ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bối cảnh và thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, hồi cứu.
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 1 năm
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân có bướu giáp nhân điều trị và theo dõi tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
Bệnh nhân có bướu giáp nhân điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020.
Bệnh nhân mắc bướu giáp nhân đã trải qua quá trình siêu âm và phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh, với kết quả giải phẫu bệnh mô cho thấy tình trạng cụ thể của nhân giáp.
Có hồ sơ bệnh án lưu trữ (bệnh án điện tử).
Hồ sơ ghi nhận đầy đủ kết quả siêu âm và kết quả giải phẫu bệnh.
Nhân giáp có kết quả là ung thư di căn.
Nhân giáp có kết quả là lymphôm tuyến giáp.
Không thực hiện siêu âm tuyến giáp tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP HồChí Minh.
Biến số nghiên cứu
- Nhóm tuổi: là biến định tính, phân chia nhóm tuổi thành 2 nhóm:
- Giới: là biến số định tính, có hai giá trị:
- Nơi cư ngụ: là biến số định tính, có hai giá trị:
2.3.2 Biến số về đặc điểm lâm sàng
- Tiền căn cường giáp: được ghi nhận trong hồ sơ, là biến số định tính, có hai giá trị gồm:
✓ Có tiền căn cường giáp
✓ Không ghi nhận tiền căn cường giáp
- Tình huống phát hiện nhân giáp: được ghi nhận trong hồ sơ, là biến số định tính, có hai giá trị như sau:
✓ Có triệu chứng: tuyến giáp lớn dần, đau vùng tuyến giáp, nuốt vướng, khàn giọng.
Triệu chứng tuyến giáp lớn dần là một dấu hiệu quan trọng thường được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án và là lý do chính khiến bệnh nhân tìm đến khám bệnh lý tuyến giáp Đây là một biến số định tính, bao gồm hai giá trị khác nhau.
✓ Có triệu chứng tuyến giáp lớn dần
✓ Không có triệu chứng tuyến giáp lớn dần
- Triệu chứng đau vùng tuyến giáp: được ghi nhận trong hồ sơ, là biến số định tính, gồm hai giá trị như sau:
- Triệu chứng nuốt vướng: được ghi nhận trong hồ sơ, là biến số định tính, gồm hai giá trị như sau:
- Triệu chứng khàn giọng: được ghi nhận trong hồ sơ, là biến số định tính, gồm hai giá trị như sau:
- Nhân giáp sờ được khi thăm khám: được ghi nhận trong hồ sơ, là biến số định tính, gồm hai giá trị như sau:
✓ Nhân giáp sờ được khi thăm khám
✓ Không nhân giáp sờ được khi thăm khám
- Tính chất di động của nhân giáp: được ghi nhận trong hồ sơ, là biến số định tính, gồm hai giá trị như sau:
- Mật độ của nhân giáp: được ghi nhận trong hồ sơ, là biến số định tính, gồm ba giá trị như sau:
2.3.3 Biến số về đặc điểm cận lâm sàng
2.3.3.1 Biến số về chức năng tuyến giáp
- Nồng độ hormone giáp trước phẫu thuật: được ghi nhận trong hồ sơ, là biến số định lượng, giá trị tham chiếu của hormon tuyến giáp như sau:
- Chức năng tuyến giáp: là biến số định tính, có ba giá trị như sau:
Cường giáp được xác định khi nồng độ TSH thấp hơn 0,35 mUI/L và FT4 nằm trong khoảng tham chiếu hoặc vượt quá 19 pmol/L.
✓ Bình giáp: TSH và FT4 trong giá trị của khỏang tham chiếu
Suy giáp là tình trạng khi chỉ số TSH cao hơn 4,94 mUI/L, trong khi FT4 có thể nhỏ hơn 9 pmol/L hoặc nằm trong khoảng tham chiếu bình thường.
2.3.3.2 Biến số đặc điểm siêu âm nhân giáp
- Loại bướu giáp nhân: là biến số định tính, có hai giá trị như sau:
Đường kính nhân giáp là một biến số định lượng quan trọng, được xác định bằng giá trị của đường kính lớn nhất đo trên mặt phẳng cắt dọc và đường kính trước sau trên mặt phẳng ngang, với đơn vị tính là cm.
