Trong phạm vi Khóa luận, quyền khởi kiện VADS tại Tòa án được hiểu là khả năng mà ở đó cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây gọi là chủ thể thực hiện thông qua phương thức khởi kiện, yêu cầu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
ĐÀO TẤN ANH
QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – 2023
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
ĐÀO TẤN ANH
QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ PHẠM THỊ THÚY
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Đào Tấn Anh – Sinh viên lớp 103-DS44A Nhóm 1, xin cam đoan
rằng Khóa luận tốt nghiệp là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học tận tình của Thạc sĩ Phạm Thị Thúy – Khoa Luật Dân
sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Việc nghiên cứu đảm bảo
tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Những phân tích, so sánh, bình luận và kiến nghị trong công trình là kết quả của quá trình tiếp cận, học hỏi, đầu tư nghiên cứu một cách nghiêm túc của tác giả Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả Khóa luận
Đào Tấn Anh
Trang 47 HĐTP TANDTC Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Bố cục Khóa luận 7
CHƯƠNG 1 CHỦ THỂ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN 8
1.1 Khái niệm chủ thể khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án 8
1.2 Nội dung về chủ thể khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án 11
1.2.1 Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự nhằm mục đích tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình 12
1.2.2 Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác; bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng.29 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN 36
2.1 Khái niệm điều kiện khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án 36
2.2 Nội dung về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án 37
2.2.1 Điều kiện về chủ thể 39
2.2.2 Điều kiện về thẩm quyền của Tòa án 43
2.2.3 Điều kiện “sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền” 45
2.2.4 Điều kiện tiền tố tụng 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 71
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án là quyền được xây dựng trên cơ
sở quyền con người, quyền công dân Tại Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948 đã ghi nhận, ai cũng có quyền yêu cầu Tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận (Điều 8) Xuất phát
từ nội dung của Tuyên ngôn này, quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của quốc gia là một quyền cơ bản Từ đó, đặt ra trách nhiệm cho Nhà nước trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Tố tụng dân sự có liên quan đến quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa
án là quyền được ghi nhận từ rất sớm từ năm 1945 cho đến nay Việc thừa nhận quyền này đã tạo nên hành lang pháp lý trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể cho rằng “mình” bị xâm phạm quyền hoặc có tranh chấp Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) Trong lĩnh vực dân sự, tranh chấp dân sự xảy
ra trong đời sống là một yếu tố khách quan mang tính quy luật, do đó cần phải có
cơ chế để giải quyết các tranh chấp dân sự phát sinh trên thực tế1 Biết rằng quan
hệ dân sự được hình thành dựa trên quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của
cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do
ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm Khi ghi nhận quyền khởi kiện vụ
án dân sự tại Tòa án đã và đang góp phần tạo nên sự ổn định trong về xã hội, đảm bảo các quan hệ xã hội không bị xâm phạm, duy trì trật tự ổn định của các quan
hệ dân sự nói chung Đồng thời, khi quan hệ dân sự được đảm bảo và duy trì, từ
đó các quan hệ dân sự ngày các phát triển đảm bảo sự phát triển kinh tế của xã
hội Như tác giả Nguyễn Huy Đẩu từng khẳng định “một tố tụng thiết lập hoàn bị
là một sự bảo chứng cho hòa bình xã hội”2
1 Vũ Hoàng Anh (2017), Quyền của nguyên đơn trong Tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 14
2 Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự tố tụng Việt Nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, tr
07
Trang 7Tuy nhiên, hiện nay các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 liên quan đến quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án bộc lộ một số hạn chế nhất định Đơn cử như vấn đề chủ thể khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa định cụ thể một số vấn đề như “ủy quyền khởi kiện
vụ án dân sự của cá nhân”, “xu hướng khởi kiện tập thể vụ án dân sự tại Tòa án”, hay vấn đề về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 phát sinh một số bất cập có liên quan đến “vấn đề về điều kiện về sự việc tranh chấp chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”, “ vấn đề liên quan đến điều kiện về nội dung”,…
Vì vậy, việc nghiên cứu những quy định pháp luật về quyền khởi kiện vụ
án dân sự tại Tòa án trong Tố tụng dân sự dưới cả góc độ pháp lý lẫn thực tiễn áp dụng thông qua chủ thể khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án và điều kiện khởi kiện
vụ án dân sự tại Tòa án luôn là vấn đề cần thiết Từ đó, góp phần nêu ra những bất cập còn tồn đọng, và đưa ra các kiến nghị pháp lý nhằm hoàn thiện, bảo đảm tốt hơn quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án của các trong Tố tụng dân sự nói riêng và trong hoạt động tư pháp nói chung
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài Khóa luận tốt nghiệp
“Quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án” để nghiên cứu làm rõ những vấn đề
về lý luận, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án trong Tố tụng dân sự, từ đó đề xuất kiến nghị mang tính hoàn thiện cho quá trình sửa đổi và bổ sung pháp luật hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án trong Tố tụng dân sự đã được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu dưới khía cạnh là một vấn đề của công trình nghiên cứu đó hoặc có một số công trình lựa chọn một hoặc một số vấn
đề cấu thành nên nội hàm quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án làm đối tượng nghiên cứu Cụ thể:
Các giáo trình, sách chuyên khảo
Thứ nhất, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự; Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam; Trường Đại học Luật – Đại học Huế (Đoàn Đức Lương chủ biên) (2013), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam: Đây được xem là những
công trình nghiên cứu cung cấp những kiến thức cơ bản, nền tảng cho sinh viên,
Trang 8đồng thời giúp tác giả nhận diện những vấn đề cơ bản của Bộ luật Tố tụng dân sự, mặc dù, các công trình kể trên không đề cập trực tiếp đến quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
Thứ hai, Nguyễn Thị Hoài Phương (Chủ biên) (2016), Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Cuốn sách này đã đưa ta tổng
quan được điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 so với quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 Từ đó, các tác giả
đã bình luận vai trò của những điểm mới kể trên, thể hiện được sự cần thiết khi sửa đổi và ban hành bộ luật mới, thay thế Đồng thời, sách này có một chuyên đề với hàm lượng khoa học như một bài viết “tạp chí” đề cập trực tiếp đến quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án Đây được xem là những tiền đề, giúp tác giả nhận biết một số vấn đề cơ bản về quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
Thứ ba, Đặng Thanh Hoa (Chủ biên) (2020), Pháp luật Tố tụng dân sự (Phần thủ tục giải quyết vụ án dân sự) - Tình huống và phân tích: Một vấn đề
được công trình nghiên cứu, đề cập đến chính là vấn đề cá nhân ủy quyền khởi kiện cho cá nhân khác, các tác giả chỉ ra những quan điểm trái chiều xoay quanh
Thứ năm, Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự tố tụng Việt Nam; Vũ Văn Mẫu (1961), Dân luật Khái luận; Châu Tu Phát (1973), Luật Dân sự tố tụng lược giải: Đây là những công trình nghiên cứu thời kỳ pháp luật Việt Nam Cộng hòa,
tuy nhiên những công trình này đã cung cấp được những cách hiểu và bản chất của “tố quyền” – một thuật ngữ được các học giả đánh giá rằng nó bao hàm cả thuật ngữ “quyền khởi kiện”
Các Luận án, Luận văn
Thứ nhất, Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội: Luận án này được xem là công nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, chính vì thế tác giả không tập trung phân tích dưới góc độ quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
Trang 9Thứ hai, Vũ Hoàng Anh (2017), Quyền của nguyên đơn trong Tố tụng dân
sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội: Đây được
xem là công nghiên cứu có tính liên hệ với Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Luận văn này tập trung nghiên cứu các quyền của nguyên đơn và một trong những quyền được tác giả Vũ Hoàng Anh đề cập là quyền khởi kiện Tương tự như vậy, công trình đã tạo nền tảng, cách tiếp cận cơ bản làm tiền đề cho hoạt động nghiên cứu của tác giả
Thứ ba, Lê Thị Thu Thủy (2017), Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội: Tác giả đã nếu được một số vấn đề có liên quan đến quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án, đồng thời cách tiếp cận của tác giả theo “chiều dọc” của vấn đề Những kết quả nghiên cứu của tác giả cũng là tiền
đề giúp tác giả triển khai Khóa luận một cách đầy đủ hơn
Thứ tư, Trần Thị Lượt (2014), Khởi kiện vụ án dân sự, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội: Công trình đề cập đến một số vấn đề liên quan đến khởi kiện vụ án dân sự, từ đó đề cập đến điều kiện khởi kiện vụ án dân
sự Tuy nhiên, công trình nghiên cứu quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004, sửa đổi bổ sung năm 2011
Các bài viết, tạp chí chuyên ngành
Thứ nhất, Nguyễn Văn Tiến (2022), Bàn về ủy quyền khởi kiện trong Tố tụng dân sự, Tạp chí Tòa án nhân dân (điện tử): Bài viết được tác giả đề cập và
phân tích quy định của pháp luật có liên quan đến vấn đề cá nhân ủy quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án cho cá nhân khác, từ đó đưa ra nhận định pháp lý liên quan đến vấn đề này
Thứ hai,Zhang Weiping, Phối hợp, liên thông giữa việc thi hành Bộ luật Dân sự và Luật Tố tụng dân sự, Tạp chí Luật Trung Quốc và nước ngoài (điện tử), Trường Đại học Bắc Kinh; Vũ Hoàng Anh (2018), Mối liên hệ giữa pháp luật Tố tụng dân sự và pháp luật dân sự về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tạp chí
Khoa học kiểm sát, số 02 (22): Đây là những công trình chỉ ra mối quan hệ giữa pháp luật Tố tụng dân sự và pháp luật dân sự, và là một trong những đặc điểm mà tác giả khai thác trong Khóa luận tốt nghiệp
Thứ ba, Suharyansyah - Subianta Mandala (2022), Law Enforcement Against Perpetrators of Environmental Destruction Based on the Principle of Direct Responsibility in Class Action Civil Lawsuits, Proceedings of the 2nd
Trang 10International Conference on Law, Social Science, Economics, and Education,
ICLSSEE 2022; Phan Thị Thanh Thủy (2018), Kiện tập thể trong tranh chấp tiêu dùng ở một số nước Asean và gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,
số 01; Nguyễn Minh Thư và Nguyễn Nguyệt Linh (2021), Khởi kiện tập thể yêu cầu doanh nghiệp bồi thường ô nhiễm môi trường theo pháp luật Pháp, Hoa Kỳ
và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 8; Đây được xem là những
