1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng

72 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố Đà Nẵng
Tác giả Phạm Minh Tân
Người hướng dẫn TS. Vũ Trí Thanh, TS. Chloé Sauvage
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN (11)
    • 1.1 Tổng quan về thử nghiệm đi bộ 6 phút (11)
    • 1.2 Các nghiên cứu trên thế giới (16)
    • 1.3 Các nghiên cứu tại Việt Nam (19)
  • CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1 Thiết kế nghiên cứu (22)
    • 2.2 Đối tượng nghiên cứu (22)
    • 2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu (23)
    • 2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu (23)
    • 2.5 Biến số nghiên cứu (25)
    • 2.6 Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu (26)
    • 2.7 Quy trình nghiên cứu (32)
    • 2.8 Phương pháp phân tích dữ liệu (33)
    • 2.9 Đạo đức nghiên cứu (34)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ (36)
    • 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (36)
    • 3.2 Dữ liệu khoảng cách đi bộ 6 phút của nghiên cứu (38)
    • 3.3 Mối tương quan giữa khoảng cách đi bộ 6 phút với các biến (41)
    • 3.4 Phương trình tham chiếu khoảng cách đi bộ 6 phút (44)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (45)
    • 4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (45)
    • 4.2 Dữ liệu khoảng cách đi bộ 6 phút của nghiên cứu (48)
    • 4.3 Mối tương quan giữa khoảng cách đi bộ 6 phút với các biến (52)
    • 4.4 Phương trình tham chiếu khoảng cách đi bộ 6 phút (53)
    • 4.5 Hạn chế và điểm mạnh của nghiên cứu (54)
  • KẾT LUẬN (57)
  • PHỤ LỤC (66)

Nội dung

TỔNG QUAN

Tổng quan về thử nghiệm đi bộ 6 phút

1.1.1 Nguồn gốc thử nghiệm đi bộ 6 phút

Thử nghiệm đi bộ là một phương pháp gắng sức quan trọng để đánh giá khả năng chức năng của người bệnh, liên quan đến các hoạt động hàng ngày và sự phối hợp của các hệ cơ quan như hô hấp, tuần hoàn và thần kinh Bắt đầu từ năm 1968, bài kiểm tra đi bộ 12 phút được chuẩn hóa bởi Cooper nhằm xác định mức độ thể lực của quân nhân Hoa Kỳ Đến năm 1978, McGavin đã điều chỉnh bài thử nghiệm này cho những người bị viêm phế quản mãn tính Năm 1982, Butland và cộng sự đã giới thiệu các bài kiểm tra đi bộ ngắn hơn, như 6MWT và 2MWT, với 6MWT được xác định là có giá trị đánh giá cao hơn cho bệnh nhân COPD Hiện nay, 6MWT không chỉ được sử dụng để đánh giá khả năng hoạt động và hiệu quả điều trị cho bệnh nhân tim phổi mà còn được áp dụng rộng rãi cho các nhóm tuổi khác nhau và nhiều bệnh lý khác nhau, bao gồm cả người cao tuổi và trẻ em.

Theo hướng dẫn của Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ được giới thiệu vào năm

Bài kiểm tra 6MWT, được giới thiệu vào năm 2002, là một phương pháp đánh giá khả năng hiếu khí và sức chịu đựng của người bệnh thông qua việc đo khoảng cách đi bộ trong 6 phút Kết quả khoảng cách đi bộ này giúp so sánh những thay đổi trong khả năng hoạt động của người được đánh giá.

1.1.2 Ưu điểm của thử nghiệm đi bộ 6 phút

Thử nghiệm 6MWT cho phép người bệnh tự điều chỉnh tốc độ đi bộ theo khả năng cá nhân, với mục tiêu đi xa nhất có thể trong 6 phút Nghiên cứu cho thấy 6MWT có mối tương quan tốt với nghiệm pháp gắng sức tim phổi (CPET) Cả hai phương pháp đều đánh giá chức năng hoạt động của người bệnh một cách khách quan, nhưng 6MWT đơn giản hơn, không yêu cầu thiết bị phức tạp hay nhân lực được đào tạo, chỉ cần đo quãng đường đi được trên đường bằng phẳng trong thời gian quy định.

Một nghiên cứu lớn trên hàng nghìn bệnh nhân cao tuổi cho thấy không có tai biến nào xảy ra khi thực hiện thử nghiệm chức năng trong môi trường phòng khám ngoại trú Hầu hết người cao tuổi có thể thực hiện thử nghiệm này một cách dễ dàng và an toàn, giúp đo lường tác động của các bệnh đi kèm như bệnh tim mạch, bệnh phổi, viêm khớp, tiểu đường, rối loạn chức năng nhận thức và trầm cảm đến khả năng tập thể dục và sức bền Hướng dẫn chỉ ra rằng không cần bác sĩ có mặt trong quá trình thử nghiệm, nhưng cần loại trừ những người có chống chỉ định Kỹ thuật viên cần theo dõi và dừng thử nghiệm ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường Các thiết bị như điện tim và oxy không cần thiết phải gắn liền với bệnh nhân trong quá trình thực hiện thử nghiệm.

1.1.3 Chỉ định của thử nghiệm đi bộ 6 phút

Theo hướng dẫn của Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ, thử nghiệm đi bộ 6 phút thường được sử dụng trong các trường hợp sau:

A So sánh trước và sau điều trị

- Phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi

- Phục hồi chức năng hô hấp

- Tăng áp lực động mạch phổi

B Đánh giá trạng thái chức năng (Đo 1 lần)

- Bệnh mạch máu ngoại biên.

C Dự đoán tỉ lệ mắc bệnh và tử vong

- Cao áp động mạch phổi nguyên phát

1.1.4 Chống chỉ định của thử nghiệm đi bộ 6 phút

A Chống chỉ định tuyệt đối

- Đau thắt ngực không ổn định trong một tháng trước đây.

- Nhồi máu cơ tim trong một tháng trước đây.

B Chống chỉ định tương đối

- Nhịp tim lúc nghỉ > 120 lần/phút.

- Huyết áp tâm thu > 180 mmHg.

- Huyết áp tâm trương > 100 mmHg.

Các trường hợp chống chỉ định tương đối cần được bác sĩ chỉ định thử nghiệm xem xét lại và khám bởi bác sĩ chuyên khoa tim mạch Ngoài ra, điện tâm đồ được thực hiện trong 6 tháng gần đây cũng cần được xem xét trong những trường hợp này.

1.1.5 Các lý do để dừng ngay lập tức thử nghiệm đi bộ 6 phút

- Khó thở không thể chịu đựng được

- Tái nhợt hoặc xanh xao

Các giám sát viên cần được đào tạo để nhận diện và phản ứng đúng với các vấn đề phát sinh trong quá trình thử nghiệm Nếu thử nghiệm bị dừng lại vì lý do nào đó, bệnh nhân nên được hướng dẫn ngồi hoặc nằm ngửa tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và nguy cơ ngất xỉu Giám sát viên phải thu thập các thông số quan trọng như huyết áp, nhịp tim và độ bão hòa oxy Ngoài ra, việc cung cấp oxy cũng nên được xem xét khi cần thiết.

1.1.6 Một số yếu tố đảm bảo tính chính xác của thử nghiệm Để đảm bảo độ chính xác của thử nghiệm, một số quy định được hướng dẫn kèm theo như: khoảng cách đi bộ cần thiết phải chuẩn bị là 30 mét, sử dụng những cụm từ khuyến khích tiêu chuẩn, người giám sát thực hiện 6MWT nên được đào tạo bằng cách sử dụng giao thức tiêu chuẩn và sau đó được giám sát trong một số thử nghiệm trước khi thực hiện chúng một mình. Ngoài ra, khi tiến hành thử nghiệm cũng cần lưu ý một số yếu tố làm thay đổi khoảng cách đi bộ đạt được bao gồm:

A Các yếu tố làm giảm quãng đường đi được

- Người thừa cân, béo phì

- Người có suy giảm nhận thức

- Hành lang đi bộ ngắn hơn quy định (phải quay đầu nhiều)

- Người bị bệnh phổi mạn tính, hen phế quản, xơ nang phổi, bệnh phổi kẽ

- Người có bệnh lý tim mạch: đau ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại vi

- Các bệnh lý cơ xương: viêm khớp, chấn thương mắt cá, đầu gối, khớp háng, teo cơ…

B Các yếu tố làm tăng quãng đường đi được

- Người đã từng tham gia thử nghiệm đi bộ trước đó

- Người có bệnh lý nhưng đã được uống thuốc ngay trước khi thực hiện thử nghiệm

- Người có tình trạng thiếu oxy khi gắng sức nhưng được cung cấp oxy đẩy đủ

Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Enright PL và Sherrill DL (1998) đã phát triển một phương trình để dự đoán khoảng cách đi bộ trong 6 phút cho người khỏe mạnh từ 40 đến 80 tuổi, với 117 nam và 173 nữ tham gia Kết quả cho thấy khoảng cách trung bình đi bộ trong 6 phút là 576m đối với nam và 494m đối với nữ, cùng với phương trình tham khảo được cung cấp trong nghiên cứu.

6MWD = (7.57 × Chiều cao (cm)) – (1.76 × Cân nặng (kg)) – (5.02 × tuổi) – 309 m Hoặc 6MWD = 1140 m – (5.61 × BMI) – (6.94 × tuổi)

Giới hạn bình thường dưới cho 6MWD là: hai công thức trên – 153 m Với nữ giới

6MWD = (2.11 × Chiều cao (cm)) – (2.29 × Cân nặng (kg)) – (5.78 × tuổi) + 667 m Hoặc 6MWD = 1017 m – (6.24 × BMI) – (5.83 × tuổi)

Giới hạn bình thường dưới cho 6MWD là 139 m, theo hai công thức đã được xác định Các phương trình này có thể được áp dụng để dự đoán tỷ lệ 6MWD cho từng bệnh nhân trưởng thành trong lần thử nghiệm đầu tiên, khi tuân thủ quy trình chuẩn hóa Tuy nhiên, tác giả khuyến cáo cần thận trọng khi sử dụng cho nhóm dân số không phải người da trắng và không nằm trong độ tuổi tương ứng với nhóm nghiên cứu.

Sau khi công bố phương trình dự đoán đầu tiên, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên các nhóm tuổi và dân số từ nhiều khu vực khác nhau, bao gồm cả Châu Âu.

Các nghiên cứu cho thấy khoảng cách đi bộ đạt được ở các nhóm dân số khác nhau có sự khác biệt rõ rệt, với nhóm dân số Châu Á có khoảng cách thấp hơn so với các khu vực khác Tại Ấn Độ, ba nghiên cứu ở ba khu vực khác nhau cho thấy khoảng cách đi bộ cũng khác nhau, cụ thể là Tây Ấn (483,36 ± 67,91 m), Bắc Ấn (536,12 ± 46,96 m) và Nam Ấn (495,09 ± 83,85 m), cho thấy sự khác biệt về dân tộc và vùng miền Những phát hiện này nhấn mạnh sự cần thiết có dữ liệu bình thường cho từng khu vực để so sánh chính xác Nghiên cứu của Alameri và cộng sự (2009) ghi nhận khoảng cách đi bộ thấp nhất (409 ± 51 m) trong số các nước Châu Á, với độ tuổi trung bình trẻ hơn (16 đến 50 tuổi), cho thấy sự khác biệt trong 6MWD có thể liên quan đến tỷ lệ hoạt động thể chất thấp, ảnh hưởng đến khối lượng cơ và sức mạnh của đối tượng nghiên cứu.

Nghiên cứu của Casanova và cộng sự (2011) trên 444 đối tượng từ mười thành phố ở bảy quốc gia cho thấy sự khác biệt về khoảng cách đi bộ 6 phút (6MWD) giữa các trung tâm, ngay cả khi thực hiện cùng một bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa Điều này chỉ ra rằng có sự khác biệt địa lý trong 6MWD Ngoài tuổi và giới tính, các yếu tố như điểm chứng khó thở Borg sau khi đi bộ và thói quen hoạt động thể chất cũng ảnh hưởng đến kết quả 6MWD Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi yếu tố văn hóa, ví dụ, khoảng cách đi bộ giữa thành phố Tenerife và Zaragoza ở Tây Ban Nha có sự khác biệt đáng kể mặc dù các yếu tố nhân trắc học tương tự nhau.

