1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học

24 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài viết
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học đi đôi với hành. Nguyên lí ấy đã được thực hiện triệt để trong nền giáo dục Việt Nam chưa? Ở bậc giáo dục trung học cơ sở, học sinh đã học đi đôi với hành khi tham gia các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường chưa? Đặc biệt là đối với môn Ngữ văn, những gì học sinh được tiếp xúc từ sách vở, thầy cô đã thực sự ở lại trong tâm hồn các em? Hay đã thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống hằng ngày ? “Văn học và cuộc sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người ”(Nguyễn Minh Châu). Những tinh hoa và thổn thức của cuộc sống chính là nguồn cảm hứng tạo nên những giá trị văn chương bất hủ. Hay :“Văn học là nhân học” ( M. Gorki). Văn chương không chỉ cung cấp cho con người những tri thức rộng lớn về mọi mặt của đời sống con người với ý nghĩa “mở ra những chân trời mới” mà nó còn góp phần tích cực vào việc hoàn thiện và phát triển nhân cách của con người, dạy cho con người sống biết hướng tới cái Chân – Thiện – Mỹ.Việc giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường ngày càng được chú trọng hơn, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, cùng với hai phân môn Tiếng Việt và Làm văn, Ngữ văn được coi là môn chủ đạo, góp phần to lớn trong việc giáo dục và đào tạo thế hệ học sinh, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của giáo dục nói riêng và của toàn xã hội nói chung trong quá trình phát triển.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn giải pháp

Học đi đôi với hành Nguyên lí ấy đã được thực hiện triệt để trong nền giáo dục

Việt Nam chưa? Ở bậc giáo dục trung học cơ sở, học sinh đã học đi đôi với hành khi

tham gia các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường chưa? Đặc biệt là đối với mônNgữ văn, những gì học sinh được tiếp xúc từ sách vở, thầy cô đã thực sự ở lại trong tâmhồn các em? Hay đã thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống hằng ngày ?

“Văn học và cuộc sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người

”(Nguyễn Minh Châu) Những tinh hoa và thổn thức của cuộc sống chính là nguồn cảm

hứng tạo nên những giá trị văn chương bất hủ Hay :“Văn học là nhân học” ( M.

Gorki) Văn chương không chỉ cung cấp cho con người những tri thức rộng lớn vềmọi mặt của đời sống con người với ý nghĩa “mở ra những chân trời mới” mà nó còngóp phần tích cực vào việc hoàn thiện và phát triển nhân cách của con người, dạycho con người sống biết hướng tới cái Chân – Thiện – Mỹ

Việc giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường ngày càng được chú trọng hơn,đặc biệt là trong thời đại ngày nay, cùng với hai phân môn Tiếng Việt và Làm văn,Ngữ văn được coi là môn chủ đạo, góp phần to lớn trong việc giáo dục và đào tạothế hệ học sinh, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của giáo dục nói riêng và của toàn xã hộinói chung trong quá trình phát triển

Thực tiễn dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay còn nhiều bấtcập, chất lượng dạy học Ngữ văn còn nhiều hạn chế Nguyên nhân của hiện tượngnày là do nhiều phía, trong đó phương pháp dạy học là một trong những nguyênnhân cơ bản Trong giờ học giáo viên vẫn nặng về truyền đạt, truyền thụ, học sinh bịđộng tiếp nhận kiến thức Chưa thay đổi quan niệm về người học và việc đánh giángười học, chưa thực sự chú đến người học: nhu cầu, mong muốn, hứng thú của các

em, chưa khuyến khích học sinh tìm tòi, sáng tạo, sự tương tác giữa giáo viên và họcsinh còn hạn chế Giáo viên chưa biết cách tổ chức thành các hoạt động học tập chohọc sinh làm việc Các hoạt động học tập được thực hiện một cách hình thức,không đem lại hiệu quả cao nhất là hoạt động vận dụng sau bài học

Hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học chính là kĩ năngchuyển hóa sau mỗi bài học Nó thường được coi là mục tiêu chính của giáo dục nóichung và của môn Ngữ văn nói riêng, nhưng lại cực kì khó đạt được Và một ngườigiáo viên Ngữ văn thực sự thành công chính là khi giúp học sinh vận dụng kiến thức

Trang 2

văn bản văn học để giải quyết các vấn đề trong “thế giới thực”, bao gồm những hoạtđộng thực tế của học tập và những tình huống nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống củacác em.

Tuy nhiên, hoạt động vận dụng trong giờ đọc hiểu vẫn chưa được tổ chức rõràng, cụ thể, tính hiệu quả chưa cao Một số giáo viên có tổ chức hoạt động vận dụngnhưng chủ yếu vẫn chỉ là liên hệ thực tiễn, có ứng dụng CNTT nhưng chỉ dừnglại ở việc cung cấp tranh ảnh Các biện pháp tổ chức hoạt động vận dụng chưaphong phú

Bản thân tôi là giáo viên dạy Ngữ Văn, tôi luôn quan niệm, dạy Văn là dạy chohọc sinh cách đối nhân xử thế Do vậy, tôi cho rằng sự thành công của môn Văn

không chỉ giúp làm cho học sinh đạt điểm cao trong các kì thi bởi “lí thuyết chỉ là màu xám còn cây đời mãi mãi xanh tươi” Quan trọng nhất là sau mỗi bài đọc hiểu

văn bản văn học, học sinh biết nhận thức vấn đề thực tiễn tương tự xung quanh vàthấu cảm hoàn cảnh từ đó sẽ biết vận dụng bài học vào thực tiễn để dần hoàn thiệnđạo đức nhân cách

Từ thực tế dạy học văn bản văn học ở nhà trường THCS hiện nay, tôi chorằng việc nghiên cứu để tìm ra các biện pháp tổ chức hoạt động học tập trong giờ đọchiểu nói chung và hoạt động vận dụng nói riêng là cần thiết, góp phần nâng cao chấtlượng dạy học văn trong nhà trường đồng thời thực hiện được “thiên chức” đích thựccủa môn Ngữ Văn : Dạy học Văn là quá trình tu dưỡng, rèn luyện nhân cách và cảmxúc thẩm mĩ

Từ những lí do trên và từ việc nhận thức được ý nghĩa của việc đổi mới dạyhọc nói chung và dạy học đọc hiểu văn bản văn học nói riêng tôi xin báo cáo một sốgiải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động vận dụng trong đọc hiểu văn bản vănhọc Ngữ văn 9

2 Phạm vi và đối tượng thực hiện

- Phạm vi: Trong giờ dạy đọc hiểu giáo viên có thể tổ chức nhiều hoạt độngkhác nhau, ở báo cáo này tôi tập trung vào đề xuất một số giải pháp tổ chứchoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học Ngữ văn 9 trongnhà trường THCS

- Đối tượng thực hiện: Học sinh lớp 9.2 và lớp 9.5 trường THCS Phan ChuTrinh( năm học 2021 – 2022)

3 Mục đích của biện pháp

Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể:vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi

Trang 3

hỏi các em phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý

tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó Mục đích của hoạt động vận dụng trong

đọc hiểu Ngữ Văn là giúp học sinh sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyếtcác vấn đề, các tình huống trong thực tế cuộc sống và liên hệ vấn đề của văn học với

những vấn đề của xã hội hiện đại ngày nay Hoạt động vận dụng trong dạy học đọc

hiểu văn bản văn học không chỉ giúp học sinh nắm chắc nội dung, kiến thức của bàihọc mà còn hình thành và rèn luyện cho học sinh những kỹ năng đọc hiểu văn bảnvăn học để có thể giải quyết các bài tập, những văn bản cùng thể loại không có trongchương trình

Hoạt động vân dụng tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ thái độ, nhận thức củamình về tác phẩm và rút ra bài học, triết lí sống đúng đắn Tự bộc lộ khác hẳn với lối

áp đặt tình cảm, thái độ cho học sinh Qua hoạt động này học sinh có cơ hội để đốithoại, trao đổi, sẻ chia với các bạn khác những cảm nhận, suy nghĩ của mình

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

I Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học chương trình Ngữ Văn 9 tại trường THCS Phan Chu trinh.

1 Xây dựng hệ thống bài tập

1.1 Bài tập liên hệ, vận dụng

Giáo viên đưa ra các bài tập tự luận, các câu hỏi yêu cầu HS vận dụng kiếnthức và kĩ năng để trả lời Các câu hỏi được xây dựng theo các cấp độ khác nhau.Qua đó đánh giá được mức độ hiểu bài và năng lực đọc hiểu văn bản văn họccủa học sinh

Đối với các văn bản văn học ở lớp 9 chủ yếu là đề tài nhân đạo và yêunước vì vậy việc chỉ ra các vấn đề được đề cập đến trong văn bản và liên hệ vấn

đề này với đời sống ngày nay là nhiệm vụ mà cả giáo viên và học sinh phải thựchiện

Ví dụ: Qua thân phận của nàng Vũ Nương trong “Chuyện người con gái

Nam Xương”, em hãy liên hệ với thực tế về quyền của người phụ nữ trong xã hội ngày nay ?

Ví dụ: Qua các đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”,

em hãy cho biết suy nghĩ của bản thân về quan niệm “công-dung-ngôn –hạnh” đối với người phụ nữ trong xã hội ngày nay ?

1.2 Bài tập xử lí các tình huống trong cuộc sống

Tổ chức hoạt động vận dụng bằng cách đưa ra các tình huống có liên quanđến nội dung bài học Các tình huống được đưa ra phải phục vụ cho việc thể hiệnmục đích, nội dung của bài học, phải có tính thực tế và phải gắn với những sựkiện liên quan đến đời sống hàng ngày, giúp học sinh có thể liên hệ với bàihọc một cách dễ dàng Tình huống phải hấp dẫn, khơi dậy hứng thú, khơi dậykhả năng tự học và yêu thích bộ môn ở học sinh Tuy nhiên, giáo viên cần lưu ýđưa ra các tình huống vừa sức, phù hợp với trình độ, kinh nghiệm và tâm lí lứatuổi của học sinh Tùy vào từng bài học, nội dung kiến thức mà giáo viên muốnhọc sinh ghi nhớ mà giáo viên sẽ đưa ra các tình huống phù hợp Sau khi đưa ra

Trang 5

tình huống, giáo viên sẽ định hướng cho học sinh cách giải quyết bằng cách đặt racác câu hỏi gợi ý.

Ví dụ: Sau khi dạy xong đoạn trích “Chuyện người con gái Nam Xương”

giáo viên có thể đưa ra một vài tình huống và yêu cầu học sinh nêu cách giảiquyết tình huống đó:

- Nếu em gặp phải tình cảnh tương tự như Vũ Nương em sẽ làm gì? Em có chọn cách làm giống Vũ Nương hay không? Vì sao?

- Trong tình cảm bạn bè hoặc tình yêu đôi lứa, nếu em bị nghi ngờ một cách vô cớ

là lừa dối, hai lòng hoặc bị bạn bè cho rằng em tiết lộ bí mật của bạn thân cho người khác biết thì em sẽ xử lí như thế nào?

Ví dụ : Khi dạy văn bản “Lặng lẽ Sapa” xong, giáo viên có thể đặt ra tình

huống:

- Hiện nay, nhiều bạn sinh viên sau khi ra trường muốn ở lại thành phố làm việc chứ không muốn về quê hoặc đi đến những nơi vùng sâu vùng xa để cống hiến tuổi trẻ Bản thân em có suy nghĩ gì về vấn đề này? Thử đề xuất lựa chọn của

em trong tương lai?

1.3 Bài tập đọc hiểu những văn bản tương tự không có trong chương trình

Dạy học không chỉ giúp học sinh nắm được nội dung, kiến thức của bài học

mà còn hình thành và rèn luyện cho học sinh những kỹ năng, năng lực khác như:đọc hiểu, cảm thụ, tạo lập văn bản…đặc biệt, khi dạy các văn bản văn học ngườigiáo viên cần chú trọng vào năng lực đọc hiểu của học sinh Đây chính là kĩ năngnền tảng để hình thành cho học sinh những kĩ năng khác như viết- nghe – nói Dovậy, giáo viên không chỉ giúp học sinh đọc hiểu văn bản trong SGK mà cần cungcấp thêm các văn bản cùng thể loại không có trong chương trình để học sinh rènluyện kỹ năng đọc hiểu, nắm vững kiến thức

Để hình thành và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản cho học sinh thì việcđưa ra các bài tập đọc hiểu là biện pháp tốt nhất Những văn bản đó có thể lànhững văn bản có cùng thể loại, cùng thời kỳ, cùng phong trào, cùng tác giả hoặccùng đề tài…với các văn bản trong SGK Sau khi được giáo viên hướng dẫn đọchiểu văn bản trong chương trình thì học sinh sẽ có cơ hội vận dụng những kiếnthức, kỹ năng để giải quyết nhiệm vụ học tập mà giáo viên đưa ra Giáo viên làngười sưu tầm, lựa chọn những bài tập phù hợp và định hướng giúp học sinh làmđược bài tập

đó

Trang 6

Ví dụ: Sau khi học xong bài “Mùa xuân nho nhỏ” giáo viên có thể

hướng dẫn học sinh tiếp xúc với một văn bản mới, nằm ngoài chương trình và cócùng nội dung tư tưởng với văn bản đã học như “Tự Nguyện”( Nguyễn Thanh):

Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng

Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương

Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm

Là người, tôi sẽ chết cho quê hương

Là chim, tôi sẽ cất cao đôi cánh mềm

Từ nam ra ngoài bắc báo tin nối liền

Là hoa, tôi nở tình yêu ban sớm

Cùng muôn trái tim ngất ngây hòa bình

Là mây, theo làn gió tung bay khắp trời

Nghìn xưa oai hùng đó tôi xin tiếp lời

Là người, xin một lần khi nằm xuống

Nhìn anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.

Giáo viên sẽ cung cấp văn bản để các em theo dõi và đưa ra các câu hỏi, cácvấn đề để các em suy nghĩ, thảo luận và trả lời Học sinh dưới sự hướng dẫn, địnhhướng của giáo viên sẽ có thể đọc hiểu, phân tích không chỉ văn bản này mà cóthể đọc hiểu được các văn bản cùng chủ đề rất dễ dàng Sau khi học sinh phântích xong, giáo viên có thể cho học sinh liên hệ những vấn đề được đề cậptrong văn bản với những vấn đề của đời sống ngày nay:

- Vấn đề một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay sống không có lí tưởng, sống

“nhạt”(thờ ơ, vô cảm), sống “dựa”(dựa dẫm, ỷ lại)

- Vấn đề “cho – nhận” trong xã hội ngày nay…

Học sinh vận dụng kiến thức và cảm xúc đọc hiểu văn bản thơ kháng chiến đểcảm nhận vẻ đẹp của những người lính cụ Hồ về lòng yêu nước, về tinh thầnchiến đấu, về tình đồng đội Từ đó rút ra bài học suy ngẫm cho bản thân về thái

độ biết ơn, tinh thần trách nhiệm đối với Tổ quốc…

Ví dụ: Sau khi học xong đoạn trích “Lục Vân Tiên gặp nạn”( trích Truyện Lục

Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu) giáo viên có thể cho học sinh vận dụng kiếnthức để đọc hiểu văn bản khác không có trong chương trình:

Bài thơ: Thà đui

(Nguyễn Đình Chiểu) :

Thà đui mà giữ đạo nhà

Còn hơn có mắt ông cha không thờ

Trang 7

Dầu đui mà khỏi danh nhơ

Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình

Dầu đui mà đặng trọn mình

Còn hơn có mắt đổi hình tóc râu

Sang chi theo thói tha cầu

Dọc ngang chẳng đoái trên đầu có ai

Sáng chi đắm sắc tham tài

Lung lòng nhân dục mang tai họa trời

Sáng chi sàm nịnh theo đòi

Nay vinh mai nhục mang lời thị phi

Sáng chi nhân nghĩa bỏ đi

Thảo ngay chẳng biết, lỗi nghì thiên luân

Thấy rồi muôn việc trong trần

Xin còn hai chữ “tâm thần” ở ta.

- Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích và so sánh: Quan niệm của tác giả được nói đến trong 2 bài thơ có gì giống và khác nhau?

- Sau khi phân tích và so sánh xong GV có thể cho HS liên hệ với đời sống ngày

nay: Thanh niên ngày nay có thái độ sống như thế nào?

- Theo em, để vượt qua những khó khăn bất trắc trong cuộc sống và học tập cần có những phẩm chất nào?

2 Sử dụng công nghệ thông tin làm một phương tiện hỗ trợ để tạo ra sự kết nối giữa nội dung đọc hiểu với những vấn đề đặt ra của thực tiễn đời sống.

Văn học và hiện thực có mối liên hệ mật thiết với nhau Văn học phảnánh hiện thực Có thể những hiện thực được đề cập trong văn bản là những vấn

đề của xã hội lúc bấy giờ, cũng có thể đó chỉ là sản phẩm của cá nhân, quan điểm

cá nhân, là sản phẩm của sự hư cấu tưởng tượng Nhưng khi dạy đọc hiểu vănbản giáo viên không chỉ giúp học sinh nắm vững nội dung, kiến thức, nhữngvấn đề của xã hội đương thời mà cần giúp học sinh thấy được mối liên hệ củacác vấn đề được đề cập trong văn bản với đời sống ngày nay nhất là đối với cácvăn bản văn học dân gian và văn học trung đại – những văn bản đã ra đời cáchngày nay rất lâu

Trong hoạt động vận dung, giáo viên có thể ứng dụng công nghệ thông tin

để tạo ra sự kết nối giữa nội dung đọc hiểu với những vấn đề đặt ra của thựctiễn đời sống bằng nhiều cách:

Trang 8

- Sưu tầm và trình chiếu cho học sinh những vấn đề cấp thiết của đời sống

ngày nay có liên quan đến nội dung mà học sinh đã được học

Ví dụ: Khi dạy xong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”(Nguyễn Du), GV có

thể cung cấp cho HS một số câu chuyện thực tế truyền cảm hứng về tấm gươngcủa những cô gái vừa có tài vừa có sắc và không ngừng phấn đấu, sống tráchnhiệm tử tế được mọi người yêu mến Hoặc cũng có thể liên hệ thực tế bằng việctrình chiếu hình ảnh – video về những cô gái khiếm khuyết về cơ thể nhưng sốngđầy nghị lực và lạc quan, biết yêu thương bản thân mình và những người xungquanh…

Cô bé xương thủy tinh Nguyễn Thị Thu Thương - Tấm gương về nghị lực sống tàn

mà không phế

Ví dụ: Khi dạy xong bài “Mùa xuân nho nhỏ”(Thanh Hải):

- GV có thể ứng dụng CNTT để giới thiệu cho học sinh những tấm gươngngười tốt, việc tốt, những người có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng đấtnước và cả những con người đã anh dũng hy sinh để bảo vệ nền độc lập tự chủcủa dân tộc Sau đó cũng cho các em nhận xét, rút ra bài học và giáo dục các emsống cần có lí tưởng, có ước mơ và phấn đấu để biến ước mơ thành hiện thực,giáo dục các em ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 9

- Trình chiếu cho học sinh một vài hình ảnh hoặc video clip và yêu cầu họcsinh phát hiện ra vấn đề được đề cập đến qua các hình ảnh, video đó Sau đó trìnhbày ý kiến, quan điểm của mình về vấn đề này.

Ví dụ: Khi dạy xong bài “ chiếc lược ngà”, GV có thể cho HS xem một

video hoặc tổng hợp các hình ảnh về tình cảm cha con trong cuộc sống hằngngày Sau đó yêu cầu HS trình bày cảm nhận và bài học rút ra được

Ví dụ: Khi học xong bài “Đồng chí”, “Bài ca về tiểu đội xe không kính”

GV có thể cho HS xem một đoạn video clip cảm động về hình ảnh những chiến

sĩ bộ đội trong thời bình giúp dân trong lũ lụt, dịch bện Từ đó yêu cầu HS trìnhbày cảm nhận về vẻ đẹp phẩm chất của bộ đội cụ Hồ, nêu suy nghĩ về việc thựchiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên khi đủ mười tám tuổi…

Trang 10

Những anh hùng thầm lặng giữa đời thường

Trang 11

3 Tổ chức các trò chơi có liên quan đến nội dung bài học

Phương pháp dạy học ở nhà trường THCS ngày càng được cải tiến theohướng tích cực Bên cạnh việc tổ chức cho HS tự học, làm việc nhóm, … thì việc

sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học cũng là một cách thức hữu hiệu để kíchthích sự tích cực nhận thức của HS trên lớp học Trò chơi học tập tạo được khôngkhí vui tươi hồn nhiên, nhẹ nhàng sinh động trong giờ học Giúp cho khía cạnhkhô khan của vấn đề học tập được giảm nhẹ và ghi nhớ của HS trở nên vữngchắc hơn Giúp HS tiếp thu tri thức một cách tích cực và tự giác.Việc kết hợp

sử dụng hình thức trò chơi trong học tập sẽ đưa lại hiệu quả cao trong dạy học.Đối với hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học, tổ chức tròchơi giống như một mảng màu sáng soi chiếu vào nhận thức về thực tế thông quabài học cho HS, phát huy tính tích cực của mỗi cá nhân, giúp các em hòa đồng vàthấu hiểu nhau hơn

3.1 Trò chơi sưu tầm tranh, ảnh, vẽ tranh minh họa cho tác phẩm

Mục đích của trò chơi này nhằm làm rõ thêm hoặc khắc sâu ấn tượng vềhình tượng, sự kiện trong tác phẩm, giúp HS nắm chắc nội dung bài học đồngthời giúp các em hoạt động hăng hái, nhiệt tình và thể hiện khả năng sáng tạocủa mình

Ví dụ: Sau khi học xong văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”(Phạm

Tiến Duật) trong hoạt động vận dụng GV có thể tổ chức cho HS chơi trò chơi: “

Từ thi ca đến hội họa” GV đưa ra yêu cầu : Hãy vẽ lại những câu thơ sau thànhmột bức tranh theo hình dung và cảm nhận của nhóm :

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”…

GV sẽ chia lớp thành 4 nhóm và

mỗi nhóm sẽ chuẩn bị các dụng cụ cần

thiết như: giấy, bút, màu vẽ….(GV yêu

cầu ở tiết trước) Thời gian thi là 7 phút

Sau khi hết giờ các nhóm sẽ trình bày

và thuyết trình về bức tranh của nhóm

mình GV sẽ là người chấm điểm và

trao phần thưởng cho nhóm vẽ bức

Trang 12

tranh đẹp và thể hiện được nội dung của đoạn thơ tốt nhất Trò chơi này không chỉgiúp học sinh phát huy khả năng sáng tạo mà còn giúp các em hiểu và ghi nhớ nộidung văn bản.

3.2 Đóng vai tác giả(đối thoại về với nhà văn) hoặc nhân vật trong tác phẩm

Đóng vai là cách đưa HS vào vị trí của tác giả hoặc nhân vật để cùng trảinghiệm, cùng chia sẻ với nhà văn và con người trong tác phẩm về những suynghĩ, những cách ứng xử trong cuộc sống Vì đóng vai tác giả, nhân vật nên HSphải đồng cảm họ Nhưng đóng vai không phải là sự chuyển hóa một cách tuyệtđối HS có thể mang vào đó những cách cảm, cách nghĩ, cách ứng xử của riêngmình trên cơ sở tôn trọng ý nghĩa khách quan của tác phẩm và ý đồ chủ quan củanhà văn Đây chính là tiền đề để HS phát huy được khả năng “đồng sáng tạo” củamình Đóng vai tác giả là biện pháp HS nhập vai người sáng tác để trao đổi, tranhluận với các bạn đọc HS khác hoặc phát biểu, bộc lộ quan điểm, thái độ về nhânvật, tình tiết trong tác phẩm Hình thức tổ chức là một HS đảm nhiệm vaitrò tác giả, những HS khác là bạn đọc - những người sẽ đặt cho HS này các câuhỏi về chủ đề, bút pháp nghệ thuật, dụng ý tư tưởng hay yêu cầu HS đang vào vaitác giả giải trình một số vấn đề về kết cấu, hành động của nhân vật, chức năngcủa các đoạn đối thoại, miêu tả, giải thích, ý nghĩa của các đoạn triết lý Tấtnhiên, không nên để một HS đảm nhiệm vai trò này từ đầu đến cuối mà có sự thayđổi, luân phiên

Ví dụ: Sau khi học xong đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt

Nga”(Nguyễn Đình Chiểu),GV sẽ cho một HS đóng vai là tác giả và đặt ra các

câu hỏi để HS khác trả lời Các HS ngồi vòng tròn và sẽ được thay phiên nhauđóng vai tác giả và đặt ra các câu hỏi cho các HS khác trả lời Việc đóng vai và trảlời các câu hỏi giúp HS nắm vững nội dung tác phẩm và hình thành cho HS khảnăng phản ứng nhanh trước các câu hỏi, các tình huống được đặt ra HS sẽ có cơhội bộc lộ ý kiến, thái độ của mình trước các câu hỏi và các vấn đề được đặt ra

3.3 Viết lại kết thúc của tác phẩm- “Đồng sáng tạo” cùng nhà văn

Sửa đổi sự việc, đặt nhân vật vào bối cảnh khác, tổ chức lời thoại khác,hoặc bổ sung thêm sự kiện, tình huống vào cốt truyện, thêm hành động, lời nói,suy nghĩ cho nhân vật, viết đoạn kết cho tác phẩm… đều là những giải phápthúc đẩy học sinh cùng sáng tạo với nhà văn Cách làm này vừa thể hiện thái

Ngày đăng: 04/10/2023, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), SGK Ngữ văn 9 tập I, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 9 tập I
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2019
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), SGK Ngữ văn 9 tập II, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 9 tập II
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2019
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2019),Sách giáo viên Ngữ Văn 9 tập I, Nxb Giáo dục 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2019),Sách giáo viên Ngữ Văn 9 tập II, Nxb Giáodục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ Văn 9 tập I
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2019
5. Phương Lựu (chủ biên), (2002), Lý luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
6. Lê Ngọc Trà, Lý luận và văn học, (2005), NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và văn học
Tác giả: Lê Ngọc Trà, Lý luận và văn học
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2005
7. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn được Bộ giáo dục và đào tạo ban hành tại Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT về ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2020),Tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng giáo viên phổ thông: Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh THPT môn Ngữ văn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w