công trình nghiên cứu tập trung về vấn đề khởi kiện tập thể, các tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của khởi kiện tập thể hiện nay
Thứ tư, Nguyễn Thị Thu Hà - Vũ Hoàng Anh (2020), Nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 13; Vũ Hoàng Anh (2021), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 01;…
đây là những công trình nghiên cứu quy định của pháp luật và kiến nghị hoàn thiện một số khía cạnh có trong bài nghiên cứu Khóa luận của tác giả
Như vậy, có thể nói, quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án không phải
là một vấn đề mới, tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu lựa chọn những khía cạnh khác nhau, và tập trung vào một hoặc một số vấn đề của quyền khởi kiện vụ
án dân sự tại Tòa án
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Khóa luận tốt nghiệp “Quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án” của tác
giả được thực hiện với mục đích làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án cũng như phân tích các vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định này Thông qua việc phân tích, đánh giá các vấn đề lý luận giúp tác giả phát hiện ra những mâu thuẫn giữa thực tiễn và quy định pháp luật cũng như những điểm còn hạn chế, chưa hợp lý trong các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự về quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án Từ đó, tạo cơ sở để tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật
về quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu
Khi tiếp cận quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án hiện nay, có hai cách tiếp cận khá phổ biến được các nhà nghiên cứu thể hiện3 Trong phạm vi bài khóa
3 Có thể tham khảo một số bài nghiên cứu:
Trang 11luận này, tác giả tiếp cận quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án theo nghĩa hẹp 4 Bởi lẽ, xuất phát từ dung lượng bài Khóa luận và sau khi tìm hiểu quyền này theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp có thể nhận thấy, các quan điểm hiện nay không đối lập với nhau về nội dung mà chỉ khác nhau ở góc độ tiếp cận về chủ thể, các phương thức thực hiện quyền nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham gia vào quá trình Tố tụng dân sự Đồng thời, theo quan điểm của tác giả, việc thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án là tiền đề để các chủ thể
có liên quan thực hiện các quyền còn lại Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án được giới hạn ở góc độ người khởi kiện, thực hiện quyền của mình thông qua hành vi “khởi kiện”
và đưa ra các kiến nghị dựa trên sự tham khảo có chọn lọc
5 Phương pháp nghiên cứu
Vì tác giả tiếp cận đề tài Khóa luận theo từng vấn đề, nên ở mỗi chương tác giả đều sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp được sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu ở các chương Phân tích hướng đến chia nhỏ, xem xét đối tượng cần nghiên cứu dưới các góc độ văn bản, quan điểm tác giả, kinh nghiệm
(1) Lê Thị Thu Thủy (2017), Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự theo Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;
(2) Trần Đức Thành (2011), Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong Tố tụng dân sự Việt
Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;
4 Quyền khởi kiện VADS tại Tòa án được tiếp cận theo nghĩa hẹp được hiểu là quyền của người khởi kiện Trong khi đó, quyền khởi kiện VADS tại Tòa án được tiếp cận theo nghĩa rộng, ngoài quyền của người khởi kiện còn bao gồm: quyền yêu cầu phản tố (đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập) và quyền yêu cầu độc lập (đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) của
bị đơn và quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 12nước ngoài Sau khi phân tích các tài liệu thông tin, tác giả đưa ra quan điểm của mình, kiến nghị và đề xuất hoàn thiện pháp luật có liên quan ở mỗi chương của Khóa luận
Phương pháp bình luận được áp dụng chủ yếu để nghiên cứu các vấn đề thực tiễn đặc biệt là các quyết định của Tòa án khi áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến đối tượng nghiên cứu
Ngoài ra, phương pháp so sánh, cụ thể là tác giả sử dụng phương pháp so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài từ đó rút ra những điểm mới, tiến bộ, là cơ sở để Việt Nam học tập, tiếp thu, hoàn thiện pháp luật
6 Bố cục Khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục thì nội dung nghiên cứu Khóa luận chia làm hai chương:
Chương 1 Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
Chương 2 Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
Trang 13CHƯƠNG 1 CHỦ THỂ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
1.1 Khái niệm chủ thể khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
Hiện nay, khi đề cập đến quyền khởi kiện VADS tại Tòa án, thì không thể không đề cập đến chủ thể khởi kiện VADS tại Tòa án Đầu tiên cần khái quát sơ lược về cách hiểu quyền khởi kiện VADS tại Tòa án Trong cổ luật Việt Nam,
quyền khởi kiện được xem là “tố quyền 5” nhưng hiện nay dưới góc độ nghiên cứu
thì hầu hết các học giả đều sử dụng đến thuật ngữ “quyền khởi kiện” Tuy nhiên,
xét về bản chất thì thuật ngữ “quyền khởi kiện” dường như không đủ rộng để lột
tả được bản chất của tố quyền vì về thực chất thì “khởi kiện” chỉ là bắt đầu việc kiện để bảo vệ quyền lợi mà thôi6
Trong phạm vi Khóa luận, quyền khởi kiện VADS tại Tòa án được hiểu là khả năng mà ở đó cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi là chủ thể) thực hiện thông qua phương thức khởi kiện, yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, HNGĐ, kinh doanh thương mại, lao động (quan hệ pháp luật dân sự nói chung) được Tòa án nhân dân có thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp 7
5 “Tố quyền có thể được định nghĩa như một phương cách luật định cho phép mỗi người cầu viện đến công
lý xin xác nhận hay che chở quyền lợi của mình” (Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự tố tụng Việt Nam,
Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, tr 36) Người ta coi “tố quyền như một quyền lợi được diễn dịch
ra trước công lý, người có quyền gửi một đơn khởi kiện đến thẳng Tòa án để yêu cầu công nhận và bảo vệ quyền lợi cho mình, trong đó người đứng đầu đơn là nguyên đơn và người đối lập là bị đơn” (Vũ Văn Mẫu
(1961), Dân luật Khái luận, Bộ Giáo dục quốc gia xuất bản, tr 368), hoặc có thể định nghĩa “tố quyền là
một phương cách, một đường lối luật định mà một người phải áp dụng, phải theo để yêu cầu Tòa án nhìn nhận và nếu cần để bảo vệ một quyền lợi cho mình” (Châu Tu Phát (1973), Luật Dân sự tố tụng lược giải,
Nxb Khai Trí, tr 17) Đồng thời, “tố quyền” ở đây được hiểu là quyền kiện hoặc quyền yêu cầu Tòa án
giải quyết tranh chấp (Nguyễn Thị Hương (2020), Khởi kiện và Thụ lý vụ án dân sự - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 28.) Trước đây, cổ luật Việt Nam
gọi là “tố quyền” thì hiện nay khái niệm này không còn thông dụng mà thay vào đó chính là khái niệm
“quyền khởi kiện VADS tại Tòa án”
6 Trần Anh Tuấn (2019), Tố quyền hay quyền khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự - Khoa pháp Luật Dân sự (2019), Hội thảo Thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội, tr 01
7 Khái niệm này được tác giả phân tích như sau:
Để đưa ra được khái niệm “quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án” hoàn chỉnh nhất, cần phân tách thành các thuật ngữ “quyền khởi kiện”, “VADS” và “Tòa án”
Trang 14Từ khái niệm trên, chúng ta nhận thấy được một số đặc điểm của quyền
này bao gồm: (i) Quyền khởi kiện VADS tại Tòa án là quyền được xây dựng trên
cơ sở quyền con người; (ii) Quyền khởi kiện VADS tại Tòa án thể hiện mối quan
hệ giữa pháp luật hình thức và pháp luật nội dung; (iii) Quyền khởi kiện VADS tại Tòa án hiện nay là quyền được tiếp cận theo nội hàm rộng và nội hàm hẹp; (iv) Quyền khởi kiện VADS tại Tòa án là quyền được thực hiện theo thủ tục TTDS và
Dưới góc độ pháp luật thực định, cho đến hiện nay vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về VADS Dưới góc độ nghiên cứu giáo trình trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh định nghĩa “VADS phát sinh tại Tòa án nhân dân trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động” - Trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức, tr 18 – 19
Trong các thuật ngữ trên, thuật ngữ “quyền khởi kiện” là thuật ngữ quan trọng cần làm sáng tỏ trong phạm vi Khóa luận này Khi tiếp cận dưới góc độ ngữ nghĩa, có thể thấy thuật ngữ “quyền khởi kiện” cũng đã được đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau
Dưới góc độ ngôn ngữ học, quyền được hiểu đơn giản là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận
cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi (Thành Yến (2021), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Dân trí)
Dưới góc độ khoa học pháp lý, quyền là điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân,
tổ chức để theo đó cá nhân, tổ chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai ngăn cản, hạn chế (Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, tr 648.) Như vậy, từ
những cách tiếp cận trên có thể khái quát: Quyền là khả năng mà pháp luật ghi nhận và đảm bảo cho các
chủ thể thực hiện khi đáp ứng các điều kiện nhất định
Tiếp theo, thuật ngữ “khởi kiện” cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ ngôn
ngữ học, “khởi” là bắt đầu, mở đầu một công việc nào đó (Thành Yến (2021), Từ điển tiếng Việt thông
dụng, Nxb Dân trí, tr 311.), “kiện” là kiện cáo (Thành Yến (2021), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb
Dân trí, tr 318.) Vậy, ở góc độ này, khởi kiện được hiểu là bắt đầu, mở đầu cho việc kiện cáo Trong khi
đó, dưới góc độ nghiên cứu, thuật ngữ này được định nghĩa khá đầy đủ, cụ thể: Khởi kiện là hành vi biểu đạt quyền tự định đoạt của đương sự, yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi
vi phạm và thực hiện nghĩa vụ dân sự (Nguyễn Văn Tiến (2022), Bàn về ủy quyền khởi kiện trong Tố tụng
dân sự, su7980.html, 04/3/2023)
https://tapchitoaan.vn/public/index.php/ban-ve-uy-quyen-khoi-kien-trong-to-tung-dan-Giáo trình Luật TTDS của Học viện Tư pháp định nghĩa rằng “Quyền khởi kiện VADS là quyền
tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc bị vi phạm” (Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự,
Nxb Công an nhân dân, tr 305) Tương tự như vậy, giáo trình Luật TTDS của trường Đại học Luật Hà
Nội cũng định nghĩa rằng “Quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể Việc thực
hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện VADS” (Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo
trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr 242) Cách tiếp cận khái niệm quyền khởi kiện VADS của hai cơ sở này khá giống nhau, khi biểu đạt quyền này thông qua phương thức khởi kiện tại Tòa án và là quyền TTDS của các chủ thể
Trang 15là một trong những quyền thuộc nhóm quyền quyết định và tự định đoạt của nguyên đơn sau khi Tòa án có thẩm quyền thụ lý; (v)Chủ thể của quyền khởi kiện VADS tại Tòa án bao gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân; và (vi) Nội dung của quyền khởi kiện VADS tại Tòa án là quyền và nghĩa vụ của người khởi kiện VADS tại Tòa án
