NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Khái niệm và đặc điểm của đăng ký thành lập doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm Để thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường, chủ thể phải tiến hành hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đăng ký thành lập doanh nghiệp là thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp, theo đó có thể nhìn nhận dưới các góc độ sau:
Đăng ký kinh doanh là bước đầu tiên mà doanh nghiệp cần thực hiện để tham gia vào thị trường, giúp công khai thông tin về việc thành lập và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp Điều này thu hút sự chú ý từ cộng đồng doanh nghiệp và xã hội Mặc dù doanh nghiệp chưa chính thức hoạt động trong giai đoạn đăng ký, nhưng chi phí liên quan vẫn được xem là hợp lý và có thể khấu trừ khi tính thuế.
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là một thủ tục pháp lý quan trọng, được xem như "giấy khai sinh" của doanh nghiệp, xác nhận sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường Nhà đầu tư phải thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hoạt động dự kiến và nhận Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hợp pháp hóa sự hiện diện của doanh nghiệp Thủ tục này bao gồm hành vi của cơ quan nhà nước và chủ thể đăng ký, và tùy thuộc vào luật pháp từng quốc gia, việc đăng ký có thể thuộc về cơ quan hành chính hoặc tư pháp Tại Việt Nam, Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện đăng ký kinh doanh.
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là thủ tục hành chính bắt buộc nhằm quản lý hoạt động kinh doanh, và chỉ những doanh nghiệp có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan nhà nước cấp mới được coi là hợp pháp Đây là biện pháp quản lý nhà nước về kinh tế đầu tiên đối với doanh nghiệp, tạo điều kiện cho Nhà nước thực hiện các hoạt động quản lý tiếp theo khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động.
Đăng ký kinh doanh (thành lập doanh nghiệp) là quyền tự do kinh doanh, nhưng quyền này cần được thực hiện trong khuôn khổ pháp lý Đây không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của doanh nghiệp Quyền tự do kinh doanh của công dân bao gồm quyền lựa chọn ngành nghề, hình thức kinh doanh và quyền đăng ký kinh doanh Tất cả các tổ chức đáp ứng đủ điều kiện đều có quyền đăng ký với nhà nước để tiến hành hoạt động sản xuất mà không bị cản trở.
Theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, đăng ký doanh nghiệp là quá trình mà người sáng lập doanh nghiệp phải thực hiện để đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập và thông báo những thay đổi liên quan đến thông tin đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh Các thông tin này sẽ được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Đăng ký doanh nghiệp bao gồm việc thành lập doanh nghiệp, thay đổi nội dung đăng ký và thực hiện các nghĩa vụ thông báo khác theo quy định của pháp luật.
Đăng ký doanh nghiệp hiện nay được hiểu là việc ghi nhận pháp lý sự ra đời và cập nhật các thay đổi của doanh nghiệp trong suốt vòng đời hoạt động Quy trình này bao gồm đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế cho các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp Đăng ký doanh nghiệp không chỉ bao gồm việc thành lập doanh nghiệp mới mà còn cả việc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, có 13 loại hình doanh nghiệp (vốn trong nước) được thành lập và hoạt động Bài viết không đề cập đến việc đăng ký doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư, cũng như các loại hình doanh nghiệp khác hoạt động theo các luật chuyên ngành như doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất, tổ chức tài chính, chứng khoán và bảo hiểm.
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là thủ tục cần thiết để thiết lập một doanh nghiệp hợp pháp Các nhà sáng lập phải nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định cho Cơ quan đăng ký kinh doanh, nhằm ghi nhận các thông tin quan trọng liên quan đến doanh nghiệp.
– Trụ sở chính của doanh nghiệp
– Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
– Vốn điều lệ, Vốn đầu tư và Tỷ lệ góp vốn trong doanh nghiệp
– Thông tin của Chủ sở hữu công ty; của các Thành viên sáng lập, Cổ đông sáng lập – Thông tin của Người đại diện theo pháp luật
– Thông tin về các Chi nhánh, Văn phòng đại diện, Địa điểm kinh doanh (nếu có)
1.1.2 Đặc điểm của đăng ký thành lập doanh nghiệp Đăng ký thành lập doanh nghiệp là một thủ tục bắt buộc để xác lập sự tồn tại của doanh nghiệp khi doanh nghiệp muốn gia nhập thị trường Đồng thời đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng là căn cứ pháp lý rõ ràng để Nhà nước có thể bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khi có tranh chấp xảy ra Từ những yếu tố trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm nổi bật của Đăng ký thành lập doanh nghiệp là:
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là dịch vụ hành chính công do cơ quan nhà nước thực hiện, tạo ra quan hệ pháp lý giữa chủ thể kinh doanh và cơ quan có thẩm quyền Cơ quan nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra các điều kiện theo quy định pháp luật để cấp hoặc từ chối Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, đăng ký doanh nghiệp là thủ tục đầu tiên để bắt đầu hoạt động kinh doanh Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước cấp, ghi nhận sự tồn tại hợp pháp của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của họ Việc đăng ký kinh doanh khẳng định sự ra đời của doanh nghiệp trên thị trường thương mại.
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi gia nhập thị trường đều phải tuân thủ khung pháp lý chung, bao gồm các thủ tục hành chính như đăng ký kinh doanh (ĐKKD), đăng ký mã số thuế (nay đã gộp vào một), và đăng ký giấy phép khắc dấu (hiện là công bố mẫu con dấu) Theo quy định pháp luật hiện hành, đã có sự điều chỉnh đáng kể và sẽ được đề cập cụ thể trong phần sau.
Để thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư cần thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh tại địa điểm dự kiến đặt trụ sở chính Hiện nay, doanh nghiệp có thể lựa chọn giữa hai hình thức đăng ký: qua mạng điện tử hoặc trực tiếp tại Phòng đăng ký kinh doanh có thẩm quyền, đặc biệt là tại khu vực Hà Nội.
Hồ Chí Minh hiện nay là bắt buộc đăng ký qua mạng điện tử.
Vai trò, ý nghĩa của đăng ký thành lập doanh nghiệp
1.2.1 Vai trò của đăng ký thành lập doanh nghiệp
1.2.1.1 Đối với nhà nước Đăng ký thành lập doanh nghiệp là một trong những công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vậy nên, việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là sự ghi nhận về mặt pháp lý của Nhà nước đối với sự ra đời và tư cách pháp nhân của chủ thể kinh doanh Sự ghi nhận về mặt pháp lý này được quy định cụ thể tại các Điều 47, 73, 110, 172 Luật doanh nghiệp năm 2014 Cụ thể: Khoản 2, Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp" Khoản 2 Điều 73 Luật Doanh nghiệp năm 2014: "Công ty trách
Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân từ ngày nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Khi chủ thể kinh doanh chọn loại hình doanh nghiệp và hoàn tất thủ tục đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tư cách pháp nhân của họ sẽ được xác lập ngay từ ngày cấp giấy.
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”
Nhà nước điều tiết và định hướng hoạt động kinh doanh thông qua việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Hệ thống pháp luật về đăng ký doanh nghiệp khuyến khích các chủ thể kinh doanh thiết lập và hoạt động doanh nghiệp, đồng thời cấm kinh doanh những ngành nghề có nguy cơ xâm hại đến an ninh, quốc phòng và trật tự xã hội, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Ngoài ra, một số ngành nghề cũng bị hạn chế hoặc yêu cầu các điều kiện nghiêm ngặt trong hoạt động kinh doanh.
Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là một phương thức quan trọng giúp Nhà nước kiểm tra và giám sát hoạt động kinh doanh của các chủ thể.
Sự phối hợp liên thông giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước như thuế, công an, sở hữu trí tuệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp trong thủ tục đăng ký Từ năm 2010, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế đã kết nối, trao đổi thông tin giữa Hệ thống Thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống Thông tin Đăng ký thuế, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp Việc này đảm bảo cung cấp kịp thời thông tin pháp lý cho các cơ quan liên quan và cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời tăng tính minh bạch trong môi trường kinh doanh, hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh và rút lui khỏi thị trường.
1.2.1.2 Đối với chủ thể đăng ký kinh doanh Đối với cá nhân, tổ chức thành lập doanh nghiệp ở đây gọi chung là chủ thể kinh doanh thì đăng ký doanh nghiệp là một trong những công cụ để bước đầu thực hiện
Theo Điều 33 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mọi người có quyền tự do kinh doanh trong các ngành nghề không bị pháp luật cấm Quyền này không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền năng pháp lý của các chủ thể kinh doanh Điều này được quy định rõ trong Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, khẳng định rằng việc thành lập doanh nghiệp là quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ Đăng ký doanh nghiệp là bước đầu thực hiện quyền tự do kinh doanh, và cơ quan nhà nước có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng như xử lý các thay đổi nội dung đăng ký khi đủ hồ sơ và đúng trình tự.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh của chủ thể sẽ được nhà nước bảo hộ, cho phép họ tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Việc vi phạm có thể dẫn đến việc thu hồi Giấy chứng nhận hoặc xử lý theo quy định pháp luật Giấy chứng nhận này không chỉ là thủ tục hành chính mà còn là phương tiện bảo vệ doanh nghiệp khỏi sự can thiệp trái phép vào hoạt động kinh doanh hợp pháp Do đó, đăng ký doanh nghiệp là biện pháp quan trọng để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trên thị trường.
Đăng ký doanh nghiệp không chỉ giúp công khai hoạt động trên thị trường mà còn tạo niềm tin cho khách hàng, từ đó thu hút họ trong các giao dịch Hơn nữa, hoạt động của doanh nghiệp đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội.
Cổng Thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đã được xây dựng dựa trên các thông tin có giá trị pháp lý được chiết xuất từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
17 cung cấp các công cụ tìm kiếm, cho phép người sử dụng tra cứu các thông tin cơ bản, miễn phí, có giá trị pháp lý của doanh nghiệp
Thông tin doanh nghiệp bao gồm: tên doanh nghiệp, tên viết tắt, tên bằng tiếng nước ngoài, mã số doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp, tình trạng hoạt động, người đại diện theo pháp luật, địa chỉ trụ sở chính, danh sách ngành nghề kinh doanh, thông báo mẫu con dấu và danh sách các bố cáo đã công bố.
Tất cả các tổ chức và cá nhân có thể dễ dàng tiếp cận thông tin pháp lý về doanh nghiệp thông qua một đầu mối thông tin duy nhất và có giá trị pháp lý, thay thế cho phương thức truyền thống "xin - cho" Điều này giúp các đối tác, khách hàng và ngân hàng có được thông tin chính xác về doanh nghiệp, từ đó giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự tin tưởng đối với doanh nghiệp.
1.2.2 Ý nghĩa của việc đăng ký thành lập doanh nghiệp
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là bước quan trọng giúp các chủ thể kinh doanh hiện thực hóa ý tưởng và cơ hội của mình Quy trình này không chỉ đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận đầy đủ các nguồn lực và tài nguyên cần thiết để phát triển.
Pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế những tác hại từ hoạt động kinh doanh không đăng ký Khi doanh nghiệp hoạt động mà không thực hiện đăng ký đúng quy định, hậu quả có thể rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đối tác, khách hàng, nhà nước và môi trường kinh doanh chung.
Doanh nghiệp tuân thủ các điều kiện pháp luật về đăng ký sẽ giúp giảm tham nhũng và nâng cao nghĩa vụ thuế Việc này không chỉ đảm bảo sự minh bạch mà còn tăng cường nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế doanh nghiệp.
Vài nét về lịch sử pháp luật đăng ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam
Pháp luật đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam xuất hiện muộn, phản ánh sự coi trọng nông nghiệp trong xã hội phong kiến Từ thế kỷ XI đến XVI, các triều đại như Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ và Lê sơ đã không chú trọng đến thương nhân và thương mại, dẫn đến điều kiện tổ chức kinh doanh hạn chế Dưới thời Minh Mạng, một hình thức sơ khai của đăng ký doanh nghiệp đã được hình thành, cho phép các phường, hội, ty hoạt động nếu có sự cho phép của quan Bố chánh, với mục đích chính là quản lý thuế và nghĩa vụ của các cuộc.
Thời kỳ Pháp thuộc, quy định về đăng ký doanh nghiệp hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc cấp đặc quyền kinh doanh và khai thác tài nguyên cho người Pháp Pháp luật kinh doanh không được mở rộng và khuyến khích cho toàn xã hội, dẫn đến sự thiếu hụt điểm nổi bật trong quy định về thành lập doanh nghiệp.
Trong thời kỳ bao cấp, việc đăng ký thành lập doanh nghiệp diễn ra một cách sơ khai, chủ yếu là các cá nhân kinh doanh tự phát nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa cơ bản Đến những năm 1989-1990, doanh nghiệp mới bắt đầu xuất hiện và nhận được sự chú ý từ nhà nước, dẫn đến việc thiết lập các quy tắc và quy định riêng cho hoạt động đăng ký doanh nghiệp.
Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thiết lập những quy định đầu tiên về đăng ký doanh nghiệp nhằm mục đích tập thể hoá và kế hoạch hoá nền sản xuất Các quy định này chủ yếu tập trung vào việc phát triển nền sản xuất tập thể, trong khi kinh tế cá thể và kinh tế ngoài quốc doanh không được khuyến khích.
Từ năm 1954 đến 1986, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến đăng ký doanh nghiệp, với các quy định xuất hiện trong tất cả các bản Hiến pháp Tuy nhiên, những quy định này chủ yếu dưới hình thức văn bản dưới luật, phân biệt rõ ràng giữa thủ tục đăng ký doanh nghiệp của các hình thức kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và cá thể ngoài quốc doanh Cụ thể, các đơn vị kinh tế quốc doanh có quy trình đăng ký đơn giản hơn, trong khi các đơn vị kinh tế tập thể và cá nhân phải trải qua thủ tục phức tạp hơn Nhìn chung, các quy định trong giai đoạn này phản ánh tư duy quản lý kinh tế cũ, thiếu tính thống nhất và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một hệ thống đăng ký kinh doanh hiệu quả.
Khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quyền tự do kinh doanh và tổ chức kinh doanh của cá nhân và tổ chức, bao gồm cả khu vực ngoài quốc doanh, đã được thể chế hóa mạnh mẽ Cơ sở pháp lý đầu tiên khẳng định tư tưởng này là
Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 được coi là luật mẹ, đánh dấu bước ngoặt trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam Đây là lần đầu tiên pháp luật về đăng ký doanh nghiệp được ghi nhận, tạo nền tảng cho sự phát triển mới trong quy định này Từ đó, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như Luật sửa đổi một số điều của Luật công ty năm 1994, Luật Doanh nghiệp năm 1999, và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành Mặc dù có nhiều cải tiến so với quy định trước đó, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong các quy định về đăng ký doanh nghiệp trong giai đoạn này.
Trong bối cảnh kinh tế hội nhập hiện nay, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam đã có những cải tiến đáng kể nhờ sự quan tâm và đầu tư mạnh mẽ Các văn bản pháp luật liên quan bao gồm Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, Luật Thuế Giá trị gia tăng năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2013), cùng với các nghị định, thông tư và quyết định hướng dẫn thi hành.
Pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam đang trong quá trình phát triển, với nhiều tiến bộ so với trước đây Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong các quy định hiện tại Để các quy định này thực sự khuyến khích người dân kinh doanh và thúc đẩy nền kinh tế, cần có sự thay đổi căn bản trong pháp luật và cách thức thực hiện các quy định về đăng ký doanh nghiệp trong bối cảnh mới của đất nước.
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP
Khái quát nội dung pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam
Chương II của Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về việc thành lập doanh nghiệp, bao gồm quyền thành lập, trình tự và thủ tục đăng ký, cũng như các thay đổi liên quan đến nội dung đăng ký Bên cạnh đó, luật cũng đề cập đến việc đặt tên doanh nghiệp, con dấu, nội dung Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, và các vấn đề liên quan đến chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
Đến nay, việc đăng ký doanh nghiệp chủ yếu dựa trên quy định tại Chương II của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP Ngoài ra, Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT cũng hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp từ ngày 1/12/2015 Các nội dung chính của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp sẽ được trình bày trong các phần dưới đây.
2.1.1 Đối tượng của đăng ký thành lập doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, đối tượng đăng ký thành lập doanh nghiệp bao gồm các tổ chức và cá nhân có nhu cầu thành lập doanh nghiệp.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm công ty TNNH một thành viên và công ty TNNH hai thành viên trở lên)
2.1.2 Về cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Cơ quan đăng ký kinh doanh là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, quyết định cấp hoặc không cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các chủ thể kinh doanh theo quy định.
Cơ quan đăng ký doanh nghiệp không chỉ thực hiện nhiệm vụ đăng ký doanh nghiệp mà còn phải cập nhật thông tin về những thay đổi trong nội dung đăng ký của chủ thể kinh doanh Họ có trách nhiệm theo dõi và giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp theo nội dung đã được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Theo Điều 13 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, cơ quan này được tổ chức ở cấp tỉnh và cấp huyện, bao gồm các quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh.
Tại cấp tỉnh, Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư có thể thiết lập các điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả ở nhiều địa điểm khác nhau Các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh có khả năng thành lập thêm một hoặc hai Phòng Đăng ký kinh doanh, được đánh số theo thứ tự Quyết định thành lập thêm các phòng này phải được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt sau khi có sự thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Tại cấp huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại Điều 15 của Nghị định này, được gọi chung là cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện.
2.1.3 Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp
Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp là yêu cầu thiết yếu để cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các doanh nghiệp.
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau Cụ thể:
- Đối với doanh nghiệp tư nhân: Quy định tại Điều 20 Luật Doanh nghiệp năm
2014 Cụ thể là Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân bao gồm:
“Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp; Bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân của chủ doanh nghiệp tư nhân:
+ Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực
+ Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực.”
- Đối với công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty cổ phần : quy định lần lượt tại các Điều 21, 22 và 23 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Cụ thể:
+ Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty hợp danh bao gồm:
1 Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp
4 Bản sao Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của các thành viên
5 Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư [15, Điều 55]
+ Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm:
1 Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp
4 Bản sao các giấy tờ sau đây: a) Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của các thành viên là cá nhân; b) Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức và văn bản ủy quyền; Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo ủy quyền của thành viên là tổ chức Đối với thành viên là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu tương đương phải được hợp pháp hóa lãnh sự; c) Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư
+ Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty cổ phần bao gồm:
1 Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp
3 Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài
4 Bản sao các giấy tờ sau đây: a) Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của các cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân; b) Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức và văn bản ủy quyền; Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo ủy quyền của cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức Đối với cổ đông là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu tương đương phải được hợp pháp hóa lãnh sự; c) Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư.”
Các công ty được thành lập từ việc chia, tách, hợp nhất hoặc nhận sáp nhập phải thực hiện hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Điều 24 của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp.
Theo Điều 25 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, các trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp phải tuân thủ quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp Mỗi hình thức chuyển đổi đều yêu cầu hồ sơ đăng ký chuyển đổi cụ thể và rõ ràng Các hình thức chuyển đổi doanh nghiệp bao gồm nhiều lựa chọn khác nhau.
- Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
- Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,
- Chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn
- Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần và ngược lại
Đối với tổ chức tín dụng, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải tuân theo Điều 26 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp Hồ sơ cần kèm theo bản sao hợp lệ giấy phép hoặc văn bản chấp thuận từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đối với hộ kinh doanh, hồ sơ đăng ký được quy định cụ thể tại Khoản tương ứng.
Theo Điều 71, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, để thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình cần gửi Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh.
Để đăng ký thành lập doanh nghiệp, người sáng lập cần chuẩn bị hồ sơ bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu quy định; danh sách thành viên hoặc cổ đông sáng lập; giấy tờ chứng thực cá nhân hoặc tổ chức của chủ doanh nghiệp và các thành viên; và điều lệ công ty cho các loại hình doanh nghiệp như công ty hợp danh, công ty TNHH, và công ty cổ phần.
Những thành tựu đạt được của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp
Hệ thống văn bản hướng dẫn về đăng ký thành lập doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể, cung cấp nội dung đầy đủ và phù hợp, giúp các nhà đầu tư dễ dàng gia nhập thị trường Các quy định pháp luật mới đã thể hiện sự tiến bộ, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và pháp luật doanh nghiệp nói chung.
Bộ luật doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đã cải cách mạnh mẽ thủ tục thành lập doanh nghiệp, mang đến nhiều điểm mới và tiến bộ Những quy định này rõ ràng và đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường.
Hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về đăng ký kinh doanh thông qua Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các nghị định hướng dẫn thi hành, bao gồm Nghị định số 78/2015/NĐ-CP và Nghị định số 96/2015/NĐ-CP Ngoài ra, Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT cũng cung cấp hướng dẫn chi tiết về đăng ký doanh nghiệp, cùng với các quyết định của cơ quan nhà nước liên quan.
2.2.1 Những đổi mới mang tính tiên phong của Luật doanh nghiệp 2014
Luật Doanh nghiệp năm 2014 kế thừa và luật hóa những quy định phù hợp từ Luật Doanh nghiệp năm 2005, đồng thời sửa đổi và bổ sung nhiều quy định mới để khắc phục hạn chế của luật cũ Mục tiêu là tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Theo đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có một số đổi mới cơ bản, cụ thể như sau:
Tư duy mở trong luật doanh nghiệp cho phép các doanh nghiệp tự do và tự nguyện quyết định các chi tiết liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động của mình, trong khi luật chỉ quy định những vấn đề chung nhất và định hướng.
Việc doanh nghiệp chủ động và sáng tạo hơn khi được tự lựa chọn các mô hình và phương thức phù hợp với hoạt động của mình là vô cùng quan trọng.
Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Ngoài ra, công ty cổ phần được phép lựa chọn giữa hai mô hình tổ chức và quản lý Đặc biệt, công ty có quyền quyết định cách bầu dồn phiếu hoặc không khi bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.
Luật mới đã loại bỏ chương quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, thay vào đó là một số điều khoản trong chương tổ chức thực hiện Điều này thể hiện tư duy rằng các cơ quan nhà nước sẽ quản lý doanh nghiệp dựa trên chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định bởi pháp luật chuyên ngành, do đó không cần thiết phải ghi nhận điều này trong Luật Doanh nghiệp.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp đã có những bước tiến đáng kể, như việc luật hóa Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và quy định về việc ghi biên bản cuộc họp Giờ đây, biên bản có thể được ghi âm hoặc lưu giữ dưới hình thức điện tử, thay vì chỉ ghi vào sổ biên bản như trước đây.
Luật đã thống nhất cách hiểu về nhiều điểm gây tranh cãi trước đây, trong đó xác định rằng địa điểm họp được coi là nơi chủ tọa tham dự, và không nhất thiết mọi người phải ngồi họp cùng một chỗ.
Ba là, quy định hóa việc sử dụng mã số thuế làm mã số doanh nghiệp, chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH, và tăng cường bảo vệ cổ đông nhỏ, cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% cổ phần phổ thông trong 06 tháng có quyền khởi kiện tự mình hoặc nhân danh công ty.
Bãi bỏ các điều khoản có hiệu quả thực thi thấp, như yêu cầu đăng ký danh sách cổ đông nắm giữ 5% vốn điều lệ công ty cổ phần, và xóa bỏ quy định cấm một người từng làm Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty cổ phần không được giữ chức vụ Giám đốc (Tổng Giám đốc) tại công ty khác, sẽ giúp thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp.
Giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (CNĐKDN) hiện chỉ còn 4 nội dung, giảm từ 10 nội dung trước đây Các mục đã bị bỏ gồm ngành nghề kinh doanh, danh sách cổ đông sáng lập, chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh.
Một điểm đáng chú ý trong việc sửa đổi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là việc bỏ ghi ngành nghề kinh doanh, loại bỏ yêu cầu về vốn pháp định và chứng chỉ hành nghề Điều này thể hiện rõ quyền tự do kinh doanh trong các lĩnh vực không bị pháp luật cấm, giúp doanh nghiệp trở thành công cụ kinh doanh an toàn, đa năng và tiết kiệm chi phí hơn.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp phải đăng ký ngành, nghề kinh doanh và chỉ được phép hoạt động trong những lĩnh vực đã đăng ký Nếu muốn thay đổi hoặc bổ sung ngành nghề, doanh nghiệp cần thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan quản lý và điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng quyền tự do kinh doanh, quy định rằng mọi người có quyền tự do kinh doanh trong các ngành nghề không bị cấm Để thực hiện quyền này, Luật đã chuyển từ nguyên tắc tự do kinh doanh theo Giấy chứng nhận sang nguyên tắc tự do kinh doanh trong những lĩnh vực pháp luật không cấm, qua đó bỏ yêu cầu về ngành nghề trên Giấy chứng nhận Quy định này không chỉ giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính mà còn tăng cường tính chủ động và linh hoạt cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.
Những vấn đề bất cập phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiên pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp hiên nay
Bên cạnh những thành tựu nêu trên thì trong hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế và bất cập
Theo khảo sát của Cục Thống kê TP HCM, khu vực kinh doanh phi chính thức đang chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế Việt Nam với 1.000 cơ sở sản xuất và kinh doanh được khảo sát Đối tượng này thường ngần ngại thành lập doanh nghiệp do lo ngại về các vấn đề pháp lý, thủ tục thuế phức tạp và thiếu kiến thức về quản lý vận hành.
73% cơ sở sản xuất không có kế hoạch chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp, trong khi 60% doanh nghiệp gặp khó khăn do thiếu vốn Các rào cản khác bao gồm thủ tục hành chính phức tạp, cạnh tranh yếu, thiếu nhân lực, khó khăn trong tìm kiếm mặt bằng sản xuất và giá thành cao, tạo ra bế tắc trong quá trình khởi nghiệp.
Sau đây là một vài điểm hạn chế nổi bật Cụ thể:
Thứ nhất: Về hệ thống cơ quan đăng ký doanh nghiệp
Hệ thống cơ quan đăng ký doanh nghiệp hiện nay hoạt động khá tích cực, nhưng vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục.
Hệ thống quản lý và giám sát hiện nay còn yếu kém, với sự liên kết giữa trung ương và địa phương chưa chặt chẽ Một ví dụ điển hình là cùng một bộ hồ sơ, nếu doanh nghiệp đăng ký thành lập tại Hà Nội sẽ được chấp nhận, trong khi nếu nộp tại các tỉnh khác có thể bị từ chối hoặc yêu cầu bổ sung thêm.
Hiện nay, số lượng cán bộ làm công tác đăng ký thành lập doanh nghiệp còn thiếu, dẫn đến áp lực tâm lý lớn trong công việc Cả nước chỉ có khoảng 1000 cán bộ, trong đó chỉ có 5 cán bộ ở trung ương, khoảng 280 ở cấp tỉnh và khoảng 700 ở cấp quận, huyện Thiếu thốn về phương tiện làm việc, đặc biệt ở cấp quận, huyện, có nơi cán bộ còn phải viết tay hồ sơ chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Tình trạng này là nguyên nhân chính gây quá tải tại một số Phòng đăng ký kinh doanh, đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, khiến cán bộ phải làm thêm giờ để đáp ứng kịp thời các yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Thứ hai, Trong trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định rằng các điều khoản này không áp dụng cho lĩnh vực chuyên ngành Cụ thể, Điều 3 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 nêu rõ rằng nếu có luật chuyên ngành quy định riêng về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động của doanh nghiệp, thì các quy định của luật đó sẽ được áp dụng Do đó, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn chỉ áp dụng cho các chủ thể kinh doanh như công ty cổ phần và công ty TNHH.
Luật doanh nghiệp hiện hành quy định rằng 42 loại hình doanh nghiệp như ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân không áp dụng cho các lĩnh vực đặc thù như ngân hàng liên doanh, chứng khoán và bảo hiểm Việc cải thiện thủ tục thành lập doanh nghiệp nhằm giảm chi phí và thời gian cho nhà đầu tư đã được thực hiện thông qua Luật doanh nghiệp 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP Tuy nhiên, không phải tất cả doanh nghiệp đều được hưởng lợi từ những cải cách này, đặc biệt là những doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành Những doanh nghiệp này phải tuân thủ quy trình, thủ tục và hồ sơ thành lập theo quy định của luật chuyên ngành, thay vì thực hiện đăng ký tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Kết quả là, những quy định thuận lợi trong Luật doanh nghiệp có thể bị vô hiệu hóa do sự chi phối của pháp luật chuyên ngành.
Theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 2014, nếu luật chuyên ngành có quy định riêng về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động của doanh nghiệp thì sẽ áp dụng theo luật đó Hiện nay, các ngành nghề như luật sư, công chứng, giám định, giáo dục và đào tạo, trọng tài thương mại đã được xác định là ngành nghề đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư năm 2014 Tuy nhiên, những ngành nghề này không được đăng ký kinh doanh tại Cơ quan đăng ký kinh doanh mà chỉ thực hiện việc cấp giấy phép và đăng ký hoạt động theo các luật chuyên ngành như Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và các luật khác liên quan.
Năm 2014, Luật Doanh nghiệp quy định rằng nhiều tổ chức hành nghề luật sư, bao gồm công ty luật và các pháp nhân khác, hoạt động như doanh nghiệp nhưng không được ghi nhận trên “Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp” theo Điều 4 của luật này Trong khi đó, các ngân hàng thương mại và công ty tài chính thực hiện đăng ký doanh nghiệp như các doanh nghiệp thông thường, thì Công ty bảo hiểm lại là một doanh nghiệp điển hình với những quy định riêng.
Theo Điều 65 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời được coi là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, hộ kinh doanh và hợp tác xã không được xác định là doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
2014 hay Luật Hợp tác xã năm 2012, nhưng vẫn thực hiện việc đăng ký kinh doanh như đối với doanh nghiệp
Theo Điều 18 Luật Doanh Nghiệp năm 2014, các tổ chức và cá nhân không đủ điều kiện sẽ không được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn chưa có cơ chế rõ ràng để kiểm soát vấn đề này, dẫn đến việc nhà nước chưa thể quản lý hiệu quả tình hình.
Việc công khai thông tin doanh nghiệp hiện chưa đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư, mặc dù Điều 30 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định về chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu đăng ký doanh nghiệp Quy định này không chỉ khẳng định tính pháp lý mà còn đảm bảo sự ghi nhận của xã hội về sự tồn tại của doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn gặp nhiều hạn chế, như việc thiếu cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp vi phạm quy định công khai thông tin Nhiều doanh nghiệp sau khi thành lập không thực hiện công khai, và sự liên kết giữa các cơ quan đăng ký doanh nghiệp còn lỏng lẻo, dẫn đến việc doanh nghiệp thành lập theo pháp luật chuyên ngành không công khai thông tin trên Cổng Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia Điều này khiến nhà đầu tư không thể tra cứu thông tin doanh nghiệp trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện một cách thống nhất Hơn nữa, quy định công khai chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp thành lập từ ngày 25/02/2013, dẫn đến thông tin về các doanh nghiệp trước thời gian này không được cập nhật đầy đủ Hệ quả là nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc tra cứu tên doanh nghiệp đang hoạt động để tránh trùng lặp, làm tăng khả năng hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bị trả lại.
Việc vi phạm quy định về đặt tên doanh nghiệp đã gây ra nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư, làm mất thời gian trong quá trình thành lập Để đảm bảo tên doanh nghiệp hợp lệ, nhiều người phải nhờ đến chuyên viên của Sở Kế hoạch và Đầu tư để kiểm tra tính phù hợp của tên mà họ mong muốn.
Thứ ba, Về nội dung đăng ký thành lập doanh nghiệp
Một là, Các quy định về đặt tên doanh nghiệp còn cản trở quyền tự do thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư
Theo Điều 38, 39 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Chương III Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, việc quy định tên doanh nghiệp cấm đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với doanh nghiệp đã đăng ký, sử dụng tên cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, và từ ngữ vi phạm truyền thống văn hóa Tuy nhiên, việc xác định rõ các nhân vật lịch sử bị coi là phản chính nghĩa còn thiếu căn cứ, dẫn đến sự lúng túng cho nhà đầu tư và cơ quan quản lý, gây ra tình trạng từ chối cấp đăng ký doanh nghiệp một cách tùy tiện, ảnh hưởng đến quyền tự do thành lập và đặt tên doanh nghiệp của nhà đầu tư.
Bất cập trong quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp xuất hiện ở từng loại hình doanh nghiệp, yêu cầu chi tiết thành phần hồ sơ được quy định từ Điều 20 đến Điều 23 của Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Những nhân tố ảnh hưởng tới thực trạng pháp luật về đăng ký thành lập
Có một số nhân tố tác động tiêu cực đến việc xây dựng và áp dụng pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp, bao gồm sự thiếu minh bạch trong quy trình, sự phức tạp của thủ tục hành chính, và sự không đồng bộ giữa các quy định pháp lý Những yếu tố này cản trở sự phát triển của doanh nghiệp và gây khó khăn cho các nhà đầu tư.
2.4.1 Nền kinh tế kém phát triển và chưa ổn định
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình sang nền kinh tế thị trường, nhưng vẫn còn kém phát triển và chưa hoàn tất cải cách theo hướng xã hội chủ nghĩa Các thị trường vốn, lao động, bất động sản và khoa học công nghệ chưa hoạt động đồng bộ, và các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường chưa được thực thi đầy đủ, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến các thành phần kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế nước ta đối mặt với cả cơ hội và thách thức lớn, với những tác động tiêu cực như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, sự gia tăng vốn đầu cơ, nguy cơ hình thành "bong bóng" đầu tư, và khủng hoảng tài chính Bên cạnh đó, khoảng cách giàu nghèo gia tăng và môi trường sinh thái cũng bị ảnh hưởng, tác động đến cuộc sống của con người.
2.4.2 Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ và còn nhiều bất cập
Hệ thống pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và bảo vệ các chủ thể kinh doanh, đồng thời khuyến khích hoạt động kinh doanh của toàn dân Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, thể hiện sự thiếu thống nhất và đồng bộ trong chính sách phát triển kinh tế Sự phức tạp của các quy định dưới luật, với quá nhiều điều khoản vừa thừa vừa thiếu, cùng với tính không nhất quán và thường xuyên thay đổi, đã gây khó khăn cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Sự thiếu phối hợp và đồng bộ giữa các cơ quan hành chính, đặc biệt là trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh, thuế và cấp giấy phép khắc dấu, đã gây khó khăn và lãng phí thời gian, tiền bạc cho doanh nghiệp khi gia nhập thị trường Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay được nhận định là thiếu minh bạch, nhất quán, đồng bộ, ổn định, tiên liệu và khả thi.
Thủ tục hành chính hiện nay vẫn còn ảnh hưởng từ cơ chế bao cấp, với nhiều bước xin – cho Đặc biệt, quy trình sau khi đăng ký kinh doanh vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
Hệ thống pháp luật hiện tại còn phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí, đồng thời chưa hoàn thiện Cần thiết phải sửa đổi và bổ sung nhiều lỗ hổng để phù hợp hơn với thực tế.
2.4.3 Năng lực trình độ của bộ máy và con người còn yếu kém Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp là những người trực tiếp tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về đăng ký doanh nghiệp Năng lực, trình độ của các cán bộ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các văn bản pháp luật về đăng ký doanh nghiệp Do đó, độ ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý đòi hỏi phải có tư duy khoa học, khả năng nghiên cứu và am hiểu các văn bản chính sách pháp luật của nhà nước, có kinh nghiệm thực tế Đánh giá về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương 9 khóa X, tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã thẳng thắn chỉ ra rằng: “Trình độ, năng lực, kiến thức về kinh tế thị trường, luật pháp, ngoại ngữ, khả năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội của không ít cán bộ vẫn còn bất cập; khả năng dự báo và định hướng sự phát triển vẫn còn yếu” rồi “Một bộ phận cán bộ chủ quan, tự mãn, bảo thủ, trì trệ, mắc bệnh thành tích; số khác thiếu tâm huyết với công việc, thiếu gương mẫu, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức tự phê bình và phê bình và tính chiến đấu kém; lợi dụng chức quyền để vun vén lợi ích cá nhân[21]
Tâm lý thiếu thiện chí của nhiều người, bao gồm cả cán bộ đăng ký kinh doanh, đang ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp Môi trường kinh doanh hiện nay thiếu các thiết chế giám sát và hỗ trợ cần thiết, dẫn đến sự kém hiệu quả của các tổ chức nghề nghiệp và hiệp hội trong việc mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Thiếu cơ chế giám sát và hỗ trợ không chỉ cản trở hoạt động kinh doanh mà còn tác động xấu đến môi trường kinh doanh và nền kinh tế hiện đại.
Tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
2.5.1 Năm 2017 a, Tính đến tháng 1 năm 2017
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư [25] năm 2017:
- Về số doanh nghiệp mới thành lập và vốn điều lệ
Vào tháng 1 năm 2017, cả nước ghi nhận 8.990 doanh nghiệp mới thành lập với tổng vốn điều lệ đạt 90.283 tỷ đồng, tăng 8,1% về số lượng doanh nghiệp và 52,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước So với năm 2016, số doanh nghiệp tăng 21,2% và vốn tăng 87,01% Vốn đăng ký bình quân mỗi doanh nghiệp trong tháng 1 đạt 10 tỷ đồng, tăng 40,9% so với cùng kỳ Tuy nhiên, lực lượng lao động đăng ký của các doanh nghiệp mới giảm 16,1%, với 104.062 người.
Trong tháng 1 năm 2017, tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt 204.919 tỷ đồng, bao gồm 90.283 tỷ đồng từ các doanh nghiệp mới thành lập và 114.636 tỷ đồng từ các doanh nghiệp đang hoạt động.
Biểu đồ số 1: Số doanh nghiệp mới thành lập và vốn trên năm
( Nguồn: Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2017 [18] )
Dựa trên biểu đồ, tình hình đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam đang diễn ra sôi nổi với số lượng doanh nghiệp mới thành lập ngày càng tăng qua các năm, không có năm nào giảm Kể từ khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường và vốn, đặc biệt là vào tháng 1 năm.
2017 với số lượng doanh nghiệp là 8.990 và vốn đăng ký là 90.283 tỷ đồng
- Về loại hình doanh nghiệp:
Bảng số 1: Số doanh nghiệp, vốn và lao động mới thành lập được đăng ký theo loại
( Nguồn: Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2017 [18] )
STT Doanh nghiệp Tháng 1/2016 Tháng 1/2017
Vốn điều lệ (tỷ đồng)
Vốn điều lệ (tỷ đồng)
1 Công ty TNHH 1 thành viên
2 Công ty TNHH 2 thành viên trở lên
Vào tháng 1 năm 2017, tỷ lệ vốn đăng ký bình quân trên mỗi doanh nghiệp cho thấy các công ty cổ phần có mức cao nhất với 31,7 tỷ đồng, tiếp theo là công ty TNHH hai thành viên với 6,9 tỷ đồng, công ty TNHH một thành viên đạt 5,3 tỷ đồng, và doanh nghiệp tư nhân là 1,4 tỷ đồng So với cùng kỳ, tỷ lệ vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh giảm, trong khi đó, các loại hình doanh nghiệp khác lại ghi nhận sự tăng trưởng.
Biểu đồ số 2: Số doanh nghiệp mới thành lập và vốn theo vùng
( Nguồn: Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2017 [18] )
So sánh các doanh nghiệp mới thành lập được đăng ký tháng 1 năm 2017 theo vùng trong Biểu đồ 2 cho thấy:
Trong năm 2016, tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệp có sự chênh lệch rõ rệt giữa các vùng Khu vực Đông Nam Bộ dẫn đầu với 3.895 doanh nghiệp mới, tăng 15,4%, tiếp theo là Đồng bằng sông Hồng với 2.579 doanh nghiệp, tăng 9,1%, và Đồng bằng sông Cửu Long với 731 doanh nghiệp, tăng 4,3% Ngược lại, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ ghi nhận 1.176 doanh nghiệp, giảm 7,1%, trong khi Tây Nguyên có 250 doanh nghiệp, giảm 1,2%, và vùng Trung du và miền núi phía Bắc với 359 doanh nghiệp, giảm 0,3%.
Vốn đăng ký của các doanh nghiệp mới thành lập tại Việt Nam cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ ở hầu hết các khu vực so với cùng kỳ năm trước Tây Nguyên đạt 3.339 tỷ đồng, tăng 96,6%; Trung du và miền núi phía Bắc đạt 5.970 tỷ đồng, tăng 77,2%; Đồng bằng sông Hồng ghi nhận 26.995 tỷ đồng, tăng 74,4%; Đông Nam Bộ có 41.187 tỷ đồng, tăng 60,5%; và ĐBSCL đạt 5.465 tỷ đồng, tăng 3,8% Tuy nhiên, Bắc và Nam Trung Bộ lại chứng kiến sự sụt giảm với vốn đăng ký 7.327 tỷ đồng, giảm 6,1%.
Đông Nam Bộ tiếp tục dẫn đầu cả nước về số lượng doanh nghiệp với 3.895 doanh nghiệp, theo sau là Đồng bằng sông Hồng với 2.579 doanh nghiệp Hai khu vực này chiếm 72% tổng số doanh nghiệp mới thành lập trên toàn quốc, khẳng định vị thế quan trọng của Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng trong nền kinh tế.
- Về số doanh nghiệp mới thành lập và vốn điều lệ
Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2018 [20] Trong Quý I của năm
Năm 2018, nền kinh tế nội bộ đã ghi nhận sự ra đời của 35,234 doanh nghiệp, bao gồm 26,785 doanh nghiệp mới thành lập và 8,449 doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sau thời gian tạm ngừng.
Trong quý này, tổng số vốn dự kiến đạt khoảng 763.964 tỷ đồng, trong đó có 278.489 tỷ đồng từ các doanh nghiệp mới thành lập và 485.475 tỷ đồng từ 7.893 lượt doanh nghiệp đăng ký sửa đổi, bổ sung vốn điều lệ.
Biểu đồ số 3 Cập nhật đăng ký kinh doanh theo quý
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2018 [19])
Trong Quý I năm 2018, có 26.785 doanh nghiệp mới được thành lập, với tổng vốn đăng ký đạt 278.489.000.000 đồng, ghi nhận sự tăng trưởng 1,2% về số lượng doanh nghiệp và 2,7% về vốn điều lệ so với cùng kỳ năm trước.
Biểu đồ cho thấy sự tăng trưởng đáng kể của số lượng doanh nghiệp thành lập mới và vốn điều lệ trong Quý I từ năm 2015 đến năm 2018 Cụ thể, so với Quý I năm 2015, trong Quý I năm 2018, số lượng doanh nghiệp mới thành lập tăng 1,4 lần, vốn điều lệ tăng 2,5 lần và tỷ lệ vốn điều lệ trung bình mỗi doanh nghiệp tăng 1,8 lần.
Tỷ lệ vốn đăng ký của một doanh nghiệp trong 3 tháng đầu năm 2018 đạt 10,4 tỷ đồng, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước
Mặt khác, trong số 26.785 doanh nghiệp mới thành lập trong ba tháng đầu năm
Năm 2018, có 55 doanh nghiệp bị đình chỉ (0,21%) và 26 doanh nghiệp hoàn thành thủ tục giải thể (0,1%) Ngoài ra, 95 doanh nghiệp khác bị đình chỉ do không hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế Kết quả là, trong giai đoạn này, đã có 26.609 doanh nghiệp hoạt động, chiếm 99,34% số doanh nghiệp mới thành lập.
- Về loại hình doanh nghiệp
Bảng số 2 Cập nhật đăng ký kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2018 [19])
Số doanh nghiệp mới thành lập
Vốn điều lệ (tỷ đồng)
Số doanh nghiệp mới thành lập
Vốn điều lệ (tỷ đồng)
1 Công ty TNHH 1 thành viên 14.961 93.086 15.861 91.366
2 Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Kết quả so sánh ba tháng đầu năm 2018 với cùng kỳ năm ngoái cho thấy Công ty TNHH một thành viên đã giảm vốn điều lệ, trong khi Công ty TNHH hai thành viên trở lên và doanh nghiệp tư nhân cũng ghi nhận sự giảm sút trong số lượng doanh nghiệp thành lập mới và vốn điều lệ.
So với cùng kỳ năm 2017, quy mô đăng ký kinh doanh trong ba tháng đầu năm 2018 đã có sự tăng trưởng rõ rệt, theo kết quả từ bảng 2.
Trong năm 2017, số lượng doanh nghiệp mới thành lập chủ yếu là Công ty TNHH một thành viên, đạt 15.861 doanh nghiệp, tăng 6,0% Đồng thời, số doanh nghiệp tư nhân mới thành lập cũng ghi nhận 4.428 doanh nghiệp, tăng 1,3% so với năm trước.
Lượng vốn điều lệ tập trung vào Công ty Cổ phần với 138.383 tỷ đồng (tăng 12,0%); Tuy nhiên cũng có hai loại hình có số lượng doanh nghiệp giảm: