1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002 2012

64 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam giai đoạn 2002 - 2012
Tác giả Nguyễn Ngọc Anh Trúc
Người hướng dẫn TS. Lê Hồ Phong Linh
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (8)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (8)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (9)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (9)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (10)
    • 1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu (10)
    • 1.6 Ý nghĩa và hạn chế nghiên cứu (10)
    • 1.7 Kết cấu luận văn (11)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN (11)
    • 2.1 Cơ sở lý luận về bất bình đẳng (13)
      • 2.1.1 Khái niệm (13)
      • 2.1.2 Đo lường (13)
    • 2.2 Cơ sở lý luận về tổng sản phẩm trong nước và tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người (15)
      • 2.2.1 Khái niệm (15)
      • 2.2.3 Đo lường (16)
    • 2.3 Lý thuyết về tăng trưởng (16)
    • 2.4 Các lý thuyết về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng (17)
    • 2.5 Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm (20)
  • CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (11)
    • 3.2 Mô hình nghiên cứu (31)
    • 3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu (35)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (11)
    • 4.1 Xu hướng bất bình đẳng và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012 (37)
    • 4.2 Kết quả phân tích hồi quy (44)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH (12)
    • 5.1 Kết luận (55)
    • 5.2 Gợi ý chính sách (55)
  • KẾT LUẬN (24)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (60)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Lý do chọn đề tài

Hiện có nhiều quan điểm về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế Quan điểm phổ biến nhất cho rằng bất bình đẳng gia tăng trong giai đoạn đầu của phát triển, sau đó ổn định và giảm khi thu nhập tăng lên, theo nghiên cứu của Kuznets (1955) Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng sự gia tăng tích lũy tài sản giúp người giàu có khả năng đầu tư, từ đó tạo ra tỷ lệ đầu tư cao và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Mặc dù quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm với bất bình đẳng không hoàn toàn chính xác, thực tế cho thấy một số quốc gia có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao mà vẫn duy trì mức độ bất bình đẳng thấp (Deininger và Squire, 1996) Ngược lại, có những quốc gia với mức tăng trưởng thấp nhưng lại chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của bất bình đẳng Theo Todaro và Smith (2012), bất bình đẳng cao không chỉ giảm hiệu quả kinh tế mà còn làm gia tăng bất ổn xã hội.

Mối quan hệ giữa tăng trưởng thu nhập và bất bình đẳng xã hội là một chủ đề gây tranh cãi, với nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào quốc gia và thời kỳ lịch sử Tại Việt Nam, giai đoạn 2002 - 2012 chứng kiến sự biến đổi trong tương quan này, phản ánh sự phát triển kinh tế và những thách thức về công bằng xã hội Việc phân tích mối quan hệ này giúp hiểu rõ hơn về tác động của tăng trưởng thu nhập đến bất bình đẳng trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam.

Theo Ngân hàng Thế giới, tình trạng phân hóa giàu nghèo tại Việt Nam đang gia tăng từ mức tương đối bình đẳng năm 2002 sang mức chênh lệch trung bình, do khoảng cách thu nhập giữa các nhóm dân cư ngày càng tăng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng nhận định rằng sự chênh lệch thu nhập giữa các nhóm lao động ngày càng rõ nét, đặc biệt là ở các thành phố lớn.

Hệ số Gini cho thấy mức độ bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam đang ở mức vừa phải, nhưng tình hình đang có xu hướng xấu đi Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, bất bình đẳng có thể gia tăng đến mức báo động trong thời gian tới.

Nghiên cứu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa Bài viết này nhằm tìm hiểu cách định lượng mối quan hệ này, xem xét sự đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng thu nhập và giảm bất bình đẳng, cũng như tác động của bất bình đẳng thu nhập đến thu nhập bình quân đầu người Mục tiêu là tìm ra cách dung hòa hai yếu tố này Do đó, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012”.

Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập, chi tiêu và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012

- Kiểm định và phân tích tác động của bất bình đẳng trong thu nhập, chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam

- Cung cấp thêm thông tin về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam

Để hạn chế tác động tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập và chi tiêu trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam, cần đề xuất một số khuyến nghị như tăng cường chính sách phân phối thu nhập công bằng, đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề, cũng như phát triển hệ thống an sinh xã hội Những biện pháp này sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Câu hỏi nghiên cứu

- Xu hướng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012 như thế nào?

- Bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012 có đặc điểm gì?

- Bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu tác động như thế nào đến thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Bài viết tập trung vào nghiên cứu bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu tại các tỉnh thành của Việt Nam, phân tích thu nhập bình quân đầu người và mối quan hệ giữa các yếu tố này.

Nghiên cứu này tập trung vào tác động của bất bình đẳng thu nhập và chi tiêu đối với thu nhập bình quân đầu người tại 63 tỉnh/thành phố ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2012.

Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Trong chương 3 tác giả sẽ trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu Ở đây, phương pháp nghiên cứu được tóm tắt như sau:

Dữ liệu từ Niên giám Thống kê và Khảo sát Mức sống Hộ gia đình sẽ được thu thập, kiểm tra và tổng hợp để mô tả và đánh giá sơ bộ các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn 2002 - 2012.

Phương pháp hồi quy sử dụng dữ liệu bảng để phân tích thông qua ba mô hình chính: Kết hợp tất cả các quan sát (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).

- Phần mềm được sử dụng để hồi quy và kiểm định các hệ số ước lượng là Stata phiên bản

Ý nghĩa và hạn chế nghiên cứu

Bất bình đẳng trong chi tiêu ảnh hưởng đến mức sống và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam, nhưng nghiên cứu về tác động này còn hạn chế Việc lượng hóa tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu từ năm 2002 đến 2012 sẽ giúp hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa chúng Nghiên cứu này cũng cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách nhằm xây dựng các chính sách hợp lý, đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội.

Hạn chế của VHLSS là bộ dữ liệu duy nhất hiện nay cho phép tính toán bất bình đẳng theo thu nhập và chi tiêu hộ gia đình từ năm 2002 đến 2012, nhưng quy mô mẫu không đại diện cho các tỉnh thành Ngoài ra, một số yếu tố quan trọng như vốn đầu tư và lạm phát cũng ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người nhưng không được đưa vào mô hình, có thể làm giảm mức độ chính xác của kết quả.

Kết cấu luận văn

Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi trình bày lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu và đặt ra câu hỏi nghiên cứu rõ ràng Phương pháp nghiên cứu được áp dụng sẽ được mô tả chi tiết, cùng với đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể Bài viết cũng sẽ nêu rõ ý nghĩa của nghiên cứu, những hạn chế có thể gặp phải trong quá trình thực hiện, và kết cấu tổng quan của bài nghiên cứu để người đọc dễ dàng theo dõi.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Cơ sở lý luận về bất bình đẳng

Phân phối là yếu tố then chốt trong xã hội, liên quan mật thiết đến tiêu dùng và quá trình tái sản xuất, góp phần đảm bảo sự tồn tại của nhân loại.

Bất bình đẳng thu nhập hay chi tiêu là hiện tượng phân phối không đồng đều giữa các cá nhân hoặc hộ gia đình trong nền kinh tế.

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007), về mặt công bằng xã hội, bất bình đẳng có thể được xem như là một dạng của nghèo trên phương diện phân phối

2.1.2 Đo lường a Hệ số Gini

Hệ số Gini được xác định thông qua đường cong Lorenz, được hình thành từ hai yếu tố chính: tỷ lệ thu nhập hoặc chi tiêu của dân cư cộng dồn và tỷ lệ dân số tương ứng cộng dồn.

Hệ số Gini là giá trị của diện tích A (được tạo bởi đường cong Lorenz và đường thẳng

45 0 từ gốc tọa độ) chia cho diện tính A+B (là diện tích tam giác vuông nằm dưới đường

Phần trăm thu nhập/ chi tiêu cộng dồn

A Đường bình đẳng tuyệt đối Đường cong Lorenz

Đường cong Lorenz thể hiện sự phân phối thu nhập trong xã hội, với trục hoành là phần trăm dân số và trục tung là phần trăm thu nhập Khi đường cong Lorenz trùng với đường thẳng 45 độ, hệ số Gini bằng 0, cho thấy sự bình đẳng tuyệt đối trong phân phối thu nhập, tức là mọi người dân có thu nhập như nhau Ngược lại, khi đường cong Lorenz nằm trên trục hoành, hệ số Gini đạt giá trị 1, phản ánh sự bất bình đẳng tuyệt đối, khi một cá nhân chiếm toàn bộ thu nhập của xã hội.

Hệ số Gini (G) được tính theo công thức sau:

Fi – là phần trăm dân số cộng dồn đến người thứ i (nhóm thứ i);

Yi – là phần trăm thu nhập/chi tiêu cộng dồn đến người thứ i (nhóm thứ i)

Hệ số Gini càng gần 1 thì mức độ bất bình đẳng về thu nhập trong dân cư càng cao Chúng ta cũng có thể áp dụng công thức này để tính hệ số Gini dựa trên chi tiêu Chênh lệch thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người giữa nhóm hộ có thu nhập hoặc chi tiêu cao nhất và nhóm hộ có thu nhập hoặc chi tiêu thấp nhất được xác định bằng số lần chênh lệch giữa thu nhập hoặc chi tiêu bình quân của nhóm hộ cao nhất so với nhóm hộ thấp nhất trong một tháng hoặc một năm.

1 Áp dụng tương tự cho việc tính toán chênh lệch trong mức chi tiêu giữa hai nhóm hộ

Chênh lệch thu nhập giữa nhóm hộ có thu nhập cao nhất so với nhóm hộ có thu nhập thấp nhất (lần)

Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng của nhóm hộ có thu nhập cao nhất

Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng của nhóm hộ có thu nhập thấp nhất

Các nhóm thu nhập và chi tiêu được hình thành bằng cách phân loại các hộ gia đình dựa trên mức thu nhập bình quân hoặc chi tiêu bình quân đầu người hàng tháng, từ thấp đến cao Sau đó, các hộ này được chia thành các nhóm có số lượng hộ tương đương, thường là 5 nhóm, mỗi nhóm đại diện cho 20% tổng số hộ.

• Nhóm 1: Nhóm thu nhập/chi tiêu thấp nhất (nhóm nghèo nhất);

• Nhóm 2: Nhóm thu nhập/chi tiêu dưới trung bình;

• Nhóm 3: Nhóm thu nhập/chi tiêu trung bình;

• Nhóm 4: Nhóm thu nhập/chi tiêu khá;

• Nhóm 5: Nhóm thu nhập/chi tiêu cao nhất (nhóm giàu nhất)

Các hộ có thể được phân chia thành nhiều nhóm nhỏ hơn, chẳng hạn như 10 nhóm (mỗi nhóm chiếm 10% tổng số hộ), 20 nhóm (mỗi nhóm chiếm 5% tổng số hộ), 50 nhóm (mỗi nhóm chiếm 2% tổng số hộ) và 100 nhóm (mỗi nhóm chiếm 1% tổng số hộ).

Ngoài chỉ số Gini, có nhiều thước đo khác để đánh giá bất bình đẳng thu nhập, bao gồm chỉ số Theil (Atkinson), HHI, tiêu chuẩn “40%” của World Bank, và hệ số biến thiên trong phân phối thu nhập/chi tiêu Những chỉ số này cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phân bổ thu nhập trong xã hội.

Cơ sở lý luận về tổng sản phẩm trong nước và tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp thể hiện giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm GDP được tính toán dựa trên giá thực tế và giá so sánh.

Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế là công cụ quan trọng để nghiên cứu cơ cấu kinh tế và tỷ lệ giữa các ngành sản xuất, đồng thời giúp phân tích mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và nguồn lực huy động vào ngân sách.

Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh, đã loại trừ biến động giá, được sử dụng để tính toán tốc độ tăng trưởng kinh tế và nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất qua các năm.

Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người là chỉ tiêu kinh tế quan trọng, phản ánh mức sống của dân cư Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ giữa tổng sản phẩm trong nước và tổng dân số trung bình trong năm Tổng sản phẩm bình quân đầu người có thể được tính theo nhiều cách, bao gồm giá thực tế, giá so sánh, và có thể sử dụng cả nội tệ lẫn ngoại tệ.

GDP bình quân đầu người còn là chỉ tiêu được dùng để đánh giá sự phát triển kinh tế theo thời gian và so sánh quốc tế

Tốc độ tăng sản lượng hàng năm và tốc độ tăng sản lượng bình quân đầu người là những chỉ số quan trọng để đo lường tốc độ tăng trưởng thu nhập Các chỉ tiêu này được tính toán dựa trên công thức cụ thể, giúp đánh giá hiệu quả kinh tế và sự phát triển của một quốc gia.

Tốc độ tăng trưởng trong thời kỳ t, ký hiệu là gx, có thể được tính dựa trên các chỉ tiêu kinh tế như GDP thực, GNP thực, GDP thực tế bình quân đầu người hoặc GNP thực tế bình quân đầu người.

Lý thuyết về tăng trưởng

Mankiw, Romer và Weil (1992) đã phát triển mô hình “Solow tăng cường”, nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục và kỹ năng trong sự phát triển kinh tế Họ chỉ ra rằng sự chênh lệch về thu nhập giữa các quốc gia chủ yếu xuất phát từ việc các nước nghèo đầu tư không đủ vào giáo dục và phát triển kỹ năng cho người dân.

Schultz (1961) và Becker (1962) đã chỉ ra tầm quan trọng của đầu tư vào giáo dục và vốn con người trong sự phát triển kinh tế Schultz nhấn mạnh rằng các nước giàu có lợi suất cao hơn từ vốn con người so với các nước nghèo, và việc gia tăng vốn nhân lực sẽ nâng cao năng suất, từ đó dẫn đến thu nhập cao hơn Ông kết luận rằng đầu tư vào chất lượng dân cư có thể cải thiện đáng kể triển vọng kinh tế và phúc lợi cho người nghèo Tương tự, Becker (1962) cũng khẳng định vai trò của đầu tư giáo dục và đào tạo để đạt được lợi ích lâu dài.

Mô hình tăng trưởng nội sinh của Lucas (1988) nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn con người, được hình thành qua học tập và kinh nghiệm, trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các quốc gia giàu có nguồn nhân lực dồi dào sẽ có năng suất cao hơn và mức lương tốt hơn so với các nước nghèo Điều này khiến cho những lao động có năng lực ở các nước nghèo có xu hướng di cư sang các quốc gia phát triển để cải thiện chất lượng cuộc sống Do đó, có thể thấy mối quan hệ tích cực giữa vốn con người và thu nhập: mức sống cao góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng tốt hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngược lại, thu nhập cao cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao mức sống của người dân.

Các lý thuyết về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng

Theo lý thuyết của Theo Kuznets (1955), bất bình đẳng trong một quốc gia sẽ gia tăng trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, nhưng sẽ giảm dần khi quốc gia đó đạt được một mức độ phát triển nhất định Luận điểm này được minh họa qua hình dạng chữ U ngược.

Hình 2.2: Đường cong Kuznets dưới dạng chữ U ngược

Nguồn: Nguyễn Trọng Hoài, 2007 cho rằng bất bình đẳng gia tăng trong giai đoạn đầu phát triển, sau đó ổn định và giảm dần khi thu nhập tăng Ông giải thích rằng sự gia tăng bất bình đẳng xảy ra khi một quốc gia chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, nơi mà thu nhập được phân chia không đồng đều.

Bất bình đẳng thu nhập

Thu nhập phối tương đối đồng đều, nhưng khi có tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa thì bất bình đẳng tăng lên

Giả thuyết Kuznets đã được hỗ trợ trong nhiều trường hợp khi so sánh các quốc gia có mức độ phát triển khác nhau, nhưng lại không rõ ràng khi áp dụng cho từng quốc gia riêng lẻ Tuy nhiên, giả thuyết này gợi ý rằng sự gia tăng bất bình đẳng trong quá trình phát triển là điều khó tránh khỏi, điều này đáng để các quốc gia tham khảo.

Luận điểm của Kuznets được củng cố bởi mô hình thặng dư lao động của Lewis, trong đó bất bình đẳng không chỉ là kết quả của tăng trưởng mà còn là nguyên nhân thúc đẩy tăng trưởng Lewis (1954) cho rằng lao động dư thừa trong nông nghiệp được thu hút vào công nghiệp với mức lương tối thiểu, tạo điều kiện cho nhà tư bản tích lũy và tái đầu tư Sự tái đầu tư này mở rộng quy mô sản xuất và gia tăng giá trị thặng dư, dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và bất bình đẳng gia tăng giữa hai khu vực Khi lao động trong nông nghiệp bị thu hút vào công nghiệp và trở nên khan hiếm, tiền công tăng lên trong khi lợi nhuận của nhà tư bản giảm Để giảm thiểu bất lợi cho cả hai khu vực, cần có đầu tư lại cho nông nghiệp, từ đó tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng thu nhập và giảm bất bình đẳng.

Theo Alesina và Rodrik (1994), Persson và Tabellini (1994), bất bình đẳng thu nhập có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế do áp lực phân phối lại tài sản Trong các xã hội dân chủ, mức thuế do nhóm trung lưu quyết định, với thuế thường tỷ lệ thuận với thu nhập Người giàu mong muốn mức thuế thấp để giảm đóng góp cho chi tiêu công, trong khi người nghèo lại ủng hộ mức thuế cao hơn để hưởng lợi nhiều hơn từ các dịch vụ công Do đó, lợi ích mà người nghèo nhận được thường lớn hơn so với người giàu Chính phủ thường đưa ra chính sách dựa trên nguyên tắc đa số, và nhóm cử tri chiếm đa số thường không phải là những người giàu có Hệ quả là bất bình đẳng tạo ra áp lực tăng thuế, dẫn đến các chính sách có thể làm chậm lại tốc độ tăng trưởng Khi thu nhập được phân phối đồng đều hơn, sẽ có nhiều người ủng hộ việc giảm thuế.

Theo quan điểm của Alesina và Rodrik (1994), Todaro (1994) cũng cho rằng bất bình đẳng gây hại cho nền kinh tế, nhưng với lý giải khác Ông chỉ ra rằng những người nghèo có thu nhập thấp thường thiếu điều kiện chăm sóc sức khỏe và tiếp cận giáo dục, dẫn đến năng suất lao động giảm và cơ hội việc làm hạn chế Sự suy giảm về lực lượng lao động và chất lượng lao động trong nền kinh tế sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tổng thu nhập xã hội.

Theo Mankiw (2004), việc đạt được công bằng xã hội thông qua phân phối thu nhập bình đẳng có thể xung đột với mục tiêu tăng trưởng kinh tế Để thực hiện điều này, chính phủ cần áp dụng các chính sách tái phân phối thu nhập như thuế thu nhập lũy tiến và chương trình phúc lợi, khiến người giàu phải đóng góp nhiều hơn cho ngân sách nhà nước, trong khi người nghèo nhận trợ cấp Tuy nhiên, điều này có thể làm giảm động lực lao động, dẫn đến tổn thất cho xã hội Nếu chính phủ đánh thuế cao lên thu nhập tăng thêm của cá nhân để trợ cấp, cả người giàu và người nghèo đều có thể mất động lực làm việc, dẫn đến giảm tổng thu nhập xã hội và thu nhập bình quân đầu người.

Perotti (1996) chỉ ra rằng bất bình đẳng thu nhập ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua quyết định giáo dục và sinh sản của các hộ gia đình Các gia đình nghèo thường ưu tiên đầu tư vào quy mô hộ gia đình thay vì giáo dục, dẫn đến việc tăng trưởng thu nhập chủ yếu dựa vào chất lượng nguồn nhân lực thay vì số lượng lao động Kết quả là, trong một xã hội nơi các gia đình nghèo tập trung vào số lượng hơn chất lượng, mức độ bất bình đẳng sẽ gia tăng, và bùng nổ dân số có thể làm giảm thu nhập bình quân đầu người.

Deininger và Squire (1996) không tìm thấy bằng chứng cho mối quan hệ "chữ U ngược" giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập khi phân tích từng quốc gia, cho thấy rằng tăng trưởng không làm gia tăng bất bình đẳng ngay cả ở giai đoạn đầu phát triển của các nước nghèo Tương tự, Barro và Sala-i-Martin (1999) chỉ ra rằng bất bình đẳng gia tăng chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng của các quốc gia nghèo có GDP bình quân đầu người dưới 2.000 đô la Mỹ, trong khi ở các nước có GDP cao hơn mức này, mối quan hệ trở nên phức tạp và không rõ ràng.

Có nhiều quan niệm khác nhau về tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng Mặc dù còn nhiều tranh cãi, hầu hết các nhà kinh tế học đồng ý rằng mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng không giống nhau ở các quốc gia khác nhau Ở một mức độ nhất định, bất bình đẳng có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng khi bất bình đẳng trở nên cao, nó sẽ gây ra tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế.

DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên lý thuyết chữ U ngược của Kuznets (1955), bài viết phân tích tác động của bất bình đẳng đến thu nhập thông qua đường cong hình chữ U ngược Tác giả áp dụng hệ số Gini và Gini bình phương để đo lường mức độ bất bình đẳng, đồng thời khảo sát sự tồn tại của tác động phi tuyến giữa bất bình đẳng và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người.

Nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng ở Việt Nam, như của Lê Quốc Hội (2008), Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thanh Nghị (2012), và Hoàng Thủy Yến (2015), chủ yếu tập trung vào bất bình đẳng thu nhập Trong khi Lê Quốc Hội (2008) sử dụng hệ số Gini theo chi tiêu cho giai đoạn 1996 - 2004, các nghiên cứu khác chỉ xem xét thu nhập Theo Ngân hàng Thế giới (WB), số liệu chi tiêu phản ánh mức sống chính xác hơn Do đó, bài viết này đề xuất mô hình nghiên cứu kết hợp hệ số Gini tính theo cả thu nhập và chi tiêu để phân tích tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam.

Và kế thừa nghiên cứu của Lê Quốc Hội (2008) trong bài nghiên cứu Mối quan hệ giữa tăng trưởng, nghèo đói và bất bình đẳng ở Việt Nam:

GROWTH đề cập đến tỷ lệ tăng trưởng GDP, INEQ là hệ số Gini chi tiêu, POV thể hiện tỷ lệ hộ nghèo, và X bao gồm số năm học trung bình của dân số trưởng thành, GDP bình quân đầu người, cùng với tỷ lệ đầu tư trung bình trên GDP.

Căn cứ vào cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước và tính sẵn có của dữ liệu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu sau:

LnGDPpc = f(G, EDU, POV, LAB, URB)

Mô hình 1: Mô hình sử dụng hệ số Gini tính theo thu nhập

LnGDPpc it = β 1 + β 2 G_inc it + β 3 G_inc 2 it + β 4 EDU it + β 5 POV it + β 6 LAB it + β 7 URB it + à

Mô hình 2: Mô hình sử dụng hệ số Gini tính theo chi tiêu

LnGDPpc it = β 1 + β 2 G_exp it + β 3 G_exp 2 it + β 4 EDU it + β 5 POV it + β 6 LAB it + β 7 URB it + à

Trong nghiên cứu này, các biến số được sử dụng bao gồm i đại diện cho các tỉnh/thành phố, t là thời gian, LnGDPpc thể hiện tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người Các biến G_inc và G_exp phản ánh mức độ bất bình đẳng theo thu nhập và chi tiêu, trong khi G_inc 2 và G_exp 2 được sử dụng để xem xét mối quan hệ phi tuyến giữa bất bình đẳng và tăng trưởng Biến EDU đại diện cho tỷ lệ giáo dục, POV là tỷ lệ hộ nghèo, LAB thể hiện tỷ lệ lao động, và URB đại diện cho tỷ lệ đô thị hóa Cuối cùng, à là sai số trong mô hình.

Dựa trên các lý thuyết kinh tế và kết quả các nghiên cứu trước, tác giả đặt giả thuyết cho các biến độc lập trong mô hình như sau:

Bảng 3.6: Mô tả biến, cơ sở chọn biến và dấu kỳ vọng

Biến Mô tả biến Cơ sở chọn biến

Tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người

Giá trị Logarit Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người của tỉnh i tại thời điểm t

Hệ số Gini theo Thu nhập của tỉnh i tại thời điểm t

Hệ số Gini theo chi tiêu của tỉnh i tại thời điểm t

Ortega-Díaz (2003); Phạm Ngọc Toàn &

+ Tại một mức độ bất bình đẳng nhất định, bất bình đẳng càng tăng tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người càng tăng

Bất bình đẳng bình phương

Bình phương hệ số Gini theo thu nhập của tỉnh i tại thời điểm t

Bình phương hệ số Gini theo chi tiêu của tỉnh i tại thời điểm t

- Tại một mức độ bất bình đẳng nhất định, bất bình đẳng càng tăng tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người càng giảm

Số năm đi học trung bình của các thành viên hộ từ 15 tuổi trở lên

+ Trình độ học vấn càng cao tăng trưởng thu nhập càng cao

Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh i tại thời điểm t

Pede & Cộng sự (2012), Lê Quốc Hội

Tỷ lệ hộ nghèo càng tăng tăng trưởng thu nhập càng giảm

Tỷ lệ lực lượng lao động trên tổng dân số của tỉnh i tại thời điểm t

+ Lực lượng lao động góp phần làm tăng thu nhập nền kinh tế Đô thị hóa

Mức độ đô thị hóa của tỉnh i tại thời điểm t

Đô thị hóa đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng thu nhập Để phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa nghiên cứu này và các nghiên cứu trước đó, tác giả đã tổng hợp một bảng so sánh.

Bảng 3.7: So sánh nghiên cứu của tác giả với các nghiên cứu trước có liên quan

Giai đoạn Tăng trưởng thu nhập

Bất bình đẳng thu nhập

Lao động Đô thị hóa

Nghiên cứu của tác giả

Logarit GDP bình quân đầu người

Hệ số Gini tính theo thu nhập; Hệ số Gini tính theo chi tiêu

Số năm đi học trung bình của các thành viên hộ từ 15 tuổi trở lên

Tỷ lệ lực lượng lao động

15 tuổi trở lên trên tổng dân số

Mức độ đô thị hóa

Tỷ lệ hộ nghèo tính theo thu nhập

GDP bình quân đầu người

Hệ số Gini tính theo thu nhập

Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục

Tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP

Hệ số Gini tính theo thu nhập

Tỷ lệ tốt nghiệp trung học và cao đẳng

Mức độ đô thị hóa

Tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP

Hệ số Gini tính theo chi tiêu;

Khoảng cách thu nhập của nhóm dân cư nghèo nhất và giàu nhất

Số năm đi học trung bình của dân số trưởng thành

Tỷ lệ hộ nghèo tính theo chi tiêu

Hệ số Gini tính theo thu

(2012) nhập chỉ số giáo dục (tỷ lệ lao động qua đào tạo) tuổi lao động

Hệ số Gini tính theo thu nhập;

Khoảng cách thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất;

Logarit Lực lượng lao động

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Xu hướng bất bình đẳng và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012

Biểu đồ 4.1: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người, thu nhập và chi tiêu bình quân nhân khẩu một tháng trong giai đoạn 2002 - 2012

Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu TCTK Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS năm

Tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người tương đối khá:

Theo TCTK, giai đoạn 2002 – 2010, kinh tế Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng ổn định, giúp đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển và gia nhập nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình.

Tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm (tính theo giá 1994) trong cả giai đoạn

Từ năm 2002 đến 2012, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,81% Trong giai đoạn 2002-2007, GDP liên tục tăng, với mức tăng cao nhất vào năm 2006 đạt 11% và năm 2007 là 12,09% Tuy nhiên, vào năm 2008 và 2009, tăng trưởng GDP bình quân đầu người giảm mạnh do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, với tốc độ tăng GDP năm 2008 chỉ còn 11,92%.

Sự suy giảm tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người bắt đầu từ cuối năm 2011 và tiếp tục giảm mạnh trong năm 2012 do những khó khăn nội tại như nợ xấu gia tăng, hàng tồn kho lớn và thị trường bất động sản đình trệ.

Kinh tế Việt Nam đã liên tục tăng trưởng, đồng thời triển khai thành công Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo, dẫn đến sự cải thiện rõ rệt trong đời sống dân cư Theo kết quả VHLSS, thu nhập bình quân nhân khẩu hàng tháng đã tăng từ 356,1 nghìn đồng năm 2002 lên 1.999,8 nghìn đồng năm 2012, cho thấy sự phát triển tích cực trong điều kiện sống của người dân.

1 tháng vào các năm tương ứng cũng tăng từ 294 nghìn đồng lên 397 nghìn đồng; 511 nghìn đồng; 792 nghìn đồng; 1.211 nghìn đồng và 1.603 nghìn đồng

Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng và đạt được thành tựu trong việc giảm nghèo, tuy nhiên, bất bình đẳng thu nhập đang gia tăng Điều này thể hiện qua sự chênh lệch thu nhập bình quân giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất, cùng với sự tăng lên của hệ số Gini Cụ thể, theo kết quả từ KSMSDC, hệ số Gini đã tăng từ 42% vào năm 2002 lên 43,3% vào năm 2010, sau đó giảm nhẹ xuống còn 42,4%.

Nguồn: Kết quả VHLSS năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012

Bất bình đẳng trong thu nhập giai đoạn 2002 - 2012

Gini tính theo thu nhập

Bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam gia tăng, thể hiện qua chênh lệch giữa 20% dân số có thu nhập cao nhất và 20% có thu nhập thấp nhất Số liệu cho thấy, tỷ lệ này đã tăng từ 8,1 lần vào năm 2002 (8.729 ngàn đồng/tháng so với 1.077 ngàn đồng/tháng) lên 9,4 lần vào năm 2012 (47.845 ngàn đồng/tháng so với 5.116 ngàn đồng/tháng) Đây là vấn đề đáng lo ngại cho toàn xã hội, bởi vì sự phân hóa giàu nghèo liên quan chặt chẽ đến phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội.

Tốc độ tăng thu nhập bình quân của nhóm 5 (18,55%) cao hơn nhóm 1 (16,86%), cho thấy sự phát triển không đồng đều về thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất, dẫn đến khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng Tình trạng phân hóa giàu nghèo tại Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng, với người giàu ngày càng giàu thêm trong khi người nghèo lại ngày càng nghèo đi (Nguyễn Văn Phúc, Lê Hồ Phong Linh, 2014).

Nguồn: Tính toán của tác giả từ VHLSS và NGTK

Sự chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa nhóm giàu và nhóm nghèo đang gia tăng ở nhiều địa phương trên cả nước Dữ liệu thống kê cho thấy bất bình đẳng thu nhập tăng lên trong hầu hết 8 vùng từ năm 2002 đến 2012, đặc biệt là ở các vùng khó khăn Ngược lại, những vùng có cơ sở hạ tầng và điều kiện kinh tế - xã hội tốt hơn lại có xu hướng tăng chậm hơn hoặc thậm chí giảm.

Biểu đồ 4.3: Thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng

Mức chênh lệch tăng nhanh hơn tại các vùng Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ so với Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Đặc biệt, chênh lệch tại Đông Nam Bộ đã giảm từ 9,0 lần vào năm 2002 xuống còn 7,3 lần.

Hà Nội, TP.HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương là những địa phương có mức độ đô thị hóa và thu nhập cao, nhưng cũng đối mặt với sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập Hệ số Gini tại TP.HCM từ 36% năm 2002 đã tăng lên 41% vào năm 2012; Bà Rịa – Vũng Tàu từ 34% lên 44%; Bình Dương từ 30% lên 40%; và Hà Nội từ 36,8% lên 38,5% Những vùng kinh tế trọng điểm này thu hút nguồn lực và lao động, tạo cơ hội việc làm và góp phần tăng trưởng GDP Tuy nhiên, sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn, với nhóm giàu có khả năng tích lũy và đầu tư, trong khi nhóm nghèo gặp khó khăn về vốn, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và an sinh xã hội.

Người nghèo chủ yếu sống dựa vào thu nhập từ tiền lương và tiền công, trong khi phần lớn thu nhập của họ được chi cho các nhu cầu thiết yếu Tuy nhiên, giá cả các mặt hàng và dịch vụ này liên tục tăng cao do tình trạng lạm phát kéo dài từ cuối năm 2007.

Các tỉnh có hệ số Gini thu nhập cao hơn mức trung bình cả nước bao gồm Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng, với chỉ số Gini tăng từ khoảng 0,3 năm 2002 lên trên 0,4 năm 2012 Sự gia tăng này có thể được giải thích bởi sự hiện diện đông đảo của đồng bào dân tộc thiểu số Mặc dù kinh tế phát triển, nhưng chỉ một bộ phận dân cư, chủ yếu là công chức và người dân đô thị, được hưởng lợi, trong khi nhiều đồng bào dân tộc thiểu số và dân di cư tự do vẫn gặp khó khăn trong sinh kế Nhóm dân tộc thiểu số thường có tập quán sản xuất lạc hậu và khó thích nghi với kinh tế thị trường, cùng với rào cản ngôn ngữ, khiến họ khó tiếp cận các nguồn lực sản xuất.

Ngoài chỉ số thu nhập, chi tiêu cũng phản ánh sự thay đổi mức sống của hộ gia đình Theo kết quả từ KSMSDC, hệ số Gini đo lường bất bình đẳng theo chi tiêu đã giảm từ 37% năm 2002 xuống 35,6% năm 2008, nhưng sau đó tăng lên 39,3% vào năm 2010 Tuy nhiên, đến năm 2012, hệ số này đã giảm nhẹ trở lại còn 35,6%.

Nguồn: Kết quả VHLSS năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012

Trong giai đoạn 2002 – 2012, chi tiêu bình quân đầu người một tháng tại Việt Nam đã tăng 18,48%, từ 294 ngàn đồng năm 2002 lên 1.603 ngàn đồng năm 2012, tương ứng với mức tăng 5,5 lần so với năm 2002 và 32,37% so với năm 2010 Tuy nhiên, mức tăng này ở các vùng không đồng đều, với Đông Nam Bộ tăng chậm nhất chỉ 25,74% so với năm 2010, trong khi Tây Nguyên ghi nhận mức tăng cao nhất là 52,73% Đặc biệt, chi tiêu bình quân đầu người ở khu vực thành thị tăng 25,16%, thấp hơn so với mức tăng 38,42% ở khu vực nông thôn so với năm 2010.

Bất bình đẳng trong chi tiêu giai đoạn 2002 - 2012

Gini tính theo chi tiêu

Khoảng cách giàu nghèo được thể hiện rõ qua số liệu chi tiêu bình quân đầu người của các nhóm hộ gia đình, phân theo ngũ phân vị.

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Đường cong Lorenz - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Hình 2.1 Đường cong Lorenz (Trang 13)
Hình 2.2: Đường cong Kuznets dưới dạng chữ U ngược - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Hình 2.2 Đường cong Kuznets dưới dạng chữ U ngược (Trang 17)
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa bất bình đẳng - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa bất bình đẳng (Trang 21)
Bảng 3.1: Mô tả phương pháp đo lường các biến và nguồn dữ liệu - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 3.1 Mô tả phương pháp đo lường các biến và nguồn dữ liệu (Trang 26)
Bảng 3.2: Chuyển đổi lớp hệ thống giáo dục phổ thông - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 3.2 Chuyển đổi lớp hệ thống giáo dục phổ thông (Trang 28)
Bảng 3.4: Chuyển đổi lớp của giáo dục đại học - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 3.4 Chuyển đổi lớp của giáo dục đại học (Trang 29)
Bảng 3.5:Thông tin các biến được trích lọc từ các bộ dữ liệu VHLSS 2002, 2004, 2006, - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 3.5 Thông tin các biến được trích lọc từ các bộ dữ liệu VHLSS 2002, 2004, 2006, (Trang 30)
Bảng 3.6: Mô tả biến, cơ sở chọn biến và dấu kỳ vọng - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 3.6 Mô tả biến, cơ sở chọn biến và dấu kỳ vọng (Trang 33)
Bảng 3.7: So sánh nghiên cứu của tác giả với các nghiên cứu trước có liên quan - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 3.7 So sánh nghiên cứu của tác giả với các nghiên cứu trước có liên quan (Trang 34)
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy (Trang 45)
Bảng  thống  kê  mô  tả  các  biến  trong  mô  hình  cho  thấy  tổng  quan  nguồn  dữ  liệu:  (Để  thuận lợi trong quá trình tính toán, tác giả đưa Gini về giá trị phần trăm) - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
ng thống kê mô tả các biến trong mô hình cho thấy tổng quan nguồn dữ liệu: (Để thuận lợi trong quá trình tính toán, tác giả đưa Gini về giá trị phần trăm) (Trang 45)
Bảng 4.3: Ma trận hệ số tương quan  LnGDPpc  G_inc  G_inc 2 G_exp  G_exp 2 EDU  POV  LAB  URB - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 4.3 Ma trận hệ số tương quan LnGDPpc G_inc G_inc 2 G_exp G_exp 2 EDU POV LAB URB (Trang 47)
Bảng 4.6: Kết quả mô hình FEM sử dụng Gini tính theo thu nhập và chi tiêu - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Bảng 4.6 Kết quả mô hình FEM sử dụng Gini tính theo thu nhập và chi tiêu (Trang 49)
Hình 4.1: Tác động của bất bình đẳng tính theo chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập - Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002   2012
Hình 4.1 Tác động của bất bình đẳng tính theo chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm