1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chỉ số trở kháng mạch máu thận trong dự đoán hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân tổn thương thận cấp

125 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chỉ số trở kháng mạch máu thận trong dự đoán hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân tổn thương thận cấp
Tác giả Lê Hải Yến
Người hướng dẫn TS. BS. Lê Hữu Thiện, BS CKII Trần Thanh Linh
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Hồi Sức Cấp Cứu
Thể loại Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 4,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (18)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (45)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (59)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (84)
  • KẾT LUẬN (106)
  • PHỤ LỤC (117)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu. Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân ≥ 18 tuổi được chẩn đoán TTTC theo tiêu chuẩn KDIGO 2012 tại thời điểm nhập khoa Hồi Sức Cấp Cứu Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 11/2021 đến tháng 07/2022.

Bệnh nhân hoặc thân nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.

Bệnh nhân có tối thiểu 01 trong các tiêu chuẩn dưới đây sẽ bị loại khỏi nghiên cứu:

- Rối loạn nhịp (khác nhịp xoang).

- Hẹp động mạch thận đã biết, có tắc nghẽn sau thận, bệnh thận mạn GFR < 30 ml/phút/1,73 m 2 , ghép thận.

- Có khả năng điều trị tại khoa hồi sức cấp cứu < 72 giờ.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thu thập dữ liệu từ tháng 11/2021 đến tháng 07/2022 tại khoa Hồi Sức Cấp Cứu Bệnh viện Chợ Rẫy.

Cỡ mẫu của nghiên cứu

Tính cỡ mẫu theo công thức ước lượng diện tích dưới đường cong (AUC):

- Z: là trị số từ phân phối chuẩn

- AUC: diện tích dưới đường cong

Với mức ý nghĩa α = 0,05 và độ lệch d = 0,1, nghiên cứu của tác giả Schnell năm 2014 chỉ ra rằng để đạt được điểm cắt AUC = 0,84, cần có tối thiểu 80 bệnh nhân trong mẫu, trong đó ít nhất 40 bệnh nhân phải hồi phục chức năng thận.

Quy trình đo chỉ số trở kháng mạch máu thận

Máy siêu âm hiệu SIEMENS tại khoa Hồi Sức Cấp Cứu Bệnh viện Chợ Rẫy được trang bị phần mềm tính RI, cho phép lưu trữ chỉ số theo mã bệnh nhân và trích xuất hình ảnh khi cần thiết Hình ảnh từ máy siêu âm cũng được sử dụng trong nghiên cứu, được trình bày trong phụ lục 3.

• Quy trình thực hiện đo RRI

Bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa Thực hiện siêu âm đo theo các bước sau 55,56 :

- Bước 1: Chọn đầu dò: sử dụng đầu dò convex với tần số 2-5 MHz.

Bước 2: Sử dụng chế độ B để cắt trục dọc của thận qua phương pháp tiếp cận sau-bên Cần loại trừ các dấu hiệu bệnh thận mạn tính và dấu hiệu tắc nghẽn trên siêu âm Điều chỉnh gain ở mức tối đa mà không làm xuất hiện nhiễu xung quanh.

Bước 3 trong quá trình khảo sát thận là sử dụng chế độ Colour-Doppler để xác định hệ thống mạch máu, đảm bảo hiển thị ít nhất ba nhánh mạch Tiếp theo, cần xác định động mạch gian thuỳ hoặc động mạch cung bằng cách điều chỉnh thang đo vận tốc, sao cho có thể quan sát được đoạn xa nhất của mạch máu gần ranh giới vỏ-tuỷ với mức vận tốc nhỏ nhất.

Để sử dụng chế độ Doppler sóng xung, điều chỉnh cổng Doppler với kích thước nhỏ nhất từ 2-5mm và tần số lặp lại xung PRF ở mức thấp nhất, thường là 1,2-1,4 kHz, để tránh hiện tượng "aliasing" Chọn cổng Doppler vào động mạch cần khảo sát, như động mạch gian thuỳ hoặc động mạch cung, sao cho trên màn hình hiển thị 3-5 sóng liên tiếp giống nhau Cuối cùng, dừng màn hình lại để phân tích.

Để đo chỉ số RI, bạn cần chọn nút RI trên thanh công cụ Tiếp theo, xác định đỉnh cao nhất của sóng (vận tốc đỉnh thì tâm thu) và chân sóng thấp nhất (vận tốc cuối thì tâm trương) của cùng một sóng Máy sẽ tự động tính toán chỉ số RI cho từng sóng.

- Bước 6: Lặp lại bước 3,4,5 để đo RI ở 3 vị trí: cực trên, giữa, dưới của thận. Sau đó lấy giá trị trung bình của 3 lần đo.

- Quá trình đo RI được thực hiện cho thận bên phải, nếu thận phải khó khảo sát, sẽ tiến hành đo RI ở thận trái.

Hình A: Mode Colour-Doppler Hình B: Mode Pulse Doppler.

Hình 2.1: Hình ảnh trên siêu âm khi đo RRI “Nguồn: Schnell, 2012” 56

Bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh và không có tiêu chuẩn loại trừ được đưa vào nghiên cứu.

Giá trị RRI được xác định từ dữ liệu siêu âm trong quá trình hồi sức tại giường bệnh, thực hiện bởi bác sĩ hồi sức có kinh nghiệm và được đào tạo chuyên sâu về phương pháp đo RRI.

Giá trị RRI được ghi nhận tại ba thời điểm khác nhau: trong 24 giờ đầu tiên, vào ngày thứ nhất và ngày thứ hai sau khi bệnh nhân nhập khoa HSCC, với điều kiện huyết động của bệnh nhân ổn định (HATB ≥).

Đánh giá hồi phục chức năng thận sẽ được thực hiện vào ngày thứ 2, ngày thứ 7 và tại thời điểm xuất viện, nếu huyết áp duy trì ở mức 65 mmHg trong hơn 1 giờ mà không cần sử dụng thuốc vận mạch mới hoặc tăng liều, cũng như không cần bù dịch hồi sức.

Xét nghiệm sCr máu và ghi nhận thể tích nước tiểu mỗi ngày, trong 7 ngày đầu chọn bệnh vào nghiên cứu.

Các xét nghiệm thường quy như công thức máu, chức năng gan, chức năng thận và đường huyết được thực hiện bình thường nhằm chẩn đoán, điều trị và theo dõi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Thông tin sẽ được ghi nhận từ hồ sơ bệnh án và phiếu theo dõi của bệnh nhân, đồng thời dữ liệu sẽ được thu thập theo phiếu thu thập dữ liệu nghiên cứu (Phụ lục 1).

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu

Bệnh nhân ³ 18 tuổi nhập khoa HSCC.

Có tiêu chuẩn TTTC theo KDIGO 2012 và không có tiêu chuẩn loại trừ

RRI được đo vào 3 thời điểm: trong 24 giờ đầu, ngày 1 và ngày 2 sau nhập khoa HSCC Theo dõi bệnh nhân đến khi xuất viện

Các định nghĩa và tiêu chuẩn trong nghiên cứu

Chẩn đoán tình trạng thận cấp (TTTC) được thực hiện theo tiêu chuẩn KDIGO 2012 Bệnh nhân sẽ được xác định mắc TTTC nếu có một trong các tiêu chí sau: nồng độ creatinine huyết thanh (sCr) tăng ≥ 0,3 mg/dL (≥ 26,5 μMol/L) trong vòng 48 giờ, sCr tăng hơn 1,5 lần so với giá trị nền trong 7 ngày, hoặc thể tích nước tiểu giảm xuống dưới 0,5 ml/kg/giờ trong 6 giờ.

Phân độ suy thận cấp theo tiêu chuẩn KDIGO 2012 bao gồm ba giai đoạn: Giai đoạn 1 được xác định khi nồng độ creatinin huyết thanh (sCr) tăng ≥ 0,3 mg/dL hoặc tăng 1,5 - 1,9 lần so với giá trị nền, hoặc thể tích nước tiểu giảm xuống dưới 0,5 ml/kg/giờ trong hơn 6 giờ Giai đoạn 2 xảy ra khi sCr tăng gấp 2 - 2,9 lần so với giá trị nền hoặc thể tích nước tiểu vẫn dưới 0,5 ml/kg/giờ trong hơn 12 giờ Giai đoạn 3 được chẩn đoán khi sCr tăng gấp 3 lần so với giá trị nền, hoặc sCr đạt ≥ 4 mg/dL, hoặc bắt đầu cần điều trị thay thế thận, hoặc ở bệnh nhân dưới 18 tuổi, eGFR giảm xuống dưới 35 ml/phút/1,73 m², hoặc thể tích nước tiểu giảm xuống dưới 0,3 ml/kg/giờ trong 24 giờ, hoặc tình trạng vô niệu kéo dài 12 giờ.

Mức độ nặng của tình trạng thận cấp tính (TTTC) được xác định khi bệnh nhân nhập khoa Hồi sức cấp cứu (HSCC) theo tiêu chuẩn phân loại của KDIGO 2012 Việc áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán KDIGO 2012 giúp chúng tôi dễ dàng so sánh với các kết quả nghiên cứu về tổn thương thận cấp tính (RRI) từ các tác giả quốc tế.

- Bệnh thận cấp: TTTC kéo dài hơn 7 ngày đến 90 ngày.

- Bệnh thận mạn theo KDIGO 2012: sự hiện diện của tổn thương thận hoặc suy giảm chức năng thận (GFR < 60 ml/phút/1,73 m 2 ) trong 3 tháng hoặc hơn, bất kể nguyên nhân.

Giá trị sCr nền được xác định là sCr của bệnh nhân trong 3 tháng trước khi nhập viện Nếu không có dữ liệu, giá trị này sẽ được ước lượng bằng công thức MDRD với GFR giả định là 75 ml/phút/1,73 m² Trong trường hợp sCr lúc nhập viện thấp hơn giá trị sCr nền ước tính, sCr lúc nhập viện sẽ được chọn làm giá trị sCr nền cho nghiên cứu.

- Công thức MDRD với giả định GFR nền là 75 ml/phút/1,73 m 2 để ước tính ngược sCr nền 64 : sCr nền = ! !"

- Thiểu niệu: thể tích nước tiểu < 400 ml/ngày.

- Vô niệu: Thể tích nước tiểu < 50 ml/ngày.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ tháng 11/2021 đến tháng 07/2022, Bệnh viện Chợ Rẫy đã tiếp nhận tổng cộng 105 bệnh nhân được chẩn đoán TTTC theo tiêu chuẩn KDIGO 2012 Trong số này, 10 bệnh nhân đã bị loại khỏi nghiên cứu, bao gồm 5 bệnh nhân nằm trong khoa HSCC hơn 72 giờ nhưng xuất viện trước khi lấy mẫu, 2 bệnh nhân gặp rối loạn nhịp tim không phải nhịp xoang, và 3 bệnh nhân bị tăng áp lực ổ bụng trong vòng 2 ngày sau khi nhập viện Kết quả cuối cùng sẽ được phân tích từ nhóm bệnh nhân còn lại.

95 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu.

Sơ đồ 3.1: Kết quả nghiên cứu

105 bệnh nhân thoả tiêu chuẩn chọn vào

* 5 bệnh nhân xuất khoa trước lấy mẫu Trong 2 ngày sau nhập khoa HSCC:

* 2 bệnh nhân xuất hiện rối loạn nhịp

* 3 bệnh nhân tăng áp lực ổ bụng Đặc điểm của bệnh nhân trong nghiên cứu Đặc điểm chung

Trong 95 bệnh nhân nghiên cứu, có 57 (60%) bệnh nhân nam và 38 (40%) nữ.

Trong nghiên cứu, độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 50,5 ± 16,1, với 75,7% bệnh nhân trên 40 tuổi Bệnh nhân trẻ nhất là 18 tuổi, trong khi bệnh nhân lớn tuổi nhất đạt 92 tuổi.

Bảng 3.1 Tiền căn bệnh lí nền

Bệnh nền Số bệnh nhân (n) Tỉ lệ (%) Đái tháo đường 24 25,3%

Có nhiều hơn 1 bệnh lí nền 12 12,6%

Trong nghiên cứu, 52,6% bệnh nhân có bệnh lý nền, với 12,6% mắc nhiều hơn một bệnh lý Đái tháo đường và tăng huyết áp là hai bệnh lý phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 25,3% và 20% Ngược lại, bệnh thận mạn và xơ gan là hai bệnh lý ít gặp nhất, chỉ chiếm 2,1%.

Bảng 3.2: Chẩn đoán tại thời điểm nhập khoa HSCC

Chẩn đoán Số bệnh nhân

Da, mô mềm 7 7,4% Đường mật 5 5,2%

Toan ceton + toan lactate máu 5 5,2%

Hơn 50% bệnh nhân tại khoa HSCC mắc sốc nhiễm khuẩn, chủ yếu do nhiễm trùng từ đường tiêu hóa, tiếp theo là đường hô hấp, da và mô mềm, trong khi sốc từ đường tiết niệu và đường mật ít gặp hơn Các loại sốc khác như sốc mất máu và sốc tim cũng hiếm gặp, với tỷ lệ lần lượt là 10,5% và 1,1%.

Tỷ lệ nhập khoa HSCC thấp (14,7%) do một số nguyên nhân như suy đa cơ quan sau ngưng hô hấp tuần hoàn, sốt xuất huyết, tình trạng toan máu nặng chưa rõ nguyên nhân và ngộ độc chất.

Bảng 3.3: Mức độ nặng của bệnh lúc nhập khoa HSCC

Tại thời điểm nhập khoa HSCC, bệnh nhân TTTC có tình trạng nặng với điểm APACHE II trung vị là 30, cho thấy mức độ nghiêm trọng cao Đánh giá tổn thương các cơ quan qua điểm SOFA cho thấy trung vị là 11 Đặc biệt, 84% bệnh nhân gặp suy hô hấp cần thở máy, 61% có lactate máu ≥ 2 mmol/L, và 57% sử dụng vận mạch với liều trung vị là 0,38.

• Tình trạng sử dụng thuốc độc thận

Trong nghiên cứu, có 53 bệnh nhân được điều trị bằng thuốc độc thận trước khi nhập khoa Hồi sức cấp cứu (HSCC), với thời gian sử dụng thuốc trung vị là 1 ngày (khoảng từ 1 đến 6,4 ngày) Thời gian sử dụng thuốc ghi nhận được là 1 ngày cho giá trị tối thiểu và 15 ngày cho giá trị tối đa.

Trong 7 ngày đầu tại khoa Hồi sức cấp cứu (HSCC), có 39 bệnh nhân sử dụng thuốc có khả năng gây độc cho thận Đáng chú ý, có một trường hợp bệnh nhân sử dụng đồng thời ba loại thuốc là Colistin, Amikacin và Teicoplanin ngay khi nhập viện.

Biểu đồ 3.2: Tình trạng sử dụng thuốc độc thận Nhận xét

Trong số 95 trường hợp, có 53 trường hợp (55,8%) đã sử dụng thuốc độc thận trước khi nhập khoa Hồi sức cấp cứu Thuốc cản quang, chiếm 86,5%, là loại thuốc độc thận thường được sử dụng trong chụp cắt lớp vi tính.

Trong nghiên cứu, có 39 trong số 95 trường hợp (41,1%) bệnh nhân sử dụng thuốc độc thận trong 7 ngày đầu tiên sau khi nhập khoa Hồi sức cấp cứu Trong số đó, Vancomycin là loại thuốc được sử dụng nhiều nhất với 23 bệnh nhân (58,9%), tiếp theo là Teicoplanin với 8 bệnh nhân (20,5%) và Colistin với 5 bệnh nhân (12,8%).

• Tình trạng quá tải dịch ngày 3

Trong dân số nghiên cứu, CBDTL 3 ngày đầu có trung vị là 0,79 (-2,12; 4,91). Trong đó, có 26/95 (27,4%) có tình trạng quá tải dịch (CBDTL >5%) và 5/95 (5,3%)

Th uố c c ản qu an g

Am ph ote ric inB

Trước nhập HSCC 7 ngày sau nhập HSCC có CBDTL > 10%. Đặc điểm của tổn thương thận cấp

• Chẩn đoán tổn thương thận cấp

Có 12/95 (12,6%) bệnh nhân biết sCr nền trước khi nhập viện với sCr nền trung vị là 0,91 (0,61 ; 1).

Bảng 3.4: Giá trị sCr nền sCr lúc nhập viện (mg/dL), TV (KTPV) 1,97 (1,27 ; 3,04) p < 0,001* sCr nền ( mg/dL) ước tính từ công thức MDRD,

Nghiên cứu cho thấy giá trị sCr nền ước tính ngược từ công thức MDRD có trung vị là 1,05 (0,86; 1,12), thấp hơn đáng kể so với giá trị sCr lúc nhập viện của bệnh nhân, với ý nghĩa thống kê rõ ràng.

Biểu đồ 3.3: Chẩn đoán TTTC

Creatinin Nước tiểu Cả hai

Có 36,8% bệnh nhân được chẩn đoán TTTC thoả cả 2 tiêu chuẩn sCr và thể tích nước tiểu.

TTTC được chẩn đoán chủ yếu dựa vào sCr, chiếm 95,8% tổng số trường hợp, trong đó 58,9% được chẩn đoán chỉ dựa vào sCr Bên cạnh đó, 63,1% trường hợp TTTC được xác định dựa vào thể tích nước tiểu, và chỉ 4,2% trường hợp được chẩn đoán hoàn toàn dựa vào tiêu chuẩn thể tích nước tiểu.

• Tình trạng điều trị thay thế thận

Trong một nghiên cứu với 95 bệnh nhân, có 73,7% (70/95) được áp dụng ĐTTTT trong suốt thời gian nằm tại khoa HSCC Đặc biệt, 43,2% (41/95) bệnh nhân đã được khởi động ĐTTTT sớm trong vòng 12 giờ đầu tiên.

Bảng 3.5: Đặc điểm ĐTTTT trong 12 giờ đầu tiên

Số ca ĐTTTT sớm, trong 12 giờ đầu ĐTTTT Liên tục Ngắt quãng Giai đoạn 1, n (%) 35 (36,8) 9 (21,9) 8 (19,5) 1 (2,4)

Trong dân số nghiên cứu, TTTC giai đoạn 3 chiếm tỉ lệ nhiều nhất (42,1%), tiếp theo là giai đoạn 1 và giai đoạn 2 với tỉ lệ lần lượt là 36,8% và 21,1%.

Trong một nghiên cứu, 43,2% bệnh nhân (41/95) đã được điều trị tim mạch sớm trong vòng 12 giờ đầu tiên, chủ yếu thuộc nhóm bệnh nhân suy tim giai đoạn 3 (61%), trong khi chỉ 17,1% thuộc nhóm giai đoạn 2 Phương pháp điều trị tim mạch liên tục được áp dụng chủ yếu, chiếm 80,5%, gấp 4,1 lần so với phương pháp điều trị ngắt quãng (19,5%).

• Chỉ định ĐTTTT trong 12 giờ đầu tiên

Biểu đồ 3.4: Chỉ định ĐTTTT ở bệnh nhân TTTTC nhập khoa HSCC trong 12 giờ đầu tiên.

A: ĐTTTT liên tục B ĐTTTT ngắt quãng

Trong 12 giờ đầu tiên, hầu hết bệnh nhân được chỉ định điều trị thay thế thận tạm thời (ĐTTTT) ngắt quãng chủ yếu do các nguyên nhân cấp cứu như quá tải dịch, toan chuyển hoá nặng và tăng urê máu Đáng chú ý, có 22 trong số 41 bệnh nhân (chiếm 53,7%) được chỉ định ĐTTTT liên tục do nguyên nhân ngoài thận.

Tỉ lệ hồi phục chức năng thận và kết cục điều trị

Tỉ lệ hồi phục chức năng thận

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ HPCNT vào ngày thứ 7 và tại thời điểm xuất viện lần lượt là 37,9% và 47,4% Trong tuần đầu tiên, có 16,8% bệnh nhân mắc HPCNT sớm trong 2 ngày đầu, trong khi 21,1% bệnh nhân có HPCNT muộn từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 7.

Bệnh nhân HPCNT ngày 7 có số ngày nằm viện, số ngày ở khoa HSCC, số ngày thở máy, và số ngày ĐTTTT thấp hơn, cùng với tỷ lệ tử vong giảm đáng kể so với nhóm không HPCNT Tuy nhiên, không có sự khác biệt rõ rệt về kết quả điều trị giữa nhóm HPCNT sớm và HPCNT muộn.

RRI ngày 2 và phần trăm thay đổi RRI ngày 2 so với ngày đầu tiên có giá trị dự đoán HPCNT ngày 7 với AUC lần lượt là 0,702 và 0,704 Cụ thể, RRI ngày 2 với điểm cắt 0,722 có độ nhạy 63,9%, độ đặc hiệu 72,4%, giá trị tiên đoán dương 59% và giá trị tiên đoán âm 76,4% Trong khi đó, phần trăm thay đổi RRI ngày 2 so với ngày đầu tiên với điểm cắt -5,4% có độ nhạy 63,9%, độ đặc hiệu 82,7%, giá trị tiên đoán âm 69,7% và giá trị tiên đoán dương 78,7% trong việc dự đoán HPCNT.

RRI ngày 2 có mối tương quan thuận trung bình với tuổi (r = 0,41) và ít tương quan với các thông số huyết động đo cùng thời điểm Khi so sánh RRI ngày 0 và ngày 2, không có sự khác biệt về nhịp tim, huyết áp tâm trương, áp lực mạch, và liều tương đương norepinephrine giữa hai nhóm có và không HPCNT.

Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, các yếu tố độc lập như TTTC giai đoạn 3, tình trạng quá tải dịch, RRI ngày 2 > 0,722 và RRI ngày 2 giảm < 5% so với ngày đầu tiên có thể dự đoán khả năng HPCNT vào ngày thứ 7 Nghiên cứu cũng xem xét các đặc điểm của bệnh nhân, bao gồm tuổi tác và giới tính.

Trong một nghiên cứu với 95 bệnh nhân, tỷ lệ nam giới chiếm 60%, gấp 1,5 lần so với nữ giới Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 50,5 ± 16,1, với độ tuổi nhỏ nhất là 18 và lớn nhất là 92.

Các nghiên cứu tại khoa HSCC Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy bệnh nhân có độ tuổi tương đối cao, với nghiên cứu của Huỳnh Quang Đại năm 2010 cho biết tuổi trung bình của bệnh nhân sống sau 72 giờ nhập viện là 51,4 ± 21,5 Tương tự, nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Thảo năm 2008 cũng phản ánh đặc điểm này.

Năm 2010, nghiên cứu về bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng cho thấy tuổi trung bình là 58,2 ± 18,8 Tương tự, nghiên cứu của Lê Thị Diễm Tuyết tại khoa HSCC Bệnh viện Bạch Mai ghi nhận tuổi trung bình là 51,2 ± 18,8 Điều này cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân tại hai khoa hồi sức của hai bệnh viện hạng đặc biệt đều cao.

Trong nghiên cứu, 52,6% bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh, chủ yếu là đái tháo đường và tăng huyết áp, trong đó 12,6% có nhiều hơn một bệnh lý nền Nhóm bệnh nhân có HPCNT vào ngày thứ 7 và tại thời điểm xuất viện có ít bệnh nền hơn so với nhóm không HPCNT, tuy nhiên không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm.