Nghiên cứu của Zou và cộng sự (2017) phân tích 643 đối tượng khỏe mạnh trong thời gian 6MWT ở Trung Quốc, cho thấy phụ nữ đi được quãng đường ngắn hơn nam giới Các chỉ số FEV1 và FVC được đo bằng phế dung kế xác minh dung tích phổi bình thường, với sự khác biệt đáng kể giữa hai giới Khoảng cách đi được trong 6MWT có mối tương quan rõ rệt với tuổi, chiều cao, chỉ số BMI và nhịp tim cuối thử nghiệm Các biến tuổi, chiều cao, cân nặng và BMI được sử dụng trong hồi quy tuyến tính, trong đó tuổi và chiều cao là các yếu tố chính dự đoán khoảng cách đi bộ, với khả năng dự đoán đạt 34% cho phụ nữ và 28% cho nam giới Nghiên cứu cũng thiết lập phương trình dự đoán cho dân số Trung Quốc, cho thấy sự khác biệt so với các phương trình tham chiếu từ Chile, Bồ Đào Nha và Châu Phi, có xu hướng đánh giá quá cao khoảng cách đi bộ của dân số Trung Quốc Phương trình cho dân số Hàn Quốc cho kết quả tương tự, trong khi các phương trình từ Brazil, Ả Rập, Singapore và Ấn Độ có xu hướng đánh giá thấp khoảng cách.

Zou và cộng sự (2017) cho rằng sự khác biệt về kết quả nghiên cứu tại Trung Quốc, với các giá trị 31, 34, 27, 30, 12, có thể xuất phát từ các yếu tố nhân trắc học, đặc điểm nhân khẩu học và nguồn gốc dân tộc của các đối tượng tham gia Ngoài ra, phương pháp tiêu chuẩn hóa được áp dụng trong từng nghiên cứu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích những khác biệt này.

Iwama và cộng sự (2009) đã nghiên cứu 134 đối tượng khỏe mạnh tại Brazil, phát hiện rằng nam giới đi được quãng đường xa hơn nữ giới Các yếu tố như tuổi, chiều cao, BMI, FVC, FEV1 và mức độ hoạt động thể chất tự báo cáo có mối tương quan đáng kể với khoảng cách đi bộ Trong mô hình hồi quy tuyến tính, tuổi và giới tính được chọn làm biến số dự đoán, giải thích 30% quãng đường đi bộ Do đó, một phương trình dự đoán cho người Brazil khỏe mạnh đã được thiết lập Tuy nhiên, các phương trình dự báo từ các nghiên cứu khác trên thế giới thường đánh giá thấp hoặc cao hơn giá trị đo được về khoảng cách đi bộ 6MWT của dân số Brazil này.

Camarri và cộng sự (2005) đã nghiên cứu 70 người khỏe mạnh trong cộng đồng da trắng, phát hiện rằng chiều cao, cân nặng và FEV1 có mối tương quan đáng kể với khoảng cách đi bộ trong 6 phút (6MWT) Phương trình hồi quy cho thấy tuổi tác và FEV1 là những yếu tố dự đoán, giải thích 33,9% khoảng cách đi bộ trong bài kiểm tra này.

Nghiên cứu của Chetta và cộng sự (2006) trên 102 đối tượng khỏe mạnh trong quần thể người da trắng cho thấy giới tính, tuổi và chiều cao là những biến dự báo quan trọng Ngoài ra, King và Cotes (1989) cùng Morgan và cộng sự (1983) cũng chỉ ra rằng trạng thái tâm lý ảnh hưởng đến khả năng đi bộ ở cả người khỏe mạnh và người mắc viêm phế quản mãn tính.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào xác định giá trị bình thường của bài kiểm tra 6 phút đi bộ (6MWT) cho người Việt Nam khỏe mạnh Mặc dù có một số hướng dẫn như "Hướng dẫn quy trình kỹ thuật Nội khoa chuyên ngành hô hấp" và "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính" từ Bộ Y tế, nhưng cả hai tài liệu này đều không cung cấp giá trị trung bình cho người bình thường Điều này tạo ra khó khăn trong việc so sánh và đánh giá kết quả thử nghiệm 6MWT.

Trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Anh Tiến và cộng sự (2007), 6MWT được sử dụng để đánh giá hiệu quả điều trị trên bệnh nhân suy tim, với nhóm chứng gồm 40 người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi, không có tiền sử bệnh lý tim mạch Kết quả cho thấy giá trị 6MWD ở nhóm khỏe mạnh đạt 388,29 ± 78,96 m, trong khi nhóm bệnh nhân suy tim chỉ đạt 221,75 ± 75,36 m Nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan thuận giữa quãng đường đi được với chiều cao (r 0,811; p < 0,01) và cân nặng (r = 0,617; p < 0,01) Bên cạnh đó, khoảng cách đi được thực tế ở nhóm bệnh nhân thấp hơn nhiều so với các công thức dự đoán từ nghiên cứu quốc tế, do đó tác giả đề xuất cần tiến hành các nghiên cứu sâu hơn để xây dựng công thức dự đoán phù hợp cho người khỏe mạnh Việt Nam.

Trong khi đó với nghiên cứu của tác giả Đồng Khắc Hưng và cộng sự

Nghiên cứu năm 2015 trên bệnh nhân COPD từ 60 tuổi trở lên tại Khoa Hô hấp, Bệnh viện Quân Y 103 cho thấy sự thay đổi về khoảng cách đi bộ 6 phút (6MWD) từ 305,6 ± 53,29 m trước khi đặt van lên 339,4 ± 59,91 m sau khi đặt van Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy và cộng sự (2021) trên 20 bệnh nhân COPD trên 40 tuổi tại Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai cũng ghi nhận sự cải thiện 6MWD từ 370,7 ± 81 m trước khi truyền tế bào gốc lên 441,5 ± 89,3 m sau 3 tháng và 450,1 ± 93,8 m sau 6 tháng Mặc dù cả hai nghiên cứu đều chỉ ra sự thay đổi tích cực về 6MWD sau điều trị, nhưng không có dữ liệu so sánh với giới hạn bình thường Đặc biệt, giá trị 6MWD của nhóm bệnh nhân sau can thiệp trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy cao hơn nhiều so với giá trị bình thường của người khỏe mạnh theo nghiên cứu của Hoàng Anh Tiến.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu là người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi, đang sinh sống và làm việc trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi, sống và làm việc tại phường Hải Châu 1 thuộc quận Hải Châu và phường Mỹ An thuộc quận Ngũ Hành Sơn, cùng với cán bộ giảng viên và sinh viên của hai trường đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng và Kinh tế Đà Nẵng, đã được Ủy ban nhân dân các phường và Ban giám hiệu các trường cho phép tham gia lấy mẫu từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2022.

Có 293 người đã tham gia vào quá trình lấy mẫu của thử nghiệm đi bộ

Các tiêu đã được áp dụng bao gồm:

- Đối tượng tham gia nghiên cứu là người khỏe mạnh từ đủ 18 đến 60 tuổi đang sinh sống, làm việc trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Tiêu chuẩn người khỏe mạnh trong nghiên cứu này bao gồm những cá nhân không mắc bệnh cấp tính, không trong giai đoạn cấp của bệnh mãn tính, không đang điều trị kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ hoặc tự điều trị, không bị chấn thương ảnh hưởng đến khả năng di chuyển, và không có vấn đề tâm thần cần điều trị y tế Để đảm bảo tiêu chuẩn này, người tham gia nghiên cứu phải cung cấp thông tin về khám sức khỏe định kỳ gần nhất; nếu không có, họ cần xác nhận rằng mình đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn sức khỏe đã nêu.

- Đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Chưa từng tham gia thử nghiệm đi bộ 6 phút nào trước đó.

Các tiêu chí được áp dụng bao gồm:

- Tiền sử bệnh cơ xương khớp

- Tiền sử bệnh tim mạch hoặc bệnh phổi

- Sa sút trí tuệ và các bệnh tâm thần

- Nhịp tim lúc nghỉ trên 120 lần/phút

- Huyết áp tâm thu lúc nghỉ trên 180 mmHg

- Huyết áp tâm trương lúc nghỉ trên 100 mmHg

- Sử dụng thiết bị hổ trợ đi lại như nạng, nẹp, khung tập đi

- Không có khả năng làm theo các hướng dẫn của thử nghiệm

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2022 đến hết tháng 5/2022 tại hai phường đại diện cho hai quận: phường Hải Châu 1 thuộc quận Hải Châu và phường Mỹ An thuộc quận Ngũ Hành Sơn Ngoài ra, nghiên cứu cũng bao gồm hai trường đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đó là Trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng và Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng.

Cỡ mẫu nghiên cứu

Sử dụng công thức ước lượng 1 trung bình: n = Z 2 (1-

- n: cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu

- Z: trị số phân phối chuẩn, Với ĐTC = 95% thì Z (𝟏 − ∝

- α: xác suất sai lầm loại 1 (α = 0,05)

Trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Anh Tiến, độ lệch chuẩn σ được chọn là 78,96m, phản ánh quãng đường đi bình thường trong trắc nghiệm đi bộ 6 phút của người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi.

- d: độ chính xác mong muốn và nghiên cứu mong muốn khoảng chính xác d = 10m

Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu là 240 người, dự trù mất mẫu 5%, ta được cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 252 người.

2.4.2 Kỹ thuật chọn mẫu Để đảm bảo mẫu nghiên cứu bao gồm đại diện tất cả các nhóm tuổi của dân số thành phố Đà Nẵng, chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo tỉ lệ dựa trên tỉ lệ dân số theo nhóm tuổi được công bố trong số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở của Tổng cục thống kê Việt Nam được tiến hành gần đây nhất là năm 2019 Theo đó, tổng số dân được chọn theo số liệu thống kê tại thành phố Đà Nẵng nằm trong độ tuổi của nghiên cứu được tính toán từ số liệu công bố là 668.337 người được chia thành 4 nhóm tuổi, chúng tôi tìm được cỡ mẫu cho từng nhóm tuổi như sau:

Nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ Cỡ mẫu

Bảng 2.1 Tỉ lệ cỡ mẫu phân tầng theo 4 nhóm tuổi

Biến số nghiên cứu

Loại biến Tên biến Giá trị Định nghĩa Đặc điểm chung (biến độc lập)

Nhị giá giới tính được xác định dựa trên chứng minh nhân dân, phân chia thành nam và nữ Tuổi được tính bằng năm dương lịch tại thời điểm lấy số liệu, trừ đi năm sinh.

Liên tục Chiều cao Cm Tính bằng khoảng cách từ đầu đến chân

Liên tục Cân nặng Kg Trọng lượng khi cân của đối tượng nghiên cứu tại thời điểm lấy số liệu

Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng cách chia trọng lượng cơ thể (kg) cho bình phương chiều cao (m²) Huyết áp được đo bằng đơn vị mmHg, dựa trên chỉ số huyết áp trước và sau khi thực hiện thử nghiệm.

Liên tục Nhịp tim lần/phút Dựa trên nhịp tim trên thiết bị đếm nhịp tim tự động đo trước và sau khi thực hiện thử nghiệm

Liên tục Độ bão hòa oxy (SpO2)

% Dựa trên máy đo nồng độ bão hòa oxy di động gắn ở đầu ngón tay trước và sau khi thực hiện thử nghiệm

Liên tục Tỉ lệ % nhịp tim gắng sức theo tuổi

% Nhịp tim đạt được sau đi bộ chia cho nhịp tim tối đa (bằng

220 trừ tuổi) nhân 100 Thứ tự Mức độ khó thở

Từ 0 đến 10 Dựa trên thang điểm đo mức độ khó thở Borg trước và sau thử nghiệm

Khoảng cách đi bộ (biến phụ thuộc)

Liên tục 6 MWD M Quãng đường đi được sau thời gian 6 phút

Bảng 2.2 Biến số nghiên cứu

Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu

- Máy đếm số vòng đi được

- Hai hình nón giao thông nhỏ để đánh dấu vị trí quay vòng

- Một ghế tựa có thể di chuyển được dọc theo đoạn đường đi bộ

- Phiếu ghi thông tin cho từng cá nhân tham gia thử nghiệm

- Máy đo nồng độ bão hòa oxy trong máu

Hình 2.2 Hành lang nơi lấy mẫuHình 2.1 Công cụ thu thập số liệu

2.6.2 Quá trình thu thập dữ liệu

Sau khi được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP HCM phê duyệt, chúng tôi đã xin giấy giới thiệu từ phòng sau đại học và liên hệ với Ủy ban nhân dân phường Hải Châu I, phường Mỹ An, cùng Ban giám hiệu của trường Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng và Đại học Kinh tế Đà Nẵng để xin ý kiến về việc thu thập số liệu nghiên cứu Sau khi nhận được sự đồng ý, chúng tôi đã thông báo cho các đối tượng nghiên cứu qua người phụ trách tại các tổ dân phố và khu dân cư, rồi tiến hành chọn mẫu Chúng tôi đã áp dụng tiêu chí lựa chọn và loại trừ người tham gia nghiên cứu, sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo nhóm tuổi để chọn ra 293 người tham gia vào quá trình lấy mẫu.

Nhiệm vụ của nhóm nghiên cứu

Để thu thập số liệu, hai hình nón giao thông sẽ được đặt ở hai đầu lối đi bộ dài 30 mét, có bề mặt cứng và ít người qua lại Trên lối đi này, các vạch màu sẽ được chia đều mỗi mét, giúp xác định các điểm quay đầu.

Hình 2.3 Mô hình cách thức di chuyển của thử nghiệm Điểm quay đầu Điểm bắt Đoạn đường đầu cần di chuyển 30m

Để chuẩn bị cho người tham gia nghiên cứu, họ nên mặc quần áo thoải mái và đi giày phù hợp để dễ dàng di chuyển Nên ăn nhẹ trước khi tham gia thử nghiệm vào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều Ngoài ra, người tham gia không nên thực hiện các hoạt động thể lực mạnh trong vòng 2 giờ trước khi bắt đầu Trong quá trình chuẩn bị, người tham gia chỉ được quan sát các bước tiến hành thử nghiệm mà không được thực hiện thử trước khi tham gia chính thức.

Mục tiêu của bài thử nghiệm này là đi càng xa càng tốt trong 6 phút Người tham gia sẽ có 6 phút để hoàn thành, một khoảng thời gian dài để đi bộ, vì vậy cần cố gắng hết sức Trong quá trình thử nghiệm, có thể cảm thấy khó thở hoặc kiệt sức, nhưng được phép giảm tốc độ, dừng lại và nghỉ ngơi khi cần thiết Có thể dựa vào tường khi nghỉ ngơi, nhưng nên tiếp tục đi lại ngay khi có thể Người tham gia sẽ đi tới lui xung quanh hai hình nón và nên xoay nhanh xung quanh các hình nón Nghiên cứu viên sẽ minh họa cách thực hiện bằng cách tự mình đi bộ và xoay quanh hình nón một cách nhanh chóng.

Ông (bà) đã sẵn sàng để bắt đầu chưa? Tôi sẽ sử dụng bộ đếm để theo dõi số vòng ông (bà) hoàn thành Mỗi khi ông (bà) trở về vạch xuất phát, tôi sẽ nhấp vào bộ đếm Hãy nhớ rằng ông (bà) cần đi bộ càng xa càng tốt trong 6 phút, nhưng không được chạy Bắt đầu ngay bây giờ hoặc khi nào ông (bà) cảm thấy sẵn sàng.

Sau khi hướng dẫn và nhận được sự đồng ý tham gia nghiên cứu từ các đối tượng, nghiên cứu viên sẽ thu thập thông tin về tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao, huyết áp, nhịp tim, nồng độ bão hòa oxy và mức độ khó thở trước khi tiến hành thử nghiệm.

Nghiên cứu viên đứng gần vạch xuất phát và không đi cùng đối tượng nghiên cứu trong suốt quá trình thử nghiệm Ngay khi đối tượng bắt đầu di chuyển, nghiên cứu viên sẽ bấm giờ và không giao tiếp với ai để đảm bảo độ chính xác trong việc thu thập dữ liệu Họ sử dụng giọng nói đồng đều khi đưa ra các cụm từ khuyến khích tiêu chuẩn và theo dõi số vòng đi được mà không bị phân tâm Mỗi lần người tham gia trở lại vạch xuất phát, nghiên cứu viên sẽ nhấp vào bộ đếm vòng hoặc ghi lại số vòng trên trang tính Khi hết thời gian quy định 6 phút, người tham gia sẽ dừng lại và nghiên cứu viên đánh dấu vị trí dừng bằng cách đặt một túi cát để xác định khoảng cách đã đi.

Các cụm từ khuyến khích tiêu chuẩn được sử dụng để đảm bảo tính đồng nhất trong quá trình thu thập số liệu

Sau phút đầu tiên, người thu thập dữ liệu cần thông báo cho người tham gia bằng giọng điệu đều đặn rằng: “Bạn đang làm tốt Bạn còn 5 phút để hoàn thành.”

 Khi đồng hồ hiển thị 4 phút còn lại, hãy nói với người tham gia như sau: “Bạn đang làm tốt Bạn còn 4 phút để đi ”

 Khi đồng hồ còn 3 phút, hãy nói với người tham gia những điều sau:

“Bạn đang làm tốt Bạn còn 3 phút để đi ”

 Khi đồng hồ còn 2 phút, hãy nói với người tham gia những điều sau:

“Bạn đang làm tốt Bạn còn 2 phút để đi ”

 Khi đồng hồ chỉ còn 1 phút nữa, hãy nói với người tham gia: “Bạn đang làm tốt Bạn còn 1 phút để đi ”

 Không sử dụng những lời động viên khác (hoặc ngôn ngữ cơ thể để tăng tốc độ).

Khi bộ đếm thời gian còn 15 giây, nghiên cứu viên thông báo cho người tham gia rằng sẽ dừng lại ngay khi có hiệu lệnh Khi bộ đếm đổ chuông, nghiên cứu viên hô “Dừng lại!” và tiến đến vị trí của người tham gia để đánh dấu Tiếp theo, họ sẽ tiến hành đo nhịp tim, nồng độ bão hòa oxy, huyết áp và mức độ khó thở theo thang điểm Borg Để đảm bảo tính chính xác và giảm thiểu sai sót dữ liệu, nghiên cứu viên là người duy nhất thực hiện đánh giá 6MWT, tuân theo quy trình nhất quán trong suốt nghiên cứu.

Những thông tin được lưu trữ sau thử nghiệm

- Những thông tin nhân khẩu học cơ bản từ người tham gia trước khi tiến hành thử nghiệm bao gồm: giới tính, tuổi, chiều cao, cân nặng.

Các thông tin được ghi nhận hai lần để so sánh trước và sau khi tiến hành thử nghiệm bao gồm nhịp tim, nồng độ bão hòa oxy, huyết áp và mức độ khó thở theo thang Borg.

Trong thử nghiệm 6 phút, khoảng cách đi được được ghi nhận bằng cách đếm số vòng từ bộ đếm hoặc đánh dấu trên trang tính, sau đó nhân với 60 mét Cuối cùng, số mét đi được trong vòng cuối cùng sẽ được cộng vào và ghi lại vào phiếu thu thập số liệu.

Quy trình nghiên cứu

Bước 1 Thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP HCM, số 120/HĐĐĐ-ĐHYD, ngày 25/01/2022 của Đại học Y Dược Hồ Chí Minh

Bước 2 Xin giấy giới thiệu từ phòng Sau đại học của Đại học Y Dược

TP HCM sau đó gửi đến các đơn vị lấy mẫu để xin phép tiến hành nghiên cứu.

Chúng tôi đã liên hệ trực tiếp với Ủy ban nhân dân hai phường của quận Hải Châu và Ngũ Hành Sơn, cùng với Ban giám hiệu của hai trường đại học tại Đà Nẵng, nhằm giải thích và trình bày mục tiêu cũng như ý nghĩa của nghiên cứu, đồng thời xin phép tiến hành nghiên cứu.

Để chuẩn bị công việc thu thập số liệu, bước 4 là xin giấy giới thiệu từ Ủy ban nhân dân các phường và Ban giám hiệu các trường đại học Giấy giới thiệu này sẽ giúp bạn tiếp cận trực tiếp các tổ dân phố, khu dân cư tại các phường cũng như các khoa, phòng tại các trường.

Bước 5 Lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu theo các tiêu chuẩn đề ra.

Bước 6: Cung cấp thông tin nghiên cứu cho các đối tượng tham gia Bước 7: Xác nhận và thu thập phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu bằng văn bản sau khi các đối tượng đã được cung cấp đầy đủ thông tin.

Bước 8 Đưa các đối tượng đồng ý tham gia vào nghiên cứu.

Bước 9 Kỹ thuật lấy mẫu chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo 4 nhóm tuổi để chọn n = 293

Bước 10: Cung cấp hướng dẫn chi tiết về quy trình thực hiện thử nghiệm đi bộ 6 phút cho những người tham gia nghiên cứu Bước 11: Tiến hành đo lường trực tiếp cho 293 đối tượng tham gia trong một lần thử nghiệm đi bộ 6 phút.

Bước 12 Lưu trữ, nhập liệu và xử lý số liệu.

Bước 13 Phân tích dữ liệu

Bước 14 Đánh giá kết quả

Phương pháp phân tích dữ liệu

Tất cả số liệu được thu thập trực tiếp từ chúng tôi, sử dụng một biểu mẫu và bộ dụng cụ thống nhất để đảm bảo thông tin được thu thập trên mọi đối tượng một cách đồng nhất.

Quá trình đo lường và đánh giá đều được thống nhất rõ ràng theo một quy trình chung.

Số liệu được làm sạch trước khi xử lý.

Nhập và xử lý số liệu được thực hiện hai lần để đảm bảo tính chính xác của kết quả Phân tích số liệu cũng được lặp lại hai lần nhằm kiểm tra mức độ tin cậy trong quá trình xử lý.

2.8.2 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu sau khi thu thập được nhập bằng phần mềm Excel và phân tích bằng phần mềm thống kê Stata 14.0

Phân tích thống kê mô tả được thực hiện trên toàn bộ mẫu và phân chia theo giới tính, trong đó biến định tính như giới tính được trình bày bằng số lượng và tỷ lệ phần trăm Đối với các biến định lượng liên tục như tuổi, chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể, huyết áp, nhịp tim, nồng độ bão hòa oxy và quãng đường đi bộ sau 6 phút, chúng tôi sử dụng phép kiểm định Kolmogorov-Smirnov để xác định phân phối chuẩn do cỡ mẫu lớn hơn 50 Nếu phân phối chuẩn, sẽ tính trung bình và độ lệch chuẩn; nếu không chuẩn, sẽ sử dụng trung vị và hai bách phân vị 25% và 75%.

Hệ số tương quan đơn biến của Pearson (r) được sử dụng để phân tích mối liên hệ giữa các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và khoảng cách đi bộ trong 6 phút.

Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến được áp dụng để xác định các yếu tố dự báo độc lập ảnh hưởng đến khoảng cách đi bộ 6 phút Qua đó, phương trình dự đoán khoảng cách đi bộ 6 phút được xây dựng, giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và khả năng đi bộ.

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu này đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh phê duyệt với mã số 120/HĐĐĐ-ĐHYD vào ngày 25/01/2022 Việc thực hiện nghiên cứu cũng đã được sự cho phép và đồng ý của Ủy ban nhân dân các phường cũng như Ban giám hiệu các trường đại học tại thành phố Đà Nẵng.

Nghiên cứu chỉ ghi nhận thông tin thu được từ quá trình thử nghiệm trên những người tham gia khỏe mạnh, mà không áp dụng bất kỳ biện pháp can thiệp nào khác.

- Các đối tượng nghiên cứu được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ sau:

• Đối tượng nghiên cứu đều được giải thích, thông báo, giới thiệu về mục đích nghiên cứu, quyền lời của họ khi tham gia nghiên cứu.

• Đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia nghiên cứu và có quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào.

• Các đối tượng nghiên cứu được đo lường, đánh giá miễn phí hoàn toàn khi tham gia nghiên cứu.

Tất cả thông tin của đối tượng nghiên cứu được xử lý và công bố một cách ẩn danh, đảm bảo bảo mật danh tính cá nhân Dữ liệu nghiên cứu được lưu trữ an toàn trong hồ sơ và máy tính cá nhân của nghiên cứu viên, được bảo vệ bằng mật khẩu Chỉ có nghiên cứu viên mới có quyền truy cập và sử dụng dữ liệu này.

Nghiên cứu này chỉ nhằm cung cấp giá trị trung bình làm tài liệu tham khảo cho công tác chăm sóc và điều trị của các nhà lâm sàng cũng như các nhà nghiên cứu khác Mọi số liệu được trình bày hoàn toàn trung thực và không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu bao gồm 293 người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi sống tại Đà Nẵng, được tuyển chọn từ hai phường Hải Châu I và Mỹ An, cùng với cán bộ giảng viên và sinh viên từ Đại học Kinh tế Đà Nẵng và Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng Trong số đó có 159 nữ và 134 nam đã hoàn thành bài kiểm tra 6 phút đi bộ (6MWT) Trong suốt quá trình thử nghiệm, không có đối tượng nào phải dừng bài kiểm tra sớm hay nghỉ ngơi trước khi tiếp tục đi bộ.

Bảng 3.1 trình bày thông tin nhân khẩu học cơ bản của đối tượng nghiên cứu với tỷ lệ nam nữ tương đương, trong đó nữ chiếm 54% Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 34 tuổi (dao động từ 21 đến 41 tuổi), chiều cao trung bình là 161,3 cm, cân nặng trung bình là 56,6 kg, và chỉ số BMI trung bình là 21,7 Kết quả cho thấy nữ giới có chiều cao (156,0 cm), cân nặng (51,2 kg) và chỉ số BMI (21,0) thấp hơn đáng kể so với nam giới, với chiều cao trung bình là 167,6 cm, cân nặng 63,1 kg và chỉ số BMI 21,7 Tổng số đối tượng nghiên cứu là 293.

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n)3)

Tỉ lệ % các nhóm tuổi trong đối tượng nghiên cứu được thể hiện trong Hình 3.1, trong đó nhóm tuổi từ 19 đến 29 chiếm tỉ lệ cao nhất với 114 người, tương đương 38,9% Nhóm tuổi từ 30 đến 39 có 76 người, chiếm 25,9% Tiếp theo, nhóm tuổi từ 40 đến 49 gồm 60 người, đạt tỉ lệ 20,5% Cuối cùng, nhóm tuổi từ 50 đến 60 có số lượng thấp nhất với 43 người, chiếm 14,7%.

Hình 3.1 Tỉ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu phân theo nhóm tuổi

Dữ liệu khoảng cách đi bộ 6 phút của nghiên cứu

3.2.1 Giá trị khoảng cách đi bộ 6 phút và các thông số quan sát được trong quá trình thử nghiệm

Trong nghiên cứu thử nghiệm đi bộ 6 phút, quãng đường trung bình mà người tham gia đạt được là 471,4 ± 55,9 m Cụ thể, nam giới đi được 499,6 ± 49,0 m, trong khi nữ giới chỉ đạt 447,7 ± 50,2 m Kết quả cho thấy, trong cùng khoảng thời gian 6 phút, nữ giới có quãng đường đi bộ ngắn hơn đáng kể so với nam giới với p

Ngày đăng: 04/10/2023, 20:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Troosters T, Gosselink R, Decramer M. Six minute walking distance in healthy elderly subjects. The European respiratory journal. Aug 1999;14(2):270-4. doi:10.1034/j.1399-3003.1999.14b06.x Sách, tạp chí
Tiêu đề: The European respiratory journal
2. Sivaranjini S, Vanamail P, Eason J. Six minute walk test in people with tuberculosis sequelae. Cardiopulmonary physical therapy journal. Sep 2010;21(3):5-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cardiopulmonary physical therapy journal
3. Enright PL, Sherrill DL. Reference equations for the six-minute walk in healthy adults. American journal of respiratory and critical care medicine.Nov 1998;158(5 Pt 1):1384-7. doi:10.1164/ajrccm.158.5.9710086 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American journal of respiratory and critical care medicine
4. Society AT. ATS statement: guidelines for the six-minute walk test. American journal of respiratory and critical care medicine. Jul 1 2002;166(1):111-7. doi:10.1164/ajrccm.166.1.at1102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American journal of respiratory and critical care medicine
5. White DK, Neogi T, King WC, et al. Can change in prolonged walking be inferred from a short test of gait speed among older adults who are initially well-functioning? Physical therapy. Sep 2014;94(9):1285-93.doi:10.2522/ptj.20130628 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Physical therapy
6. Vivas LL, Pauley T, Dilkas S, Devlin M. Does size matter? Examining the effect of obesity on inpatient amputation rehabilitation outcomes.Disability and rehabilitation. Jan 2017;39(1):36-42.doi:10.3109/09638288.2016.1140831 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disability and rehabilitation
7. Leung AS, Chan KK, Sykes K, Chan KS. Reliability, validity, and responsiveness of a 2-min walk test to assess exercise capacity of COPD patients. Chest. Jul 2006;130(1):119-25. doi:10.1378/chest.130.1.119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chest
8. Reid L, Thomson P, Besemann M, Dudek N. Going places: Does the two-minute walk test predict the six-minute walk test in lower extremity amputees? Journal of rehabilitation medicine. Mar 2015;47(3):256-61.doi:10.2340/16501977-1916 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of rehabilitation medicine
9. Langeskov-Christensen D, Feys P, Baert I, Riemenschneider M, Stenager E, Dalgas U. Performed and perceived walking ability in relation to the Expanded Disability Status Scale in persons with multiple sclerosis.Journal of the neurological sciences. Nov 15 2017;382:131-136.doi:10.1016/j.jns.2017.09.049 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of the neurological sciences
10. Kosak M, Smith T. Comparison of the 2-, 6-, and 12-minute walk tests in patients with stroke. Journal of rehabilitation research and development.Jan-Feb 2005;42(1):103-7. doi:10.1682/jrrd.2003.11.0171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of rehabilitation research and development
11. Casanova C, Celli BR, Barria P, et al. The 6-min walk distance in healthy subjects: reference standards from seven countries. The European respiratory journal. Jan 2011;37(1):150-6. doi:10.1183/09031936.00194909 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The European respiratory journal
12. Poh H, Eastwood PR, Cecins NM, Ho KT, Jenkins SC. Six-minute walk distance in healthy Singaporean adults cannot be predicted using reference equations derived from Caucasian populations. Respirology (Carlton, Vic). Mar 2006;11(2):211-6. doi:10.1111/j.1440-1843.2006.00820.x Sách, tạp chí
Tiêu đề: Respirology (Carlton, Vic)
13. Đồng Khắc Hưng, Tạ Bá Thắng, Nguyễn Huy Lực, et al. Kết quả bước đầu làm giảm thể tích phổi bằng van phế quản điều trị khí thũng nặng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam. 2015;1(2):19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
14. Nguyễn Thanh Thủy, Nguyễn Huy Bình, Phan Thu Phương, et al. Nhận xét kết quả lâm sàng và chức năng thông khí sau điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ. Tạp Chí Nghiên cứu Y học.2021;137(1):146-157 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Y học
15. Cooper KH. A means of assessing maximal oxygen intake. Correlation between field and treadmill testing. Jama. Jan 15 1968;203(3):201-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jama
16. McGavin CR, Artvinli M, Naoe H, McHardy GJ. Dyspnoea, disability, and distance walked: comparison of estimates of exercise performance in respiratory disease. British medical journal. Jul 22 1978;2(6132):241-3.doi:10.1136/bmj.2.6132.241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: British medical journal
17. Butland RJ, Pang J, Gross ER, Woodcock AA, Geddes DM. Two-, six-, and 12-minute walking tests in respiratory disease. British medical journal (Clinical research ed). May 29 1982;284(6329):1607-8.doi:10.1136/bmj.284.6329.1607 Sách, tạp chí
Tiêu đề: British medical journal (Clinical research ed)
19. Halliday SJ, Wang L, Yu C, et al. Six-minute walk distance in healthy young adults. Respiratory medicine. Apr-May 2020;165:105933.doi:10.1016/j.rmed.2020.105933 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Respiratory medicine
20. Geiger R, Strasak A, Treml B, et al. Six-minute walk test in children and adolescents. The Journal of pediatrics. Apr 2007;150(4):395-9, 399.e1-2.doi:10.1016/j.jpeds.2006.12.052 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of pediatrics
21. Enright PL, McBurnie MA, Bittner V, et al. The 6-min walk test: a quick measure of functional status in elderly adults. Chest. Feb 2003;123(2):387-98. doi:10.1378/chest.123.2.387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chest

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Tỉ lệ cỡ mẫu phân tầng theo 4 nhóm tuổi - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Bảng 2.1 Tỉ lệ cỡ mẫu phân tầng theo 4 nhóm tuổi (Trang 25)
Bảng 2.2 Biến số nghiên cứu - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Bảng 2.2 Biến số nghiên cứu (Trang 26)
Hình 2.2 Hành lang nơi lấy mẫu Hình 2.1 Công cụ thu thập số liệu - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Hình 2.2 Hành lang nơi lấy mẫu Hình 2.1 Công cụ thu thập số liệu (Trang 27)
Hình 2.3 Mô hình cách thức di chuyển của thử nghiệm - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Hình 2.3 Mô hình cách thức di chuyển của thử nghiệm (Trang 28)
Hình 3.1 Tỉ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu phân theo nhóm tuổi - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Hình 3.1 Tỉ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu phân theo nhóm tuổi (Trang 37)
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=293) - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=293) (Trang 37)
Bảng 3.2. Kết quả 6MWT của các đối tượng nghiên cứu - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Bảng 3.2. Kết quả 6MWT của các đối tượng nghiên cứu (Trang 39)
Hình 3.2 Sự giảm dần của quãng đường đi bộ trên các nhóm tuổi - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Hình 3.2 Sự giảm dần của quãng đường đi bộ trên các nhóm tuổi (Trang 40)
Bảng 3.3. Hệ số tương quan đơn biến cho 6MWD - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Bảng 3.3. Hệ số tương quan đơn biến cho 6MWD (Trang 41)
Đồ thị ở Hình 3.3 cho thấy tuổi có mối tương quan nghịch vừa phải với khoảng  cách  đi  bộ  6  phút - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
th ị ở Hình 3.3 cho thấy tuổi có mối tương quan nghịch vừa phải với khoảng cách đi bộ 6 phút (Trang 42)
Hình 3.4 Mối liên hệ giữa 6MWD và chiều cao đối tượng nghiên cứu - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Hình 3.4 Mối liên hệ giữa 6MWD và chiều cao đối tượng nghiên cứu (Trang 43)
Hình 3.5 Mối liên hệ giữa 6MWD và nhịp tim đạt được sau đi bộ - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Hình 3.5 Mối liên hệ giữa 6MWD và nhịp tim đạt được sau đi bộ (Trang 43)
Bảng 3.4 Phân tích hồi quy các yếu tố liên quan đến 6MWD - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
Bảng 3.4 Phân tích hồi quy các yếu tố liên quan đến 6MWD (Trang 44)
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU - Giá trị tham chiếu của thử nghiệm đi bộ 6 phút ở người khỏe mạnh từ 18 đến 60 tuổi tại thành phố đà nẵng
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU (Trang 66)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w