1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước đông nam á

71 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á
Tác giả Nguyễn Hữu Đăng Quang
Người hướng dẫn TS. Vũ Việt Hằng
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng phương pháp xây dựng chỉ số rủi ro hệ thống ngân hàng BSF và phương pháp ước lượng hồi quy GLS trên bộ dữ liệu bảng của 8 quốc gia Đông Nam Á trong thời gian 15 năm từ năm 2000 đến

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HỮU ĐĂNG QUANG

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành : Kinh tế học

Mã số ngành : 60 03 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

Trang 2

-Trang iii -

TÓM TẮT

Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu các yếu tố tác động cũng như mức độ tác động của các yếu tố đến khủng hoảng hệ thống ngân hàng để từ đó có thể cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng Nội dung của nghiên cứu bao gồm xây dựng chỉ số rủi ro hệ thống ngân hàng và mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến khủng hoảng ngân hàng Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp công cụ để dự đoán thời điểm khủng hoảng hệ thống ngân hàng và mức ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến khủng hoảng ngân hàng Từ đó đề xuất những chính sách để phòng tránh và hạn chế khủng hoảng hệ thống ngân hàng

Bằng phương pháp xây dựng chỉ số rủi ro hệ thống ngân hàng BSF và phương pháp ước lượng hồi quy GLS trên bộ dữ liệu bảng của 8 quốc gia Đông Nam Á trong thời gian 15 năm (từ năm 2000 đến năm 2014), nghiên cứu đã xác định được vai trò tác động đến khủng hoảng hệ thống ngân hàng của các yếu tố cũng như có thể dự đoán được thời điểm xảy ra khủng hoảng hệ thống ngân hàng

Kết quả nghiên cứu cho thấy tại các quốc gia Đông Nam Á các yếu tố: Tỷ lệ cung tiền/ Dự trữ ngoại tệ, Lãi suất cơ bản, Lãi suất USD tại Mỹ có tác động lớn đến nguy cơ khủng hoảng hệ thống ngân hàng

Dựa vào kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng ta có thể sử dụng để dự đoán khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á Kết quả nghiên cứu cũng là tiền đề trong việc phát triển, hoàn thiện mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng

hệ thống ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á ứng với toàn bộ 11 quốc gia

Trang 3

-Trang iv -

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Chỉ số dự báo khủng hoảng tài chính và lý do kinh tế để lựa chọn 20

Bảng 2: Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan 46

Bảng 3: Dấu kỳ vọng các biến sử dụng trong mô hình 47

Bảng 4: Thống kê dữ liệu nghiên cứu 48

Bảng 5: Chỉ số khủng hoảng hệ thống ngân hàng (BSF) tại các nước giai đoạn

2000-2014 50

Bảng 6: Ma trận hệ số tương quan 52

Bảng 7: Kiểm định đa cộng tuyến 53

Bảng 8: Kết quả hồi quy theo mô hình FE và RE 54

Bảng 9: Kết quả kiểm định Hausman 55

Bảng 10: Kết quả hồi quy GLS 56

Trang 4

-Trang v -

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Các giai đoạn của chỉ số mức độ rủi ro hệ thống ngân hàng 29

Hình 2: Mô hình đề xuất các yếu tố tác động đến chỉ số rủi ro hệ thống ngân hàng 34

Hình 3: Chỉ số tự do kinh tế 8 quốc gia Đông Nam Á 49

Hình 4: Chỉ số khủng hoảng hệ thống ngân hàng (BSF) tại các quốc gia giai đoạn

2000-2014 51

Trang 5

"8 !@(((.?%;k"l " !"#$ %&'[p K/j(<(-qe]H0'rG+ !"#$ %&,78;k"l "KLs'JH 

t u7vu 6xyY-z,j+l " !"#$ %&'-<-({|}^'~] !789"5> !9"?95i%56Z[-€--{|}^, !"#$ %&'IDCKL+8#2-2k"l " !"#$ %&,nC,K#L'I0‚Z02

ƒ „X…† 6x‡ˆ2="/ +%"+"4 !Š$;k+]‹|}^, !"#$ %&'2€2(FGHŒ']/jŽZ[I0‚g4a0DZ[0\]Z[0^H04Z[ !/ "8 !‘2’2-FGHŒ']9"/ +%"<(2-.?%Š#“;K”Z0HL KLI0\0•eŒ'r<(2-(FGHŒ']0•#`,j‘–78—–<22--Fe“;K”Z0˜d'godZ<<2-2Fe“;K” "%?%K#L'ae^Zae“;K”Z0a0eI0:r~™ !;k"l "‘–<<2-<š›nC#9":;789"/ +%"|}^,+"œ;k"l ""•eŒ'rqž<@

Trang 6

234567 6  





Trang 7

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

đã ghi nhận nhiều cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng như: tại Mexico (1994 -1995) hay tại khu vực Châu Á (1997 -1998)

Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á khởi phát từ Thái Lan (một quốc gia có GDP ở mức trung bình) vào giữa năm 1997, sau đó lan rộng ra khu vực Đông Nam

Á, rồi đến một số nước Châu Á ven Thái Bình Dương và trở thành cuộc khủng hoảng mang tầm quốc tế Xuất phát điểm của khủng hoảng chỉ từ một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á nhưng đã nhanh chóng lan rộng và mang tính quốc tế Sau đó với sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế và các định chế tài chính lớn thì cuộc khủng hoảng này mới được dập tắt Tuy nhiên với các quốc gia bị khủng hoảng thì cũng phải đến 2003 trở đi mới có thể được xem là thoát suy thoái Qua đó có thể thấy tác hại to lớn của khủng hoảng tài chính nói chung và khủng hoảng ngân hàng nói riêng cũng như nguyên nhân khủng hoảng không chỉ xuất phát từ sự yếu kém trong chính sách kinh tế của quốc gia mà còn có thể bị lan truyền từ một quốc gia khác sang Nếu công tác dự đoán, dự báo khủng hoảng được hoạt động tốt trong thời kỳ này thì đã có thể phòng tránh hay giảm bớt hậu quả của cuộc khủng hoảng Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, đây cũng là dấu mốc đánh dấu Việt Nam chính thức mở cửa ngành tài chính - ngân hàng Từ thời điểm này, những yếu kém của hệ thống ngân hàng bộc lộ ngày càng rõ nét khi việc tự do hóa tài khoản vãng lai và tài khoản vốn trong hệ thống ngân hàng đã gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của dòng vốn nước ngoài Mặc dù chưa xảy ra khủng hoảng hệ thống ngân hàng

ở Việt Nam, nhưng hệ thống ngân hàng thương mại nước ta cũng đã và đang tiềm

Trang 8

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 2

ẩn nhiều rủi ro Không chỉ riêng Việt Nam, các quốc gia Đông Nam Á khác cũng vậy, dù là quốc gia đã từng hay chưa từng chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, khủng hoảng ngân hàng thì vẫn có những rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn Với nhiều đặc điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế và hơn nữa cuối năm

2015 là thời điểm hình thành cộng đồng kinh tế Asean Đây là dấu mốc thể hiện mức độ hợp tác, liên kết cao hơn nữa về kinh tế nên sau thời điểm đó, các rủi ro hay khủng hoảng sẽ ảnh hưởng chung cả khu vực

Chính vì vậy, việc xây dựng mô hình cảnh báo về nguy cơ khủng hoảng hệ thống ngân hàng là hết sức cần thiết và cần được nghiên cứu để giúp các quốc gia tránh được các cuộc khủng hoảng ngân hàng trong tương lai

Từ những nhận định như trên, tác giả quyết định chọn đề tài:“Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam

Á ”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Với mong muốn xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á, tác giả thực hiện đề tài với các mục tiêu cụ thể như sau:

 Xác định các yếu tố tác động đến khủng hoảng hệ thống ngân hàng

 Xây dựng mô hình phù hợp cho việc cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng

 Đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm hạn chế khủng khoảng hệ thống ngân hàng

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

 Những yếu tố nào tác động đến khủng hoảng hệ thống ngân hàng?

 Mô hình nghiên cứu nào là phù hợp nhất để cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng?

 Cần phải làm gì để hạn chế khủng hoảng hệ thống ngân hàng?

Trang 9

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 3

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài quan tâm xây dựng chỉ số khủng hoảng hệ thống ngân hàng và mô hình hồi quy đo lường các yếu tố tác động đến khủng hoảng hệ thống ngân hàng của 8 quốc gia thuộc Đông Nam Á trong khoảng thời gian 15 năm (từ năm 2000 đến năm 2014)

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về khủng hoảng hệ thống ngân hàng đối với 8 trên tổng số

11 quốc gia khu vực Đông Nam Á trong khoảng thời gian 15 năm (từ năm 2000 đến năm 2014) Các nước Đông Timor, Myanmar, Brunei không đưa vào nghiên cứu vì không đủ dữ liệu thống kê

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp chỉ số và phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến:

 Dùng phương pháp chỉ số để xác định chuỗi giá trị của chỉ số khủng hoảng ngân hàng cho nghiên cứu Giá trị này vừa dùng để xác định giai đoạn của khủng hoảng vừa sử dụng để đưa vào mô hình hồi quy nhằm ước lượng vai trò các yếu tố tác động đến khủng hoảng

 Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để tìm ra các yếu tố có khả năng tác động đến khủng hoảng và mức độ tác động tương ứng

1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy tình hình hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2014 Kết quả nghiên cứu cũng sẽ cung cấp các công cụ để phục vụ cho việc dự đoán khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á trong tương lai bao gồm:

 Công thức xác định chỉ số rủi ro hệ thống ngân hàng (chỉ số BSF), từ đó có thể xác định được hệ thống ngân hàng đang ở vị trí nào trong đồ thị khủng hoảng ngân hàng

Trang 10

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

1.7 Kết cấu của đề tài

Đề tài được chia thành 5 chương với nội dung cụ thể như sau:

Chương 1 giới thiệu lý do thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên

cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Chương 2 trình bày các khái niệm cơ bản về nội dung chính nêu trong đề tài, cơ sở

lý thuyết và các nghiên cứu trước làm cơ sở để: “Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á ” Đồng thời

trong chương 2 tác giả tổng hợp các nghiên cứu trước và đưa ra khung phân tích của nghiên cứu

Chương 3 tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu và đề xuất cụ thể mô hình

nghiên cứu cũng như giải thích các biến trong mô hình Trong chương 3, tác giả cũng giới thiệu về dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu

Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu thông qua quy trình thống kê mô tả dữ liệu

và biện luận kết quả đã phân tích được

Chương 5 trình bày tổng thể kết quả nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và đưa ra kiến

nghị sau khi thực hiện đề tài Tác giả cũng nêu lên những mặt hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo sau khi thực hiện đề tài

Trang 11

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trong chương 2, tác giả giới thiệu tổng quan về khủng hoảng hệ thống ngân hàng và mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng Tiếp sau đó, tác giả giới thiệu hai nghiên cứu trước về mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng

2.1 Khủng hoảng hệ thống ngân hàng

2.1.1 Khái quát về khủng hoảng hệ thống ngân hàng

2.1.1.1Định nghĩa

Bản chất của ngân hàng là trung gian tài chính Khi ngân hàng hoạt động tốt

có nghĩa ngân hàng đã thực hiện tốt chức năng tạo tiền gởi linh hoạt Còn khi ngân hàng không thực hiện tốt chức năng này thì đó chính là nguy cơ dẫn đến khủng hoảng ngân hàng

Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1998), khủng hoảng ngân hàng là trạng thái các ngân hàng lâm vào tình trạng rút tiền ồ ạt và bị phá sản Các ngân hàng buộc phải dừng việc thanh toán các cam kết của mình hoặc để tránh tình trạng này nhà nước buộc phải can thiệp bằng biện pháp hỗ trợ đặc biệt Khủng hoảng ngân hàng có thể bùng phát tại một ngân hàng và lây truyền ra toàn bộ hệ thống

Bên cạnh đó, khi nói về khủng hoảng hệ thống ngân hàng, có một số quan điểm phù hợp với định nghĩa của IMF như sau:

Theo quan điểm của Calomiris và Gorton (1991), KHHTNH xảy ra khi các chủ nợ ở nhiều hoặc tất cả các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng đột ngột yêu cầu các ngân hàng chuyển đổi quyền đòi nợ của mình ra tiền hoặc tương đương tiền

ở mức quá cao khiến các ngân hàng phải tạm ngưng quá trình chuyển đổi này Theo quan điểm của Laeven và Valencia (2008), một cuộc KHHTNH sẽ xảy

ra khi khu vực tài chính và doanh nghiệp của một quốc gia rơi vào tình trạng không

đủ khả năng trả nợ, đồng thời các định chế tài chính và các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với các khó khăn nghiêm trọng trong việc hoàn trả các hợp đồng đúng hạn Kết quả là, các khoản nợ xấu tăng mạnh khiến cho phần lớn hoặc tất cả vốn của toàn bộ hệ thống ngân hàng sẽ bị cạn kiệt

Trang 12

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 6

Theo quan điểm của Demirgüç-Kunt và Detragiache (1997), được biết đến lần

đầu tiên vào năm 1998, sau đó được bổ sung 02 lần vào các năm 2002 và 2004 Một cuộc khủng hoảng ngân hàng được coi là có tính hệ thống khi các thành phần quan trọng trong khu vực ngân hàng bị rơi vào tình trạng phá sản hoặc mất tính thanh khoản và không thể tiếp tục hoạt động nếu không có sự trợ giúp đặc biệt từ các chính sách tiền tệ và giám sát Thời điểm bắt đầu một cuộc KHHTNH được xác định nếu ít nhất một trong 4 điều kiện sau xảy ra:

• Tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản nhỏ hơn hoặc bằng 10%

• Chi phí giải cứu các ngân hàng lớn hơn 2% GDP

• Nhiều vấn đề khó khăn của các ngân hàng dẫn tới cần được quốc hữu hóa trên diện rộng

• Các biện pháp khẩn cấp như đóng băng tiền gửi, kéo dài ngày lễ ngân hàng, bảo đảm tiền gửi toàn bộ được áp dụng

Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng chịu nhiều rủi ro hơn các hoạt động kinh

tế khác Bản chất kinh doanh ngân hàng là thu lợi nhuận từ việc đi vay để cho vay hoặc đầu tư sinh lời Nhưng hai việc này không phải lúc nào cũng đồng thời thuận lợi và nguy cơ luôn phải đối mặt của ngân hàng là phải đảm bảo tính thanh khoản tức khả năng chi trả tức thời khi khách hàng rút tiền nhằm tránh đổ vỡ lòng tin, gây

ra đột biến rút tiền gửi và nguy cơ khủng hoảng ngân hàng

Khi đề cập vai trò của tính thanh khoản đến hoạt động tín dụng Diamond và Dybvig (1983) cho rằng, người gởi tiền là những cá nhân hoặc công ty có vốn nhàn rỗi muốn cho vay để hưởng chênh lệch lãi suất, song người có vốn nhàn rỗi có thể

có những nhu cầu tiền mặt bất thường và không dự đoán trước được Vì vậy, họ sẽ

có nhu cầu thu hồi các khoản đầu tư khi có biến cố xảy ra và để giảm rủi ro họ chỉ sẳn lòng cho vay trong ngắn hạn Yêu cầu này của người gởi tiền hoàn toàn trái ngược với người vay tiền, người đi vay muốn vay những khoản vay dài hạn bởi vì các khoản vay một khi đã đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhà xưởng, thì không thể nhanh chóng thu hồi để trả cho người cho vay Chính sự khác biệt này làm cho thị trường vốn không thể hoạt động hiệu quả được Theo Diamond (2007), khó khăn này hoàn toàn được giải quyết khi tổ chức tín dụng trung gian như ngân hàng đứng

Trang 13

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 7

ra làm cầu nối và huy động một lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi từ nhiều người gởi

và đáp ứng cho các hoạt động dài hạn của người đi vay Trong điều kiện bình thường số lượng người gởi tiền có nhu cầu rút vốn trước hạn chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, do đó ngân hàng có thể dùng phần lớn số lượng tiền gởi còn lại để đầu tư vào các dự án và tìm kiếm lợi nhuận Vì vậy, ngân hàng chỉ cần giữ lại một khoản dự trữ bằng hoặc lớn hơn nhu cầu rút tiền gởi trước hạn Ngược lại, nếu mức dự trữ không đủ đáp ứng nhu cầu rút vốn của người gởi, hệ thống sẽ thiếu thanh khoản và nhanh chóng dẫn đến một đợt rút vốn ồ ạt từ người gởi tiền, hiện tượng này thường được gọi là khủng hoảng ngân hàng (Lương Duy Quang (2015))

Trong thực tế, các ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro trong quá trình kinh doanh do những nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại Những rủi ro khách quan như động đất, bão lụt, chiến tranh, những đợt khủng hoảng kinh tế, tiền tệ,… thì không thể nào tránh được Còn những rủi ro do chủ quan bên trong ngân hàng như yếu kém trong hoạt động quản trị ngân hàng, gây mất niềm tin khách hàng… dẫn đến dễ xảy ra tình trạng rút tiền ồ ạt của khách hàng và mức độ nghiêm trọng sẽ dẫn đến khủng hoảng ngân hàng

2.1.1.2 Lý thuyết về khủng hoảng hệ thống ngân hàng

Nhóm các yếu tố vi mô

Sự bất ổn của tình hình kinh tế vi mô có thể là nguyên nhân chính dẫn đến sự bất ổn của hệ thống ngân hàng Các yếu tố vi mô được đề cập nhiều trong các nghiên cứu gần đây như những nguyên nhân gây ra KHHTNH bao gồm: rủi ro lãi suất, tăng trưởng tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường

Tăng trưởng tín dụng: các nghiên cứu của Borio và Lowe (2002),

Eichengreen và Arteta (2002), Kaminsky và Reinhart (1999) đã chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng nóng là một nguyên nhân dẫn đến KHHTNH Tăng trưởng tín dụng nóng có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau Trong một số trường hợp đó chính là kết quả của việc tự do hóa tài chính hay bãi bỏ các quy định về tài chính (cho phép ngân hàng có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với những thị trường tín dụng mới) Mặt khác, tăng trưởng tín dụng nóng cũng có thể bắt nguồn từ sự gia tăng dòng vốn di chuyển vào thông qua các nhân tố

Trang 14

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 8

bên ngoài quốc gia Nguyên nhân này có thể dẫn đến việc các ngân hàng mở rộng chính sách cho vay và nhận định lạc quan hơn trong việc đánh giá rủi ro

từ các khoản cho vay

Việc cho quá nhiều các dự án đầu tư có mức rủi ro cao vay trong khi người đi vay lại không có khả năng để hoàn trả khoản vay sẽ khiến cho giá trị tài sản có của ngân hàng giảm kéo theo giá trị ròng của ngân hàng bị giảm sút và thậm chí có thể dẫn tới khủng hoảng, phá sản

Rủi ro thanh khoản: vấn đề rủi ro thanh khoản có nguồn gốc từ chính đặc

điểm kinh doanh của ngân hàng, việc dùng những khoản tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn Do đó, nếu như xảy ra sự rút vốn ồ ạt từ những người gửi tiền, các ngân hàng sẽ rất dễ phải đối mặt với vấn đề mất tính thanh khoản Sự rút vốn ồ ạt từ những người gửi tiền có thể xuất phát từ một vài nguyên nhân khác nhau Một trong những hướng để giải thích vấn đề này đó chính là sự bất cân xứng trong thông tin giữa người gửi tiền và hệ thống ngân hàng Một lý giải khác cho hiện tượng này đó chính là sự kích động tâm lý của đám đông khi có những người gửi tiền cho rằng những người gửi tiền khác cũng đang rút tiền khỏi ngân hàng

Rủi ro lãi suất: thông thường, những người sở hữu các dự án có độ rủi ro lớn

nhất lại thường sẵn sàng chấp nhận đi vay với một mức lãi suất cao hơn những người đi vay khác Do đó nếu lãi suất càng cao thì càng có khả năng dẫn tới

sự mất ổn định tài chính Vì vậy, có thể nói rủi ro lãi suất có liên quan chặt chẽ với rủi ro tín dụng

Tăng lãi suất cũng có thể ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của ngân hàng Thông thường, tiền gửi ngắn hạn được ghi vào bên tài sản nợ của ngân hàng trong khi những khoản cho vay ngắn và dài hạn được ghi bên tài sản có Tăng lãi suất trong ngắn hạn khiến cho ngân hàng phải tăng lãi suất tiền gửi Nhưng những khoản cho vay dài hạn của ngân hàng thường được ấn định tại một mức lãi suất cố định nên lợi suất sinh lời trên tài sản không thể được điều chỉnh một cách đủ nhanh như việc điều chỉnh tăng lãi suất bên mục tài sản nợ Khi

Trang 15

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 9

đó, sẽ dẫn đến việc giảm giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng và khiến cho ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng lợi nhuận giảm hoặc thậm chí là thua lỗ

Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu khi tỷ

giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính Trong cơ chế thị trường, tỷ giá thường xuyên dao động Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối đoái của ngân hàng tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời Tuy nhiên, có những thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến có thể dẫn đến tổn thất cho ngân hàng

Đặc biệt, rủi ro tỷ giá có thể tác động trực tiếp đến những khoản mục tài sản

nợ và tài sản có ngoại tệ trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng Sự biến động trong tỷ giá hối đoái sẽ làm thay đổi giá trị của đồng tiền nội tệ đối với các tài sản có (hoặc nợ) này Ngoài ra, biến động tỷ giá cũng có thể gián tiếp tác động đến khả năng tạo lợi nhuận của các ngân hàng khi mở rộng danh mục đầu tư của ngân hàng sang các sản phẩm phái sinh, trong đó có phái sinh ngoại tệ Điều này khiến các ngân hàng càng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá

Nhóm các yếu tố vĩ mô

Tăng trưởng kinh tế

Theo Shen và cộng sự (2009), về mặt lý thuyết ngân hàng sẽ giữ nhiều thanh khoản hơn trong thời kỳ kinh tế suy thoái (khi mà cho vay gặp nhiều rủi ro hơn) còn khi kinh tế tăng trưởng ngân hàng sẽ giảm dự trữ thanh khoản để có thể cho vay được nhiều hơn trong khi huy động có thể ít hơn Chính điều đó làm gia tăng rủi ro thanh khoản Như vậy, có thể thấy tăng trưởng kinh tế (GDP) cao báo hiệu rủi ro thanh khoản cao và dự báo có nguy cơ xảy ra khủng hoảng ngân hàng Khi xảy ra khủng hoảng nói chung và khủng hoảng ngân hàng nói riêng thì GDP sẽ ở mức thấp

Lạm phát

Trong nghiên cứu của mình Perry (1992) đã kết luận lạm phát có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng Nếu lạm phát được kỳ vọng hoàn toàn thì ngân hàng sẽ điều chỉnh lãi suất để tăng thu nhập lãi nhanh

Trang 16

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 10

hơn so với mức tăng chi phí lãi Ngân hàng sẽ tăng các khoản cho vay trong khi do thị trường cạnh tranh các khoản huy động có thể bị giảm Điều này làm gia tăng rủi ro thanh khoản

Cung tiền

Theo Friedman (1963), tốc độ tăng của cung tiền phải tương ứng với tốc độ phát triển kinh tế, một mức cung tiền quá lớn cũng sẽ dẫn đến lạm phát Khi thay đổi cung tiền, bằng các công cụ khác nhau Ngân hàng Trung ương có thể tác động đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại Chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ gia tăng thanh khoản cho ngân hàng

Cán cân thương mại

Cán cân thương mại cho biết thông tin về tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia Cán cân thương mại tốt khi ở tình trạng thặng dư, tức giá trị xuất khẩu cao hơn nhập khẩu và ngược lại, khi giá trị nhập khẩu cao hơn giá trị xuất khẩu dẫn đến tình trạng thâm hụt thương mại Cán cân thương mại là thành phần quan trọng của tài khoản vãng lai Nhập siêu trong ngắn hạn không hoàn toàn là tiêu cực đối với nền kinh tế Những quốc gia đang phát triển có thể phải chấp nhận thâm hụt thương mại trong quá trình chuyển đổi khi có nhu cầu lớn đối với nguyên vật liệu, thiết bị máy móc hay công nghệ của nước ngoài trong khi khả năng và trình độ sản xuất trong nước còn thấp kém, nguồn vốn trong nước cũng còn hạn chế Nhưng nếu nhập siêu tăng cao và kéo dài, thì cũng đồng nghĩa với quá trình tích lũy tư bản, công nghệ từ nước ngoài không hiệu quả Nhập siêu kéo dài được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến bất ổn kinh tế vĩ mô và đẩy nền kinh tế đến trạng thái dễ bị tổn thương từ những cú sốc bên ngoài Nếu con số thâm hụt chỉ ở mức vừa phải (thông thường là dưới 5%) thì không đáng lo ngại Nhưng khi thâm hụt tài khoản vãng lai vượt ngưỡng này sẽ gây ra rủi ro cho nền kinh tế Trường hợp Thái Lan trước khủng hoảng, thâm hụt tài khoản vãng lai của nước này vào năm 1995-1996 là khoảng 8%

Trong một số trường hợp thâm hụt thương mại (nhập siêu) và hệ quả là thâm

Trang 17

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 11

hụt tài khoản vãng lai thực sự gây ra nhiều vấn đề cho một số nước Nhiều nước đã lâm vào khủng hoảng (khủng hoảng nợ, khủng hoảng đồng tiền, khủng hoảng ngân hàng) sau khi có mức thâm hụt thương mại lớn, thường xuyên và lâu dài Điển hình là cuộc khủng hoảng Châu Á những năm 1997-

1998

Trong các nghiên cứu của mình Schularick và Taylor (2012), Davis và cộng

sự (2014) đều đưa ra kết quả là khi mức thâm hụt tài khoản vãng lai tăng lên thì nguy cơ khủng hoảng ngân hàng cũng tăng lên Mà cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai nên như vậy cũng có nghĩa là khi cán cân thương mại bị thâm hụt thì nguy cơ khủng hoảng ngân hàng tăng lên

Những hạn chế trong cơ chế luật pháp, kế toán,…

Những điểm chưa hoàn thiện trong cơ chế kế toán, kiểm toán gây ra những khó khăn, trì trệ trong việc phát hiện các vấn đề liên quan đến tính mất thanh khoản hoặc phá sản của ngân hàng Bên cạnh đó, những thiếu sót trong hệ thống pháp luật cũng có thể là trở ngại trong việc thực thi quyền sở hữu hoặc những cam kết và thực hiện đối với tài sản đảm bảo trong việc hỗ trợ vay vốn ngân hàng

Quá trình tự do hóa tài chính kém hiệu quả

Về mặt dài hạn, những lợi ích mà tự do hóa tài chính mang lại cho những nước đang phát triển là rất rõ ràng Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng mang đến cho hệ thống ngân hàng những rủi ro không thể tránh khỏi, đặc biệt là trong trường hợp hệ thống ngân hàng ở nước đó chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và thích hợp cho việc tự do hóa

Trong giai đoạn chuyển đổi của tự do hóa tài chính, các ngân hàng sẽ phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn như: sự biến động mạnh của lãi suất, bùng

nổ tín dụng đen, thị trường trở nên cạnh tranh hơn khi xuất hiện nhiều “đối thủ” đến từ cả trong và ngoài nước, Tất cả những yếu tố này có thể sẽ khiến các ngân hàng không kịp thời thích ứng được với môi trường kinh doanh mới

và dẫn đến khủng hoảng

Trang 18

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 12

Tự do hóa tài chính được đẩy mạnh, bắt đầu từ việc nâng lãi suất nội địa, rồi tiến đến xóa bỏ kiểm soát trong khi không tăng cường cơ chế giám sát, và mở cửa tài khoản vốn Những chính sách này, cùng với chính sách duy trì tỷ giá hối đoái cố định, đã khuyến khích dòng vốn nước ngoài chảy vào, mà chủ yếu

là vốn ngắn hạn Các ngân hàng trong nước, nhận được vốn từ nước ngoài một cách dễ dàng, tiếp tục đẩy mạnh cho các doanh nghiệp trong nước vay vốn Kết quả là hàng loạt doanh nghiệp vay nợ với tỷ lệ cao, kỳ hạn ngắn, nhưng lại đầu tư vào các dự án dài hạn nhiều rủi ro Hệ thống tài chính ngày càng trở nên dễ bị tổn thương Trong nghiên cứu của mình, Demirgüç-Kunt và Detragiache (1998), Caprio và Klingebiel (1996), Lindgren và cộng sự (1996)

đã chỉ ra rằng: chỉ khi nền tảng thể chế vững chắc thì tự do hóa tài chính mới không tạo thêm rủi ro gây khủng hoảng ngân hàng Trong nhiều trường hợp,

tự do hóa tài chính khi chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng đã gây ra những tổn thương cho hệ thống ngân hàng Ví dụ như trường hợp của Chile năm 1981, các trục trặc trong hệ thống ngân hàng đã nổi lên ngay sau khi Chính phủ bãi

bỏ các quy định kiểm soát khu vực tài chính Còn Caprio và Summers (1993)

và Stiglitz (1993) đưa ra quan điểm ủng hộ cho một mức độ kiểm soát tài chính nhất định thay vì tự do hóa vội vã tại các nước đang phát triển

Chỉ số tự do kinh tế (Indices of Economic Freedom) đo lường chính sách tự

do kinh doanh ở các quốc gia trên thế giới Chỉ số tự do kinh tế đánh giá 10 yếu tố cơ bản của mỗi nền kinh tế trong đó có thể hiện tự do hóa tài chính Vì vậy, qua chỉ số này phần nào có thể thấy được mức độ tự do hóa tài chính của quốc gia Theo các nghiên cứu nêu trên, tại các quốc gia đang phát triển thì cần một mức độ kiểm soát tài chính nhất định thay vì tự do hóa vội vã Điều

đó có thể hiểu là, tại các quốc gia đang phát triển nếu chỉ số tự do kinh tế tăng cao thì nguy cơ khủng hoảng ngân hàng cũng gia tăng

Sự can thiệp quá mức của Chính phủ

Sự can thiệp quá mức hoặc không đúng đắn của Chính phủ cũng là một nguyên nhân gây ra KHHTNH Những can thiệp này có thể xuất phát từ hành động gây áp lực trong việc cấp tín dụng cho những đối tượng cụ thể, áp đặt

Trang 19

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 13

mức lãi suất, duy trì hay mở rộng những ngân hàng không còn hoạt động tốt, quy định mức dự trữ không hợp lý hoặc quy định bắt buộc trợ cấp cho thiếu hụt trong ngân sách nhà nước từ phía ngân hàng,

Sự thiếu minh bạch trong hệ thống ngân hàng

Sự thiếu minh bạch trong hoạt động của các ngân hàng chính là một trong những nguyên nhân khiến thị trường tài chính khó đạt được hiệu quả hoạt động cao Sự thiếu minh bạch dẫn đến thông tin bất cân xứng khi người gửi tiền (người dân), người đi vay (chủ yếu là doanh nghiệp), cổ đông của ngân hàng và những bên khác có liên quan đến các hoạt động của ngân hàng không

có đủ thông tin để lựa chọn những ngân hàng hoạt động tốt

Nhóm nguyên nhân liên quan đến hoạt động của hệ thống ngân hàng

Khủng hoảng hệ thống ngân hàng có thể xuất phát từ chính những khủng hoảng của các ngân hàng riêng lẻ Do tính chất hoạt động mang tính “mạng lưới” của hệ thống ngân hàng nên khủng hoảng của từng ngân hàng sẽ dễ dàng lan rộng

và ảnh hưởng đến toàn hệ thống Một số yếu tố có thể gây ra khủng hoảng của từng ngân hàng là:

 Yếu kém trong việc thẩm định tín dụng

 Mất cân đối trong việc nhận tiền gởi và cho vay

 Những rủi ro liên quan đến lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái

 Hoạt động trong những lĩnh vực mới chưa nhiều kinh nghiệm

 Những yếu kém liên quan đến trình độ quản lý, nhân sự, công nghệ

Trang 20

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 14

 Các nước đang phát triển thường sản xuất hàng hóa thô, dễ bị tác động bởi những cú sốc thương mại Điều này ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của ngân hàng, được cấu thành chủ yếu bởi khoản cho vay đến các doanh nghiệp trong nước Sự thiếu tính đa dạng hoá bên ngoài có thể đưa tới những vấn đề nghiêm trọng ở những quốc gia đang phát triển hơn là những quốc gia phát triển

 Các ngân hàng ở những nước đang phát triển huy động các quỹ với những khoản nợ chủ yếu là bằng ngoại tệ Vì vậy, khi có sự sụt giảm giá trị đồng nội

tệ có thể gia tăng tình trạng nợ, trong khi giá trị tài sản của ngân hàng thì không tăng Kết quả là dẫn đến sự xấu đi của vốn chủ sở hữu, từ đó làm gia tăng khả năng khủng hoảng của ngân hàng Kết luận này cho ta thấy tỷ giá (nội tệ/ USD) cao báo hiệu tăng nguy cơ khủng hoảng

2.1.2 Ảnh hưởng của khủng hoảng hệ thống ngân hàng đến nền kinh tế

Khi xảy ra khủng hoảng, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ bị tác động một cách trực tiếp và mạnh mẽ nhất Việc rút vốn ồ ạt khỏi hệ thống sẽ khiến cho khả năng thanh khoản của các ngân hàng bị giảm Các ngân hàng sẽ phải gia tăng chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình Hoạt động tín dụng cũng sẽ bị gián đoạn và mức gia tăng nợ xấu, lợi nhuận của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng

Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng luôn được coi là “huyết mạch” của nền kinh

tế nên ảnh hưởng của cuộc KHHTNH chắc chắn sẽ tác động đến tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Cụ thể như sau:

2.1.2.1 Ảnh hưởng tới tổng sản phẩm quốc dân

KHHTNH sẽ gây tổn thất tới tổng sản phẩm quốc nội Khi xảy ra khủng hoảng ngân hàng, hoạt động của các ngân hàng sẽ bị gián đoạn, trì trệ do bị thiếu thanh khoản, đóng cửa hoặc sáp nhập Từ đó, các ngân hàng sẽ thận trọng hơn trong việc ra quyết định cấp tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế vì lo ngại rủi

ro cao Kết quả là khu vực sản xuất sẽ khó tiếp cận với nguồn vốn vay và không thể

mở rộng được sản xuất Kết quả cuối cùng là GDP của quốc gia sẽ bị sụt giảm Theo nghiên cứu của Haugh và cộng sự (2009) về tác động của khủng hoảng ngân

Trang 21

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 15

hàng đối với các nước OCED thì hậu khủng hoảng sản lượng đầu ra của quốc gia sẽ

bị thiệt hại từ 2 đến 3 lần hoặc nhiều hơn nữa so với giai đoạn trước khủng hoảng

và thời gian để phục hồi lại mức sản lượng trước khủng hoảng cần ít nhất là gấp đôi quãng thời gian xảy ra khủng hoảng

2.1.2.2 Ảnh hưởng tới khu vực phi sản xuất của nền kinh tế

Khi xảy ra khủng hoảng ngân hàng, khu vực phi sản xuất của nền kinh tế cũng

sẽ bị ảnh hưởng nặng nề Không chỉ có khu vực sản xuất, mà khu vực phi sản xuất,

cụ thể là kinh doanh bất động sản và chứng khoán sẽ có một sự sụt giảm đáng kể trong đầu tư Điều này cũng được giải thích là do việc hạn chế cấp tín dụng của ngân hàng, đặc biệt là cho những ngành có độ rủi ro cao như chứng khoán và bất động sản trong thời kỳ khủng hoảng

2.1.2.3 Ảnh hưởng tới các chính sách kinh tế của Chính phủ

Khủng hoảng ngân hàng sẽ làm “chệch hướng” các chính sách kinh tế của Chính phủ Khi KHNH xảy ra, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải can thiệp như người cho vay cuối cùng thông qua việc hỗ trợ vốn, mua lại các khoản nợ khó đòi của các ngân hàng thương mại Ngân hàng Nhà nước bảo hiểm cho các khoản tiền gửi để hạn chế việc rút tiền ồ ạt, hoặc bơm tiền vào các ngân hàng thương mại có nguy cơ sụp đổ nhằm cứu các ngân hàng này trước hiện tượng rút tiền hàng loạt, ngăn chặn phản ứng dây chuyền, hạn chế tối đa những thiệt hại của cuộc khủng hoảng Tình huống này buộc Ngân hàng Nhà nước phải áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng mà mục tiêu không phải là kích cầu Điều này thể hiện chính sách tài khóa đã bị sử dụng không đúng công dụng

2.1.2.4 Ảnh hưởng tới cơ cấu lao động và tỷ lệ thất nghiệp quốc gia

Khủng hoảng ngân hàng làm tăng nguy cơ lạm phát, thất nghiệp và ảnh hưởng

cơ cấu lao động của quốc gia Nếu khủng hoảng xảy ra do việc rút vốn ồ ạt của người gửi tiền thì hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt tiền trầm trọng

Do đó Ngân hàng Nhà nước sẽ có thể phải bơm tiền vào hệ thống để phục vụ và duy trì hoạt động của các ngân hàng thương mại Việc cung tiền tăng cao sẽ tạo áp lực gây ra lạm phát, giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế Từ đó, nền kinh tế cũng

Trang 22

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 16

phải đối mặt với những hậu quả kế tiếp như thất nghiệp, cơ cấu lao động quốc gia cũng bị ảnh hưởng

2.2 Một số nghiên cứu trước

2.2.1 Các yếu tố của mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng 2.2.1.1 Khái niệm mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng

Đối với khủng hoảng ngân hàng, yếu tố “sớm” trong thuật ngữ “cảnh báo sớm” được Reinhart và cộng sự (2000) xác định là từ 01 đến 12 tháng trước khi bắt đầu một cuộc khủng hoảng hoặc chậm nhất là đến 12 tháng sau khi cuộc khủng hoảng bắt đầu Có hai lý do cho vấn đề này:

 Các cuộc khủng hoảng ngân hàng thường kéo dài 4-5 năm;

 Đỉnh điểm của khủng hoảng ngân hàng thường diễn ra vài năm sau khi nó bắt đầu

Như vậy, việc đạt được một tín hiệu cảnh báo sớm ngay cả khi một cuộc khủng hoảng đã bắt đầu là vẫn có ích

Demirgüç-Kunt và Detragiache (1997) đã xây dựng mô hình logit đa biến của xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng, xác suất này được mô tả bằng véc-tơ của biến giả đối với các biến giải thích với mẫu thống kê bao gồm các quốc gia có và chưa có khủng hoảng ngân hàng

Kaminsky và Reinhart (1999) xây dựng mô hình phi tham số cảnh báo sớm khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng dựa trên sự phát tín hiệu của các chỉ

số được lựa chọn với các mức ngưỡng khác nhau để dự báo khủng hoảng ngân hàng Các mức ngưỡng được phân chia thành hai vùng: vùng bình thường và vùng nguy hiểm căn cứ vào xác suất xảy ra khủng hoảng Đối với mỗi giai đoạn nghiên cứu, nếu như kết quả quan sát của một chỉ số vượt qua mức ngưỡng và rơi vào vùng nguy hiểm thì chỉ số sẽ phát ra tín hiệu cảnh báo

Trang 23

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 17

2.2.1.2 Phương pháp xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng

Xác định các giai đoạn khủng hoảng

Phương pháp sự kiện

Trong các nghiên cứu về khủng hoảng ngân hàng, các nhà nghiên cứu thường

sử dụng hai phương pháp để xác định thời điểm xảy ra khủng hoàng ngân hàng Phương pháp đầu tiên dựa trên sự kết hợp các sự kiện để nhận định và xác định thời gian xảy ra khủng hoảng ngân hàng Những sự kiện này thường bao gồm:

o Bắt buộc phải đóng cửa, sáp nhập, hoặc sự can thiệp của Chính phủ đối với hoạt động của các tổ chức tài chính

o Rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng

o Chính phủ thực hiện chương trình hỗ trợ trên qui mô lớn cho khu vực ngân hàng

Phương pháp này được sử dụng phổ biến bởi lợi thế từ sự sẵn có và dễ tìm kiếm của các dữ liệu - thông tin về các thời điểm có sự can thiệp của Chính phủ và những thay đổi về luật lệ trong hệ thống ngân hàng

Một trong những nghiên cứu ứng dụng phương pháp sự kiện tiêu biểu cần phải kể đến là Kaminsky và Reinhart (1999) Hai tác giả này cho rằng nếu thỏa mãn một trong hai sự kiện như sau là đủ để kết luận có khủng hoảng xảy ra: (1) có hiện tượng rút vốn hàng loạt dẫn đến đóng cửa, sáp nhập một hay nhiều tổ chức tín dụng, (2) Chính phủ thực hiện các can thiệp vào thị trường tài chính như: đóng cửa, sáp nhập, nắm quyền kiểm soát hoặc cung cấp các gói cứu trợ cho các đơn vị tài chính quan trọng Trong một nghiên cứu khác, González-Hermosillo và cộng sự (1997) đã xác định các ngân hàng chịu khủng hoảng là các ngân hàng bị tác động hay chịu sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương Và gần đây hơn, trong một nghiên cứu được công bố vào năm 2009, Bagatiuk (2009) định nghĩa những ngân hàng bị tước giấy phép hoặc dưới sự giám sát đặc biệt của Ngân hàng Trung ương hoặc của cơ quan quản lý nợ là những ngân hàng đang trong giai đoạn khủng hoảng Có thể nói đây là một phương pháp khá phổ biến và được áp dụng rất rộng rãi trong các nghiên cứu học thuật về lĩnh vực khủng hoảng ngân hàng

Trang 24

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 18

Mặc dù phương pháp sự kiện được ghi nhận là đơn giản, dễ sử dụng và được

áp dụng rộng rãi thế nhưng điều đó không có nghĩa đây là một phương pháp hoàn hảo và không có khuyết điểm Kaminsky và Reinhart (1999) cho rằng phương pháp này khó có thể xác định thời điểm chính xác xảy khủng hoảng vì các hiện tượng như rút vốn ào ạt, sáp nhập, biện pháp khẩn cấp, đóng băng tài khoản, v.v thường được xảy ra khi khủng hoảng đã lan rộng khắp hệ thống Hơn nữa, tại một số quốc gia có tần suất khủng hoảng cao, bất kỳ một hiện tượng bất thường của hệ thống sẽ nhanh chóng kích thích Ngân hàng Trung ương can thiệp Do đó, kết quả được ghi nhận bằng phương pháp sự kiện trong những trường hợp này có thể là một kết quả không chính xác

Phương pháp chỉ số

Song song với phương pháp sự kiện, một số nhà nghiên cứu cũng đã phát triển

kỹ thuật chỉ số để xác định các cuộc khủng hoảng ngân hàng Ý nghĩa của phương pháp này là chỉ số được thiết kế để đo lường mức độ thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Có hai chỉ số thường được sử dụng là : chỉ số áp lực thị trường tiền tệ (Index of money market pressure) và chỉ số rủi ro hệ thống (Banking Sector Fragility Index)

o Cơ sở lý luận cho chỉ số áp lực thị trường tiền tệ: dựa trên hành vi của Ngân hàng Trung ương trong giai đoạn tiền khủng hoảng Theo đó, Von Hagen

và HO (2007) cho rằng khi tính thanh khoản trong các ngân hàng thương mại giảm dần (do nợ xấu quá cao hoặc hiện tượng rút vốn hàng loạt), Ngân hàng Trung ương sẽ trực tiếp can thiệp vào thị trường tiền tệ bằng hai biện pháp Thứ nhất, gia tăng dự trữ bắt buộc nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng thương mại Thứ hai, cho phép thay đổi lãi suất ngắn hạn để giải quyết yêu cầu thanh khoản tạm thời trong hệ thống

o Cơ sở lý luận cho chỉ số rủi ro hệ thống: căn cứ vào sự thay đổi của các đại lượng là tăng trưởng tín dụng của lĩnh vực tư nhân, nguồn vốn ngoại tệ, và tổng tiền gởi ngân hàng để xác định rủi ro Kibritçioglu (2003) cho rằng phương pháp này có thể dễ dàng áp dụng ở khung phân tích là một quốc gia

và hơn hết giúp dễ dàng xây dựng ngưỡng khủng hoảng dựa trên mức độ

Trang 25

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 19

dao động của chỉ số

o So với phương pháp tiếp cận dựa trên sự kiện, phương pháp chỉ số có các

ưu điểm như khả năng nhận biết khủng hoảng cao hơn, hoặc có thể đo lường khủng hoảng với chuỗi thời gian hàng tháng

Lựa chọn các chỉ số cảnh báo

Kaminsky và cộng sự (1998) đã thực hiện một cuộc điều tra toàn diện về rất nhiều dạng khác nhau của các chỉ số dự báo được sử dụng trong 15 nghiên cứu thực nghiệm về khủng hoảng tiền tệ Mặc dù nguyên nhân của khủng hoảng ngân hàng thường phức tạp hơn so với nguyên nhân của khủng hoảng tiền tệ, trong các nghiên cứu thực nghiệm trước cho thấy các chỉ số được dùng để giải thích hoặc dự báo khủng hoảng ngân hàng không quá khác so với các chỉ số được dùng cho khủng hoảng tiền tệ

Trang 26

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

• Tỷ giá thực so với đồng USD

• Cán cân thương mại/GDP

Xuât khẩu kém, nhập khẩu tăng quá mức, đồng nội tệ định giá cao so với thực tế có thể làm cho tài khoản vãng lai suy yếu và gắn với khủng hoảng tiền tệ tại nhiều nước Những yếu kém trong quan hệ kinh tế đối ngoại và đồng nội tệ tăng giá cao hơn thực

tế cũng làm tăng khả năng bất ổn của khu vực ngân hàng vì việc mất khả năng cạnh tranh ở thị trường quốc tế có thể dẫn đến

sự suy thoái, đổ vỡ kinh doanh và giảm chất lượng cho vay Khủng hoảng ngân hàng có thể đã dẫn đến khủng hoảng tiền

tệ

Tài khoản vốn

• Tài sản nợ ngoại tệ/tài sản có

ngoại tệ của khu vực ngân hàng

có vấn đề có thể bao gồm sự giảm sút dự trữ ngoại tệ, nợ nước ngoài ngắn hạn quá nhiều, mất cân đối về kỳ hạn tiền tệ và hiện tượng vốn ồ ạt rút ra khỏi đất nước

Trang 27

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

• Lãi suất thực nội địa

Các cuộc khủng hoảng ngân hàng và tiền

tệ có sự liên quan với sự tăng trưởng tín dụng quá nhanh do cung tiền tệ tăng quá mức ở nhiều nước Trong khi đó tiền gửi ngân hàng giảm, lãi suất thực trong nước cao, biên độ giữa lãi suất tiền gửi và cho vay lớn Những biểu hiện này thường phản ánh tình trạng nguy hiểm và những tồn tại trong khu vực ngân hàng

Khu vực tài chính công

• Tín dụng Ngân hàng Trung

ương cho khu vực công/GDP

• Cân đối ngân sách/GDP

Kinh tế toàn cầu

• Giá dầu thế giới

• Tỷ giá thực của đồng đô la/

tế nội địa Giá dầu thế giới ở mức cao tạo

ra mối nguy hiểm đối với tài khoản vãng lai và cũng có thể dẫn đến suy thoái ở trong nước Lãi suất cao trên thị trường thế giới thường thúc đẩy luồng vốn ra Đối với nhiều nước Đông Á, sự mất giá của đồng Yên so với đồng đô la Mỹ có thể gây sức

ép cho các đồng tiền bản tệ khác

Nguồn: ADB, 2005, Early warning systems for financial crises: applications to East

Asia, Palgrave Macmillan

Trang 28

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 22

Ước lượng xác suất khủng hoảng

Theo phương pháp phi tham số

Nghiên cứu của Kaminsky và Reinhart (1999) đã đưa ra cách tiếp cận vấn đề này theo tín hiệu, hay chính là phương pháp phi tham số Giả thiết cơ bản của cách tiếp cận tín hiệu là nền kinh tế phản ứng khác nhau về sự kiện khủng hoảng tài chính nói chung và khủng hoảng ngân hàng nói riêng Một tín hiệu cảnh báo phát ra khi giá trị của các chỉ số vượt ra khỏi những diễn biến bình thường của nó Một chỉ

số đưa ra một tín hiệu và được gọi là tín hiệu tốt nếu khủng hoảng xảy ra sau đó trong một khoảng thời gian hợp lý Nếu sau một tín hiệu mà không có khủng hoảng trong một thời gian nhất định, nó được gọi là tín hiệu sai, hoặc “nhiễu”

Với cách tiếp cận theo tín hiệu, xác suất của một cuộc khủng hoảng được xác định bằng bình quân gia quyền của các chỉ số vượt quá mức ngưỡng tối ưu (tỷ trọng

là khả năng dự báo trong quá khứ của các chỉ số) Các giai đoạn của khả năng xảy

ra khủng hoảng cao là những giai đoạn mà nhiều chỉ số vượt qua mức ngưỡng tối

ưu Ví dụ, nếu 12 trong số 25 chỉ số phát tín hiệu tại một nước A, tức là các chỉ số này đã vượt đến mức ngưỡng, ngược lại 18 chỉ số phát tín hiệu cho nước B, chúng

ta có thể kết luận rằng nước B có nhiều khả năng xảy ra khủng hoảng hơn nước A (giả thiết rằng các chỉ số phát tín hiệu đối với nước B có mức tin cậy như nước A) Tương tự, nếu có nhiều chỉ số phát tín hiệu trong thời gian cuối năm 1995 so với cuối năm 1993 ở nước A thì chúng ta kết luận rằng năm 1995 là thời gian có khả năng xảy ra khủng hoảng cao hơn

Theo phương pháp tham số

Phương pháp này sử dụng các mô hình hồi quy tuyến tính, hoặc hồi quy với biến phụ thuộc là rời rạc Probit hoặc Logit

Phân tích hồi quy tuyến tính là một phương pháp phân tích quan hệ giữa biến phụ thuộc Y với một hay nhiều biến độc lập X Mô hình sử dụng hàm tuyến tính (bậc 1) Các tham số của mô hình (hay hàm số) được ước lượng từ dữ liệu Hồi quy tuyến tính được sử dụng rộng rãi trong thực tế do tính chất đơn giản hóa của hồi quy và cũng dễ ước lượng

Trang 29

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 23

Mô hình Probit được giả thiết rằng: Y sẽ nhận giá trị 1 hoặc 0 tùy thuộc vào

độ thỏa dụng I được xác định bởi các biến độc lập Độ thỏa dụng càng lớn thì xác suất để Y=1 càng lớn:

I = ß1+ ß2X2i (1) Giả sử rằng tồn tại một mức giới hạn I* để: Y=1 nếu I > I* và Y=0 nếu I < I* I* không quan sát được, ta giả thiết rằng I* = I + u hay:

Ii* = ß1+ ß2X2i+ ui

Giả sử rằng u có phân bố N(0,1) Khi đó ta có thể ước lượng được (1):

Pi = P(Y=1 | X2i) = P(Ii*< Ii ) = F(Ii) Trong đó, F là hàm phân bố xác suất tích lũy của u Vì ui phân bố chuẩn hóa nên:

Trong mô hình logit, giả định F(ß’xit ) là hàm phân phối dạng log và được ký hiệu là 'x it), theo đó:

)1

xt

e x

2.2.1.3 Ưu và nhược điểm của các phương pháp

Đối với việc xác định thời gian xảy ra khủng hoảng:

Phương pháp dựa trên sự kiện:

Rất dễ dàng tìm kiếm thông tin về sự can thiệp của Chính phủ và những thay đổi trong quy định của các ngân hàng, nhưng Kibritçioglu (2003) đã đánh giá phương pháp này có những hạn chế sau:

o Xác định thời điểm xảy ra khủng hoảng theo năm dễ nhưng lại khó khăn

1 2

2 2

Trang 30

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 24

đối với số liệu tháng

o Thời gian can thiệp của Chính phủ thường được dùng để xác định thời gian khủng hoảng, có thể không thực sự phản ánh đúng thực tế

o Nếu người ta chỉ dùng thông tin về sự can thiệp của Chính phủ thì khó nhận định khủng hoảng xảy ra có tính hệ thống

o Nhìn chung, dữ liệu sự kiện ít ảnh hưởng tới việc ước lượng xác suất (mô hình probit hay logit) Do đó, phương pháp này thường được sử dụng cho

cơ cấu đa quốc gia để tăng số lượng khủng hoảng được xem xét

o Đối với những nhà nghiên cứu cá nhân, không dễ dàng để tìm kiếm thông tin về những khó khăn của khu vực ngân hàng trên thế giới

Phương pháp dựa trên chỉ số

Phương pháp chỉ số cung cấp một công cụ để kiểm soát và giải thích sự phát triển ở lĩnh vực ngân hàng theo số liệu tháng Dựa trên các mức độ của các chỉ số, người ta có thể xác định các tiêu chí để phân biệt sự khác nhau giữa các cuộc khủng hoảng có tính hệ thống và không có tính hệ thống Ngoài ra, chỉ số BSF theo tháng còn có thể dễ dàng sử dụng để đưa ra cảnh báo khủng hoảng đối với từng quốc gia riêng lẻ Hạn chế của phương pháp này chủ yếu liên quan đến vấn đề số liệu Các số liệu tin cậy của khu vực ngân hàng không phải lúc nào cũng sẵn có Số liệu có được

có thể lại bị sai lệch do các vấn đề về báo cáo hay do những quy định cụ thể của mỗi quốc gia

Vì những ưu thế nổi trội của phương pháp chỉ số so với phương pháp sự kiện, phương pháp chỉ số thông qua việc xây dựng chỉ số BSF định lượng tính rủi ro của

hệ thống ngân hàng đã được tác giả lựa chọn để xác định các giai đoạn khủng hoảng

Đối với việc ước lượng xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng

Phương pháp phi tham số

Đưa ra cảnh báo khủng hoảng dựa trên việc phát tín hiệu cảnh báo của các chỉ

số vượt qua mức ngưỡng quy định Từ đó, mô hình cho phép kết luận những chỉ số tốt nhất để cảnh báo khủng hoảng đối với từng quốc gia trong từng giai đoạn Tuy

Trang 31

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Ngoài ra, trong kết quả thực nghiệm nghiên cứu của Kaminsky và Reinhart (1999), phương pháp tiếp cận theo tín hiệu đã không hoạt động tốt đối với cảnh báo khủng hoảng ngân hàng Trong số 5 nước được xác định là có khả năng bất ổn nhất, chỉ có 2 nước đã có khủng hoảng trong giai đoạn ngoài mẫu nghiên cứu Và trong 5 nước được xác định là có khả năng bất ổn thấp nhất thì không có nước nào thực sự

2.2.2 Các mô hình nghiên cứu gần đây

2.2.2.1 “Theo dõi hệ số rủi ro hệ thống ngân hàng BSF” của Aykut Kibritcioglu (2003)

Trong nghiên cứu của Kibritçioglu (2003), chỉ số BSF được xây dựng dựa trên rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và rủi ro tỷ giá Những rủi ro này được thể hiện trực tiếp qua những biến quan sát được Rủi ro thanh khoản được lượng hóa qua sự thay đổi trong tổng tiền gửi ngân hàng (đột biến rút tiền gửi và tiền mặt), rủi

ro tín dụng được đo lường bằng sự thay đổi trong tổng tín dụng ngân hàng đối với khu vực nội địa và rủi ro tỷ giá thể hiện qua sự thay đổi của nợ nước ngoài bằng

Trang 32

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 26

ngoại tệ của ngân hàng

Rủi ro tín dụng được xác định là rủi ro quan trọng nhất đối với hệ thống ngân

hàng Loại rủi ro này thể hiện qua sự gia tăng của những khoản mất mác tiềm ẩn đối với người cho vay từ những khoản nợ xấu, khi người đi vay không có khả năng trả nợ Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng cao, sự tăng trưởng tín dụng cao có thể xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của đầu tư thực, xuất khẩu và nhập khẩu, sự tăng trưởng của lao động và sự tăng lương, nhưng các yếu tố này đi kèm với sự gia tăng của những khoản nợ xấu Vì vậy, tỷ lệ những khoản nợ xấu đối với tổng tín dụng cho vay được xem như chỉ số hiệu quả để đo lường rủi ro tín dụng

Rủi ro thanh khoản được đo lường qua sự thay đổi của tổng tín dụng ngân

hàng Ngoài ra, một số chỉ số tài chính cũng có tác động đến rủi ro thanh khoản:

 Tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các định chế tài chính : sự thay đổi lớn trong tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với ngân hàng thương mại và các định chế tài chính thường đi kèm với những vấn đề thanh khoản trong khu vực tài chính

 Lượng tiền gửi trong lượng cung tiền: những khoản cho vay giảm trong lượng cung tiền M2 của hệ thống ngân hàng có thể xuất phát từ vấn đề về tính thanh khoản trong khu vực này (hoặc sự sụt giảm niềm tin từ khu vực tư nhân, khách hàng chuyển sang những định chế phi ngân hàng để vay tiền)

 Các chỉ số giữa tài khoản cho vay và tài khoản tiền gửi: chỉ số tín dụng/ tiền gửi có thể là dấu hiệu cho thấy khả năng huy động tiền gửi để đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng

 Cấu trúc kì hạn của tài sản và nợ phải trả của các định chế tài chính : việc quan sát cấu trúc kì hạn trong danh mục tài sản cho vay và nợ phải trả có thể nhận thấy sự không tương ứng giữa kì hạn cho vay và kì hạn trả nợ, do đó cần thiết phải quan tâm hơn đến vấn đề quản lý thanh khoản

 Tính thanh khoản của thị trường thứ cấp là thị trường mà ngân hàng rất ưa chuộng khi có nhu cầu về tính thanh khoản, do đó thị trường này rất quan trọng trong đánh giá việc ngân hàng xử lý thế nào đối với những cú sốc về thanh khoản

Trang 33

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 27

Ngoài ra, chỉ số đo lường sự rút tiền gửi đột ngột cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá khủng hoảng ngân hàng

Rủi ro về tỷ giá được đo lường bằng sự thay đổi trong tài khoản nợ nước

ngoài bằng ngoại tệ của ngân hàng Điều này là bình thường khi ngân hàng có nợ cao đối với ngoại tệ xuất phát từ việc vay trên thị trường tài chính quốc tế Tình huống này có thể dẫn tới sự giảm giá của đồng nội tệ, từ đó sẽ sụt giảm giá trị tài sản ròng của ngân hàng

Cấu trúc của chỉ số BSF

Từ những phân tích trên, chỉ số đo lường rủi ro hệ thống ngân hàng theo quan

điểm của Aykut Kibritcioglu được tính toán dựa trên 3 yếu tố sau:

 Sự thay đổi trong tiền gửi ngân hàng, là đại diện cho sự thay đổi trong rủi ro tính thanh khoản

 Sự thay đổi trong tín dụng đối với khu vực tư nhân, là đại diện cho sự thay đổi trong rủi ro tín dụng

 Sự thay đổi trong nợ nước ngoài của ngân hàng, là đại diện cho sự thay đổi trong rủi ro tỷ giá

Công thức tính chỉ số rủi ro hệ thống ngân hàng như sau:

( t- t )

t

t

LFL LFL FL

Trang 34

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Trang 28

Giải thích biến:

 CPS: thay đổi tín dụng khu vực tư nhân nội địa theo năm trong hệ thống ngân hàng

 FL: thay đổi nợ nước ngoài thực theo năm của ngân hàng (%)

 DEP: thay đổi tổng tiền gửi thực theo năm của ngân hàng (%)

 µ: giá trị số học trung bình của mỗi biến trên

  : độ lệch tiêu chuẩn của mỗi biến trên

Một chỉ số dự báo thường có tính xu hướng hoặc tính thời vụ Để đảm bảo rằng các chỉ số dự báo có sự ổn định và không bị ảnh hưởng, phương pháp này điều chỉnh các chỉ số bằng việc tính toán tỷ lệ phần trăm thay đổi số liệu theo tháng phù hợp với giá trị của chỉ số đó vào cùng thời điểm năm trước đó Từ đó, giảm được sai lệch của các biến dự báo so với việc xem xét sự thay đổi theo tháng đơn thuần

Phương pháp chọn biến và cách tính toán chỉ số BSF

Trong nghiên cứu của Aykut Kibritcioglu chỉ tính đến 3 rủi ro mà ngân hàng thường gặp phải nhất Tuy nhiên, tính rủi ro của hệ thống ngân hàng có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác Một trong những yếu tố đó chính là tình trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng, thường được thể hiện qua mức an toàn vốn tối thiểu và lợi nhuận hay thu nhập ròng của ngân hàng Thu nhập giảm sút và những vấn đề nảy sinh trong việc duy trì mức an toàn vốn có thể là dấu hiệu cho điều kiện tài chính rủi ro của ngân hàng Những dấu hiệu này phản ánh rủi ro lãi suất trong hệ thống ngân hàng

Cần lưu ý một số điểm sau:

 Việc xác định rủi ro tín dụng: sự tăng trưởng tín dụng không phải luôn đồng nghĩa với việc tăng các khoản nợ xấu

 Xác suất sai số tiềm ẩn: các chỉ số thể hiện phần trăm thay đổi theo năm trong những biến quan sát, nhưng chỉ số BSF được tính dựa trên sự thay đổi theo tháng của số liệu Trong một số trường hợp, sự thay đổi đột ngột của bất kì biến nào trong vòng 01 tháng sẽ có ảnh hưởng đến việc tính toán 12 giá trị BSF khác

Trang 35

HVTH: Nguyễn Hữu Đăng Quang

Xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại các nước Đông Nam Á

Nghiên cứu của Aykut Kibritcioglu đưa ra các mức ngưỡng đánh giá mức độ

rủi ro của hệ thống ngân hàng như sau:

 0 > BSF-3 > - 0, 5: Hệ thống ngân hàng trong mức độ rủi ro hệ thống ở mức trung bình

 BSF-3 < -0, 5: Hệ thống ngân hàng trong giai đoạn mức độ rủi ro của hệ thống

ở mức cao Đồng thời, tác giả phân chia sự biến đổi của chỉ số BSF thành 5 giai đoạn:

Hình 1: Các giai đoạn của chỉ số mức độ rủi ro của hệ thống ngân hàng

Nguồn: Kibritçioglu (2003) Giai đoạn 1: Chỉ số BSF tăng lớn hơn 0 một cách đáng kể Chỉ số BSF tăng là

dấu hiệu cho thấy mức độ rủi ro hiện tại của hệ thống ngân hàng thấp Nhưng khi giá trị BSF tăng cao sẽ báo hiệu rằng hệ thống ngân hàng đang chứa đựng rủi ro quá mức Đó có thể là dấu hiệu tồn tại của nền kinh tế bong bóng và tăng trưởng quá nóng

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w