Bệnh thận mạn không chỉ là yếu tố nguy cơ của tình trạng thận cấp tính (TTTC) mà còn ảnh hưởng đến tỷ lệ hồi phục chức năng thận (HPCNT) Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 2 bệnh nhân (2,1%) mắc bệnh thận mạn với GFR < 60 ml/phút/1,73 m² Nghiên cứu của tác giả Schetz (2015) cho thấy 28,7% bệnh nhân TTTC có tiền sử bệnh thận mạn, trong đó 31% không có giá trị sCr nền Đối với những bệnh nhân có sCr nền và không mắc bệnh thận mạn, tỷ lệ HPCNT không khác biệt giữa hai nhóm Tuy nhiên, nhóm không có sCr nền thường có đặc điểm nhân trắc học khác và tỷ lệ HPCNT thấp hơn so với nhóm có sCr nền Kết cục ở bệnh nhân TTTC trên nền bệnh thận mạn có thể tương đương hoặc xấu hơn so với bệnh nhân không có tiền sử bệnh thận mạn Sự khác biệt này có thể do điều kiện kinh tế và chương trình chăm sóc y tế ở các quốc gia hoặc do bệnh nhân không đi khám bệnh trước đó.

Trong nghiên cứu với 95 bệnh nhân, 73,7% nhập khoa HSCC do nhiễm trùng, chủ yếu từ đường tiêu hóa và hô hấp, trong đó 52,6% gặp sốc nhiễm khuẩn Ngoài ra, 11,6% bệnh nhân có tình trạng giảm thể tích tuần hoàn và giảm tưới máu thận do sốc mất máu và sốc tim.

Sinh lý bệnh của tình trạng thiểu niệu (TTTC) vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng có thể liên quan đến các yếu tố như thiếu máu cục bộ, tổn thương viêm, suy chức năng vi tuần hoàn và tế bào nội mô, cùng với sự thay đổi trong quá trình chết tế bào Việc phân loại nguyên nhân gây TTTC theo cách truyền thống giữa trước thận và tại thận gặp nhiều thách thức do sự phối hợp của nhiều nguyên nhân và chẩn đoán mô học hiếm khi được sử dụng Mô hình thiếu máu - tái tưới máu chủ yếu dựa trên nghiên cứu động vật, trong khi các mô hình khác như do độc chất hay nhiễm trùng huyết lại ít được nghiên cứu Do đó, nghiên cứu này không đưa ra phân tích nguyên nhân gây TTTC mà chỉ cung cấp chẩn đoán ban đầu khi nhập khoa HSCC nhằm cung cấp thông tin về đặc điểm dân số nghiên cứu.

Giá trị sCr nền đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán tình trạng thận cấp tính (TTTC) Năm 2004, ADQI khuyến cáo sử dụng công thức MDRD để ước tính sCr nền ở những bệnh nhân không có thông tin về chức năng thận trước đó Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có tiền sử bệnh thận mạn hoặc nghi ngờ mắc bệnh thận mạn, việc sử dụng công thức này có thể dẫn đến tỷ lệ TTTC cao hơn, do sCr nền ước tính có thể thấp hơn giá trị thực Trong nghiên cứu của chúng tôi, mặc dù tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử bệnh thận mạn rất thấp, nhưng tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường (25,3%) và tăng huyết áp (20%) lại tương đối cao Thêm vào đó, với độ tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 50,5 ± 16,1, vẫn có nguy cơ tiềm ẩn về bệnh thận mạn trước đó.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 12,6% bệnh nhân biết giá trị sCr nền, với trung vị là 0,91 (0,61; 1) Đối với những bệnh nhân không có thông tin về sCr nền, sử dụng công thức MDRD cho mức GFR 75 ml/phút/1,73 m² da cho thấy giá trị trung vị sCr ước đoán là 1,05 (0,86; 1,12), thấp hơn đáng kể so với giá trị sCr lúc nhập viện là 1,97 (1,27; 3,04) Điều này cho thấy bệnh nhân có thể đã có tình trạng thận cấp tính ngay tại thời điểm nhập viện hoặc có bệnh thận mạn tính tiềm ẩn chưa được phát hiện, dẫn đến giá trị sCr ước đoán thấp.

• Mức độ nặng của TTTC:

Trong nghiên cứu năm 2018 của tác giả Phan Thị Xuân tại Bệnh viện Chợ Rẫy, 268 bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết được khảo sát, trong đó có 62 bệnh nhân mắc tình trạng tổn thương thận cấp (TTTC) theo tiêu chuẩn AKIN Tỷ lệ TTTC giai đoạn 1 chiếm 30,6% trong tổng số bệnh nhân.

Ngày đăng: 04/10/2023, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w