Vậy, có thể thấy rằng một trong những đặc điểm của quyền khởi kiện VADS tại Tòa án chính là chủ thể khởi kiện Như đã đề cập, chủ thể của quyền khởi kiện VADS tại Tòa án bao gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân Với những chủ thể này, họ sẽ thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án khi nào
Để xem xét khi nào những chủ thể trên thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án, cần xét đến mối quan hệ giữa pháp luật nội dung (pháp luật dân sự) và pháp luật hình thức (pháp luật TTDS) Hiện nay, BLDS năm 2015 tại Điều 14 quy định về bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền, trong đó có đề
cập “Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.” Tiếp đến, nhằm tạo ra cơ chế bảo đảm quyền, nghĩa vụ đồng thời
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự, BLTTDS năm 2015 ghi nhận quyền khởi kiện VADS tại Tòa án có thẩm quyền nhằm tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác, hoặc bảo vệ lợi ích công công, lợi ích của Nhà nước8
Cùng với đó, quan hệ pháp luật dân sự được hình thành từ các chủ thể bao gồm9: cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác là tổ chức không có tư cách pháp nhân
và trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập
về tài sản và tự chịu trách nhiệm (Điều 1 BLDS năm 2015) Khi đó, các chủ thể
có quyền khởi kiện khi họ “cho rằng” quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc
8 Điều 186 và Điều 187 BLTTDS năm 2015
9 Cần phải lưu ý rằng, Điều 1 BLDS 2015 quy định “…quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá
nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở…”, nhưng không thể hiểu răng chỉ có hai
chủ thể trên là chủ thể trong quan hệ dân sự Bởi, tại Điều 101 năm BLDS 2015 có quy định về chủ thể
trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp
nhân Có thể tham khảo thêm: Tưởng Duy Lượng (2018), Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự trong Bộ luật
Dân sự năm 2015 – [http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207658 ], 14/5/2023
Trang 16của người khác hoăc lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nướcbị xâm phạm đến Tương ứng với chủ thể ở quan hệ pháp luật dân sự, thì pháp luật TTDS cũng khẳng định, cơ quan, tổ chức, cá nhân, theo trình tự do luật định, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác; lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước khi cho rằng có quyền, lợi ích đó bị xâm phạm (khoản
2 Điều 68, Điều 186 và Điều 187 BLTTDS năm 2015) Vậy, pháp luật nội dung
sẽ là tiền đề để các chủ thể xác có quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác hoăc lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, sau đó sẽ căn cứ vào pháp luật hình thức để thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án
Như vậy, chủ thể khởi kiện VADS tại Tòa án là cơ quan, tổ chức, cá nhân đáp ứng được các điều kiện pháp luật quy định, “cho rằng” quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác hoăc lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước
bị xâm phạm và được pháp luật quy định có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước
1.2 Nội dung về chủ thể khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
Về chủ thể có quyền khởi kiện, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra các cách tiếp cận khác nhau Tiêu biểu là tác giả Trần Anh Tuấn đã dựa vào học lý về “tố quyền” để đưa ra cách tiếp cận về chủ thể tố quyền Theo tác giả10: “Cần phải dựa trên tính chất của vụ kiện hay quan hệ pháp luật có tranh chấp để xác định chủ thể có quyền kiện và chủ thể có thể bị kiện Trong các quan
hệ pháp luật có tranh chấp, cần phải xác định rõ các chủ thể có quyền lợi, có nghĩa vụ để xác định chính xác tư cách đương sự trong các vụ kiện.” Từ đó, tác
giả phân thành các nhóm chủ thể của tố quyền bao gồm: (i) Tố quyền hay quyền kiện của các chủ thể trong quan hệ pháp luật có tranh chấp; (ii) Tố quyền hay quyền kiện của người không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật có tranh chấp gồm quyền kiện của chủ thể thế quyền, quyền kiện của các chủ thể kế quyền, và quyền kiện của chủ thể mang quyền đối với người thứ ba
Trong khi đó, BLTTDS năm 2015 tại Điều 186 quy định chủ thể thực hiện
quyền khởi kiện VADS tại Tòa án, cụ thể “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền
tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi
10 Trần Anh Tuấn (2017), Tlđd (6), tr 02
Trang 17chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Nhận thấy, quy định mang tính nền tảng chung, đề
cập hai vấn đề chính là cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án Tiếp đến, nhằm cụ thể hóa quy định
tại khoản 1 Điều 4 BLTTDS năm 2015 với nội dung “Cơ quan, tổ chức, cá nhân
do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện VADS, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”, BLTTDS năm 2015 quy định quyền khởi kiện
của các cơ quan, tổ chức, cá nhânđể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước tại Điều 187 Tương tự như quy định của BLTTDS năm 2015, Luật TTDS Trung Quốc khẳng định ba chủ thể có
quyền khởi kiện VADS tại Tòa án và tham gia tố tụng, bao gồm “Công dân, pháp nhân, tổ chức khác có quyền tham gia tố tụng dân sự Pháp nhân do người đại diện theo pháp luật của mình tiến hành tố tụng Các tổ chức khác được kiện tụng bởi người đứng đầu của họ.”11 (Điều 48)
Trong phạm vi bài khóa luận này, tác giả đề cập chủ thể có quyền khởi kiện VADS tại Tòa án với cách tiếp cận dựa trên hànhvi khởi kiện là một phương thức
để bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp của các chủ thể nhằm (i) tự bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình; (ii) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác; hoặc (iii) bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước
1.2.1 Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự nhằm mục đích
tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án nhằm mục đích bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình có thể hiểu là cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm bảo vệ quyền lợi của chính chủ thể đó khi phát sinh tranh chấp hoặc bị xam phạm trong các quan hệ về pháp luật dân sự, HNGĐ, kinh doanh thương mại, hoặc lao động đã thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 4 và Điều
代表人进行诉讼。其他组织由其主要负责人进行诉讼。- Tạm dịch: Công dân, pháp nhân, tổ chức khác có quyền tham gia TTDS Pháp nhân do người đại diện theo pháp luật của mình tiến hành tố tụng Các tổ chức khác được kiện tụng bởi người đứng đầu của họ
Trang 18186 BLTTDS năm 2015 Khi thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án và được Tòa án thụ lý giải quyết thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được xác định là nguyên đơn trong VADS theo quy định tại khoản 2 Điều 68 BLTTDS năm 2015, bởi lẽ nguyên đơn trong VADS là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm hoặc có tranh chấp Trong trường hợp này, chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS nhằm mục đích tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thể hiện được mối quan hệ với các đương sự khác (bị đơn theo khoản 3 Điều 68 hoặc người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan theo khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015) trong một quan hệ pháp luật nhất định Đây cũng là trường hợp được tác giả Trần Anh Tuấn gọi tên là tố quyền hay quyền kiện của các chủ thể trong quan hệ pháp luật có tranh chấp như
đề cập ở trên
Mối quan “chặt chẽ” hệ giữa pháp luật nội dung (pháp luật dân sự) và pháp luật hình thức (pháp luật TTDS) đã được khẳng định và lý giải ở phần trên Chính
từ mối quan hệ “chặt chẽ” này, đã hình thành nên tư cách chủ thể khi thực hiện
quyền khởi kiện VADS tại Tòa án Như tác giả Zhang Weiping đã đề cập “các quyền và nghĩa vụ cụ thể được quy định trong ‘BLDS’ xác định chủ thể của vụ kiện, cũng như khách thể của vụ kiện”12
Liên quan đến chủ thể khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hiện nay có một số bất cập như vấn đề về cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án cho cá nhân khác và xu hướng khởi kiện tập thể VADS tại Tòa án
Vấn đề thứ nhất: Cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án cho cá nhân khác
Xuất phát từ Điều 186 BLTTDS năm 2015 quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo
因此,很有必要就《民法典》的实施对诉的主体和诉的客体两个维度的影响进行研究,以便民事 诉讼法在诉的制度上进行调整和对接。- Tạm dịch: các quyền và nghĩa vụ cụ thể được quy định trong
‘BLDS’ xác định chủ thể của vụ kiện, cũng như khách thể của vụ kiện - Zhang Weiping, 民法典的实施
与民事诉讼法的协调和对接, 中外法学 – Tạm dịch: Zhang Weiping, Phối hợp, liên thông giữa việc thi
hành Bộ luật Dân sự và Luật Tố tụng dân sự, Tạp chí Luật Trung Quốc và nước ngoài, Trường Đại học
Bắc Kinh – [ http://journal.pkulaw.cn/OldIssue/Detail/160030 ], 16/5/2023
Trang 19vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Với quy định này, hiện nay khi áp dụng
trên thực tiễn, có hai quan điểm trái ngược nhau
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Không có ai có thể thay thế nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện khi họ có đầy đủ năng lực và điều kiện khởi kiện Việc
ủy quyền khởi kiện không thể đặt ra.”13 Ngoài những cơ sở pháp lý mà các tác giả đã viện dẫn trong bài viết của mình, một trong những lý do ủng hộ quan điểm
này chính là “dù việc ủy quyền thuận lợi cho nguyên đơn trong một số trường hợp nhưng không phản ánh toàn bộ ý chí của người có quyền lợi bị xâm phạm và hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng Việc khởi kiện phải bảo đảm quy định của BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.”14
Quan điểm thứ hai cho rằng: “cá nhân được ủy quyền cho người khác khởi kiện”15 Một trong những lý do được đưa ra như là: Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 thì quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, như vậy luật không cấm thì cá nhân – công dân được thực hiện và phải được thừa nhận và bảo vệ Trong khi đó, BLTTDS năm
2015 tại khoản 4 Điều 85 chỉ cấm ủy quyền trong trường hợp “đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng”
Như vậy, cá nhân có thể ủy quyền cho người khác khởi kiện thay mình16
Thực tiễn, Tòa án khi xét xử VADS cũng có những quan điểm khác nhau
về ủy quyền khởi kiện VADS của cá nhân (dù đa phần các Tòa án đều không chấp nhận việc cá nhân ủy quyền cho cá nhân khác khởi kiện17) TAND Thành phố H
khẳng định “xét yêu cầu của bị đơn cho rằng người đại diện theo pháp luật trong
vụ án này là ông Ngô Chí D, nhưng người ký đơn khởi kiện lại là ông Phạm Tuấn
A, như vậy là không phù hợp, đề nghị Tòa án hủy sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ
13 Có thể tham khảo một số bài viết:
- Nguyễn Văn Tiến (2022), Bàn về ủy quyền khởi kiện trong Tố tụng dân sự,
[
https://tapchitoaan.vn/public/index.php/ban-ve-uy-quyen-khoi-kien-trong-to-tung-dan-su7980.html ] , 04/3/3023
- Kim Loan (2018), Ủy quyền khởi kiện vụ án dân sự, [ vu-an-dan-su ], 25/5/2023
https://tapchitoaan.vn/uy-quyen-khoi-kien-14 Nguyễn Văn Tiến (2023), Tlđd (13)
15 Đặng Thanh Hoa (Chủ biên) (2020), Pháp luật Tố tụng dân sự (Phần thủ tục giải quyết vụ án dân sự) -
Tình huống và phân tích, Nxb Hồng Đức, tr 27
Đồng quan điểm trên: Nguyễn Thị Hồng (2022), Một vài suy nghĩ về ủy quyền khởi kiện trong Tố tụng
dân sự, Tạp chí Công Thương, số 12, tr 08 -13
16 Xem thêm tại: Đặng Thanh Hoa (Chủ biên) (2020), Tlđd (21), tr 27 – 32
17 Đặng Thanh Hoa (Chủ biên) (2020), Tlđd (15), tr 19
Trang 20án Theo quy định của pháp luật, người đại diện theo pháp luật có quyền ủy quyền cho người nhận ủy quyền khởi kiện Do vậy trong vụ án này ông D có quyền ủy quyền cho ông A ký đơn khởi kiện, và ông A có quyền ủy quyền lại Như vậy, nguyên đơn có đủ tư cách khởi kiện”18 Tương tự với quan điểm của TAND Thành
phố H, TAND Thành phố H khẳng định: “Tháng 12/2016, ông Trịnh Hoài P (đang sống ở Canada) làm giấy ủy quyền cho ông Trịnh Phương Đ được quyền khiếu kiện đòi lại 08 sào đất ruộng mà theo ông P thì ông N đang quản lý, sử dụng Giấy
ủy quyền được chứng nhận tại Canada trước khi gửi về Việt Nam Căn cứ giấy ủy quyền này, ông Đ ký và nộp đơn khiếu kiện việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại
Ủy ban nhân dân phường Sau đó, do hòa giải không thành nên Ủy ban nhân dân phường hướng dẫn các bên khởi kiện ra Tòa Ngày 21/6/2017, ông Đ ký đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất gửi cho Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh K và đã được TAND Thành phố NT thụ lý giải quyết.”19
Một vấn đề pháp lý khi xuất hiện nhiều quan điểm trái ngược nhau thì nguyên nhân tất yếu xuất phát từ sự chưa hoàn thiện của quy định pháp luật có liên quan Đối với cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án cho cá nhân khác cũng không ngoại lệ Đơn cử, như quan điểm thứ nhất, các tác giả đề cập đến khoản 2 Điều 68 BLTTDS năm 2015 quy định nguyên đơn trong VADS phải là người trực tiếp khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện theo quy định Ngoài ra, khoản 1 Điều 189 BLTTDS năm 2015 cũng quy định người khởi kiện phải tự mình ký tên hoặc điểm chỉ Đối với cá nhân là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm
hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực TTDS làm chứng Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện…
Trong khi đó, quan điểm đối lập sử dụng kết hợp các nguyên tắc hiến định
và quy định của BLTTDS năm 2015, cụ thể, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, như vậy luật không cấm thì cá nhân – công dân được thực hiện và phải được thừa nhận và bảo vệ (khoản 1 Điều 14
18 Bản án số 149/2019/DS-PT ngày 18-6-2019 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng của TAND Thành
phố H – Phụ lục 2 - Đặng Thanh Hoa (Chủ biên) (2020), Tlđd (15), tr 40 - 49
19 Phương Linh (2016), Thay mặt người ở Canada khởi kiện được không? – [
Trang 21Hiến pháp năm 2013) Đồng thời, BLTTDS năm 2015 tại Điều 186 quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền
để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” và tại khoản 4 Điều 85 chỉ cấm ủy quyền trong trường hợp “đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.”.
Như vậy, hiện nay, dưới góc độ nghiên cứu lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật đều có những quan điểm trái ngược về vấn đề cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án cho cá nhân khác, vì thế vấn đề được đặt ra chính là việc xác định nội hàm của thuật ngữ “ủy quyền khởi kiện”, từ đó đưa ra quan điểm hợp lý Góc độ
mà tác giả tiếp cận chính là bản chất của thuật ngữ “ủy quyền” trong pháp luật Việt Nam hiện nay Theo tác giả, việc tiếp cận dưới góc độ này sẽ nắm rõ được bản chất của “ủy quyền”, từ đó xác định “cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS cho
cá nhân khác” có khả năng được chấp nhận hay không
Thứ nhất, có thể thấy quan điểm của nhà lập pháp và được các nhà nghiên cứu hiện nay thừa nhận rộng rãi rằng đại diện theo ủy quyền hiện nay xuất phát
từ ý chí của cá chủ thể và nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật, không thuộc trường hợp cấm thì được thực hiện
Cụ thể, theo quy định tại BLTTDS năm 2015 xác định “người đại diện trong TTDS bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của BLDS.” (khoản 1 Điều 85), đồng thời, “người đại diện theo ủy quyền theo quy định của BLDS là người đại diện theo ủy quyền trong TTDS” (khoản 4 Điều 85)
Vậy, theo ý chí của các nhà lập pháp về vấn đề ủy quyền khởi kiện trong TTDS được xác định thông qua quy định của BLDS hiện hành
Đối với vấn đề đại diện theo ủy quyền, BLDS năm 2015 quy định “cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.” (khoản 1 Điều 138), trong đó, “cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.” (khoản 2 Điều 134) Quy định của BLDS hiện hành tương tự với quy
định của BLDS năm 2005 về vấn đề này Có thể hiểu việc cá nhân (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân (sau đây gọi chung là người được đại diện) thông qua việc xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện, từ đó người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người được đại
Trang 22diện nhằm xác lập, thực hiện giao dịch dân sự được gọi là đại diện theo ủy quyền BLDS năm 2015 khi quy định về giao dịch ủy quyền không đề cập đến hình thức của giao dịch ủy quyền, tức trong giao dịch dân sự, các hình thức ủy quyền kể trên đều có thể là căn cứ phát sinh giao dịch ủy quyền Trong TTDS, tuy không có điều luật nào quy định minh thị về hình thức đại diện theo ủy quyền giữa đương sự nói chung và người đại diện nhưng dựa theo quy định tại khoản 2 Điều 86 BLTTDS
năm 2015 quy định “Người đại diện theo ủy quyền trong TTDS thực hiện quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền” Vậy, Tòa án chỉ
công nhận quyền đại diện của người đại diện theo ủy quyền khi có văn bản ủy quyền, tức việc ủy quyền này phải lập thành văn bản
Tóm lại, khi đề cập đến vấn đề cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa
án cho cá nhân khác có thể hiểu là cá nhân có quyền khởi kiện thông qua văn bản
ủy quyền nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cá nhân có quyền khởi kiện nhằm thực hiện mục đích nhân danh và vì lợi ích chính chủ thể có quyền khởi kiện để thực hiện hành khởi kiện thay cho chủ thể đó
Thứ hai, nên công nhận vấn đề cá nhân có quyền khởi kiện VADS tại Tòa
án thực hiện ủy quyền khởi kiện cho một cá nhân khác khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành Bởi lẽ, ủy quyền khởi kiện VADS cho cá nhân khác không vi phạm nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương
sự theo quy định của pháp luật TTDS
Hiện nay ý chí của nhà lập pháp xác định, đối với cá nhân phải là người trực tiếp khởi kiện ký hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện (Điều 189 BLTTDS năm
201520) Thông qua đơn khởi kiện thể hiện được quyền quyết định và tự định đoạt của chủ thể này (Điều 5 BLTTDS năm 2015)
Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, việc cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án cho cá nhân khác mà đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành vẫn thể hiện được quyền quyết địnhtự và định đoạt của chủ thể này tại khoản 1 Điều 5 BLTTDS năm 2015 và phù hợp với một trong những học thuyết pháp lý về xây dựng chế định người đại diện trong TTDS ở Việt Nam21
20 Điều 189 BLTTDS năm 2015 quy định “1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện”
21 Một trong những học thuyết pháp lý về xây dựng chế định người đại diện trong TTDS ở Việt Nam chính
là học thuyết về tự do ý chí Về mặt triết học, học thuyết tự do ý chí dựa trên nền tảng của tự do cá nhân,
có nghĩa là không ai bị ép buộc làm hay không làm một công việc gì đó mà trái với ý muốn của họ, Về mặt đạo đức, học thuyết tự do ý chí dựa trên quan niệm rằng không ai bị ép buộc làm hay không làm một công
Trang 23Hành vi ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án của chủ thể có quyền khởi kiện vẫn được xem là thực hiện “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” bằng
phương thức “gián tiếp” Chúng ta đều biết rằng “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được hiểu là đương sự có quyền tự mình lựa chọn và quyết định các hành vi được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tham gia giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án”22, khi đó,
cá nhân có quyền khởi kiện VADS tại Tòa án vẫn tự mình lựa chọn và quyết định hành vi được pháp luật quy định chính là việc ủy quyền thực hiện hành vi khởi kiện VADS tại Tòa án cho một chủ thể khác thực hiện thay mình, nhân danh và vì lợi ích của chính chủ thể có quyền khởi kiện VADS tại Tòa án Thực ra, khi thừa nhận vấn đề “ủy quyền khởi kiện” của cá nhân, không làm mất hoặc hạn chế quyền
tự quyết định và tự định đoạt của chủ thể này Cùng với đó, khi việc đại diện được xác lập phù hợp với các quy định của pháp luật và người đại diện thực hiện theo khuôn khổ thẩm quyền đại diện của mình, thì khi đó chính người được đại diện23
được coi là người xác lập và chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ từ việc xác lập
đó24
Thực tiễn vẫn có Tòa án chấp nhận ủy quyền khởi kiện VADS của cá nhân tại Tòa án Có thể xem xét đến một số VADS sau đây:
VADS thứ nhất25: Bản án 193/2019/DS-PT ngày 26/8/2019 về việc tranh
chấp hợp đồng vay tài sản của TAND tỉnh Bình Dương khẳng định “Ngày
22/4/2016 TAND tỉnh Bình Dương nhận được đơn khởi kiện nộp trực tiếp đề
ngày 22/4/2016 (BL 16) thể hiện người khởi kiện là bà Trần Thụy Thiên H, người đại diện theo ủy quyền của bà H là ông Trần Thanh T (giấy ủy quyền
ngày 22/02/2016 được Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại
việc mà không xuất phát từ lợi ích của họ Về mặt kinh tế, học thuyết tự do ý chí dựa trên nhận định rằng, lợi ích cá nhân là động lực thúc đẩy các hoạt động kinh tế Do đó, tự do ý chí phải được đề cao để con người
vì lợi ích của mình trong xã hội tự do cạnh tranh mang lại lợi ích chung – Xem thêm tại: Bùi Thị Hà (2021),
Bàn về các học thuyết pháp lý định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong Tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí Nghề Luật, số 12, tr 30
22 Lê Thị Thìn (2017), Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 4, tr 73
23 Trong trường hợp ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án thì cá nhân có quyền khởi kiện, người được đại diện chính là cá nhân có quyền khởi kiện
24 Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Luật Dân sự - Tập 1, Nxb Đại học
quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tr 194
25 Phụ lục 01: Bản án 193/2019/DS-PT ngày 26 tháng 8 năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản của TAND tỉnh Bình Dương
Trang 24Hoa Kỳ chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự vào ngày 03/3/2016 (BL 25- 31)), cuối
đơn khởi kiện ông T ký tên Ngày 26/4/2016, TAND tỉnh Bình Dương ban hành
Thông báo số 05/TB-TA về việc chuyển đơn khởi kiện của bà H đến Tòa án thị xã Tân Uyên để giải quyết theo thẩm quyền (BL14) Ngày 24/5/2016, TAND thị xã Tân Uyên ban hành Thông báo số 148/TB-TA về việc yêu cầu sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện cho bà Trần Thụy Thiên H Ngày 15/6/2016, TAND thị xã Tân Uyên nhận được Đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 04/6/2016 do bà H ký, kèm theo Giấy cam kết đề ngày 15/6/2016 có nội dung đơn do bà H ký và gửi bưu phẩm từ Mỹ
về (BL 5, 6, 7) Ngày 28/7/2016 TAND thị xã Tân Uyên ra thông báo về việc thụ
lý vụ án Ngày 23/8/2016, TAND thị xã Tân Uyên ra thông báo về việc thụ lý vụ
án (bổ sung) (BL44).”
VADS thứ hai26: Ngày 02/05/2016, ông Phấy ủy quyền cho con trai là anh
Trương Thiên Sìn khởi kiện ông Tráng Chấn Ly, anh Trương Thiên Chức, ông Trương Thiên Duyên, anh Trương Sin Thìn, anh Trương Thiên Diện yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho ông Phấy
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 06/2016/QĐST-DS ngày 13/12/2016, TAND huyện D.V, tỉnh H.G quyết định: Đình chỉ giải quyết VADS
về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” giữa nguyên đơn là anh Trương Thiên Sìn với bị đơn là anh Trương Thiên Chức Theo nhận định của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội khẳng định TAND cấp sơ thẩm thụ lý vụ án
về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” là đúng nhưng lại xác định anh Trương Thiên Sìn là nguyên đơn là không đúng vì anh Sìn chỉ là người đại diện theo ủy quyền của ông Phấy và không đưa ông Phấy vào tham gia tố tụng
là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Do Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng tư cách của người tham gia tố tụng nên đã có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra quyết định không đúng
Vậy, trong các VADS này, cả TAND huyện D.V, tỉnh H.G và Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đều xác định vấn đề “cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án cho cá nhân khác” là đúng, nhưng tư cách đương sự của các bên trong quan hệ ủy quyền này phải xác định chủ thể ủy quyền là nguyên đơn và chủ thể được ủy quyền không là nguyên đơn
26 Xem phụ lục 02: Thông báo số 20/TB-VC1-DS ngày 15/6/2018 thông báo rút kinh nghiệm về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội
Trang 25Thứ ba, có thể tham khảo một số quy định của pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, vấn đề cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án cho cá nhân khác vẫn được cho phép Khoản 1 Điều 54 BLTTDS Liên Bang Nga quy định về
quyền hạn của người đại diện, theo đó “Người đại diện có quyền thực hiện mọi hoạt động tố tụng nhân danh người được đại diện Tuy nhiên, quyền của người đại diện trong việc ký tuyên bố yêu cầu, đệ trình lên Tòa án, đưa tranh chấp ra trọng tài, nộp đơn yêu cầu phản tố, từ bỏ hoàn toàn hoặc một phần yêu cầu, giảm kích thước, công nhận yêu cầu, thay đổi chủ đề hoặc căn cứ đối với việc yêu cầu bồi thường, thỏa thuận hòa giải, chuyển giao quyền hạn cho người khác (chuyển nhượng), kháng cáo quyết định của tòa án, xuất trình lệnh truy thu, nhận tài sản, tiền được trao phải được quy định cụ thể trong giấy ủy quyền của người được đại diện người.”27 Như vậy, theo quy định của BLTTDS Liên Bang Nga, vấn đề ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án vẫn được chấp nhận nhưng kèm thêm điều kiện, nội dung ủy quyền khởi kiện phải được thể hiện rõ trong giấy ủy quyền
Từ những quy định pháp luật hiện hành, dẫn đến nhiều cách hiểu chưa được thống nhất như trên, tác giả kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn
đề cá nhân ủy quyền khởi kiện VADS tại Tòa án cho cá nhân khác theo hướng cho phép người đại diện theo ủy quyền được quyền làm đơn khởi kiện và ký tên, điểm chỉ vào đơn khởi kiện thay cho người khởi kiện là cá nhân – chủ thể có quyền khởi kiện đã thực hiện ủy quyền theo quy định của pháp luật Vấn đề tiếp theo là sửa đổi các quy định pháp luật có liên quan nhằm tạo nên sự thống nhất khi áp dụng trên thực tế Có thể thấy, hiện nay chưa có dự án sửa đổi BLTTDS năm 2015,
vì thế tác giả đề xuất hai phương án đối với vấn đề này:
Thứ nhất, về lâu dài, cần bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 189 BLTTDS
năm 2015 quy định về hình thức, nội dung đơn khởi kiện của cá nhân:
27 Nguyên văn: Статья 54 Полномочия представителя
1 Представитель вправе совершать от имени представляемого все процессуальные действия Однако право представителя на подписание искового заявления, предъявление его в суд, передачу спора на рассмотрение третейского суда, предъявление встречного иска, полный или частичный отказ от исковых требований, уменьшение их размера, признание иска, изменение предмета или основания иска, заключение мирового соглашения, передачу полномочий другому лицу (передоверие), обжалование судебного постановления, предъявление исполнительного документа
к взысканию, получение присужденного имущества или денег должно быть специально оговорено
в доверенности, выданной представляемым лицом – Tạm dịch: Người đại diện có quyền thực hiện mọi hoạt động tố tụng nhân danh người được đại diện Tuy nhiên, quyền của người đại diện trong việc ký tuyên bố yêu cầu, đệ trình lên Tòa án, … Tòa án, xuất trình lệnh truy thu, nhận tài sản, tiền được trao phải được quy định cụ thể trong giấy ủy quyền của người được đại diện người
Trang 26Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau:
“a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình
hoặc ủy quyền cho người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ
nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của
cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó hoặc người được ủy quyền khởi kiện
phải ký tên hoặc điểm chỉ;
b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp
của họ có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án
Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa
chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn,
người đại diện hợp pháp đó hoặc người được ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ;
…
d) Trường hợp cá nhân ủy quyền cho chủ thể khác theo quy định pháp luật
thực hiện hành vi khởi kiện, thì ngoài những yêu cầu khác về hình thức, nội dung
của đơn khởi kiện, tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ,
tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, số điện thoại,
fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của chủ thể thực hiện ủy quyền khởi kiện và thể
hiện những nội dung cơ bản của văn bản ủy quyền Ở phần cuối đơn khởi kiện,
người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.”
Thứ hai, thời điểm hiện tại, BLTTDS năm 2015 chưa thể sửa đổi bổ sung
ngay được thì TANDTC cần có hướng dẫn về vấn đề ủy quyền khởi kiện VADS tại
Tòa án của cá nhân theo hướng chấp nhận ủy quyền khởi kiện của cá nhân, tạo
nên sự thống nhất áp dụng pháp luật TTDS hiện nay Đảm bảo được quyền khởi
kiện VADS tại Tòa án của cá nhân
Thứ ba, cần bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015, xác
định nội hàm của thuật ngữ “đại diện theo ủy quyền trong TTDS” hiện nay, nhằm
xác định được phạm vi ủy quyền trong TTDS của cá nhân Cần ghi nhận đại diện
theo ủy quyền trong TTDS theo hướng phạm vi ủy quyền trong TTDS được xác
định từ thời điểm thực hiện hành vi khởi kiện.Khi xác định được nội hàm của
thuật ngữ “người đại theo ủy quyền trong TTDS” sẽ giải quyết được những quan
Trang 27điểm có liên quan đến “đại diện theo ủy quyền trong TTDS” bao gồm cả vấn đề
ủy quyền khởi kiện của cá nhân28
Vấn đề thứ hai, xu hướng khởi kiện tập thể VADS tại Tòa án
Dưới góc độ ngôn ngữ học, “khởi kiện tập thể” được hiểu là hành vi biểu đạt quyền tự định đoạt của nhóm đương sự, yêu cầu Tòa án buộc người có hành
vi xâm phạm chấm dứt hành vi vi phạm và thực hiện nghĩa vụ dân sự29 Cách hiểu này khá tương đồng với cách giải thích của Tòa án tối cao Hoa kỳ khi khẳng định
“khởi kiện tập thể là một phương pháp tố tụng cho phép một hoặc nhiều nguyên đơn đệ trình và khởi kiện thay cho một nhóm lớn hơn” và nhóm lớn hơn bị thiệt
hại do bị đơn gọi là “lớp”30
Khi đề cập đến khởi kiện tập thể, phần lớn các học giả đều thừa nhận vai trò tích cực của cơ chế này trong những lĩnh vực nhất định “Khởi kiện tập thể sẽ giúp giảm bớt lượng đơn kiện quá tải tại các toà, tránh việc phải giải quyết các vụ việc giống nhau, không cần lặp lại các công đoạn thủ tục nhiều lần Đồng thời
28 Bởi lẽ, khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015 xác định “Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của BLDS là người đại diện theo ủy quyền trong TTDS.” Dẫn đến một số quan điểm trái ngược nhau, nếu quan điểm thứ nhất cho rằng “BLTTDS năm 2015 không cho phép ủy quyền khởi kiện mà chỉ cho ủy quyền tham gia tố tụng” (Quan điểm của ông Nguyễn Công Phú, TAND TP.HCM - Phan Thương (2018), Người Việt kiện hãng Apple có được không? – [ https://thanhnien.vn/nguoi-viet-kien-hang-apple-duoc-
Tòa án ra thông báo thụ lý đơn khởi kiện Ngược lại, có quan điểm cho rằng bản chất của “đại diện theo
ủy quyền trong TTDS” là cá nhân, pháp nhân (bên được ủy quyền) được một cá nhân, pháp nhân khác (bên ủy quyền) ủy quyền để tham gia TTDS bao gồm quá trình từ khởi kiện VADS, yêu cầu giải quyết
việc dân sự cho đến khi giải quyết xong vụ án thay cho bên ủy quyền (Hồ Thị Yến Vy (2022), Người
đại diện theo ủy quyền trong Tố tụng Dân sự, Khóa luận Tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP HCM, tr
08) Khi xác định được nội hàm của thuật ngữ “người đại theo ủy quyền trong TTDS” sẽ giải quyết được những quan điểm có liên quan đến “đại diện theo ủy quyền trong TTDS” bao gồm cả vấn đề ủy quyền khởi kiện của cá nhân
29 Cụ thể, “khởi” là bắt đầu, mở đầu một công việc nào đó (Thành Yến (2021), Tlđd (07), tr 311) , “kiện”
là kiện cáo (Thành Yến (2021), Tlđd (07), tr 318) Vậy, ở góc độ này, khởi kiện được hiểu là bắt đầu, mở
đầu cho việc kiện cáo Trong khi đó, dưới góc độ nghiên cứu, thuật ngữ này được định nghĩa khá đầy đủ,
cụ thể: Khởi kiện là hành vi biểu đạt quyền tự định đoạt của đương sự, yêu cầu Tòa án buộc người có hành
vi xâm phạm chấm dứt hành vi vi phạm và thực hiện nghĩa vụ dân sự (Nguyễn Văn Tiến (2022), Tlđd (13),
04/3/3023) Tiếp đến là thuật ngữ “tập thể”, được hiểu là tập hợp những người có mối quan hệ gắn bó như
30 Phan Thị Thanh Thủy (2018), Kiện tập thể trong tranh chấp tiêu dùng ở một số nước Asean và gợi ý
cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 01, tr 41
Trang 28cũng hỗ trợ tiết kiệm nhân lực, giảm thiểu chi phí xác định thiệt hại và chi phí xã hội khác mà vẫn có thể đảm bảo được quyền lợi và sự công bằng cho người bị thiệt hại Mặt khác, cơ chế khiếu kiện tập thể cũng giúp cân bằng hơn vị thế của bên bị thiệt hại với bên gây thiệt hại trong tranh chấp môi trường, giúp ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi diễn ra tranh chấp”31 Cùng với đó, “cơ
sở cho một vụ kiện tập thể có thể được thực hiện bởi cộng đồng là nó có thể sử dụng cơ sở của nguyên tắc trách nhiệm trực tiếp, đó là một tập hợp các nghĩa vụ
mà một người hoặc một xã hội phải gánh chịu những quyền đối với một môi trường trong lành và tốt đẹp đã bị vi phạm, cũng như phục hồi trách nhiệm môi trường liên quan đến các khía cạnh của sinh thái”32
Hiện nay, BLTTDS năm 2015 không có quy định minh thị về cơ chế “khởi kiện tập thể” do đó chỉ có các lựa chọn hoặc khởi kiện trực tiếp theo Điều 186 hoặc khởi kiện thông qua đại diện là cá nhân, tổ chức hợp pháp khác theo quy định tại Điều 187
Theo quan điểm của tác giả, với quy định của pháp luật TTDS tiêu biểu như Điều 42, Điều 188 BLTTDS năm 2015 và Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP ngày 05/3/2020 hướng dẫn về áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về tài sản chung của dòng họ của HĐTP TANDTC,… chưa được xem là quy định về “khởi kiện tập thể” Bởi lẽ, khi tham khảo quy định của Đạo luật Công bằng về kiện tập thể năm 2005 của Hoa Kỳ xác định điều kiện khởi kiện tập thể phải đáp ứng đủ các yếu tố, bao gồm: (i) nhóm người tham gia quá lớn đến mức việc giải quyết các vụ kiện riêng lẻ là không thể thực hiện được; (ii) phải có những vấn đề pháp lý và thực tiễn chung cho cả nhóm; (iii) các yêu cầu và lời biện
hộ của các bên phải phù hợp đối với nhóm người tham gia; và (iv) các bên đại diện phải bảo vệ một cách thích hợp lợi ích của cả nhóm33 Khá tương đồng với quy định của Hoa Kỳ, thủ tục tố tụng tập thể có hiệu lực tại Thái Lan vào năm
31 Nguyễn Minh Thư và Nguyễn Nguyệt Linh (2021), Khởi kiện tập thể yêu cầu doanh nghiệp bồi thường
ô nhiễm môi trường theo pháp luật Pháp, Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 8,
tr 65
32 Suharyansyah - Subianta Mandala (2022), Law Enforcement Against Perpetrators of Environmental
Destruction Based on the Principle of Direct Responsibility in Class Action Civil Lawsuits, Proceedings
of the 2nd International Conference on Law, Social Science, Economics, and Education, ICLSSEE 2022 – [ https://eudl.eu/doi/10.4108/eai.16-4-2022.2319760 ], 26/5/2023
33 Rule 23 Class action – The 2014 Federal Rules of Civil Procedure, USA – [ https://www.uscourts.gov/rules-policies/archives/superseded-rules/federal-rules-civil-procedure-2014 ], 03/6/2023
Trang 292015 thông qua việc sửa đổi Luật TTDS của nước này Để khiếu nại được chấp nhận là một vụ kiện tập thể, phải chứng minh được yêu cầu đó dựa trên cùng một quyền đang phát sinh, cụ thể: (i) Cùng một sự kiện chung; và (ii) Cùng một nguyên tắc pháp luật34 Trong đó, “cùng một sự kiện chung được hiểu là sự kiện đem lại quyền như nhau cho mỗi người, và cùng một nguyên tắc pháp luật là bản chất pháp lý của các yêu cầu giống hệt nhau nơi mà quyền bắt nguồn từ lỗi dân sự hoặc
sự phá vỡ hợp đồng, tuy nhiên thiệt hại xảy ra có thể không giống nhau”35
Vậy có thể thấy, một trong những đặc điểm của khởi kiện tập thể chính là một hoặc một số nguyên đơn sẽ đại diện cho chính các nguyên đơn khác trong cùng vụ kiện tập thể để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho tất các những người trong vụ kiện tập thể đó và phát sinh trên cùng một quan hệ pháp luật, mặc dù quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm của mỗi người là khác nhau Mặc dù, BLTTDS năm 2015 có quy định về vấn đề nhập vụ án tại khoản 1 Điều 42 với nội
dung “Tòa án nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Tòa án đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết nếu việc nhập và việc giải quyết trong cùng một vụ án bảo đảm đúng pháp luật Đối với vụ án có nhiều người có cùng yêu cầu khởi kiện đối với cùng một cá nhân hoặc cùng một cơ quan, tổ chức thì Tòa án có thể nhập các yêu cầu của họ để giải quyết trong cùng một vụ án.”, nhưng có thể thấy nhập vụ
án chỉ được hiểu là “chỉ được thực hiện trong trường hợp có nhiều quan hệ pháp luật cần phải giải quyết và việc nhập các quan hệ pháp luật để giải quyết trong cùng một vụ án vẫn đảm bảo đúng pháp luật và không ảnh hưởng tới kết quả giải quyết các quan hệ pháp luật đó”36, và nếu Tòa án có thể nhập VADS thì có thể tách VADS để giải quyết riêng, trong khi đó khởi kiện tập có nhóm người tham gia quá lớn đến mức việc giải quyết các vụ kiện riêng lẻ là không thể thực hiện được
Khi xem xét đến Điều 188 BLTTDS năm 2015 khi quy định về phạm vi khởi kiện, dưới góc độ lý luận còn được gọi tên là “đồng tham gia tố tụng” VADS,
có thể thấy nội hàm của “đồng tham gia tố tụng” VADS vẫn chưa được xác là
khởi kiện tập thể, mặc dù có điểm tương đồng là “Tòa án không thể tách yêu cầu
34 Phan Thị Thanh Thủy (2018), Tlđd (30), tr 46
35 Phan Thị Thanh Thủy (2018), Tlđd (30), tr 46
36 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân
dân, tr 81
Trang 30của đồng tố tụng để giải quyết riêng trong các VADS37” Cùng với đó, khi xem xét điều kiện để được xem là “đồng tham gia tố tụng” với tư cách là “đồng nguyên đơn”, có thể thấy: (i) Cùng một quan hệ nội dung đang có tranh chấp hoặc vi phạm; (ii) Những đồng nguyên đơn không tranh chấp với nhau và lợi ích không đối lập nhau và (iii) Các đồng nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện không loại trừ nhau Khi đáp ứng những điều kiện trên có thể xác định là đồng tham gia tố tụng với tư cách là đồng nguyên đơn Hiện nay, phần lớn cách hiểu và áp dụng Điều
188 BLTTDS năm 2015 để xác định đồng nguyên đơn thường xảy ra đối với các quan hệ pháp luật xác định quyền sở hữu tài sản chung của vợ và chồng, của dòng
họ hoặc đồng sở hữu, khi quyền, lợi ích bị xâm phạm hoặc phát sinh tranh chấp,
“như nhiều người trong hàng thừa kế có cùng yêu cầu chia di sản thừa kế, vợ chồng khởi kiện yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, vợ chồng cùng đòi nợ người khác…38” Như vậy, cách tiếp cận hiện nay ở Điều 188 BLTTDS năm 2015 xác định số lượng người có quyền khởi kiện thường “ít hơn” so với quy định về khởi kiện tập thể so với quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới
Thực tế hiện nay đã chứng minh, nếu minh thị các quy định pháp luật về
“khởi kiện tập thể” trong TTDS ở Việt Nam là đảm bảo được quyền khởi kiện VADS tại Tòa án của các chủ thể mang quyền một cách hiệu quả Tác giả xin dẫn chứng một số thực tiễn nhằm chứng minh việc ghi nhận cơ chế “khởi kiện tập thể”
là cần thiết hiện nay
Vụ việc thứ nhất: Sự kiện TAND Thị xã Kỳ Anh trả lại 506 đơn khởi kiện
Formosa của người dân Lý do TAND thị xã Kỳ Anh trả đơn là vì đơn và các tài liệu của người dân khởi kiện không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh về những thiệt hại thực tế theo khoản 5 Điều 189 BLTTDS năm 2015 và sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.39
Vấn đề giả thuyết được đặt ra là nếu như đáp ứng đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của BLTTDS năm 2015 Tòa án sẽ thụ lý với phương án nào, khi BLTTDS năm 2015 không quy định minh thị về cơ chế “khởi kiện tập thể” Tác
37 Trường Đại học Luật – Đại học Huế (Đoàn Đức Lương chủ biên) (2013), Giáo trình Luật Tố tụng dân
sự Việt Nam, Nxb Đại học Huế, tr 116 – [http://lib.hul.edu.vn/handle/123456789/82 ], 09/6/2023
38 Nguyễn Thị Thanh Vân (2018), Nguyên đơn trong vụ án dân sự – [ trong-vu-an-dan-su ], 07/6/2023
https://tapchitoaan.vn/nguyen-don-39 Khánh Hoan (2016), Tòa án trả lại 506 đơn khởi kiện Formosa của người dân, Báo Thanh niên online
26/5/2023
Trang 31giả đề cập đến những phương án có thể thụ lý khởi kiện VADS tại Tòa án theo quy định của BLTTDS năm 2015, cụ thể: (i) Tòa án thụ lý đơn lẻ từng đơn khởi kiện theo quy định của BLTTDS năm 2015, sau đó nhập thành một VADS lớn để xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của BLTTDS 2015 Với phương án này
có thể dẫn đến việc lặp lại quy trình tố tụng, Tòa án nhận số lượng lớn đơn khởi kiện về cùng đối tượng, cùng yêu cầu giải quyết; (ii) Các chủ thể đứng đơn của
506 đơn khởi kiện để xác định tư cách đồng nguyên đơn, những chủ thể này phải cùng ký tên trong đơn khởi kiện và gửi lên Tòa án yêu cầu giải quyết vụ kiện Cách làm này khó có thể thực hiện bởi lẽ sẽ gây ra rất nhiều khó khăn và chi phí cho việc thu thập chữ ký của một số lượng lớn những người cho rằng quyền, lợi ích của mình đang bị xâm phạm
Vụ việc thứ hai: Vụ kiện ngộ độc bánh mỳ ở Bến Tre, hai mươi người đã
khởi kiện chủ tiệm bánh mì Minh Tuyến bồi thường thiệt hại do bị ngộ độc khi dùng bánh mì mua tại tiệm này vào tháng 5/2013 Tại phiên hòa giải, hai phía nguyên đơn và bị đơn đã đạt kết quả hòa giải thành Trước đó, ngày 12/8, TAND tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm và chấp nhận kháng cáo của 2 nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Hoàng và bà Nguyễn Thị Kim Thuyên kiện đòi chủ cơ sở bánh mì Minh Tuyến bồi thường thiệt hại sức khỏe do bị xâm phạm Cả hai vụ kiện Tòa
án tuyên bà Võ Thị Minh Tuyến phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn Hoàng số tiền 8.477.000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim Thuyên
số tiền 2.125.000 đồng Trong khi đó có đến 173 người dân bị ngộ độc thực phẩm khi ăn bánh mì kẹp thịt mua từ cơ sở Minh Tuyến, trong đó có 163 người phải nhập viện điều trị. 40
Vụ việc thứ ba: Ngày 10/01/2018, hai luật sư là Nguyễn Ngọc Hùng và
Trần Mạnh Tùng, với tư cách người khởi kiện, đã khởi kiện Apple Inc (trụ sở tại Mỹ), có đại diện thương nhân tại Việt Nam là Công ty trách nhiệm hữu hạn Apple Việt Nam lên TAND Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà hai ông cho rằng bị Apple Inc vi phạm Sau đó, để kêu gọi cộng đồng người dùng iPhone cùng tham gia ra khởi kiện, hai ông Hùng và Tùng đã thành lập ra một website là Batterydown.vn để những người dùng iPhone bị tác động tiêu cực từ nhà sản xuất đăng ký tham gia vụ kiện Apple tư cách đồng người khởi
40 Vụ kiến ngộ độc bánh mỳ ở Bến tre: người ngộ độc thắng kiện – [
Trang 32kiện Tính đến ngày 27/2/2018, website hiển thị hơn 4700 người đăng ký cùng tham gia khởi kiện Apple.41
Với vụ việc thứ hai và thứ ba, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã
và đang được đặt ra khi quyền lợi của “họ” bị xâm phạm Điểm chung của các vụ kiện này chính là số lượng người tiêu dùng tham gia khởi kiện là rất lớn nếu khởi kiện, xuất phát từ đặc điểm chính của các vụ kiện liên quan đến người tiêu dùng Tương tự như vụ việc thứ nhất, vụ việc thứ ba có thể lựa chọn một trong những phương án sau: (i) Tòa án thụ lý riêng lẻ đơn khởi kiện của hai ông Hùng, ông Tùng và hơn 4700 người khởi kiện khác, sau đó nhập thành một VADS lớn để xét
xử theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của BLTTDS năm 2015; (ii) Để có tư cách đồng nguyên đơn với hai ông Hùng và Tùng trong cùng vụ kiện, những người này phải cùng ký tên trong đơn khởi kiện của hai ông Hùng và Tùng và gửi lên Tòa
án yêu cầu giải quyết vụ kiện Cách làm này khó có thể thực hiện bởi lẽ sẽ gây ra rất nhiều khó khăn và chi phí cho việc thu thập chữ ký của một số lượng lớn những người cho rằng quyền, lợi ích của mình đang bị xâm phạm
Những vụ việc được đề cập, với những phương án được đưa ra cho những chủ thể có quyền khởi kiện đều có những hạn chế nhất định Cùng với tâm lý của
người dân hiện nay có phần e ngại việc khởi kiến bởi tâm lý “vô phúc đáo tụng đình” Vì thế, cần thiết bổ sung một cơ chế khác nhằm thực hiện khởi kiện VADS
tại Tòa án của các chủ thể
Xu hướng các quốc gia trên thế hiện nay phần lớn ghi nhận cơ chế “khởi kiện tập thể” “BLTTDS Việt Nam không có quy định về những vụ ‘khởi kiện tập thể’ để giải quyết các tranh chấp tư Trong khi đó, trên thế giới kiện tập thể được
áp dụng rất phổ biến trong giải quyết các tranh chấp lao động và tiêu dùng Theo pháp luật TTDS các nước như Mỹ, châu Âu và các nước ASEAN như Singapore, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Indonesia, các vụ kiện trong đó có nhiều người đứng đơn kiện một tổ chức hoặc cá nhân được Tòa án coi là vụ kiện tập thể và được thụ lý và xét xử khi thỏa mãn các tiêu chí cơ bản sau: (i) Nhóm người tham gia khởi kiện quá lớn đến mức việc giải quyết các vụ kiện riêng rẽ là quá phức tạp
và không thể thực hiện được, (ii) Phải có những vấn đề pháp lý và thực tiễn chung cho cả nhóm, (iii) Các yêu cầu hoặc lời biện hộ của người đại diện đứng ra khởi
41 Phan Thương (2018), Người Việt kiện hãng Apple có được không? – [
Trang 33kiện phải phù hợp với lợi ích của nhóm người tham gia và (iv) Người đại diện khởi kiện phải bảo vệ một cách thích hợp lợi ích của cả nhóm.”42 Và phần lớn các
quan điểm hiện nay đều thừa nhận rằng “khởi kiện tập thể hiểu một cách đơn giản
là các vụ kiện (dưới nhiều hình thức khác nhau) cho phép liên kết các lợi ích nhỏ lẻ của nhóm người có quyền lợi bị thiệt hại (thường là người tiêu dùng, người dân, hoặc các cổ đông nhỏ), để hình thành một lợi ích lớn hơn tương xứng với các chi phí mà việc kiện tụng có thể tạo ra Khi lợi ích nhỏ lẻ của người tiêu dùng được liên kết thành một nhóm/tập thể, và các thủ tục pháp lý sẽ chỉ do một nhóm nguyên đơn hoặc luật sư đại diện tiến hành, tâm lý ngại khởi kiện của người tiêu dùng sẽ được khắc phục do họ không phải đầu tư thời gian, công sức, tiền bạc để theo đuổi vụ kiện mà vẫn có thể hưởng lợi Việc sử dụng khởi kiện tập thể vì thế
có thể mang lại những lợi ích cho cả cá nhân và xã hội”43
Đối với căn cứ để xác định những người khác ủy quyền cho người đó đại diện khởi kiện thay, bởi vì một số quốc gia trên thế giới cho phép một hoặc một
số người đại diện khởi kiện thay cho những chủ thể còn lại.Theo tác giả, vấn đề này cũng chính là vấn đề về đại diện trong TTDS hiện nay Bởi lẽ, đại diện là việc
cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (khoản 1 Điều 134 BLDS năm 2015) Vậy căn cứ
để xác định căn cứ để xác định những người khác ủy quyền cho người đó đại diện khởi kiện thay chính là dựa trên văn bản ủy quyền giữa các chủ thể Theo quy
định của BLDS năm 2015 “Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”, vậy chính BLDS năm 2015
cũng không giới hạn số lượng chủ thể ủy quyền và số lượng chủ thể được ủy quyền thực hiện công việc Đơn cử như vụ việc thứ nhất đã nêu, 505 người đó có thể ủy quyền cho một người còn lại khởi kiện thông qua văn bản ủy quyền (vấn
đề văn bản ủy quyền đã được chứng minh ở mục 1.2.1) Cùng với đó, cho đến hiện nay theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì văn bản ủy quyền tham gia tố
42 Phan Thị Thanh Thủy (2018), Tlđd (30), tr 47- 49
43 Quách Thúy Quỳnh (2013), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng các vụ kiện tập thể - kinh nghiệm
nước ngoài và các gợi ý hoàn thiện pháp luật,– [ loi-nguoi-tieu-dung-bang-cac-vu-kien-tap-the -kinh-nghiem-nuoc-ngoai-va-cac-goi-y-hoan-thien-phap- luat.html ], 27/5/2023
Trang 34http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/207380/Bao-ve-quyen-tụng không buộc phải công chứng, chứng thực44, trừ trường hợp ủy quyền thực hiện việc kháng cáo (khoản 2 Điều 86 và khoản 6 Điều 272 BLTTDS năm 2015) Vậy, đối với căn cứ để xác định những người khác ủy quyền cho người đó đại diện khởi kiện thay trong khởi kiện tập thể chính là văn bản ủy quyền Nhưng với
số lượng người tham gia khởi kiện tập thể lớn như vậy việc gặp trực tiếp để ký vào văn bản ủy quyền là khá khó và tốn nhiều thời gian Một trong giải pháp mà
theo tác giả cũng đáng lưu ý đến được thể hiện tại vụ việc thứ ba chính là “thành
lập ra một website hoặc đơn giản hơn chính là các biểu mẫu đăng ký để những người bị cho là quyền và lợi ích xâm phạm chấp nhận cho một hoặc một số chủ
thể đại diện khởi kiện, cùng với đó sẽ cung cấp những thông tin trung thực có liên quan”
Từ đó, xuất phát từ phạm vi nghiên cứu của Khóa luận với mục đích bảo
vệ quyền khởi kiện VADS tại Tòa án của các chủ thể mang quyền một cách tốt hơn, tác giả kiến nghị: Tiếp tục nghiên cứu cơ chế và hoàn thiện khởi kiện tập thể VADS tại Tòa án trong các lĩnh vực như lĩnh vực tiêu dùng, lĩnh vực môi trường
1.2.2 Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác; bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng
Thứ nhất, chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS nhằm mục đích bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác
Không phải bất kỳ chủ thể nào cũng có quyền khởi kiện VADS tại Tòa án
để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người khác
Một số chủ thể được pháp luật quy định có quyền khởi kiện VADS tại Tòa
án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, và được xem là chủ thể khởi kiện VADS với tư cách là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể Cần lưu ý rằng, mặc dù các chủ thể này có quyền khởi kiện VADS tại Tòa án nhưng không được xác định tư cách là “nguyên đơn” khi đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật, bởi lẽ các chủ thể này không được giả thiết có quyền lợi hợp pháp bị
44 Pháp luật hiện hành không bắt buộc công chứng, chứng thực nhưng thực tế để xác định được chính xác việc ủy quyền đó, Tòa án thường yêu cầu việc ủy quyền giữa cá nhân với cá nhân phải có công chứng, chứng thực – Có thể xem tại Phụ lục số 03: Giấy ủy quyền tại Văn phòng công chứng Lê Thị Phương Liên
Trang 35xâm phạm (Điều 68 BLTTDS năm 2015) Trong trường hợp này, nguyên đơn trong VADS chính là những chủ thể “được khởi kiện thay”
Theo quy định tại khoản 4, 5, 6 Điều 69 BLTTDS năm 2015, người chưa
đủ 6 tuổi; người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi; người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi (trừ người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình); người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi TTDS, tức không thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án mà phải do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.Còn đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án của nhóm này được xác định theo quyết định của Tòa án
Ngoài ra, các chủ thể theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 5 Điều 187 BLTTDS năm 2015 có quyền khởi kiện VADS theo quy định của BLTTDS nhằm bảo vệ quyền cho chủ thể khác Đơn cử như khoản 1 Điều 187 BLTTDS năm 2015 quy
định “Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ
em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có quyền khởi kiện vụ án về HNGĐ theo quy định của Luật HNGĐ.”, Để xác định
chủ thể có quyền khởi kiện trong trường hợp này phải xem xét đến Luật HNGĐ năm 2014 Như vậy, có thể thấy, quyền khởi kiện VADS tại Tòa án trong trường hợp này bên cạnh căn cứ theo Điều 187 BLTTDS năm 2015 thì còn cần căn cứ vào quy định của pháp luật nội dung
Cùng với đó, tại khoản 1 Điều 187 BLTTDS năm 2015 quy định “Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện
vụ án về HNGĐ theo quy định của Luật HNGĐ.” Vậy, có ba cơ quan nói trên
thực hiện quyền khởi kiện VADS trong lĩnh vực HNGĐ theo quy định của pháp luật45
45 Hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình được quy định tại Điều 3 Nghị định 02/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về công tác gia đình bao gồm:
“Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước
về công tác gia đình trong phạm vi toàn quốc
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về công tác gia đình
Trang 36Tiếp đến, tại khoản 2 Điều 187 BLTTDS năm 2015 quy định “Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật.” Với quy định này, BLTTDS
năm 2015 trao quyền cho tổ chức đại diện tập thể lao động thực hiện quyền khởi kiện VADS trong lĩnh vực lao động trong hai trường hợp: (i) Trường hợp cần bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động, hoặc (ii)Khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật
BLTTDS năm 2015 được ban hành trong giai đoạn BLLĐ năm 2012 còn hiệu lực Tại thời điểm đó, BLLĐ năm 2012 quy định tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (khoản 4 Điều 3) và tổ chức này chỉ là Ban chấp hành công đoàn
cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở Từ đó, BLTTDS năm 2015 ban hành vẫn sử dụng thuật ngữ “tổ chức đại diện tập thể lao động” Đến nay, khi BLLĐ năm 2019 được ban hành và
có hiệu lực, BLLĐ sử dụng thuật ngữ “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở”,
nhưng có điểm khác biệt khi “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.” (khoản 3 Điều 3) Cả hai tổ chức là công đoàn cơ sở và tổ chức của người
lao động tại doanh nghiệp đều cùng hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện mục đích trên46
Ba là, khoản 3 Điều 187 BLTTDS năm 2015 quy định “Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công
Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác gia đình tại địa phương”
Tiếp đến, theo quy định tại khoản 1 Điều 90 Luật Trẻ em năm 2016 thì Uỷ ban nhân dân các cấp
sẽ thực hiện quản lý nhà nước về trẻ em theo thẩm quyền Ngoài ra, còn có các chủ thể khác theo quy định của pháp luật, được thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án trong lĩnh vực quản lý
46 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Lao động, Nxb Hồng Đức – Hội
Luật gia Việt Nam, tr 454
Trang 37cộng theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.” Theo đó, tổ chức
xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công công theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
Bốn là, khoản 5 Điều 187 BLTTDS năm 2015 quy định “Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án HNGĐ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật HNGĐ.” Căn cứ quy định này cùng quy định Luật HNGĐ năm
2014, có thể xác định được những trường hợp mà cá nhân có quyền khởi kiện vụ
án HNGĐ theo khoản 5 Điều 187 BLTTDS năm 2015, bao gồm: (i) Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của
họ (khoản 2 Điều 51); (ii) Người thân thích căn cứ theo quy định tại điểm b khoản
2 Điều 84 quy định về trường hợp người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thì người thân thích trên cơ sở lợi ích của con, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con (khoản 5 Điều 84); (iii) Trong trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết (Điều 92); (iv) Cha,
mẹ, con, người giám hộ theo quy định của pháp luật về TTDS, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành
vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này (khoản 3 Điều 103); (v) Người thân thích theo quy định của pháp luật về TTDS,
có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó (khoản 2 Điều 119)
Thứ hai, chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS nhằm mục đích bảo
vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước:
Hiện nay, pháp luật TTDS không trao quyền khởi kiện vì lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước cho chủ thể là cá nhân Có lẽ xuất phát từ sự phức tạp trong những vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước và những khó khăn, hạn chế trong hoạt động chứng minh của cá nhân đi kiện cho lợi ích chung
Trang 38nên pháp luật chỉ ghi nhận quyền khởi kiện của cơ quan tổ chức trong trường hợp này47
Hiện nay, tại khoản 4 Điều 187 BLTTDS năm 2015 quy định “Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật”, đồng thời, “Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.” Vậy, có thể
hiểu, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật nội dung ghi nhận, có quyền khởi kiện VADS tại Tòa án nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước
Cũng như trường hợp chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS nhằm mục đích bảo vệbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác, chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước phải được pháp luật nội dung quy định, ghi nhận quyền đó cho chủ thể là cơ quan, tổ chức Điểm khác biệt so với trường hợp trên, chính là tư cách chủ thể sau khi được Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật TTDS, nếu chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác chỉ được xác định với tư cách là người đại diện, thì chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước được xác định là “nguyên đơn” Về nguyên tắc, nguyên đơn phải là chủ thể được giả thiết có quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm Tuy nhiên, pháp luật thực định
có quy định một ngoại lệ, đó là cơ quan, tổ chức trong phạm vi mình quản lý nếu khởi kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng cũng được xác định là nguyên đơn trong VADS48
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới cũng có hướng quy định tương tự như BLTTDS năm 2015 khi trao quyền cho cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích
công cộng Tiêu biểu như Luật TTDS Trung Quốc khẳng định “Đối với các hành
vi gây ô nhiễm môi trường, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đông đảo người tiêu dùng và các hành vi khác xâm hại đến lợi ích công cộng thì cơ quan,
47 Nguyễn Thị Thu Hà, Vũ Hoàng Anh (2020), Nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 13, tr 13
48 Vũ Hoàng Anh (2021), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp
chí Khoa học Kiểm sát, số 01, tr 54
Trang 39tổ chức hữu quan theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện ra Toà án nhân
dân.”49 (Điều 55) Cùng với đó, tại văn bản giải thích của TANDTC Trung Quốc
về việc áp dụng “Luật TTDS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” ngày 02/4/2022 (sau đây gọi là văn bản giải thích của TANDTC Trung Quốc) đã hướng dẫn cụ
thể về điều kiện khởi kiện khi các chủ thể theo Điều 55 Luật TTDS Trung Quốc thực hiện quyền khởi kiện, theo đó, Điều 282 quy định, TAND thụ lý nếu có đủ
các điều kiện sau đây: (1) Có bị đơn rõ ràng; (2) Có yêu cầu khởi kiện cụ thể; (3)
Có bằng chứng hiển nhiên rằng lợi ích xã hội và công cộng đã bị thiệt hại; (4) Thuộc phạm vi TAND thụ lý VADS và thẩm quyền của TAND thụ lý vụ án 50
Từ những phân tích trên, có thể thấy được sự không thống nhất giữa khái niệm của BLTTDS năm 2015 và BLLĐ năm 2019 Trong thời gian tới, nếu
như BLTTDS năm 2015 được sửa đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội,… thì khoản 2 Điều 187 BLTTDS năm 2015 nên được sửa thành:
“Tổ chức đại diện người lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường
hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật.”
Trang 40Cùng với đó, khi phân tích quy định pháp luật Việt Nam, so sánh với một
số quốc gia trên thế giới, cùng thực tiễn áp dụng pháp luật về chủ thể khởi kiện
vụ án dân sự tại Tòa án, tác giả nhận thấy còn một số điểm hạn chế, bất cập cần được hoàn thiện, đảm bảo quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án của các chủ thể mang quyền Từ đó, tác giả kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề cá nhân
ủy quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án cho cá nhân khác, xu hướng khởi kiện tập thể vụ án dân sự tại Tòa án, và thống nhất trong hệ thống pháp luật hiện nay