- Phân tầng đường kính nhân giáp: là biến số định tính, gồm hai giá trị như sau:
✓ Đường kính nhân giáp dưới 1 cm
✓ Đường kính nhân giáp từ 1 đến dưới 2 cm
✓ Đường kính nhân giáp từ 2 cm trở lên
- Đặc điểm phản âm của nhân giáp: là biến số định tính, có bốn giá trị như sau:
✓ Giảm âm: giảm độ phản âm so với mô tuyến giáp
✓ Đồng âm: độ phản âm tương tự so với mô tuyến giáp
✓ Tăng âm: tăng độ phản âm so với mô tuyến giáp
✓ Hỗn hợp: nhu mô nhân giáp không đều, có vùng tăng âm, có vùng giảm âm
- Đặc điểm hình dạng của nhân giáp: là biến số định tính, gồm hai giá trị:
✓ Hình dạng nhân giáp có chiều cao lớn hơn chiều rộng khi đo trong mặt
✓ Hình dạng nhân giáp không có chiều cao lớn hơn chiều rộng khi đo trong mặt phẳng ngang
Bờ nhân giáp là một biến định tính, thể hiện đường viền hoặc giao diện giữa nhân giáp và nhu mô tuyến giáp lân cận, cũng như các cấu trúc liền kề ở ngoại vi tuyến giáp, bao gồm hai giá trị.
✓ Bờ đều: không bị gián đoạn, rõ ràng, đường cong bờ thường tạo thành hình cầu hoặc hình elip
Viền của nhân giáp có hình dạng không đều, với các đặc điểm như răng cưa hoặc các góc nhọn, có thể kèm theo hoặc không có mô mềm rõ ràng lồi vào nhu mô xung quanh nhân giáp.
- Giới hạn nhân giáp: là biến định tính, gồm hai giá trị:
✓ Giới hạn rõ: bờ nhân giáp rõ, liên tục, phân biệt rõ với nhu mô tuyến giáp
✓ Giới hạn không rõ: đường viền của nhân giáp khó phân biệt với nhu mô tuyến giáp; nhân giáp bờ không liên tục hoặc có thùy
- Nhân giáp xâm lấn vỏ bao: là biến định tính, gồm hai giá trị:
✓ Nhân giáp có xâm lấn vỏ bao: nhân giáp xâm lấn ra ngoài bao giáp
✓ Nhân giáp không xâm lấn vỏ bao: nhân giáp không xâm lấn ra ngoài bao giáp
- Đặc điểm vôi hóa nhân giáp: là biến số định tính, gồm ba giá trị:
✓ Không vôi hóa: không có các vùng khu trú có độ phản âm tăng lên rõ rệt trong một nhân giáp so với mô xung quanh
✓ Vi vôi hóa: các vùng tăng âm li ti, không có bóng lưng, kích thước dưới 1mm
✓ Vôi hóa lớn: vôi hóa trở nên đủ lớn có bóng lưng
- Thành phần trong nhân giáp: là biến định tính, gồm bốn giá trị:
✓ Dạng nang: hoàn toàn chứa đầy dịch
✓ Dạng đặc: được cấu tạo hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn bằng mô mềm,chỉ với một vài không gian nang nhỏ
✓ Dạng nang đặc: chủ yếu dạng nang, bao gồm thành phần mô mềm chiếm ít hơn 50% thể tích của nhân giáp
✓ Dạng tổ ong: được cấu tạo chủ yếu từ các nang nhỏ (dạng bọt biển)
- Hạch vùng trên siêu âm: là biến định tính, gồm hai giá trị:
2.3.4 Biến số về chẩn đoán tế bào học nhân giáp
Kỹ thuật chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ 23 – 25 gauge được thực hiện để lấy 4 tiêu bản kính và phết nhuộm Papanicolaou Kết quả tế bào học sẽ được các Bác Sĩ chuyên khoa Giải Phẫu Bệnh tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh đọc và phân tích Đây là một biến số định tính quan trọng trong chẩn đoán bệnh lý tuyến giáp.
Bài viết đề cập đến các tình trạng liên quan đến tuyến giáp như không thể chẩn đoán, biểu mô tuyến giáp lành tính, viêm giáp Hashimoto, nang giáp, phình giáp và tổn thương dạng túi tuyến Ngoài ra, còn có những nghi ngờ về carcinôm tuyến giáp dạng nhú, bao gồm cả các biến thể như carcinôm tuyến giáp dạng nhú biến thể nang, carcinôm tuyến giáp kém biệt hóa và carcinôm tuyến giáp không biệt hóa.
