1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hệ thống phạm trù triết học Phương Đông part 10 ppt

28 352 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống phạm trù triết học phương Đông part 10 ppt
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tài liệu
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng cái tốt lại không bằng cái lạc, cãi lạc thì lại fä cãí đá cực tốt, tâm lý lại hợp nhất, từ nhận biết đã tiến vào thể nghiệm, thể hội được cái gọi là '"phàm là lý của Vận vật trong

Trang 1

hiện sự thống nhất đó, lại cần phải bỏ đi cái trỏ ngại của

"hình thể, có sự riêng tu của ta, "ỗ muôn vật là một, không

có cái gì làm trỗ ngại, trong lồng ngực thư thái, há không

có lạc (cái vui) sao !" (Như sách đã dẫn, quyển 31) O Chu

Hy xem ra, tu trong muon vat cảm thụ được sự khoái lạc,

vẫn chỉ là một loại kinh nghiệm mỹ cảm Chỉ có tiến vào cảnh giới bản thể siêu nghiệm thì đó mới là "lạc" (vui) thật

sự, tức cái gọi là "nơi quền cả hai vật và ta"; "cối trồi trí

nhân độc đắc" ("vật ngã lưỡng vong chỉ dia" Trí nhân độc đắc chỉ thiên")

Chu Hy kết hop thé nghiém trực quan về lạc với nhận

thức, coi quá trình nhận thúc là bộ phận tổ thành của hoạt

động thể nghiệm, trong thể nghiệm đã thẩm thấu công, nhận nhận thức, đó là một đặc điểm của ông Cái gọi là lạc của

lý tròi lưu hành, tuy là chảy ra từ trong tâm, song cần phải thông qua nhận thúc lý tính đối vói vạn vật trong trdi dat,

chỉ có trên cơ sở nhận thức, mới có thể tiến vào thể nghiệm

my cam Vi thế, ông nhấn mạnh, phải học trên sự vật, cùng

lý trên sự vật Chí của Tăng Điểm tuy "như phượng hoàng

bay cao hang ngàn mét”, siểu điệu và cao xa, nhưng nếu

đều "không học ở trên sự việc, mà lại chỉ muốn sống vui vẻ

như Tăng Điểm không thôi thì , tướng lai lại chí là lita gat

người ta vậy" (Như sách đã dẫn, quyển 40) Như vậy có nghĩa là, cần có sự tích luỹ tri thức kịnh nghiệm, phải có sự tham dự của hoạt động nhận thức, có được tri thức phong

_ phú, lại từ "trên thể xác lẫn tỉnh thần đều thấm nhuần sâu sắc và thấy nó là thiết thân với mình”, thì như thế có thể

đạt tới được cảnh giỏi của lạc Vì thế, ông cho rằng, lạc của Tăng Điểm, tuy đã đạt được cảnh địa rất cao, nhưng do

Trang 2

“thiểu § sự tích Tuý về ‘hoc van va’ cong phú tỉ sâu tHăm nhuần

“sau sắc, nên chỉ là nig Âu: nhiên Trà nói ra được; thiểu € có: sỐ

Đề sâu, BB day, thậm” chí có điểm gần: “với: Trang Tủ ' -: - _ “Thực ra thì, thông qua nhận thức về đối tượng Khách

;quan, chinh, là để thể nghiệm, cái ly, trong tâm Lạc chính

là tự thể nghiệm, tự đánh giá Cái gọi là "Cải, biết không bằng cái tốt, vi chỉ có cái tốt moi có thể "thấy được TÕ rang rành mạch cái lý này đáng yêu, đáng cầu, cho nên tâm thành

là tốt vậy" Ó đây có vấn đề nhận xét về mỹ cảm, cũng có

vấn đề thái độ tình cảm Nhưng cái tốt lại không bằng cái

lạc, cãi lạc thì lại fä cãí đá cực tốt, tâm lý lại hợp nhất, từ nhận biết đã tiến vào thể nghiệm, thể hội được cái gọi là

'"phàm là lý của Vận vật trong trồi đất thì đều oó đũ ð thân

ta, thì không có gi bang lac vay" (Như sách đã dan; quyền

Về điểm: nay, Truong Thức nói được càng rõ rằng chính xác hơn Ông cho rằng lạc của Thánh hiền "Kết quả lạc thế nào ? Cái đó chỉ là sắp đặt ð lý trồi mà thôi" (“Ứng Dã Thiên", "Luận ngữ giải", quyển 3), Cái lý trời có thể yên ở trong tâm thì có thể không có liên luy gì với lac, "lông ham - muốn XÂY, ra một cách tự nhiên và đầy đủ ð muôn: vật"

| ("Tiên tiến thiên" Như sắch đã dấn, quyển 6), tức là đạt được hoàn toàn họp nhất giữa chủ và khách thể Đồ cũng

là cái vui "tự đắc", không phái là có thể trực tiếp đạt được

nhận thức về khái niệm Sau au nay Tao Doan cHính xác nêu

ra, nhân chính là lạc, "lạc chính là nhân vậy, không phải là _cái nhấn này là của lạc, mã chỉ là trong nhân tự có lạc của

nó thôi" Cái gọi ' là lac | của Khổng, Nhan, "an nhân", "không

vi "phạm nhãn" mà vui Tại ð tróng đó, như vậy là chỉ cái

Trang 3

rìhân tự: có của thiên: nhiên,: cái lạc tự có: của.:thiên nhiên

"Nhân thì không: có: ro: buồn”; không , lo buồn tức ja; dae

("Minh nho hoc 4n",.quyén 44).-Ta có thể thấy:lạc;và nhên hoàn toàn là cùng một cảnh giói, chỉ là phương thức thể

nghiệm khác nhau ma thôi Điều đó chứng tổ, cảnh giỏi mỹ học mà các nhà VW hoc da ‘theo đuổi, thé ra là cảnh ‘pidi

dao đức, Tào Doan chỉ: là chỉnh xác chỉ: Ta điểm đồ bh

| Phái tâm, học bàn về lạc, giống như, thành và nhân, 1 nói theo Bản thể luận, lấy "bản tâm" làm lạc, nói theo phương

pháp, thì lạc là vui của cái tâm đó, tức.tự thể nghiệm "thoả mãn cái chí của tal, Luc Cửu Uyên ' voi Nhan luận, học thích

hỏi: "Trong lòng có vui không? Đó chính là chỉ su ty thé nghiệm và su ty nhận xét của ý thức chủ thể, tức có đạt

được su tu khẳng định, và tự đồng nhận hay không Nếu

"hành động có điều không vừa ý Ö trong lòng thì ngã lông

nản chí" ("Nga lục", "Tượng Sơn toàn tap, quyén 34") O

day nhận xét về đạo đúc và nhận xét về thẩm mỹ, và hoàn

toàn nhất trí Ông đã biến tình cảm, đạo đức đã bản thể

hoá thành thể nghiệm mỹ cảm, lấy bản tâm đạo đức làm

tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá thẩm mỹ Và lẩy thực tiến

làm phương pháp thực hiện cảnh giói này Cát gọi là bảy

mươi tuổi không vượt quy củ để theo sự ham muốn của lòng

mình, là bởi vì "thực hành được rồi", cho nên "thấu suốt

hòa thông với lý trời" mà lạc (Nhu sách đã dẫn, quyển 35)

Cái gọi là-"Ta cũng như Điểm vậy", cũng chính.là nói "Tam

tử chỉ là viết về sự việc, còn Tăng Điểm lại viết từ ỏ đây" (Nhu:sach da dẫn, quyển 34) Cái gọi là "ở đây" chính vừa

là bản tâm mà cũng lại vừa là lạc.đã đạt được từ trong tự thực tiến của tự thể nghiệm Nếu từ trong đối tượng cụ thể

Trang 4

cam thw dude lac (cai vui), thì đớ :chỉ là cái lạc (vui) nhất

thời, chỉ có từ trong bản tâm của mình: thể nghiệm được lạc

(cãi vui); th mới có giá trị và ý: nghĩa vĩnh hằng ˆ

" “Ham muốn theo lòng mình" là "thoả: cái chí của ta", đó vừa lạ tự do ý chi của Đạo đức ‘Tuan, vừa là ‘tinh muc dich

của thẩm mỹ, đây, đều là nói trên ý chí tinh cảm Đó là

bản tính của con người, cũng là nhu cầu của con người, nhưng thực ra không phải ai ai củng đều thực hiện được

Muốï'thực hiện cảnh giỏi này, đòi hỏi phải "tẩy rửa cái tâm của nó"; "sửa chữa tỉnh thân” Nói theo mặt khác, thì tức là

"hàm dudng cai tam do" Vi thé ong rất thích Tăng Tử đã

ngâm "Giang Hán đi trạc chỉ, Thu đương ởi bạo chỉ" (nghĩa la: ‘Ly nước sông 'Hán mà rửa Lấy mặt trồi mùa thu mà

Tọi), tức là bõ đi thói cú, để đến với cái ý mới Đó vừa là

tự siềù việt, cũng là tự nhận đồng, gặp được cái "huyết mạch" thật của mình, không có Bất kỳ liền luy và cản trỏ

gì, "thấy siêu nhiên ö toàn thần, tự nhiên nhẹ nhõm và tự nhiên linh thiêng” (Như sách đã dẫn, quyển 35), ti từ đó mà

có sự thoả mãn tinh thần và vui ye tối đa

_ Ta có thể thấy, Lục Cửu Uyên da nang nguyên tắc chủ thé cia ý:thức thẩm:mỹ-lên độ:cao chưa từng có Xuất phát

từ "bản tân; tức :tự mình để xây dụng cảnh giói về mỹ

Nhưng, tách rồi khách thể và đối tượng, cái gọi là cái vui

‘trong tâm; cũng không bàn tói được Cho nên, ông:vẫn phải

quay về với Học thuyết thiên nhân hợp nhất Một mặt, cái gợi là "tự lập" của dng, can phải tHâ mình vào trong giới tự -nhiêh của vũ trụ, muốn "biết €ãi số dĩ của tròi với cái ta,

chí quý chí hậu", là "cái xốn có của ta" (Như trên) Con

Trang 5

người &ö:di.chí quý chí hậu, có giá trị tự mình, là tự nhiên

đã phú cho.:Tuy là ta có sẵn, nhưng lại không thể thoát ly giới tự nhiên Mặt khác, chính.vì thế, đòi hỏi phải thể hội địa vị 6 gidi ty nhiên của con người "Trong vũ trụ bao la như thế, thân ta đứng Ở trong đó, cần phải làm một người lón" (Như trên) Nghĩa là, phải thực hiện "tự ta", cần hợp nhất với giói:tự:nhiên Sự hợp nhất này, là sự không ngừng

siêu việt của ý thúc chủ thể, bao gồm cả ý thức thẩm mỹ, chỉ:có bỏ đi tất cả "sự bài bác lao động (lao nhướng), mài đi.tất cả chỗ sắc nhọn (khuê giác), "ngâm tầm quang tinh"

(thấm đẫm nhuần nhị cái tỉnh hoa tươi sáng), "hợp.cái đức

của nó với thiên địa”, v.v thì có lẽ nào không lạc (vui)

sao !" (Nhu trén) ‘Loai lac (vui) nay, khong phái là sự cảm thụ, sinh ra do kết hộp với đối tượng cụ thể, mà là hợp nhất

với toàn bộ gidi tu nhién va cả vũ trụ, là một loại thể nghiệm

- Loại cảnh giới này là cong lợi, Ì lại là siêu công ‘Idi Ông

dùng "Du nhiên”-(nhàn tâm), "xung nhiên", "mạc nhiên".để

nói rõ tính siêu công lợi này, tức là nói rõ cảnh giói mỹ cảm

hoàn toàn xuất ra từ "tự nhiên”, siêu nhiên, 6 ngoai:danh

lợi, tức lấy nhân làm “quảng cư”, lấy nghĩa làm "an trach"

(chỗ öỏ ổn định) Về vấn đề này, các nhà lý học đều là như thế, tức là đều hợp tính công lợi của đạo đức với tính siêu công lới của mỹ học lại làm một, cho con người một loại cảm giác siêu nhiên,:trên thực tế thì lại không có, và cũng, không thể thoát khỏi sự đối lập giữa công và tư, tuy rằng

cứ rêu rao "tự nhiên”, nhưng lại không hề có một chút tính công lợi nào tách rời khỏi xã hội `

Trang 6

Ngo Du Bat thai nha Minh, da tận tình phát.huy loại:

cant? gidi này Ởng :vùi: đầu 'văo đọc sách hàng ngày, thả - mith’ vao giữa cảnh cố hơa.trăng gió của giói :tự nhiên

để thể nghiệm cảnh giói mỹ học về "Hy Hoàng di thướng'

nhần", tức "lòng rộng mỏ thân trôn", “quên cả vật và ta",

"chân thú đu nhiên" (thực sự Húg thú'án nhàn) Ông là

mot nha thực tiến nổi tiếng, ngày đêm chuyên tâm về thể:

nghiệm thân tâm: (cả thể:xác lắn tâm hồn), không lấy: nghèo tiền (Bần tiện) để thay đổi lạc (niềm xưi) mùa nó Đớ'Cũng là sự: thé: nghiệm ! thực tiến: hợp ¢ đạo đúc voi my:

“Trần, Hién, ‘Chuang hợp con 'ñgười với giỏi tự nhiên lại

làm một, lấy ' 'tự nhiên làm tông" (ton chi), mà tâm tức la”

tự nhiên Cái Boi Ja, lac của ông chỉ là "tâm lạc" (vui 1âm) |

"Cái lạc (vui) của Trọng Nỉ và Nhan Tử là cái tam nay vay, l chính là cái tâm này của Chu Tủ và Trình Tủ, cũng là cái tâm nảy của Ngõ: Tử vậy Tù cái lạc này đến cái lạc trong tầm của nó không còn xa nữa" ("Tầm lạc trai ký", "Bạch Sa

Tử toàn tập”, quyển 1) "Tâm lạc”:cũng chính là cái lạc (vui):

tự nhiên, vượt r ngoài hình thể, đấn thân vào trong sơn

thuỷ hợp làm một vỏi giới tự nhiên sinh sinh hoá hoá , không

có phân biệt thiên - nhân, vật và ta Thậm chí ðng đã nêu

ra khẩu hiệu : "Trả lại cái thân tự đo cho ta”, nhưng đó thực ra không phải là cái mỹ tự nhiên thuần tuý, nó không ˆ

tách rồi Học thuyết thiên nhân hộp: nhất lấy "tính chân" làm

nội dung Chỉ có điều Trần Hiến Chương: càng:nhấn mạnh

hón tính chủ thể của ý thức thầm my, dong tt thời mang | khá

nhiều sắc thái tự nhiên =~ >» xe hiên Ea củ

Trang 7

-: Vương Duong.Minh trục tiếp nói lạc là bản thể của tâm,

tức cảnh giói bản thể, hp làm một với Thuyết lương tri của

ông, đã làm sáng tỏ thêm nguyên tắc chủ thể của thẩm mỹ Lương tri là nói theo tổng thể, lấy nó lam "ly thực", cho nên

gọi 1à “thành", lấy nó làm "lý sinh" cho nên gọi là "nhân"; lấy nó làm "lý tình” cho nên gọi là "lạc” Nói phân biệt ra

thì cô thành, nhân, lạc; nếu nói gộp lại, thì chỉ là một lương tri Vương Dương Minh nói : "Lạc là bản thể của tâm, tuy không giống lạc của bảy tình, mà cũng không ngoài lạc của bảy tình": ("Truyền Tập Lục" Trung) Giống như lương trỉ _ không giống vói cái biết bằng nghe thấy (tri văn kiến), cũng không tách rồi cái biết bằng nghe thấy (tri văn kiến); lạc của bản thể vói lạc của bảy tình cũng là quan hệ thể dụng

Lạc của bản thể là "chân lạc”, lạc cửa bảy:tình là biểu biện

ưu hành cửa nó, lạc:của bản- thể tuy thể biện trong bảy tình, song không thể trộn làm một được Do lạc của cảm tình đế chảy về tà tịch, nên cần phải phản hồi đến chân lạc,

đó là sự tự siêu việt của thể nghiệm mỹ cảm Chỉ có trong

sự siêu việt đó, lạc cảm tính tịnh hoá thanh và sắc, mói có

thé đạt được cảnh giới vạn vật nhất thể _ Sa _Nói theo thé nghiệm my cam, Vuong Duong Minh da

xác lập được nguyên tắc chủ quan, nhưng nguyền tắc chủ quan này lại đồng thời có tính phổ biến, là cái giống nháu

của thiên hạ, túc hợp làm một vói cái lý sinh sinh của trồi đất Tình cảm khi phát ra thành vui mừng, bực bội, buồn

bã, vui vẻ (hị, nộ, ai, lạc), với cái tâm "chân thành rau ri

và đau buồn" và cái lý "chân thực không sai trái xằng bay" vốn là một thể, giói cảnh của mỹ chính là giới cảnh của - thiện và chân "Nhân tâm đồng thể vói trồi đất, trên dưới

Trang 8

cùng đòng với trời đất" (“Truyền Tạp ' Lạc" Hạ) Chân, thiện, rñÿ vốn là: một cảnh giới đồng nhất của ba Vị: nhất thể e

fav

tam tốt, xấu là tâm phải, trái, ba cái i tam này hoàn toàn

nhất trí Nếu muốn phân tích một cái thì tâm thiện ác là: chỉ nói về nhân, tức thiện, tâm tốt xấu :chỉ: nói về lạc tức là

mỹ, tâm phải trái là chỉ nói.về thành tức chân Thực ra thì

ở: Vương Dương Minh xem ra, không thể phân: tích được, chỉ có thiện ác là:tận tốt xấu, chỉ có tốt:xấu là tận phải 4rái

Chúng ta:nhìn thấy được một sy vat la my, d6.la béj-vi trong

lưong trì của ta:tự có cảnh giói vöa mỹ, tiêu chuẩn của mỹ giống như tấm: gương sáng: nói chung, không có.chút :nào, đầy bẩn Vật-soi vềo gương sáng, cái đẹp là đẹp, cái xấu là

xấu, hể sơi-vào là thật, đó gọi là "Nơi-sinh ra cái tâm của

nớ” Câi-đẹp là đẹp, cái xấu là xấu, hế đi quá xa là không

còn lưu lại nữa, đớ đới là "Nøivô số trú".(Như sách đã dẫn)

Đó cũng là "Tình thuận theo muôi sự nên vô tình" Thể

nghiệm tình cảm đước gợi là lý tính rnä lại siêu lý tính, đó

đều là kết quả tiến hành đánh giá theo tính mục đích chủ

quan, nhung lai có tính phổ biến và tính tất nhiên khách

Trang 9

hoa, cần phải "tuân theo cái lý" mới cớ thể lựá chón được

"Chỉ ỏ cái tâm của anh tuân theo cái lý là thiện, động khí (làm trái ngược lại) là ác" (Như sách đã dẫn) Điều đó chúng

tỏ, xác: định thiện ác, đẹp xấu, cần lấy nguyên tắc lý tính làm tiêu chuẩn, đó vừa là chủ quan, vừa là khách quan, đó

là sự thống nhất của hai cái đó Vì thế, tâm có chút bục tức

và vui.vẻ, thì không có được chính trực, và đó' không phải

là chân lạc.;-chỉ có cái tâm "Khuyếch nhiên đại công” (Tấm lòng rộng mở đúng với đại công) mói là chân lạc Điều này cần dựa ;vào "thể đương” (nhận thức lúc bấy gid) của mình, nếu xuất ra ngoài cái tâm khuyếch nhiên đại công, thì cũng đành như là nhổ cỏ đi vậy thôi Chu Mậu Thúc không nhổ

có trước cửa sổ cũng vậy, đều là cảnh giói về lạc

| Nhung cái gọi là lạc'của bản thể của - Vương Đương

Minh, lại không tách rồi tri giác kính nghiệm, cũng không

tách rời đối tượng khách quan Một mặt, đối tửợng khách quan Không CÓ nguyên tắc chủ thể về thể nghiệm thẩm mý của ta, không có cải gọi là đẹp xấu (nghiên xí mỹ xú): Mặt khác, nếu không có nghiên xí mỳ xú của đối tượng khách

quan, cũng không có cái gọi là cảm thụ và thể nghiệm về

mỹ Vì thế, cái lạc (vui) của tâm thể không tách rồi sự tồn

tại cảm tính, không tách rồi đối tượng thẩm mỹ, không tách

rồi cảm thụ thẩm mỹ, tức cái lạc (vui) của bảy tình Nguyên

tắc chủ thể của thẩm mỹ chỉ có kết hợp với đối tướng khách

quan, chỉ có thông qua bảy tình cám ứng vói đối tướng,

tức toa chiếu vào :đối tượng, mới có thể thực hiện được Cảnh giói của lạc, đã là siêu việt, nhưng lại không tách röi

thể nghiệm tình cảm và cảm thụ thẩm mỹ Đây chính là đặc

Trang 10

điểm lón nhất của TẾ cảnh hgồi về "Van vat là nhất thế” của Vương, L Duong Minh | ¬ baat nn PT

- Điểm này được biểu hiện thềm rnột bước 6 Vương Kỳ

Vuong Ky không những đã phát triển tử tưởng "cảm" (đựng) bất ty "ịch” (thé), "tịch" bất ly "cảm", mà còn nêu rø`duam: diém quan trong : “Linh khi" la ban thé củả tâm, đã biến: cảnh giới của lạc từ Tý của hình nhỉ thượng thành khí :của hình nhỉ ñạ, có đặc điểm của tíÌ giác cảm tính Ôn§ tuy thừa nhận "lac 1a bàn thể của tâm" Ệ Đáp Nam Dương Udng :

Ti Van", “Vương Long Khê toần tập", quyển '3), nhưng bản:

thể nay chang | qua 1a một điểm" 1inh khí; lại hop với cong:

phu ban thé lam một ‘Ban thé cha tac 6 trong bay tinh,

"vốn là hoạt bát, vốn là thoát tửu, vốn không làm trò ngại

cho việc trói buộc" (Như trên) Cái gọi là lạc của nhân tâm

chẳng qua "không.mất;cái co hoạt bát thoát tửu này, không

có, gia thêm vậy" (Như trên) Cái "og" hoạt bat thoat tửu

này, là "khí cợ", tức cái tâm của tri giác linh mình, đính thiêng sáng suốt), nó vấn là cảm tính, sinh động, không phải được ‹ coi là.ý thức bản thể của hình nhi thượng, chết lặng

Vương Kỳ không hoan toan phủ định t tinh siêu việt của

cảnh giói về mỹ, cũng không phủ định tính đạo đức cửa nó,

vì thế, không thể ‘khong có công phu tự tu đưỡng, tự thể nghiệm về "cảnh giác thần trọng vói sợ sệt" (giói thận khủng cụ),v:v Tìm cái lạc của Trọng:Ni và Nhan Tử duy chỉ:Ở:

"bỏ đi cái tư ý, tư tâm, gột bở:đi tà, tiêu trừ cái nhơ bẩn,

khôi phục lại cái thể hài hoà thông:thái, thì tức là tìm đường:

huyết mạch chân lạc" ("Phấn hạo thuyết", như sách đã dẫn;

Trang 11

quyển -8).:Điền: này giống như Vương Dương Minh: không

có gì phân biệt, nhưng cái gọi là thể hài hoà thống nhất của ông, càng có: đặc điểm của ý thức 'tình cảm và đặc điểm cảm thụ kinh nghiệm của chủ thể, không giống Vương Dương Minh, nhấn mạnh tính phổ biến tuyệt đối của nó -

" Vương Cấn viết "Lạc học ca", tiến thêm một bước biến Thuyết cảnh giới lý học thành cái lạc của thân tâm (cả thể _xác lẫn tâm hồn) đã thể tục hơá, cảm tính hoá Ông cho rằng, trong tam moi người đều có một lưỡng tri, đều có trột

cái lạc (niềm vui), cái lạc (vui) này là ý thúc thẩm mỹ cửa chủ thể "Nhân tâm vốn là tự lạc (vui), tự sẽ bị ham:muốn riêng tư trói buộc, ham muốn riêng tư lúc mới nẩy.mầm lương tri còn:tụ giác, hế giáo bị tiêu trừ, lòng người sẽ theo niềm vui ct" (“Mink Nho học án", -‹quyển 32) Lạc được coi

là ý thức thẩm mỹ, là sự tự thể nghiệm về lương tri, cũng

là biểu hiện của lương tri trên.cấp độ thẩm mỹ Mọi người

đều có loại ý- thúc thẩm mỹ và thể nghiệm này, nó lại là _ tiêu chuẩn nhận xét về thẩm mỹ Cái gọi là "giác" là tự trực giác, cái gọi là "lạc" là tự thể nghiệm, hai cái này cùng tồn tại Giác thì lạc, lạc thì giác Còn cái gọi là học, là tiêu trừ ham muốn riêng, khôi phục cái lạc (vui) vốn có trong tâm

Học và lạc là điều kiện hỗ trợ cho nhau, tương phụ tương thành, trên thực tế là hai mặt của cùng một sự tình "Lạc thị lạc thử học, học thị học thử lạc, bất lạc bất thị học, bất học bất thị lạc; lạc tiện nhiên hậu lạc, lạc thị học, học thị lạc" (nghĩa là : Vui là vui với việc học, học là học cái vui

đó, không vui không phải là học, không học không phải! là vui, vui:trưóc học sau, vui là học, học là vui) (Như trên) Học là nhận thức cái lạc (vưi} trong-tâm, lạc (vui) là thể

Trang 12

_nghiệm cái học trong tâm, khơng cĩ thể nghiệm và nhận xét, cái gọi là học sẽ biến thành sự truy tìm tri:thúc: tại ngoại, khơng quan hệ đến ý thức của mình, nên khơng thể cho là việc học chân chính Khơng cớ nhận thức, cái gọi là

_ lạc (vui) cũng là cái lạc hư ảo, trống rồng, khơng cĩ 'nội dung, nên khơng thể cho là cái lạc chân chính Vì thế, chỉ

CĨ VIỆC học tự thể nghiệm, mĩi là việc "học chân chính, chỉ

cĩ cái lạc (vui) tự nhận thức, mồi, là cái lạc (vui) chân chính Trên ` ý nghĩa đĩ,mà nĩi, học inh l8 lạc (m), ine (va

chính là hẹc kề cv TA Càng ca

:- Vương Cấn hợp trí ¡ với lạc " lầm r một, cũng: dể V hợiy'nhận

thúc :với nhận xét lại làm: một, -đây lt một phương pháp tự

nhận thức, tự thể nghiệm, cũng là phương pháp: họp đạo đức với mỹ học lại Tâm một: " Thuyết Hộï Nam :cách vật" của ơng, đã Xuất phát từ nguyên tắc nhận.thức cửa chit thé,

đỏ lường sự phải trái của mưồn sự muơn vật, lại xuất phát

từ nguyên tắt đạo đức và tHẩm mỹ, nHĩn nhận, đánh giá sự thiện ác, đẹp xấu của muơn $ự, muơn vật Cái gọi là “học

như thể nào cái vui của thiên hạ, vui như thế nào việc học

của thiên hạ" (Như trên} ¢hinh là sự thuyết minh tốt nhất

về me hop nhận thức đạo đức và nhận xét thẩm mỹ lại làm một

Nhưng đặc điểm lĩn nhất của Vương Cần là "tức sự là

học, tức sự là đạo": (Cảm xúc mà sáng tác là học Cảm xúc

mà sáng tác là đạo) (°Minh: Triết Bảơ- thiên luận", như sách

đã dẫn), mà "Thiên và đạo vốn là một việc" ("Dụ Du Thuần

Phu", như sách đã dắn) Nĩi về đạo thể nghiệm đạo đức và thẩm mỹ, thì hai cái này cố nhiên là hồ trộn vào nháu, chưa:phân biệt, điều này đã biểu hiện đặc điểm tư duy mang

Trang 13

tính chính, thể và tính hệ thống vốn có của lý học, nhưng

ông nhấn mạnh: thân tâm hp nhất, tâm vật hợp nhất, như

vay chứng tỏ thẩm mỹ quan- chủ thể của ông là lấy tồn: tại

cá thể của.cảm tính làm cơ.sở Vì thế, cái gọi là cái lạc (vưi) trong:tâm của Ôñg, tất nhiên có đặc trưng cẩm tinh, cũng có nghĩa là nói nhu cầu tình cảm và cảm thụ thẩm mỹ -

cụ thể, trỏ.thành nội đung cơ bản về thể nghiệm đạo đúc

va mỹ cảm của ông Cảnh giỏi lý tưởng siếu việt mà các nhà

lý hoc theo đuổi, ð đây bị phai nhạt hết: Vấn đề không ð chổ của cải gọi là lương tri hay cái lạc (vui) của ông, mà

nói theo ban chất, là nhân sinh của cảm tính, tự nhiên, cá

thể, có đặc điểm thế tục hoá DO chinh la cống hiến của

càng là ' xuất tính nhỉ hành, thuần nhiệm tự 'nhiên" (nghĩa

là, hành động vì tính thẳng than, thuần tuý theo như tự nhiên) (Như sách đã dẫn), lấy cái đó làm niềm vui (lạc) của

nhân sinh, có một số đặc điểm nào đó của chủ ¡ nghĩa tự

Trai qua phat trién lâu đài, Hoàng Tông Hy: và ‘Vuong Phu Chi 6 vao thoi Minh - _ Thanh, đã có những giải thích

Hoang Téng Hy nêu ra thẩm mỹ quan về "tự nhiên xuất tính" Ông cho rằng thể nghiệm và cảm thụ về: lạc, vừa [a

hợp vói tình cảnh, lại vừa xuất ra từ tự nhiên của nHân tính

Tri giác của tâm và tỉnh cảm hy, 6, ai, lạc, (hân hoan, phấn

nộ, buồn vuï), vốn xuất ra tự nhiên, nếu khổng phải là xuất -

ra từ cái ý có sự sắp xếp, nắm bắt, mà là xuất ra từ "tiện

theo như trời" (thuận theo như tự nhiên), ("nhiệm thiên chi tiện") giống như "chim bay cá nhảy" của giói tự nhiên, chính

Trang 14

1à cãnh:địa của-lạc: NHưng sự phân biệt giữa hgudi wa vat,

'giữa ‘thanh và bất thành, '"thành›:thì ià:igười: nguy: thì: là cầm thú”; điều :đớ đã trục tiếy gắn liền chân, thiện; mỹ: lại với nhau, và phú cño ý thức thẩm :mỹ một nội :dung đạo đúc Như có: thể.;phản thân mà thành" thì có:thể-thục hiện

_ được cái lạc (vui) thiên nhận nhất thể "Mói thấy: được muôn vật không.phảj-là muôn vật, ta không phải là ta, hoàn toàn nhất thể,,cái thân này không ít khiếm khuyết trong tròi đất, như thế sao lạc được ?" ("Vạn vật giai bị, thương", "Mạnh

Tử Sư thuyết", quyển 7) Loại thể nghiệm nhân tức là thiên, thiên túc là nhân, nhân và vạn vật "hoàn toàn nhất thể" nay,

tuy là cảnh giói chỉnh thể hợp nhất giữa „ thành, nhân, lạc làm một, nhưng, khác với các nhà Ty học thời Tổng - Minh, _ thậm chỉ cũng không giống với cả Luu Tông: Chu Tiữa, Bởi vì ông lấy tình làm tinh, tấy khí làm tự nhiên, vì thế,

loại cảnh ‘gidi nay khong phai 1a cảnh gió bản thể của hình như thượng học siêu việt, mà là cảnh giói tụ nhiên thiên - nhân nhất khí, "cổ doanh" (căng phồng tràn đầy), tình cảm giao dung (hoà vào nhau) Ỏ đây bao hàm sự nảy mầm tự tưởng mỹ học-của chủ nghĩa nhân

hệ chủ và khách thể, Ông cho.rằng bất kỳ SỰ vật dep dé

tức tình cảnh hop nhất " Ten goi tinh cảnh là hai, mà à thực không thể tách rai" ("Thiện trai thi thoại") Cái gọi là không tách ròi, |à tình dọ cảnh sinh ra, cảnh do tình sinh ra,,thể

Ngày đăng: 19/06/2014, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thượng  hình  hạ - Hệ thống phạm trù triết học Phương Đông part 10 ppt
nh thượng hình hạ (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm