thai và cho con bú.
- Không hiểu và không trả lời được thang đo KCCQ.
Th ời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 11/2021 đến 05/2022.
- Địa điểm: Phòng khám Tim mạch, Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Nhân dânGia Định.
C ỡ mẫu của nghiên cứu
2.4.1 Cỡ mẫu được tính theo mục tiêu 1
- α = 0,05, β = 0,1, r là hệ số tương quan
Dựa vào nghiên cứu của tác giả Comin-Colet, với hệ số tương quan giữa KCCQ tổng thể và chỉ số Charlson là 0,2846 57
2.4.2 Cỡ mẫu được tính theo mục tiêu 3
- α = 0,05, chọn d = 0,1 (sai số biên cho phép của ước lượng).
- AUC là diện tích dưới đường cong
Nghiên cứu của tác giả Nael Hawwa và các cộng sự chỉ ra rằng diện tích dưới đường cong của KCCQ tổng thể có thể dự đoán khả năng tái nhập viện do suy tim trong vòng 30 ngày với giá trị là 0,724.
- Vậy cỡ mẫu cho nghiên cứu ít nhất là 95 bệnh nhân trong đó có ít nhất 14 ca có biến cố gộp.
Xác định các biến số nghiên cứu
2.5.1 Định nghĩa biến số kết cục
- Tử vong do mọi nguyên nhân: thân nhân bệnh nhân xác nhận tử vong qua điện thoại.
Tái nhập viện vì suy tim được định nghĩa là trường hợp bệnh nhân phải nằm viện kéo dài hơn 24 giờ và đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí sau: (1) có một hoặc nhiều triệu chứng cơ năng mới xuất hiện hoặc xấu đi do suy tim, (2) có hai triệu chứng thực thể hoặc một triệu chứng thực thể kèm theo.
1 cận lâm sàng, được điều trị đặc hiệu suy tim (bảng 2.1) 59 Bệnh nhân tái nhập viện ở bệnh viện Gia Định hoặc bệnh viện khác đều được ghi nhận
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn nhập viện vì suy tim
Khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm, khó thở kịch phát về đêm.
Giảm khả năng gắng sức, mệt mỏi, các triệu chứng vì giảm tưới máu cơ quan đích hoặc vì quá tải tuần hoàn khác.
Phù ngoại biên và báng bụng không do bệnh gan có thể liên quan đến các vấn đề như ran phổi, tăng áp lực tĩnh mạch cảnh, và phản xạ gan – tĩnh mạch cảnh Ngoài ra, tiếng tim thứ ba và tình trạng tăng cân có thể xảy ra do tái hấp thu dịch trong cơ thể.
Tăng BNP hoặc NTproBNP, cùng với kết quả Xquang ngực và Siêu âm tim cho thấy áp lực đổ đầy thất trái hoặc phải tăng, và cung lượng tim thấp Thông tim phải cho thấy có tăng áp lực động mạch phổi bít, áp lực tĩnh mạch trung tâm tăng, chỉ số tim giảm, và áp lực cuối tâm trương thất trái tăng Cần có điều trị đặc hiệu cho suy tim để cải thiện tình trạng bệnh nhân.
Để tối ưu hóa điều trị lợi tiểu, cần tăng liều khởi đầu ít nhất gấp đôi so với lợi tiểu quai đang sử dụng và chuyển sang sử dụng lợi tiểu đường tĩnh mạch hoặc phối hợp nhiều loại lợi tiểu Bên cạnh đó, việc tối ưu tiền tải qua chạy thận nhân tạo có thể thực hiện bằng các phương pháp siêu lọc, đối lưu và thẩm tách.
Sử dụng các thuốc: catecholamine, ức chế phosphodiesterase 3, thuốc giãn mạch.
Can thiệp cơ học hoặc phẫu thuật: bóng đối xung động mạch chủ, dụng cụ hỗ trợ thất.
Nguồn: Abraham, European Journal of Heart Failure 2020;8(12):961-972 59
- Biến cố phối hợp: bao gồm tử vong do mọi nguyên nhân hoặc nhập viện vì suy tim.
2.5.2 Định nghĩa biến số trong nghiên cứu
Suy tim mạn là tình trạng bệnh nhân đã được xác nhận qua giấy ra viện, toa thuốc, giấy hẹn tái khám hoặc mới được chẩn đoán theo sơ đồ.
Sơ đồ 2.1: Lưu đồ chẩn đoán suy tim theo ESC 2021
Suy tim được phân loại theo chỉ số phân loại suy tim theo PSTM, bao gồm ba loại: (1) suy tim PSTM giảm với chỉ số PSTM ≤40%, (2) suy tim PSTM giảm nhẹ với chỉ số PSTM từ 41-49%, và (3) suy tim PSTM bảo tồn khi chỉ số PSTM ≥50%.
- Phân độ chức năng theo NYHA theo bảng 2.2 60
Bảng 2.2: Phân độ chức năng theo NYHA Độ Đặc điểm
I Không giới hạn hoạt động thể lực Các hoạt động thông thường không gây triệu chứng suy tim.
II Giới hạn nhẹ hoạt động thể lực Thoải mái khi nghỉ, những hoạt động bình thường gây triệu chứng.
III Giới hạn hoạt động thể lực rõ Thoải mái khi nghỉ, những hoạt động dưới mức bình thường cũng gây triệu chứng.
IV Mọi hoạt động thể lực đều gây mệt hoặc có triệu chứng ngay cả khi nghỉ.
Nguồn: Nomenclature and criteria for diagnosis of diseases of the heart and great vessels vol 253 Boston: Little, Brown & Co; 1994 60
Bệnh mạch vành nặng có thể dẫn đến suy tim, đặc biệt khi có tiền sử can thiệp mạch vành hoặc nhồi máu cơ tim Các trường hợp hẹp mạch vành nghiêm trọng, như hẹp trên 75% ở thân chung hoặc động mạch liên thất trước, cũng như hẹp trên 75% ở hai hoặc nhiều nhánh mạch vành khác, đều là những yếu tố nguy cơ cao cho suy tim.
- Bệnh đồng mắc trong suy tim: các bệnh đồng mắc trong suy tim được khảo sát trong nghiên cứu bao gồm:
+ Rung nhĩ: mất sóng P, hiện diện các f lăn tăn (bất thường hoạt động điện tâm nhĩ), phức bộ QRS không đều về tần số và biên độ 62
Ung thư được xác nhận thông qua toa thuốc, giấy ra viện hoặc giấy hẹn tái khám Bệnh nhân đã trải qua các phương pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, hoặc dựa trên kết quả mô bệnh học.
+ Thừa cân và béo phì (dựa trên phân loại của WHO dành cho khu vực châu Á
– Thái Bình Dương) Thừa cân khi BMI từ 23,0 kg/m 2 đến 24,9 kg/m 2 Béo phì khi BMI ≥ 25 kg/m 2 63
Tăng huyết áp được xác định khi có chẩn đoán và người bệnh đang sử dụng thuốc hạ huyết áp, hoặc khi phát hiện tăng huyết áp mới với ít nhất hai lần đo huyết áp khác nhau, có trị số ≥ 140/90 mm Hg.
Tiền căn tai biến mạch máu não được xác định khi bệnh nhân đã được chẩn đoán nhồi máu não hoặc xuất huyết não thông qua các tài liệu như giấy ra viện, toa thuốc, giấy hẹn tái khám, hoặc kết quả từ chụp cắt lớp vi tính não và chụp cộng hưởng từ não.
Đái tháo đường được xác định bao gồm cả những người đã được chẩn đoán và đang sử dụng thuốc hạ đường huyết, cũng như những trường hợp mới chẩn đoán Chẩn đoán này dựa vào ít nhất hai lần đo glucose huyết tương lúc đói đạt ≥126 mg/dL, hoặc glucose huyết tương bất kỳ thời điểm nào đạt ≥200 mg/dL, hoặc HbA1c ≥6,5%.
+ Thiếu máu: định nghĩa theo WHO, thiếu máu khi nồng độ hemoglobin