Từ những giá trị của biến số chẩn đoán tế bào học kể trên, chúng tôi phân nhóm tế bào học theo hệ thống phân loại Bethesda như sau:
✓ Nhóm I: không thể chẩn đoán hoặc không thỏa tiêu chuẩn mẫu.
✓ Nhóm II: lành tính (nhân giáp keo, viêm giáp bán cấp, viêm giáp Hashimoto, ).
✓ Nhóm III: tổn thương không điển hình không xác định hoặc tổn thương dạng túi tuyến không xác định.
✓ Nhóm IV: u dạng túi tuyến hoặc nghi ngờ u dạng túi tuyến.
Nhóm V bao gồm các trường hợp nghi ngờ ác tính, như nghi ngờ carcinôm tuyến giáp dạng nhú, carcinôm tuyến giáp dạng tủy, và carcinôm di căn từ nơi khác đến tuyến giáp Ngoài ra, nhóm này cũng bao gồm nghi ngờ lymphôm và các dạng ung thư khác.
Nhóm VI bao gồm các loại ung thư ác tính của tuyến giáp, như carcinôm tuyến giáp dạng nhú, carcinôm tuyến giáp dạng tủy, carcinôm tuyến giáp dạng không biệt hóa, carcinôm tuyến giáp dạng biệt hóa kém và carcinôm từ các nơi khác di căn đến tuyến giáp.
2.3.5 Biến số về chẩn đoán giải phẫu bệnh nhân giáp
Sau khi thực hiện phẫu thuật bướu giáp nhân, kết quả giải phẫu bệnh sẽ được các bác sĩ chuyên khoa Giải Phẫu Bệnh tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh tiến hành đọc và phân tích.
Hồ Chí Minh Đây là biến số định tính, bao gồm những giá trị sau đây:
Biểu mô tuyến giáp lành tính và các tình trạng liên quan như nang giáp, phình giáp, viêm giáp Hashimoto, và viêm giáp bán cấp có thể gây ra nhiều vấn đề cho sức khỏe Ngoài ra, các loại u như u tuyến túi và u tế bào Hurthle cũng là những dạng tổn thương có thể xảy ra Trong số các bệnh lý ác tính, carcinôm tuyến giáp dạng nhú và các biến thể của nó, bao gồm carcinôm tuyến giáp dạng nhú biến thể nang, cũng như carcinôm tuyến giáp kém biệt hóa và không biệt hóa, cần được chú ý để chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Từ những giá trị của biến số giải phẫu bệnh kể trên, chúng tôi phân thành hai nhóm kết quả lành tính và ác tính như sau:
Biểu mô tuyến giáp lành tính không gây ung thư bao gồm các tình trạng như nang giáp, phình giáp, viêm giáp Hashimoto, viêm giáp bán cấp, u tuyến túi và u tế bào Hurthle.
Ung thư tuyến giáp có nhiều loại ác tính, bao gồm carcinôm tuyến giáp dạng nhú, carcinôm tuyến giáp dạng nhú biến thể nang, và carcinôm tuyến giáp dạng nang xâm lấn tối thiểu Ngoài ra, còn có carcinôm tuyến giáp dạng nang xâm lấn mạch máu, carcinôm tuyến giáp dạng nang xâm lấn rộng, carcinôm tuyến giáp kém biệt hóa, và carcinôm tuyến giáp không biệt hóa Bên cạnh đó, sarcôm tuyến giáp và lymphôm ác tính tuyến giáp cũng là những dạng ung thư đáng chú ý trong nhóm này.
Phương pháp tiến hành
Chọn tất cả các hồ sơ lưu trữ của bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn nhận bệnh và không thỏa tiêu chuẩn loại trừ.
2.4.2 Quy trình tiến hành nghiên cứu
- Đầu tiên, chúng tôi xác định mã số nhập viện của những bệnh nhân đã được phẫu thuật bướu giáp nhân thông qua hệ thống máy vi tính.
Chúng tôi đã tạo danh sách bệnh nhân khám và phẫu thuật tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 1 năm 2020 đến ngày 31 tháng 12 năm 2020 thông qua máy vi tính.
Bản danh sách đã được gửi đến Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp (KHTH) của Bệnh Viện Đại Học Y Dược nhằm xin phép tiến hành thu thập hồ sơ lưu trữ tại bệnh viện.
Sau khi nhận được sự chấp thuận từ bệnh viện, chúng tôi tiến hành tìm kiếm hồ sơ trong kho lưu trữ dựa trên danh sách đã được xác định trong hệ thống máy tính Khi thu thập được hồ sơ, chúng tôi sẽ xem xét từng trường hợp và ghi chép thông tin vào bảng thu thập dữ liệu đã được thiết kế trước đó (có đính kèm phụ lục).
Sau khi hoàn tất việc thu thập dữ liệu từ bảng danh sách, chúng tôi tiến hành nhập liệu và xử lý, phân tích các số liệu đã thu thập bằng phần mềm SPSS 20.0.
Kỹ thuật đo lường biến số
Hồ sơ lưu trữ là bệnh án điện tử được lưu trữ trên hệ thống máy tính của Bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh, nơi thực hành lâm sàng cho sinh viên đại học và sau đại học Tại đây, các chuyên gia đầu ngành tập trung, đảm bảo thông tin bệnh được ghi nhận rõ ràng và đầy đủ.
Cách thu thập số liệu được thực hiện bởi chính người thu thập, với bảng thu thập được thiết kế rõ ràng và các biến số được định nghĩa cụ thể Sau khi tiến hành thu thập sơ bộ 30 hồ sơ đầu tiên, bảng thu thập đã được điều chỉnh để phù hợp hơn.
Siêu âm tuyến giáp được thực hiện bằng máy siêu âm Samsung HS 40 và Siemens, sử dụng đầu dò phẳng (linear) với tần số 7,5-10 MHz Quy trình này do các bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh có kinh nghiệm và chuyên môn sâu từ trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh thực hiện.
Phẫu thuật và giải phẫu bệnh nhân giáp là quy trình quan trọng, trong đó nhân giáp nghi ngờ ác tính được thực hiện bởi các phẫu thuật viên có kinh nghiệm Mẫu mô học sau phẫu thuật sẽ được các bác sĩ chuyên khoa Giải phẫu bệnh tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh đọc và phân tích.
Phương pháp thống kê
Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.
Kết quả được trình bày bằng bảng và biểu đồ.
Biến định tính được trình bày dưới dạng tỷ lệ, và để phân tích mối liên hệ giữa hai biến định tính, chúng ta sử dụng phép kiểm Chi bình phương Nếu giá trị ước lượng của biến định tính nhỏ hơn 5, cần áp dụng hiệu chỉnh Fisher để đảm bảo độ chính xác của kết quả phân tích.
Biến định lượng sẽ được kiểm tra tính phân phối chuẩn để xác định phương pháp thống kê phù hợp Nếu biến có phân phối chuẩn, nó sẽ được biểu diễn bằng trung bình và độ lệch chuẩn, và so sánh hai trung bình bằng phép kiểm T Ngược lại, nếu biến có phân phối không chuẩn, nó sẽ được trình bày dưới dạng trung vị và khoảng tứ phân vị (IQR), và việc so sánh hai trung vị sẽ sử dụng phép kiểm phi tham số U (Mann-Whitney U).
Giá trị p 1,5 cm, 97% đã cải thiện được các triệu chứng sau phẫu thuật tuyến giáp
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kích thước nhân giáp lớn (> 3cm hoặc 4cm) có liên quan đến khả năng ác tính cao Trong nghiên cứu của chúng tôi, đường kính nhân giáp trung bình trong nhóm không ung thư giáp là 1,5cm Triệu chứng nuốt vướng có thể giống với triệu chứng của các bệnh lý đường tiêu hóa như bệnh trào ngược dạ dày thực quản, do đó triệu chứng này xuất hiện nhiều hơn ở nhóm không ung thư giáp trong nghiên cứu của chúng tôi.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 3 bệnh nhân biểu hiện triệu chứng khàn giọng, chiếm tỉ lệ 0,6% Trong số này, 0,5% bệnh nhân thuộc nhóm ung thư giáp, trong khi 1,1% còn lại không có ung thư.
Triệu chứng khàn giọng có thể do bệnh lý ác tính tại tuyến giáp, thường liên quan đến u lympho tuyến giáp nguyên phát xâm lấn thanh quản Bệnh nhân có thể gặp triệu chứng tuyến giáp to lên nhanh chóng, chèn ép các cấu trúc lân cận, nuốt vướng, và cảm giác đè ép ở vùng cổ Tuy nhiên, u lympho nguyên phát tuyến giáp là hiếm, chiếm khoảng 1%-5% các khối u ác tính tuyến giáp Do đó, trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng khàn giọng chiếm tỉ lệ rất nhỏ, vì không ghi nhận bệnh nhân nào có chẩn đoán u lympho tuyến giáp hay bệnh lý ác tính di căn tuyến giáp Để làm rõ mối liên quan giữa triệu chứng khàn giọng và nguy cơ ác tính nhân giáp, cần thiết kế nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn.
4.2.1.6 Triệu chứng sờ được nhân giáp khi khám lâm sàng
Trong nghiên cứu của chúng tôi, đã ghi nhận 143 trường hợp nhân giáp, chiếm 30,2% trong số các bệnh nhân được khám tuyến giáp Trong số này, 21,2% trường hợp được xác định là ung thư giáp, trong khi đó, nghiên cứu của tác giả Ezzat trên dân số Bắc Mỹ cho thấy 21% nhân giáp có thể sờ nắn được trong khi khám lâm sàng, với tỷ lệ nhân giáp lành tính chiếm đa số, lên tới 63%.
4.2.1.7 Đặc điểm về mật độ nhân giáp khi khám lâm sàng tuyến giáp
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 143 nhân giáp được phát hiện lâm sàng, chiếm 30,2%, trong đó hơn một nửa có mật độ chắc-cứng (76 trường hợp) và 67 trường hợp còn lại có mật độ mềm Đáng chú ý, tỷ lệ ung thư giáp ở những nhân giáp có mật độ chắc-cứng cao hơn đáng kể so với nhóm không ung thư (75,3% so với 24,2%) Kết quả này phù hợp với đề xuất của Laszlo Hegedüs, cho rằng các nhân giáp có mật độ chắc hoặc cứng thuộc nhóm có dấu hiệu nghi ngờ cao về khả năng ác tính.
4.2.1.8 Đặc điểm về khả năng di động của nhân giáp qua khám lâm sàng
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 143 nhân giáp (30,2%) được ghi nhận là có thể sờ thấy trên lâm sàng, với phần lớn là di động (139 trường hợp) Trong số 139 nhân giáp di động, có 78 bệnh nhân thuộc nhóm ung thư (96,3%) và 61 bệnh nhân thuộc nhóm không ung thư (98,4%) Khả năng di động của nhân giáp cho thấy mức độ gắn kết với các cấu trúc xung quanh; nhân giáp chắc hoặc cứng kèm theo di động kém và cố định với mô xung quanh thường được xem là dấu hiệu nghi ngờ ác tính theo đề xuất của Laszlo Hegedüs Tuy nhiên, việc sờ nắn nhân giáp là yếu tố chủ quan và có thể dẫn đến sự khác biệt giữa các nghiên cứu.
4.2.2 Đặc điểm chức năng tuyến giáp trước phẫu thuật tuyến giáp
Trước phẫu thuật, 93,4% trường hợp nhân giáp có chức năng bình giáp Trong nhóm bệnh nhân bình giáp, tỉ lệ nhân giáp ung thư là 95,3%, cao hơn so với 85,7% ở nhóm không ung thư Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Trúc Dung, người cũng ghi nhận không có sự khác biệt về nồng độ hormone FT3, FT4 và TSH giữa hai nhóm ung thư và không ung thư giáp.
Một phân tích gộp 41 nghiên cứu từ tháng 1/1989 đến 12/2012 với 29,678 nhân giáp cho thấy không có mối liên quan giữa mức TSH >2,5 mUI/l và nguy cơ ác tính của nhân giáp Ngược lại, nghiên cứu của K Boelaert và cộng sự chỉ ra rằng tỉ lệ nhân giáp ác tính tăng theo mức TSH, với tỉ lệ cao nhất ở mức TSH >5,5 mU/l.
4.2.3 Đặc điểm siêu âm của bướu giáp nhân
4.2.3.1 Đặc điểm về loại nhân giáp
Trong 473 trường hợp nhân giáp, siêu âm cho thấy 70,2% là bướu giáp đa nhân, trong khi 29,8% là đơn nhân Đặc biệt, 32,5% nhân giáp đơn nhân thuộc nhóm ung thư, cao hơn so với 18,7% ở nhóm không ung thư Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Trúc Dung và Đoàn Thị Phương Thảo, cho thấy tỉ lệ ung thư ở nhân giáp đơn nhân cao Nghiên cứu của Papini trên 402 nhân giáp không sờ thấy cho thấy 48,5% là đơn nhân, trong đó 9,2% thuộc nhóm ung thư Nghiên cứu hồi cứu của Keh cho thấy 75,4% nhân giáp đơn nhân có bệnh lý tăng sản, với 34,4% là ác tính Osman Uyar ghi nhận 36,9% nhân giáp ác tính trong số 141 bệnh nhân phẫu thuật, chủ yếu là ung thư tuyến giáp dạng nhú Nghiên cứu của Debanu trên 137 nhân giáp cho thấy 40,98% là ác tính, trong khi Burkan Nasr ghi nhận tỉ lệ ác tính là 26% trong 135 nhân giáp đơn nhân.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ ác tính của nhân giáp đơn nhân dao động từ 10-40%, đồng thời tăng nguy cơ ác tính gấp đôi đối với đặc điểm này, phù hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước.
4.2.3.2 Đặc điểm về đường kính nhân giáp
Giá trị siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp
Bảng 4.1 trình bày độ nhạy và độ đặc hiệu của các đặc điểm siêu âm tuyến giáp trong việc chẩn đoán ung thư giáp Các đặc điểm siêu âm đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng phát hiện và phân biệt ung thư tuyến giáp, với độ nhạy và độ đặc hiệu được đánh giá rõ ràng.
Các đặc điểm siêu âm có giá trị chẩn đoán ung thư tuyến giáp cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu cao, chẳng hạn như nhân giáp có đặc điểm giảm âm với độ nhạy 84,3% và độ đặc hiệu 65,9% Bên cạnh đó, bờ không đều có độ nhạy 70,4% và độ đặc hiệu 86,8%, trong khi nhân dạng đặc đạt độ nhạy 90,8% và độ đặc hiệu 76,9% Một số đặc điểm khác như nhân giáp có trục dọc, vi vôi hóa, và giới hạn không rõ có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy thấp hơn, với độ nhạy lần lượt là 12,3%, 43,2% và 34,6% Đặc biệt, xâm lấn vỏ bao giáp có độ nhạy rất thấp chỉ 5%, nhưng độ đặc hiệu đạt 100%, trong khi hạch vùng có độ nhạy 32,7% và độ đặc hiệu 94,5%.
Khi siêu âm phát hiện một trong bốn đặc điểm giảm âm, bao gồm trục dọc, bờ không đều và vi vôi hóa, giá trị chẩn đoán ung thư tuyến giáp đạt độ nhạy 97,1% và độ đặc hiệu 46,2%.
Khi so sánh với các nghiên cứu khác, chúng tôi ghi nhận:
Bảng 4.2 Độ nhạy và độ đặc hiệu của các đặc điểm siêu âm tuyến giáp so với các nghiên cứu khác
Nghiên cứu của chúng tôi
Giá trị FNA trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp
Trong tổng số 406 trường hợp thực hiện FNA, tỷ lệ ung thư tuyến giáp cao nhất được ghi nhận ở nhóm V (47,6%) và nhóm VI (45,5%) Ngược lại, tỷ lệ ung thư tuyến giáp ở các nhóm có phân loại thấp hơn như nhóm II (1,5%), nhóm III (1,2%) và nhóm IV (3,9%) là rất thấp.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy FNA có độ nhạy 93,1%, độ đặc hiệu 91,7%, giá trị tiên đoán dương 98,1% và giá trị tiên đoán âm 74,2% Khi so sánh với các nghiên cứu khác, những kết quả này cho thấy hiệu quả cao của FNA trong chẩn đoán.
Kỹ thuật chọc hút tế bào học bằng kim nhỏ cho thấy độ nhạy 55% và độ đặc hiệu 83,8% theo nghiên cứu của Đoàn Thị Phương Thảo, trong khi các nghiên cứu khác đạt độ nhạy lên tới 98,1%.
Nghiên cứu của chúng tôi 93,1 91,7
HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu này là một nghiên cứu cắt ngang hồi cứu, trong đó các đặc điểm lâm sàng được ghi nhận qua hồ sơ, dẫn đến thông tin không đầy đủ so với việc hỏi bệnh sử và thăm khám trực tiếp bệnh nhân Đặc điểm siêu âm tuyến giáp được đánh giá bởi các bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh tại cùng một cơ sở, nhưng tiêu chuẩn chẩn đoán đôi khi không hoàn toàn đồng nhất.
Thiết kế nghiên cứu này áp dụng tiêu chuẩn chọn mẫu cho những trường hợp đã thực hiện sinh thiết nhân giáp, do đó, dân số chọn mẫu không phản ánh đầy đủ đặc điểm của dân số chung.