Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu các khái niệm, các cơ sở lý thuyết có liên quan đến địa lý kinh tế, lựa chọn lợi thế, thu hút đầu tư, địa kinh tế mới, đầu tư vùng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
ĐOÀN TẤN KIỂU
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỌN ĐẦU TƯ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
C u n n n : Kinh tế học
M số c u n n n : 60 03 01 01
N ười ướn dẫn k oa ọc: PGS TS Nguyễn Văn N i
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
Tai Lieu Chat Luong
Trang 2TÓM TẮT
Đề tài “N i n cứu các yếu tố ản ƣởn đến chọn đầu tƣ v o k u côn
nghiệp tr n địa bàn tỉnh Bình Thuận” nhằm xác định, phân tích và đo lường các yếu
tố ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp chọn đầu tư vào khu công nghiệp; đánh giá mức
độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với việc doanh nghiệp chọn đầu tư vào khu công nghiệp Đề xuất các giải pháp, chính sách phù hợp nhằm tăng cường thu hút đầu tư vào khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, ổn định nguồn thu ngân sách góp phần phát triển kinh tế
- xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu các khái niệm, các
cơ sở lý thuyết có liên quan đến địa lý kinh tế, lựa chọn lợi thế, thu hút đầu tư, địa kinh
tế mới, đầu tư vùng, địa điểm công nghiệp, các yếu tố tác động đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là các yếu tố nội sinh và ngoại sinh có tác động đến việc chọn dự án đầu tư của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước có liên quan, tổng quan tình hình thu hút đầu tư và hoạt động của các khu công nghiệp tỉnh Bình Thuận và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để thực hiện đề tài
Nghiên cứu này đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp chọn đầu tư vào khu công nghiệp gồm: Ngành đầu tư, diện tích đất dự án, tổng vốn đầu tư, thời gian hoạt động, thị trường tiêu thụ sản phẩm, hình thức sở hữu dự án đầu tư, tuổi người đại diện pháp luật của doanh nghiệp, giới tính người đại diện pháp luật của doanh nghiệp, bằng cấp nghề của người đại diện doanh nghiệp, hình thức chủ đầu tư, tình trạng chủ đầu tư, lao động ban đầu khi thực hiện dự án, bảo hiểm xã hội Sử dụng
mô hình hồi quy Binary Logistic với biến phụ thuộc là biến định danh mang hai giá trị
1 (đầu tư vào khu công nghiệp) và 0 (đầu tư ngoài khu công nghiệp)
Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu này là nguồn dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ
số liệu thống kê, báo cáo của các cơ quan Nhà nước quản lý về đầu tư của Tỉnh như: Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Lao động – Thương binh
và Xã hội và Ban Quản lý các KCN từ năm 2000 đến năm 2014 với số lượng mẫu thu thập được là 202 mẫu (tương ứng 202 dự án đầu tư) Qua thu thập, xử lý dữ liệu có
196 mẫu có ý nghĩa dùng để phân tích trong mô hình nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng các công cụ chủ yếu như thống kê mô tả, hệ số tương quan, kiểm định đa cộng tuyến,
Trang 3kiểm định ý nghĩa hệ số hồi quy, kiểm định độ phù hợp của mô hình (Likelihood ratio statistic), kiểm định giả thuyết hệ số hồi quy khác không (Wald Chi Square), kiểm định độ phù hợp tổng quát của mô hình (kiểm định Chi - bình phương) để phân tích, kiểm định các số liệu thu thập được
Kết quả thống kê mô tả, phân tích tương quan và hồi quy Binary Logistic mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chọn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận đã xác định được 06 yếu tố có ý nghĩa đến việc doanh nghiệp chọn đầu tư vào KCN, trong đó có 05 yếu tố ảnh hưởng dương gồm: (1) NGANH – Ngành đầu tư
(Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào lĩnh vực sản xuất), (2) THOIGIAN_HD - Thời gian hoạt động của dự án (Thời gian hoạt động lâu dài), (3) SOTHANGHOC_NDD – Bằng cấp nghề người đại diện DN (Bằng cấp nghề của người đại diện DN cao), (4) CHU_DT - Hình thức chủ đầu tư (Chủ đầu tư là người ngoài tỉnh), (5) TINHTRANG_CDT - Tình trạng chủ đầu tư (Chủ đầu tư là tổ chức) và 01 yếu tố ảnh
hưởng âm đến việc DN chọn đầu tư vào KCN là: (1) DIENTICH – Diện tích đất dự án
(Doanh nghiệp có dự án đầu tư sử dụng đất với diện tích lớn). Từ kết quả này đã đề xuất năm nhóm giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư vào khu công nghiệp
Do đây là nghiên cứu hoàn toàn mới về lĩnh vực thu hút đầu tư vào khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, vì thế các yếu tố có ý nghĩa ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp chọn đầu tư vào khu công nghiệp và các giải pháp, khuyến nghị của nghiên cứu này có thể sẽ đóng góp tích cực vào công tác thu hút đầu tư của tỉnh Bình Thuận đặc biệt là thu hút đầu tư vào các KCN trong thời gian tới, đồng thời cũng là cơ
sở cho các nghiên cứu tiếp theo./
Trang 41.3 Câu hỏi nghiên cứu
1.4 Mục tiêu nghiên cứu
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
1.6.1 Giới hạn nghiên cứu
1.6.2 Phạm vi nghiên cứu
1.7 Kết cấu của luận văn nghiên cứu
C ươn 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Các khái niệm
2.1.2 Lý thuyết về địa lý kinh tế
2.1.3 Lý thuyết lựa chọn lợi thế
2.1.4 Lý thuyết thu hút đầu tư
Trang 52.1.5 Lý thuyết Địa Kinh tế Mới (NEG)
2.1.6 Lý thuyết về đầu tư vùng
2.1.7 Lý thuyết về địa điểm công nghiệp
2.2 Khu công nghiệp và lợi ích của việc chọn đầu tư vào khu công nghiệp
2.2.1 Đặc điểm, phân loại và vai trò khu công nghiệp
2.2.1.1 Đặc điểm
2.2.1.2 Phân loại KCN
2.2.1.3 Vai trò của khu công nghiệp
2.2.2 Lợi ích của việc chọn đầu tư vào KCN
2.2.2.1 Lợi ích của địa phương có KCN
2.2.2.2 Lợi ích các dự án đầu tư có được từ KCN
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn đầu tư của doanh nghiệp
2.3.1 Ngành đầu tư (NGANH) của dự án
2.3.2 Diện tích đất của dự án (DIENTICH)
2.3.3 Tổng vốn đầu tư (TONGVON) của dự án
2.3.4 Thời gian hoạt động của dự án (THOIGIAN_HD)
2.3.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án (THITRUONG_TT)
2.3.6 Hình thức sở hữu (HINHTHUCSOHUU) của dự án đầu tư
2.3.7 Các đặc tính về người đại diện pháp luật của DN thực hiện
dự án đầu tư
2.3.8 Các đặc tính của Chủ đầu tư
2.3.9 Số lao động trong DN tại thời điểm thành lập (LAODONG_BD)
2.3.10 Bảo hiểm xã hội (BHXH)
2.4 Các nghiên cứu trước
2.5 Tổng quan về tình hình hoạt động và kết quả thu hút đầu tư vào KCN
Trang 62.5.1 Tình hình hoạt động của KCN Bình Thuận
2.5.2 Kết quả thu hút dự án đầu tư vào KCN
Tóm tắt c ươn 2
C ươn 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU
3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu
3.2 Mô hình nghiên cứu
3.3 Dữ liệu nghiên cứu
3.3.1 Cách lấy dữ liệu nghiên cứu
3.3.2 Mẫu nghiên cứu
3.3.3 Cách xử lý số liệu
Tóm tắt c ươn 3
C ươn 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỌN ĐẦU TƯ VÀO
KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH THUẬN
4.1 Thống kê mô tả các biến của mô hình
4.2 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến của mô hình
4.2.1 Kiểm định sự tương quan
4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến của mô hình
4.3 Kết quả hồi quy
4.3.1 Kiểm định mô hình
4.3.1.1 Kiểm định tổng thể mô hình
4.3.1.2 Kiểm định ý nghĩa các hệ số hồi quy
4.3.1.3 Kiểm định khả năng giải thích của mô hình
4.3.2 Phân tích kết quả các biến trong mô hình hồi quy
4.3.2.1 Các biến có ý nghĩa trong mô hình nghiên cứu
4.3.2.2 Các biến không có ý nghĩa trong mô hình
Trang 7C ƣơn 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu kinh tế của các KCN từ năm 2001-2014
Bảng 2.2: Kết quả xây dựng và thu hút đầu tư vào KCN đến năm 2014
Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến của mô hình
Bảng 4.2 Hệ số tương quan
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy các biến trong mô hình
Bảng 4.4: Xác suất tác động của các yếu tố có ý nghĩa trong mô hình nghiên
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu đề nghị
Trang
42
44
Trang 10CNH : Công nghiệp hóa
HĐH : Hiện đại hóa
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 11C ƣơn 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
Khu công nghiệp (KCN), Khu chế xuất (KCX) hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986) Đại hội VII đã tiếp tục đề ra những đường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toàn diện nền kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, được cụ thể hoá bằng Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991-2000 Tiếp đó, định hướng chiến lược
về quy hoạch phát triển và phân bố KCN, KCX được xác định cụ thể tại Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VIII (năm 1996): “Hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả
KCX và khu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị ở các thành phố, thị
xã, nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng
xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng các KCN mới xen lẫn với khu dân cư”
Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) về Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2001-2010 tiếp tục khẳng định: “Quy hoạch phân bố hợp lý công
nghiệp trên cả nước Phát triển có hiệu quả các KCN, KCX, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và các khu kinh tế mở” Báo cáo chính
trị tại Đại hội lần thứ X (năm 2006) một lần nữa khẳng định chủ trương “Phát triển
một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả các KCN, KCX”, đồng
thời nhấn mạnh chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững, trong đó
có phát triển bền vững KCN, KCX Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ XI (năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đã định hướng phát triển
KCN, KCX bền vững và theo chiều sâu: “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng;
phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao” Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đặt ra mục tiêu
đến năm 2020 “ tất cả các cụm, KCN, KCX có hệ thống xử lý nước thải tập trung”
Trang 12Các Nghị quyết của Đảng tại các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình thành
hệ thống các quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển KCN, KCX; khẳng định vai trò của KCN, KCX là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X và XI đã nêu rõ Đồng thời, chủ trương của Đảng là cơ
sở để Chính phủ triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển KCN, KCX trong gần 30 năm qua và trong giai đoạn tới Nghị quyết 10/NQ-CP, ngày 24 tháng 4 năm 2012 về Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 – 2015, trong đó có mục tiêu tổng quát liên quan đến
khu công nghiệp hiện nay: “cải cách cơ chế chính sách, quy hoạch, tập trung xây
dựng và phát triển các khu, cụm công nghiệp, đặc biệt là khu công nghệ cao quốc gia” Từ những mục tiêu và kế hoạch hành động đó đã định hướng cho việc phát triển
và thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trong tương lai Sự phát triển bền vững của công nghệ được sử dụng trong các khu công nghiệp mở ra cơ hội cho việc tạo ra công
ăn việc làm mới, nâng cao năng suất trong nước và duy trì môi trường cạnh tranh của quốc gia (Markusen & Glasmeier, 1986)
Để hoàn thành mục tiêu đến năm 2020, Bình Thuận trở thành tỉnh công nghiệp - dịch vụ theo hướng hiện đại, năng động; Cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ liên thông với cả nước và quốc tế; Quan hệ sản xuất tiến bộ, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao thì việc phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư vào các Khu công nghiệp là nhiệm
vụ trọng tâm (Nguyễn Công Toàn, 2013) Tính đến nay, theo quy hoạch phát triển khu công nghiệp của tỉnh đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại công văn số 1555/TTg-KTN ngày 30/9/2013, thì tỉnh Bình Thuận có 9 khu công nghiệp (KCN), với tổng quy mô diện tích 3.016 ha, trong đó: Thành phố Phan Thiết và huyện Hàm Thuận Bắc có 2 KCN (Phan Thiết giai đoạn 1 và Phan Thiết giai đoạn 2, có diện tích 108 ha); huyện Hàm Thuận Nam có 2 KCN (Hàm Kiệm I và Hàm Kiệm II, có diện tích 548 ha); huyện Hàm Tân có 3 KCN (Sơn Mỹ I, Sơn Mỹ II, Tân Đức, có diện tích 1.910 ha); huyện Bắc Bình có 1 KCN (Sông Bình, có diện tích 300 ha); huyện Tuy Phong có 1 KCN (Tuy Phong, có diện tích 150 ha)
Tuy nhiên, đến nay mới có 1 KCN (Phan Thiết giai đoạn 1) đã được lấp đầy đi vào hoạt động ổn định, có 5 KCN ( Phan Thiết giai đoạn 2, Hàm Kiệm I, Hàm Kiệm
Trang 13II, Sông Bình, Tuy Phong) vừa tiếp tục hoàn thiện kết cấu hạ tầng vừa thu hút đầu tư,
có 3 KCN (Sơn Mỹ I, Sơn Mỹ II, Tân Đức) đang thực hiện các công tác chuẩn bị đầu
tư, đền bù giải tỏa để khởi công xây dựng Nhìn trên bình diện tổng thể, sự phát triển kinh tế trong các KCN Bình Thuận đang tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức đặc biệt trong mục tiêu thu hút đầu tư những dự án có tầm cỡ
Việc các doanh nghiệp (DN) chọn đầu tư vào KCN thì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó có những yếu tố quan sát được và không quan sát được Vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách của tỉnh Bình Thuận cũng như Lãnh đạo Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh là phải xác định được các yếu tố ảnh hưởng và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc các DN chọn đầu tư vào KCN trong thời gian qua nhằm có thể kiến nghị và đưa ra các giải pháp giúp đẩy mạnh thu hút các
DN đầu tư vào KCN trong thời gian tới, góp phần đưa tỉnh Bình Thuận trở thành một tỉnh công nghiệp-dịch vụ theo hướng hiện đại, năng động vào năm 2020 Việc phát triển các khu công nghiệp là một yếu tố quan trọng đối với bất kỳ nền kinh tế nào tích cực tham gia vào hệ thống kinh tế toàn cầu (Eugenia and Georgeta, 2014)
Để giúp cho nhà hoạch định chính sách của tỉnh Bình Thuận có cách nhìn tổng quan về tình hình thu hút đầu tư vào KCN trong thời gian qua, cũng như xác định được các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc các DN chọn đầu tư vào KCN tỉnh Bình Thuận Tác giả nhận thấy cần thiết phải có một nghiên cứu cụ thể về việc chọn đầu tư của các DN vào KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Với những lý do trên,
tác giả chọn đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chọn đầu tư vào khu công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận” nhằm tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến việc
các DN chọn đầu tư vào KCN, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp thu hút đầu tư vào KCN trong thời gian tới
1.2 Vấn đề nghiên cứu:
Nghiên cứu này xác định và phân tích một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc các doanh nghiệp chọn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận; đồng thời liên hệ đến kết quả thực tế các doanh nghiệp chọn đầu tư vào KCN, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thu hút sự lựa chọn của các doanh nghiệp để đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận trong thời gian tới
Trang 141.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu trên, đề tài này tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến chọn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận?
- Giải pháp nào thúc đẩy các doanh nghiệp chọn đầu tư vào KCN để khuyến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận?
1.4 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chọn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận thông qua việc thu thập dữ liệu từ các dự án hoạt động trong và ngoài KCN với mục tiêu:
1 Đánh giá thực trạng việc các doanh nghiệp chọn đầu tư vào KCN hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Thuận;
2 Xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chọn đầu tư vào KCN Bình Thuận;
3 Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào KCN để tăng tỷ lệ lắp đầy cho KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận;
1.5 P ƣơn p áp n i n cứu
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu và không lặp lại các nghiên cứu trước, đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chọn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Các đánh giá được thực hiện thông qua phương pháp thống kê mô tả Phương pháp nghiên cứu chính của
đề tài là sử dụng mô hình kinh tế lượng thông qua mô hình hồi quy Binary Logistic để phân tích mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
Mục đích cuối cùng của phương pháp định tính là có kết quả phân tích và kết luận phù hợp với thực trạng các dự án đầu tư vào KCN, làm cơ sở cho việc đưa ra mô hình lý thuyết nghiên cứu định lượng; sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chọn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh
Trang 15Bình Thuận, chỉ rõ chiều hướng tác động và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, đồng thời thực hiện các kiểm định phù hợp để cho kết quả chính xác nhất
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn chính:
1 Nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp nghiên cứu định tính: nghiên cứu các tài liệu thứ cấp và thảo luận với chuyên gia các sở, ngành tỉnh để xây dựng các biến trong mô hình nghiên cứu, sau đó điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu
2 Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng tiến hành ngay khi xác định được các biến trong mô hình nghiên cứu Dữ liệu trong nghiên cứu chính thức là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư trên địa bàn tỉnh (Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Ban Quản lý các KCN) Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0
1.6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
1.6.1 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu các dự án công nghiệp đã được UBND tỉnh và Ban Quản
lý các KCN Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận
1.6.2 Phạm vi nghiên cứu
- Để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chọn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, đề tài tiến hành khảo sát tổng thể các dự án công nghiệp trong và ngoài KCN đã được Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Quản lý các KCN Bình Thuận cấp giấy chứng nhận đầu tư trong giai đoạn 2000 – 2014 Tổng số dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư trong giai đoạn này là 202 dự án đầu tư, nghiên cứu này thu thập và
sử dụng số liệu tổng thể với 202 dự án đầu tư tương ứng với 202 mẫu quan sát
- Đối với các doanh nghiệp đầu tư trước năm 2000 không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.7 Kết cấu của luận văn n i n cứu
Kết cấu của luận văn gồm 5 chương, như sau:
Trang 16C ươn 1: P ần giới thiệu Chương này nêu khái quát những nội dung của đề
tài như: lý do chọn đề tài, trình bày vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Chươn 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương này trình bày
cơ sở lý luận của đề tài; các khái niệm về KCN; các lý thuyết có liên quan đến luận văn như: lý thuyết về địa lý kinh tế, lý thuyết về lựa chọn lợi thế, lý thuyết thu hút đầu
tư, lý thuyết Địa Kinh tế Mới (NEG), lý thuyết về đầu tư vùng, lý thuyết về về địa điểm công nghiệp; khu công nghiệp và lợi ích của việc chọn đầu tư vào khu công nghiệp; các yếu tố ảnh hưởng đến chọn đầu tư vào khu công nghiệp; các nghiên cứu trước; tổng quan về tình hình hoạt động và kết quả thu hút đầu tư vào KCN
C ươn 3: Mô hình nghiên cứu v cơ sở dữ liệu Chương này chủ yếu nói về
các quy trình thực hiện nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, cách thức thu thập, xử lý và
phân tích dữ liệu nghiên cứu
C ươn 4: Các yếu tố ản ưởn đến chọn đầu tư v o KCN tr n địa bàn tỉnh Bình Thuận Thống kê mô tả các biến của mô hình nghiên cứu, tiến hành phân
tích hồi quy Binary Logistics và phân tích các kết quả nghiên cứu nhằm đánh giá mức
độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với dự án đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận
C ươn 5: Kết luận và khuyến nghị Trình bày tóm tắt kết quả tìm thấy ở
chương 4, vận dụng kiến thức và các lý thuyết kinh tế để đưa ra giải pháp cụ thể về thu hút đầu tư vào KCN và khuyến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Nêu ra hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp của đề tài
Trang 17C ươn 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Chương 1 đã khái quát lý do nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài này Chương 2 sẽ tập trung đề cập đến các cơ sở lý luận của đề tài, các khái niệm về KCN, các lý thuyết chính mà đề tài căn cứ để xây dựng mô hình nghiên cứu và các biến trong mô hình nghiên cứu; đề tài cũng đánh giá tổng quan về tình hình hoạt động và công tác thu hút đầu tư vào KCN của địa phương Đồng thời, trình bày phương pháp tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp chọn đầu tư vào KCN, các nghiên cứu trước, kết luận có liên quan đến nội dung đề tài
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Các khái niệm
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để
hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Luật đầu tư, 2014) Theo đó, tất cả các doanh nghiệp (trong nước, nước ngoài) có đưa vốn (bằng tiền hoặc các loại tài sản có giá trị) để thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận đều được xem là một nhà đầu tư, và các hoạt động trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư được gọi là hoạt động
đầu tư
Moss David A (2007), đầu tư được hiểu là những chi tiêu nhằm tăng sản lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng trong tương lai Nó bao gồm việc mua sắm phục vụ kinh doanh như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phần mềm, và tồn kho, cũng như chi phí tiền công và tiền lương mà một đơn vị kinh doanh trả cho những người được thuê
Blanchard (2000) (trích bởi Nguyễn Đình Sang, 2011), khái quát đầu tư với hai quan điểm Theo quan điểm của chủ đầu tư, đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh để thu được số vốn lớn hơn số vốn đã bỏ ra thông qua lợi nhuận Theo quan điểm xã hội (quốc gia), đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia Các nhà kinh tế học dùng thuật ngữ đầu tư để chỉ việc mua hàng hóa vốn mới, chẳng hạn như máy móc, nhà xưởng, nhà ở
Trang 18Dự án đầu tƣ: là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các
hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định (Luật đầu tư, 2014)
Vốn đầu tƣ là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu
tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp (Luật đầu tư, 2014)
Tài sản nói chung là bất cứ vật sở hữu nào mà có giá trị trong trao đổi Tài sản
gồm có hai loại: tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tài sản hữu hình là những loại tài sản mà giá trị của nó tùy thuộc vào những thuộc tính tự nhiên của nó, ví dụ như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu …Tài sản vô hình là những loại tài sản mà giá trị của nó không liên quan gì đến hình thức vật lý của nó mà dựa vào quyền hợp pháp trên một lợi ích tương lai nào đó (Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều, 2011) Trong nghiên cứu này, tài sản được xem là hữu hình; căn cứ vào tài sản (vốn, đất đai) để đánh giá quy mô của dự án
Khu công nghiệp (KCN) Tùy điều kiện của từng nước khác nhau mà KCN có
những nội dung hoạt động kinh tế cũng như hướng phát triển khác nhau KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở… KCN theo quan điểm này thực chất là khu hành chính kinh tế đặc biệt Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghệ và dịch vụ sản xuất công nghiệp không có dân cư sinh sống Theo quan điểm này KCN được coi là khu kinh tế đặc biệt có tác động chính đến nền kinh tế của đất nước
Khu công nghiệp có thể được hiểu là một phương thức tổ chức các hoạt động sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ công nghiệp với những chế độ ưu đãi đặc biệt
so với các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ còn lại trên lãnh thổ của một nước nhằm khuyến khích đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu và thực hiện các mục tiêu chính sách khác KCN được thành lập không chỉ để nhằm thu hút đầu tư nước ngoài mà còn cả thu hút đầu tư trong nước (Đặng Ngọc Giàu, 2007)
Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ, khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp,
có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định
Trang 19tại Nghị định này Như vậy, KCN là một khu chuyên sản xuất các mặt hàng công nghiệp tập trung, bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau cùng tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh trong một khu vực vị trí địa lý cụ thể, theo quy định của Chính phủ Đối với một quốc gia, KCN được xem là một phương tiện để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển giao khoa học công nghệ (Nguyễn Duy Khương, 2014) Đánh giá tầm quan trọng của KCN trong phát triển kinh tế, Hakansson và Johanson (1993) cho rằng KCN là một công cụ phát triển quan trọng thông qua nhiều nước công nghiệp Khi doanh nghiệp nhận thấy KCN giúp họ giảm chi phí và tăng năng lực cạnh tranh thì họ sẽ đầu tư vào KCN (Phạm Thị Thanh Tuyền, 2011)
Các dự án đầu tư vào KCN được xác định thông qua việc dự án đó được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đầu tư Trong điều kiện cụ thể ở địa phương, các nhà đầu tư vào KCN sẽ được Ban Quản lý các KCN của tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư; thông qua giấy chứng nhận đầu tư chính là dự án đầu tư được địa phương công nhận có giá trị pháp lý rõ ràng và là cơ sở pháp lý trong suốt thời gian thực hiện dự án Doanh nghiệp (DN) có thể sử dụng giấy chứng nhận đầu tư để huy động vốn đầu tư thông qua hai hình thức là góp vốn của các nhà đầu tư khác và đi vay tại các tổ chức tín dụng; giấy chứng nhận đầu tư còn giúp cho DN được hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định của nhà nước, là điều kiện không thể thiếu trong hồ
sơ xuất, nhập khẩu của DN
2.1.2 Lý thuyết về địa lý kinh tế
Theo Begg và ctg (2007), địa lý kinh tế có nghĩa là vị trí của hãng sản xuất ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của hãng; ảnh hưởng hướng ngoại có lợi của vị trí xảy ra nếu chi phí của hãng giảm do được bố trí ở gần các hãng tương tự Như vậy, một hãng sản xuất sẽ giảm được chi phí sản xuất nếu nhà đầu tư chọn vị trí đầu tư gần với các hãng tương tự Vị trí đầu tư được xem là một nguyên nhân ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN Tương tự, Krugman (1991), cho rằng lợi nhuận của DN tăng ảnh hưởng đến địa lý kinh tế ở nhiều quy mô: Ở quy mô dưới, lợi thế tạm thời của ngành công nghiệp phản ánh sự “khóa trong” về vị trí; với quy mô trung bình, sự phát triển ngày càng tăng của các thành phố rõ ràng là do sự thuận lợi từ vị trí; ở cấp độ lớn, sự phát triển không đều nhau của những vùng trong cùng khu vực là nguyên nhân sâu xa của sự tăng trưởng Ông cho rằng điều quan trọng nhất của địa lý kinh tế là sự tập
Trang 20trung hoạt động, nhiều DN sản xuất tập trung tại cùng một khu vực sẽ có được lợi thế
là gần với các nhà sản xuất khác, điều này lý giải tại sao các nhà sản xuất thường tập trung lại với nhau thành cụm hoặc khu Krugman cho rằng mỗi nhà sản xuất đều muốn sản xuất từ một địa điểm duy nhất, và để giảm thiểu chi phí, nhà sản xuất chọn một địa điểm có nhu cầu trong nước lớn Địa điểm này được lựa chọn chính xác thể hiện qua việc phần lớn các nhà sản xuất xác định vị trí để đầu tư Đây là điều kiện để một khu hoặc cụm tồn tại theo thời gian
Krugman cũng cho rằng, các DN có xu hướng xác định vị trí sản xuất của họ ở những nơi trung tâm đông đúc dân cư và nguồn cung vốn, vì đây vừa là nơi cung cấp lao động, vừa là nơi tiêu dùng Dân cư sẽ càng di chuyển đến những trung tâm này vì ở
đó có tính lợi thế quy mô cao hơn cũng có nghĩa là giá cả hàng hóa rẻ hơn và sản phẩm đa dạng hơn Theo đó, vị trí đầu tư xây dựng KCN là cơ sở đầu tiên dẫn đến sự thành công của KCN; dấu hiệu này được thể hiện qua việc KCN nằm ở vị trí thuận lợi
về cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: đường sá, cầu, bến cảng, nhà ga, sân bay, hệ thống viễn thông, điều kiện về nguồn nhân lực dồi dào, tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư về vị trí
và điều kiện sinh hoạt; những đặc điểm nêu trên phải được xem xét trong điều kiện hiện tại và sự duy trì điều kiện này trong tương lai (Phạm Thị Thanh Tuyền, 2011) Việc xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN cũng tương tự như kinh doanh bất động sản, thường tuân theo các quy tắc chung là phải chọn đúng địa điểm; lịch sử hình thành và phát triển các KCN trên thế giới cũng như của Việt Nam đã cho thấy tất cả các KCN thành công đều nằm ở vị trí thuận lợi nhất về địa lý – kinh tế (Đặng Ngọc Giàu, 2007)
Lý thuyết về địa lý kinh tế được áp dụng trong việc phân tích tình hình đầu tư của địa phương, ảnh hưởng của vị trí các KCN đến việc hình thành và phân bổ các dự
án đầu tư trong và ngoài KCN trên địa bàn tỉnh Những KCN đã lấp đầy cho thấy rằng
vị trí đặt KCN là thuận lợi cho việc đầu tư của DN, những khu vực này thường là nơi dân cư tập trung đông đúc, gần khu trung tâm của một địa phương, điều kiện về cơ sở
hạ tầng thuận lợi; những KCN có tỷ lệ lấp đầy thấp là do nằm ở vị trí không được thuận lợi hay nói cách khác là do không nằm gần các khu trung tâm của địa phương và điều kiện về cơ sở hạ tầng không được thuận lợi Ngược lại, các DN đầu tư ở các địa điểm ngoài KCN đã thể hiện rõ xu hướng xác định vị trí sản xuất của họ ở những nơi
Trang 21trung tâm đông đúc dân cư và nguồn cung vốn, nhằm tìm nguồn cung lao động, có lợi thế về cơ sở hạ tầng, tận dụng tính lợi thế nhờ quy mô (Nguyễn Duy Khương, 2014)
2.1.3 Lý thuyết lựa chọn lợi thế
Lý thuyết này do John H Dunning, giáo sư trường đại học Reading ở Anh phát triển và hoàn thiện trên cơ sở lý thuyết về tổ chức ngành nghề của Stephen Hymer Lý thuyết lựa chọn lợi thế đưa ra ba yếu tố là lợi thế về sở hữu (ownership) hay là nội lực của một doanh nghiệp, lợi thế về vị trí (location)- đây là yếu tố quyết đinh địa điểm sản xuất và lợi thế về gắn kết nội bộ (internalization) của doanh nghiệp để trả lời cho
ba câu hỏi: tại sao các công ty đa quốc gia (MNEs) muốn đầu tư ra nước ngoài; địa điểm nào được MNEs lựa chọn đầu tư và MNEs thực hiện đầu tư như thế nào?
Lý thuyết này cho rằng, một doanh nghiệp chỉ thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khi hội tụ ba điều kiện: (1) Lợi thế về sở hữu ( Ownership advantages – O): doanh nghiệp phải sở hữu một số lợi thế so với các doanh nghiệp khác như quy
mô, công nghệ, mạng lưới tiếp thị, khả năng tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp hay các tài sản vô hình đặc thù của doanh nghiệp; (2) Lợi thế về khu vực (Locational advantages – L) : sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư có chi phí thấp hơn là sản xuất tại nước mẹ rồi đem xuất khẩu Lợi thế địa điểm có thể có được nhờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, các rào cản thương mại, chính sách khuyến khích đầu tư và cả tác động ngoại vi mà địa điểm có thể tạo ra cho doanh nghiệp khi hoạt động tại đó (3) Lợi thế về nội hóa (Internalisation advantages – I): việc sử dụng những lợi thế đó trong nội bộ doanh nghiệp có lợi hơn là bán hay cho các doanh nghiệp khác thuê (Dunning, 1993, trích bởi Ngô Thu Hà, 2008)
2.1.4 Lý thuyết t u út đầu tƣ
Theo Akwetey (2002), hầu hết các nước đang phát triển, đang phải chịu đựng một nền kinh tế nghèo nàn Điều này chủ yếu do môi trường đầu tư chưa đầy đủ để hấp dẫn nhà đầu tư, đã làm trầm trọng thêm sự yếu kém trong phát triển các điều kiện
cơ bản và quan trọng đối với phát triển kinh tế như cơ sở hạ tầng, chính sách và tài chính mà một nền kinh tế vĩ mô cần phải có Có những thay đổi từ môi trường kinh tế bên ngoài như sự suy giảm kinh tế trên toàn thế giới; ngoài ra, chính trị xã hội bất ổn
và những cuộc đình công của người lao động đã làm cho khu vực thương mại ở các nước này kém hấp dẫn những nhà đầu tư tiềm năng Những thay đổi chính trị ở các
Trang 22nước xã hội chủ nghĩa cũ cũng gây bất lợi đến thương mại khu vực khi nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu từ những nước đang phát triển thường không rõ ràng Tuy nhiên,
từ khi hiệp định về thuế quan và thương mại (GATT), nay là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời, xu hướng phát triển thương mại toàn cầu dần được khởi sắc, tạo ra một môi trường cởi mở hơn trong thương mại trên toàn thế giới Một số nước đang phát triển đã nắm lấy cơ hội này để thu hút nhà đầu tư tiềm năng từ các nước phát triển
để đầu tư vào quốc gia của họ Chính phủ một số nước đã cung cấp một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ để thực hiện các giao dịch trong xu thế tự do hóa thương mại, và đây là yếu tố quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thành lập các nhà máy công nghiệp hóa và tăng cường sản xuất hàng hóa để xuất khẩu Các nhà đầu tư là đối tượng mà các địa phương muốn thu hút để phát triển địa phương mình như các dự án bất động sản và các nhà tài phiệt khác
Kotler (2000) cho rằng các địa phương đều muốn thu hút các nhà đầu tư vào địa phương mình bằng nhiều hình thức Trước tiên họ sẽ chọn ra nhà đầu tư chiến lược; Các nhà đầu tư chiến lược này phải có những đặc điểm, mối quan tâm và nhận thức chung Tiếp đến các nhà lập kế hoạch của địa phương phải đo lường những nhận thức của nhà đầu tư chiến lược dựa theo các thuộc tính thích hợp Các địa phương bộc lộ cho nhà đầu tư chiến lược thấy được niềm tin vào sự phát triển trong tương lai của địa phương thông qua việc cung ứng các khoản cho vay hào phóng để thực hiện các dự án đầu tư Quan điểm của Kotler cho rằng các doanh nghiệp được hút về các địa phương cung cấp các dịch vụ chất lượng cao và ở đó “giá trị gia tăng” góp phần cải thiện năng suất và chất lượng Như vậy, việc nhà đầu tư đến với một địa phương phải xuất phát từ thành ý của địa phương thông qua chính sách thu hút đầu tư Địa phương phải có các chính sách phù hợp, phải có khả năng cung cấp các nhu cầu của nhà đầu tư Để làm được điều này, đòi hỏi địa phương phải có tầm nhìn chiến lược và quan trọng hơn là phải biết nhà đầu tư muốn gì và mức độ của nó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Từ
đó sẽ có các giải pháp thích hợp để thu hút đầu tư, đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà đầu
tư và của địa phương mình
Về lý thuyết, nghiên cứu này nhằm đánh giá các chính sách thu hút đầu tư của địa phương bằng cách phân tích các yếu tố hiện có thông qua các thông tin như lĩnh vực thu hút, ngành nghề đầu tư, hình thức đầu tư (trong nước, ngoài nước), quy mô vốn đầu tư, nhu cầu lao động, hình thức sở hữu… Từ đó, sẽ nghiên cứu phân tích xem
Trang 23yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh đến hành vi của các nhà đầu tư và tiến hành đề xuất chính sách thu hút đầu tư thích hợp dựa trên kết quả có được
2.1.5 Lý thuyết Địa Kinh tế Mới (NEG)
Theo Krugman (1998), hầu hết các hoạt động kinh tế đều tập trung về phương diện địa lý Đa phần người dân tại các quốc gia tiên tiến và một số đáng kể tại các nước đang phát triển sống tại các trung tâm đô thị Nhiều ngành công nghiệp, bao gồm
cả các ngành dịch vụ như ngân hàng chẳng hạn cũng tập trung về phương diện địa lý,
và các khu công nghiệp chính là nguồn chuyên môn hoá và thương mại quốc tế quan trọng Tập trung công nghiệp tạo điều kiện cho một thị trường lao động dày đặc của địa phương, đặc biệt là cho các kỹ năng chuyên môn hoá đến mức người lao động và người thuê lao động đều dễ dàng tìm được nhau lúc cần thiết Và sự tập trung hoạt động của kinh tế vùng có thể tạo thêm các khu vực kinh tế ngoại sinh thuần tuý thông qua các cơ chế lan toả thông tin Các bí mật thương mại trở thành không còn là bí mật nữa Các nhân tố bất động chẳng hạn như đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên và trong bối cảnh quốc tế, ngay cả con người cũng phải nỗ lực hết mình với sự tập trung sản xuất, kể cả từ phía cung (một ngành sản xuất nào đó phải đến nơi có sẵn người lao động) lẫn từ phía cầu (các nhân tố phân tán tạo ra một thị trường phân tán và một ngành sản xuất nào đó sẽ phải khuyến khích chuyển cơ sở sản xuất đến gần với người tiêu thụ hơn)
Theo Krugman và Obstfeld (1991) nhiều ngành được đặc trưng bởi tính kinh tế nhờ quy mô (cũng được gọi là lợi tức tăng dần), việc sản xuất càng hiệu quả khi quy
mô của nó càng lớn Nơi nào tồn tại tính kinh tế nhờ quy mô thì việc tăng gấp hai lần đầu vào ở một ngành sẽ làm cho sản lượng của ngành đó tăng lên hơn gấp hai lần Điều này lý giải nguyên nhân các DN chọn các khu vực tập trung (ví dụ như KCN) để hình thành các ngành sản xuất tập trung, chủ yếu nhằm tận dụng lợi thế kinh tế nhờ quy mô
Nói tóm lại việc khai sinh môn “địa kinh tế học mới” đã được thực hiện bằng cách xem xét chiến lược mô hình hoá để tập trung vào vai trò của các hiệu ứng qui mô thị trường trong việc tạo ra các liên kết thuận lợi cho việc tập trung theo vùng về phương diện địa lý; mặt khác lực ngược chiều của các yếu tố bất động lại phát huy tác
Trang 24dụng dựa vào quá trình tập trung như vậy Địa kinh tế mới được người Trung Quốc ứng dụng rất phổ biến trong việc xây dựng các vùng, các đặc khu kinh tế của họ
- Thứ hai, một trung tâm công nghiệp cho phép cung cấp các yếu tố đầu vào được giao dịch cụ thể cho một ngành công nghiệp được nhiều hơn và chi phí thấp hơn
- Thứ ba, thông tin của chính quyền địa phương dễ dàng đến với doanh nghiệp hơn trong một khu vực tập trung, và trung tâm công nghiệp tạo ra những gì chúng ta gọi là hiệu ứng lan tỏa công nghệ
Krugman (1991) cho rằng một thị trường lao động địa phương đông dân cư (tổng hợp thị trường lao động) tạo nên dòng chảy của người lao động giữa các doanh nghiệp trong sự hiện diện của các công ty với những điều kiện cụ thể Do đó, các công
ty cùng ngành đồng xác định vị trí trong một không gian để chia sẻ một nguồn cung lao động; cũng có nghĩa là các công ty hợp tác xác định vị trí trong cùng một khu vực
để gặt hái những lợi ích của liên ngành công nghiệp
Lý thuyết này đã giải thích được lý do các DN đầu tư vào KCN là nhằm hình thành một khu vực công nghiệp, tạo lợi thế theo quy mô, hình thành một thị trường lao động dồi dào, có kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng được nhu cầu của các DN hoạt động trong cùng ngành nghề hoặc các ngành nghề tương tự nhau, tạo nên sự hợp tác hai bên cùng có lợi (DN có nguồn lao động với chi phí thấp hơn những khu vực hạn hẹp nguồn cung lao động phục vụ sản xuất tạo ra hàng hóa và lợi nhuận cao, người lao động có được việc làm và thu nhập) Thông qua lao động, nghiên cứu sẽ đánh giá nhu cầu về lao động (cao hay thấp) có mức độ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN đầu tư vào KCN (Nguyễn Duy Khương, 2014)
Trang 252.1.7 Lý thuyết về địa điểm công nghiệp
Theo Vernon (1966) vấn đề chi phí được đặt lên hàng đầu, địa điểm đầu tư là lựa chọn thứ hai, Vernon cho rằng các công ty xuyên quốc gia chuyển sản xuất ra nước ngoài nhằm gần nguồn cung cấp nguyên liệu hay thị trường tiêu thụ để giảm bớt chi phí vận chuyển, nhờ vậy sẽ hạ thấp được giá thành sản phẩm
Đồng quan điểm với Vernon, Weber (1909) cho rằng các nhà sản xuất chọn vị trí đầu tư là để cố gắng giảm thiểu chi phí, đồng thời kết hợp sản xuất và cung cấp sản phẩm của mình Theo đó, tập hợp các nhà đầu tư có cùng chung quan điểm sẽ tiến hành đầu tư ở cùng một địa điểm có nhiều thuận lợi (về nguồn lao động, nguyên liệu, thị trường tiêu thụ) để giảm thiểu chi phí; do việc có nhiều nhà đầu tư cùng đầu tư vào một khu vực với vị trí địa lý thuận lợi sẽ tác động đến công tác quản lý của chính quyền địa phương, chính quyền địa phương sẽ xem xét, quy hoạch khu vực này thành KCN để công tác quản lý nhà nước về đầu tư đạt hiệu quả hơn
Đồng thời, việc tham gia vào KCN sẽ giúp các doanh nghiệp có cơ hội tăng năng suất; các DN có khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào, thông tin, công nghệ, nguồn nhân lực và nhà cung cấp dễ dàng hơn, có được các hỗ trợ tốt hơn do mức độ tập trung quy mô của một lĩnh vực, nhận được sự hỗ trợ tốt hơn từ phía chính phủ và thụ hưởng các dịch vụ công do hiệu quả tập trung của nhu cầu (Lê Thế Giới, 2009)
2.2 Khu công nghiệp và lợi ích của việc chọn đầu tƣ v o k u côn n iệp
2.2.1 Đặc điểm, phân loại và vai trò khu công nghiệp
Trang 26Phát triển các ngành mà Chính phủ nước sở tại ưu tiên
Quy chế thủ tục thông thoáng, hấp dẫn hơn hơn so với các khu vực khác của đất nước Chuẩn bị điều kiện để thực hiện tự do hoá thương mại
2.2.1.2 Phân loại KCN:
Căn cứ vào mục đích sản xuất, người ta chia ra khu công nghiệp và khu chế xuất Khu công nghiệp bao gồm các cơ sở sản xuất hàng công nghiệp để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Khu chế xuất là một dạng của khu công nghiệp chuyên làm hàng xuất khẩu
Theo mức độ mới - cũ, khu công nghiệp chia làm 3 loại:
+ Các khu công nghiệp cũ xây dựng trong thời kỳ bao cấp (từ trước khi có chủ trương xây dựng khu chế xuất năm 1990) như khu công nghiệp Biên Hòa 1 Đồng Nai, khu công nghiệp Việt Trì, khu công nghiệp Gang thép Thái Nguyên v.v
+ Các khu công nghiệp cải tạo, hình thành trên cơ sở có một số xí nghiệp đang hoạt động
Theo tính chất đồng bộ của việc xây dựng, cần tách riêng 2 nhóm khu công nghiệp đã hoàn thành và chưa hoàn thành đầy đủ cơ sở hạ tầng và các công trình bảo
vệ môi trường như hệ thống thông tin, giao thông nội khu, các công trình cấp điện, cấp nước, thoát nước mưa, nước thải, các nhà máy xử lý nước thải, chất thải rắn, bụi khói v.v
Theo tình trạng cho thuê, có thể chia số khu công nghiệp thành ba nhóm có diện tích cho thuê được lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100%.( Khi xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ tất cả các công trình và cho thuê hết diện tích thì không cần sử dụng nữa)
Theo quy mô, hình thành 3 loại khu công nghiệp: lớn, vừa và nhỏ Các chỉ tiêu phân bổ quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu tư, tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng Các khu công nghiệp lớn được thành lập phải có quyết định của Thủ tướng chính phủ Các khu công nghiệp vừa và nhỏ thuộc quyền quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố Trong giai đoạn đầu hiện nay ta chú trọng xây dựng các khu công nghiệp vừa và nhỏ để sớm khai thác có hiệu quả
Trang 27Theo trình độ kỹ thuật: có thể phân biệt:
+ Các khu công nghiệp bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều
+ Các khu công nghiệp cao, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp mũi nhọn như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v.v làm đầu tàu cho sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội dài hạn
Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm:
+ Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước
+ Các khu công nghiệp hỗn hợp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước và nước ngoài
+ Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, các dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài
Theo tính chất của thực thể kinh tế xã hội, cần phân biêt 2 loại:
+ Các khu công nghiệp thuần túy chỉ xây dựng các xí nghiệp sản xuất, chế biến sản phẩm, không có khu vực dân cư
+ Các khu công nghiệp này dần dần sẽ trở thành thị trấn, thị xã hay thành phố
vệ tinh Đó là sự phát triển toàn diện của các khu công nghiệp
Theo tính chất ngành công nghiệp có thể liệt kê theo các ngành cấp I, như khu chế biến nông lâm hải sản, khu công nghiệp khai thác quặng, dầu khí, hóa dầu, điện tử, tin học, khu công nghiệp điện, năng lượng, khu công nghiệp phục vụ vận tải, khu công nghiệp vật liệu xây dựng v.v
Theo lãnh thổ địa lý: phân chia các khu công nghiệp theo ba miền Bắc, Trung, Nam, theo các vùng kinh tế xã hội (hoặc theo các vùng kinh tế trọng điểm); và theo các tỉnh thành để phục vụ cho việc khai thác thế mạnh của mỗi vùng, làm cho kinh tế
xã hội của các vùng phát triển tương đối đồng đều, góp phần bảo đảm nền kinh tế quốc dân phát triển bền vững
2.2.1.3 Vai trò của khu công nghiệp
Theo Nguyễn Công Toàn (2013), KCN có những vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội
Trang 28a Vai trò kinh tế
KCN là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng với nhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng Đây chính là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài Một số công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình độ tay nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại Việt Nam Đây cũng là những nhân tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Cùng với dòng vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, trong
đó có cả những dự án công nghiệp kỹ thuật cao những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử…
Nhờ áp dụng nguyên lý tập trung theo chiều dọc trong xây dựng nhà máy ở KCN nên nguồn nguyên liệu tại chỗ được sử dụng tối đa và giá thành sản phẩm giảm đáng kể Các KCN được trang bị đầy đủ cơ sở hạ tầng nên các nhà đầu tư khi đến các KCN sẽ giảm được rất nhiều chi phí ngoài doanh nghiệp như chi phí mua đất xây dựng nhà máy với giá cao, phí tự xây dựng nhà máy, đường giao thông, hệ thống điện Nhờ
có sẵn các doanh nghiệp cung cấp đầu vào và tạo đầu ra cho nhà máy do các nhà máy được tập trung vào một khu vực nên các doanh nghiệp giải quyết dễ dàng đầu ra, đầu vào với chi phí thấp nhất
Việc phát triển các KCN góp phần thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Với quá trình phát triển KCN, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực
đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng
Trang 29- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút dự án đầu tư Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút dự
án công nghiệp vào KCN
- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các
dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh
- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vực như: Nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN
Cơ chế quản lý “một cửa tại chỗ” trong KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các thủ tục xuất, nhập khẩu vật tư, hàng hóa cho sản xuất, thủ tục hải quan, thuế, tuyển dụng lao động… Trong khi
đó, các doanh nghiệp công nghiệp ở ngoài KCN rất vất vả khi giải quyết các vấn đề nêu trên
b Vai trò xã hội
Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Nước ta từ một nước nông nghiệp đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, nhu cầu việc làm rất lớn Phát triển công nghiệp nói chung và các KCN nói riêng nhằm tạo ra nhiều việc làm,
Trang 30thu hút ngày càng nhiều lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất ở khu vực này
Người lao động ở các KCN có nhiều cơ hội để phát triển so với việc họ thường nghỉ dài trong mùa nông nhàn, không có việc làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập rất
ít, bấp bênh Họ được trực tiếp tiếp cận với công nghệ sản xuất hiện đại, phương thức quản trị kinh doanh tiên tiến và được đào tạo kỹ năng chuyên môn để đáp ứng yêu cầu công việc Nhờ vậy, trình độ tay nghề và sức sáng tạo của người lao động được nâng lên rõ rệt, đồng thời họ cũng rèn cho mình tác phong làm việc công nghiệp, có hiệu quả và năng suất cao, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, tạo nên một thị trường lao động với đầy đủ yếu tố cung cấp và cạnh tranh Qua đó thúc đẩy sự quan tâm của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo, làm chuyển đổi cơ cấu lao động và hình thành đội ngũ lao động lành nghề Đối với Việt Nam, đào tạo nguồn nhân lực là một việc làm quan trọng vì lao động có chuyên môn và hàm lượng chất xám cao sẽ làm ra những sản phẩm có giá trị cao, đóng góp tích cực vào quá trình CNH - HĐH đất nước, đồng thời làm thay đổi cơ cấu lao động vốn chủ yếu là lao động nông nghiệp
Người lao động trong KCN thường xuyên có việc làm, thu nhập tăng và đời sống khá ổn định, giúp họ xóa đói giảm nghèo, giảm bớt các tệ nạn xã hội Những năm gần đây, người lao động ngày càng được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, cũng như được đảm bảo các quyền lợi về lao động
Phát triển kinh tế - xã hội vùng: Trên cơ sở lợi thế của vùng, phát triển KCN vừa khai thác lợi thế của vùng và vừa tránh được đầu tư phân tán, phát huy được hiệu quả của vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Phát triển KCN là phát triển công nghiệp theo quy hoạch nên tiết kiệm và phát huy hiệu quả sử dụng đất và các nguồn lực khác, hình thành các đô thị mới, thực hiện văn minh, tiến bộ xã hội Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Phát triển KCN là giải pháp quan trọng trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở các vùng
c Bảo vệ môi trường
KCN là nơi tập trung các cơ sở sản xuất nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường KCN là địa điểm tốt để di dời các cơ
Trang 31sở sản xuất gây ô nhiễm từ nội thành giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường
đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng trong khu vực, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững
Phát triển KCN là phát triển công nghiệp theo quy hoạch, qua đó góp phần đẩy mạnh các hoạt động kinh tế xã hội theo định hướng bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; ngăn chặn tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường
2.2.2 Lợi ích của việc chọn đầu tƣ v o KCN
Khu công nghiệp có thể là một giải pháp để tăng khả năng cạnh tranh của địa phương thông qua những gì nó cung cấp như: cơ chế, dịch vụ hiện đại trong quản lý,
tư vấn tài chính, đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ thông tin, cơ sở chia sẻ các nghiên cứu và riêng cơ sở hạ tầng được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của các công ty thông qua các dịch vụ hiện đại phục vụ cho việc triển khai và phát triển kinh doanh (Eugenia and Georgeta, 2014) Sự hình thành và phát triển của KCN có thể được đánh giá thông qua sự đạt được các lợi ích do KCN mang lại cho một địa phương và các dự
án đầu tư vào KCN
2.2.2.1 Lợi ích của địa phương có KCN:
Các KCN ở các địa phương được hình thành nhằm mục đích thu hút các dự án đầu tư để tạo ra công ăn việc làm và nâng cao thu nhập Lợi ích mà KCN có thể mang lại và góp phần phát triển địa phương được đo bằng số lượng công ăn việc làm mới được tạo ra, thu nhập nhận được của các tổ chức địa phương bằng cách nộp thuế, tăng giá trị bất động sản Các cơ hội tạo việc làm mới cùng với sự tăng trưởng thu nhập tích cực sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của địa phương (Castells và Hall, 1994)
Các KCN được quy hoạch và xây dựng đều có hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, trong đó hệ thống xử lý nước thải được đảm bảo phục vụ toàn bộ các dự án đầu
tư trong KCN Điều này có thể giúp địa phương hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường do các nhà máy gây ra Đồng thời, khi các dự án đầu tư vào KCN sẽ giúp cho công tác quản lý của nhà nước được thuận lợi hơn do các dự án này tập trung lại với nhau trong KCN, công tác quản lý an ninh trật tự và an toàn xã hội cũng được thực hiện dễ dàng hơn Sự có mặt của các dự án đầu tư có thể giúp địa phương hình thành
Trang 32nên thị trường nguyên liệu và thị trường lao động ổn định để cung cấp cho các dự án đầu tư trong KCN
2.2.2.2 Lợi ích các dự án đầu tư có được từ KCN
Theo Eugenia and Georgeta (2014), các nhà sản xuất hoạt động trong khu công nghiệp sẽ nhận được lợi ích lớn hơn với chi phí thấp hơn; các doanh nghiệp được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng sẵn có của KCN thông qua việc tham gia các dự án đầu tư; năng suất và hiệu quả sản xuất cao hơn Theo đó, các dự án đầu tư vào KCN có thể đạt được một số lợi ích mà nếu đầu tư ở những vị trí khác không có được như:
- Quỹ đất lớn và sạch: đối với một dự án đầu tư, nhất là dự án sản xuất thì đất
để xây dựng dự án rất quan trọng, nếu không có đất thì khó có thể thực hiện được dự
án Để có được diện tích đất sạch và đáp ứng nhu cầu là một quá trình rất khó khăn đối với nhà đầu tư nếu đầu tư ở bên ngoài KCN, nhưng lại rất dễ dàng nếu đầu tư trong KCN Nguyên nhân là do công tác bồi thường giải tỏa thường phức tạp, kéo dài và đa
số là có xảy ra khiếu kiện, khiếu nại ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư của doanh nghiệp, chi phí đầu tư tăng, trong khi dự án đầu tư chưa thực hiện được và phải trả lãi vay ngân hàng (trường hợp vay để đầu tư), có thể làm mất đi cơ hội đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp
- Chính quyền ủng hộ: chủ trương của nhà nước là khuyến khích thu hút đầu tư vào KCN và xem đây là mô hình để phát triển đất nước theo hướng CNH-HĐH Việc các dự án đầu tư vào KCN rất được khuyến khích và ưu đãi
- Giá thuê và thời gian thuê đất ổn định lâu dài: giá thuê đất trong các KCN thường được duy trì ổn định trong thời gian dài, thường là 50 năm, doanh nghiệp không phải tăng thêm chi phí cho việc trả tiền thuê đất Phương án thanh toán tiền thuê đất linh hoạt do nhà đầu tư thỏa thuận với chủ đầu tư hạ tầng KCN sẽ giúp nhà đầu tư
có kế hoạch tài chính thích hợp trong việc đầu tư của mình
- Dự án đầu tư được đảm bảo hoạt động ổn định, lâu dài, không bị giải tỏa: các KCN được địa phương quy hoạch thành các khu vực phục vụ phát triển công nghiệp của địa phương, có thời gian ổn định rất lâu và theo sự phát triển của cả nước để thu hút các dự án đầu tư thuộc các ngành công nghiệp đầu tư dài hạn Do đó, khi đầu tư
Trang 33vào KCN đồng nghĩa với việc nhà đầu tư được chính quyền địa phương đảm bảo sự ổn định về quy hoạch và không bị di dời trong tương lai
- Hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện, giao thông vận tải (đường thủy và bộ) thuận lợi, thông tin liên lạc được bảo đảm, hệ thống điện nước xuyên suốt, hệ thống xử lý nước thải bảo vệ môi trường; có bến bãi phù hợp phục vụ tập kết và lên xuống hàng hóa
- Các dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp, được sự quan tâm của chính quyền địa phương: Các KCN do Ban Quản lý KCN của địa phương quản lý theo một hệ thống tiêu chuẩn chất lượng nhất định Một khi các dự án trong KCN gặp vấn đề trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình (như công nhân đình công, ngộ độc thực phẩm, mất an ninh trật tự …) đều được Ban Quản lý KCN phối hợp với các ban, ngành của địa phương hỗ trợ giải quyết kịp thời, nhanh chóng, đảm bảo hoạt động ổn định của các dự án đầu tư
2.3 Các yếu tố ản ƣởn đến việc chọn đầu tƣ của doanh nghiệp
Từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đã xác định nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn đầu tư của doanh nghiệp vào KCN, một trong những yếu tố quan trọng nhất là địa điểm đầu tư Địa điểm đầu tư chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: thị trường tiềm năng, lợi thế về chi phí, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội, những ưu đãi và hỗ trợ (Nguyễn Mạnh Toàn, 2010)
Trong nghiên cứu này, dựa vào cơ sở lý thuyết, các công trình nghiên cứu trước đây và điều kiện thực tế của Bình Thuận, nghiên cứu xác định việc chọn đầu tư vào KCN ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
2.3.1 N n đầu tƣ (NGANH) của dự án
Ngành đầu tư được hiểu là các ngành nghề, lĩnh vực chính mà doanh nghiệp đăng ký thực hiện trong hoạt động đầu tư và không thuộc ngành nghề bị cấm theo quy định pháp luật tại nước đầu tư (Luật Đầu tư Việt Nam, 2014) Theo lý thuyết của Krugman (1991), nhiều doanh nghiệp sản xuất tập trung tại cùng một khu vực sẽ có được lợi thế là gần các nhà sản xuất khác tạo thành một khu vực công nghiệp tập trung Do đó, vấn đề đặt ra là doanh nghiệp thực hiện đầu tư vào các ngành nghề kinh doanh chính thuộc lĩnh vực sản xuất có khả năng đầu tư vào KCN; Các doanh nghiệp
Trang 34thường tập trung lại với nhau để đầu tư vào những ngành sản xuất tương tự nhau nhằm tận dụng lợi thế kinh tế nhờ quy mô (Krugman và Obstfeld,1991)
Giả thuyết H 1 : DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thì có xu hướng chọn đầu
tư vào KCN hơn so với các DN hoạt động trong các lĩnh vực khác
2.3.2 Diện tíc đất của dự án (DIENTICH)
Diện tích đất dự án là phần diện tích đất được hình thành từ việc thuê hoặc mua
để phục vụ hoạt động của dự án đầu tư Đất đai là tài sản của doanh nghiệp (Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều, 2011) Theo Pindyck và Rubinfeld (1999), tài sản là cái đem lại một luồng tiền cho người chủ sở hữu nó; theo đó, người chủ tài sản có thể đem cho thuê hoặc thế chấp ở ngân hàng để lấy tiền thực hiện dự án Luồng tiền mà người chủ sở hữu nhận được có thể tồn tại dưới dạng những khoản tiền được trả công khai (tiền cho thuê, thế chấp ngân hàng), hoặc tiền phát sinh từ quyền sở hữu tài sản dưới dạng ngầm, nó tồn tại dưới hình thức tăng hoặc giảm giá hoặc giá trị của tài sản
Đối với một dự án đầu tư, nhất là đầu tư vào lĩnh vực sản xuất thì việc sử dụng đất để xây dựng trụ sở, nhà xưởng là rất cần thiết Diện tích đất của một dự án cho biết được quy mô đầu tư Trường hợp doanh nghiệp không sở hữu được diện tích đất như nhu cầu thì khả năng đầu tư của doanh nghiệp có thể rất thấp, hoặc thậm chí là không đầu tư Khi đó doanh nghiệp có khả năng sẽ tìm đến những khu vực khác có diện tích phù hợp với nhu cầu, quy mô dự án để đầu tư
Diện tích đất trong các KCN thường là đất sạch, đã thực hiện xong việc bồi thường giải tỏa và hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, nước, thoát nước, xử lý nước thải, thông tin liên lạc được xây dựng hoàn chỉnh, nhà đầu tư có thể tiến hành đầu tư xây dựng dự án ngay khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện dự án đúng kế hoạch và tiến độ quy định nhằm thực hiện các mục đích sản xuất kinh doanh của mình Tuy nhiên các KCN ở Bình Thuận có diện tích tương đối nhỏ so với mặt bằng chung của tỉnh, hiện nay tổng diện tích các KCN là 3.016 ha, nhưng diện tích đất thương phẩm sẵn sàng cho thuê mới chỉ được 645 ha, vì vậy nếu một dự án đầu tư có sử dụng đất với diện tích lớn thì càng khó khăn hơn trong việc bố trí mặt bằng trong KCN, có lẽ đây là tính đặc trưng của KCN Bình Thuận
Giả thuyết H 2 : DN sử dụng đất với diện tích lớn thường chọn đầu tư ngoài KCN
Trang 352.3.3 Tổng vốn đầu tƣ (TONGVON) của dự án
Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu
tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp (Phùng Xuân Nhạ, 2001) Theo
đó, vốn đầu tư thể hiện quy mô của doanh nghiệp, một doanh nghiệp có vốn lớn thì quy mô lớn và ngược lại; mặt khác, vốn đầu tư cũng thể hiện khả năng sinh lợi của dự
án đầu tư, dự án có vốn lớn thì khả năng sinh lợi cao Khi doanh nghiệp có vốn lớn thì khả năng thực hiện các dự án đầu tư sẽ cao và đúng tiến độ dự án
Bàn về vốn đầu tư, Goetzmann (1996) cho rằng khi chúng ta tìm thấy một cơ hội đầu tư tuyệt vời, nhưng chúng ta thiếu tiền mặt để tận dụng lợi thế của nó thì chúng ta đi vay - một trong hai nhận từ một ngân hàng, hoặc công khai bằng cách phát hành chứng khoán Như vậy, vốn đầu tư bao gồm vốn tự có và vốn vay Vốn tự có là vốn xuất phát từ lợi nhuận tích lũy của doanh nghiệp, vốn vay là vốn doanh nghiệp vay từ các ngân hàng thương mại hay các nguồn khác Thông thường thì vốn đầu tư không hẳn là vốn của doanh nghiệp mà có thể là do đi vay Nguồn vốn tự có là nguồn gốc để đầu tư quan trọng nhất đối với doanh nghiệp; kế đến là nguồn vốn vay từ các hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh Dự án đầu tư trong nước thì vốn đầu tư thường được tính bằng VND, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì tính bằng USD quy đổi VND và tiền vay của doanh nghiệp được tính bằng VND
Các doanh nghiệp đầu tư vào KCN ngoài việc bỏ vốn để nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận còn góp phần tác động tích cực đến địa điểm mà doanh nghiệp chọn đầu
tư như: góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, phát triển các khu dân cư, trung tâm mua sắm quanh khu vực
có dự án đầu tư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng CNH-HĐH; Tuy nhiên cũng phát sinh một số tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, an ninh trật tự và tệ nạn xã hội Việc thu hút nhiều hay ít vốn đầu tư vào KCN thể hiện kết quả của việc đầu
tư hạ tầng KCN và chính sách thu hút đầu tư của một địa phương
Giả thuyết H 3 : DN có vốn đầu tư càng lớn thì có xu hướng chọn đầu tư vào KCN
Trang 362.3.4 Thời gian hoạt động của dự án (Vòn đời dự án) (THOIGIAN_HD)
Một công ty có quy mô càng lớn thì thời gian hoạt động của nó càng lâu (Hall and Wahab, 2007) Vòng đời dự án xác định các giai đoạn mà một dự án phải trải qua tính từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc dự án (Nguyễn Hữu Quốc, 2007) Các giai đoạn của dự án thường có cơ chế tự hoàn thiện kiểm soát quản lý thông qua các công việc giám sát, đánh giá Thông thường, một dự án đầu tư có thời hạn hoạt động không quá năm mươi năm; trường hợp cần thiết được phép kéo dài thời gian hoạt động nhưng không quá bảy mươi năm (Luật Đầu tư Việt Nam, 2014)
Giữa quy mô và tuổi có liên quan tích cực đến khả năng tồn tại của công ty(Jovanovic, 1982) Thời gian hoạt động của dự án càng lâu cho thấy mức độ ổn định
và khả năng sinh lợi của dự án càng cao, doanh nghiệp đầu tư muốn hoạt động ổn định
và lo sợ bị giải tỏa phải di dời đi đến địa điểm khác nên các chủ đầu tư đòi hỏi phải có một địa điểm hoạt động ổn định, lâu dài KCN được hình thành với thế mạnh về quy hoạch, sự ổn định trong thời gian dài, hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, là hạt nhân thu hút người lao động, dân cư Do đó, các chủ đầu tư thường chọn KCN để thực hiện dự
án đầu tư
Giả thuyết H 4 : dự án đầu tư có thời gian hoạt động càng lâu thì DN có xu hướng chọn đầu tư vào KCN hơn so với các dự án đầu tư có thời gian hoạt động ngắn
2.3.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án (THITRUONG_TT)
Theo Steinermann và ctg (2008), thị trường là một tổ chức hay một cấu trúc giúp đưa người tiêu dùng (người mua) và nhà sản xuất (người bán) hàng hóa dịch vụ đến với nhau Người tiêu dùng và các nhà sản xuất đều có thể là các cá nhân, hộ gia đình, công ty tư nhân, các cơ quan nhà nước và các đơn vị khác Một hệ thống thị trường cần phải được xem xét kỹ lưỡng quá trình ra quyết định của người tiêu dùng và nhà sản xuất Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến quyết định của người sản xuất trong việc lựa chọn thị trường tiêu thụ sản phẩm đó là doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm trong nước (không xuất khẩu) hay nước ngoài (xuất khẩu) Khi doanh nghiệp muốn có một thị trường tiêu thụ rộng lớn thì điều kiện cần thiết đầu tiên là doanh nghiệp phải có sản phẩm để xuất khẩu Việc doanh nghiệp xuất khẩu có tác động đến cán cân thương mại của một nước
Trang 37Theo Begg và ctg (2007), doanh nghiệp xuất khẩu là những doanh nghiệp sản xuất hàng hóa ở trong nước nhưng bán ra nước ngoài và nhập khẩu là những hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài và được cư dân trong nước mua; nếu giá trị xuất khẩu ròng có giá trị dương thì nền kinh tế có thặng dư thương mại; nếu nhập khẩu vượt quá xuất khẩu thì nền kinh tế bị thâm hụt thương mại Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa thường phải tuân thủ những quy định khắc khe của nước nhập khẩu, một trong những tiêu chuẩn đó là nguồn gốc xuất xứ hàng hóa Để đáp ứng yêu cầu khắt khe về nguồn gốc của sản phẩm xuất khẩu thì KCN là lựa chọn đầu tiên để doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng, sản xuất sản phẩm Doanh nghiệp chọn KCN làm địa điểm đầu tư là bởi vì nơi đây có hệ thống quản lý chặt chẽ, đảm bảo cho hoạt động ổn định của doanh nghiệp và điều đặc biệt là KCN đảm bảo được các tiêu chí mà một doanh nghiệp xuất khẩu cần (hệ thống xử lý nước thải, thị trường lao động, nguồn đất sạch, nguồn nguyên liệu …)
và việc chứng nhận nguồn gốc xuất xứ hàng hóa của doanh nghiệp trong KCN là việc làm đơn giản, dễ thực hiện, giúp cho doanh nghiệp thuận lợi hơn trong hoạt động xuất khẩu
Các doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài khi nhập khẩu sản phẩm của Việt Nam thường đi kiểm tra, giám sát thực tế để đánh giá khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn sản phẩm như vệ sinh, môi trường, quy trình hình thành sản phẩm
…trước khi ra quyết định nhập khẩu hàng hóa Do đó, đầu tư vào KCN sẽ đáp ứng được điều này, sản phẩm của các doanh nghiệp trong KCN sẽ dễ dàng được các doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài chấp nhận
Giả thuyết H 5 : DN xuất khẩu có khả năng chọn đầu tư vào KCN cao hơn DN không xuất khẩu
2.3.6 Hình thức sở hữu (HINHTHUCSOHUU) của dự án đầu tƣ
Có nhiều hình thức đầu tư như đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, đầu tư trong nước hay đầu tư nước ngoài Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về hình thức đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Nguyên nhân của đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa vào các lợi thế so sánh của địa điểm tiếp nhận đầu tư
Theo Krugman và Obstfeld (1991), lợi thế so sánh có thể tồn tại chỉ vì sự khác biệt quốc tế về năng suất lao động; đồng thời, thương mại quốc tế xảy ra cũng được phản ánh bằng sự khác biệt về nguồn lực giữa các nước Đó là động lực thúc đẩy đầu
Trang 38tư nước ngoài để tận dụng lợi thế về nguồn lực của các nước khác Các nhà đầu tư nước ngoài thường chọn các KCN để đầu tư vì đây là những vị trí có lợi thế kinh tế nhờ quy mô
Một điều đáng lưu ý là các địa phương thường có xu hướng thu hút doanh nghiệp từ các nơi khác, điều này sẽ giúp địa phương cải thiện vị thế cạnh tranh của họ
so với các địa phương khác (Kotler, 2000) Các công ty nước ngoài, trong điều kiện hiện tại của sự tích tụ kinh tế, có thể được thúc đẩy để xác định vị trí trong khu vực công nghiệp đã được tập trung (Shaver, 1998) Việc này đã giải thích được vấn đề về chính sách, dự án và đối tượng thu hút đầu tư của các địa phương Hình thức đầu tư được xem là một trong những đặc trưng của việc thu hút đầu tư, thực tế thời gian qua
đã cho thấy có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Bình Thuận, nhất là các KCN, góp phần tăng tỷ trọng thu hút vốn FDI vào tăng trưởng GDP của tỉnh
Giả thuyết H 6 : Nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng chọn đầu tư vào KCN
2.3.7 Các đặc tính về N ƣời đại diện pháp luật của doanh nghiệp thực hiện
dự án đầu tƣ
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người chịu trách nhiệm về tất cả hoạt động của doanh nghiệp theo quy định pháp luật Trong nghiên cứu này, người đại diện pháp luật của doanh nghiệp được mô tả thông qua các yếu tố như: độ tuổi, giới tính (nam, nữ), bằng cấp nghề (SOTHANGHOC) Người đại diện theo pháp luật là người chịu trách nhiệm chính đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp Xác định được độ tuổi, giới tính, bằng cấp nghề người đại diện sẽ xác định được trình độ, hành vi quản lý doanh nghiệp Thông thường, các địa phương có xu hướng muốn thu hút các nhà doanh nghiệp tiềm năng đến địa phương mình; các nhà doanh nghiệp tiềm năng này xem xét rất kỹ triển vọng phát triển của địa phương và xem xét khả năng địa phương có thể trở thành một cộng đồng để sống và làm việc (Kotler, 2000) Chủ đầu
tư có xu hướng muốn hoạt động ổn định, an toàn tại một địa phương hơn là phải thường xuyên thay đổi địa bàn hoạt động Điều này sẽ được đáp ứng khi doanh nghiệp đầu tư vào KCN, đây có thể là lựa chọn tối ưu nhất đến thời điểm hiện nay Lựa chọn địa điểm đầu tư chịu ảnh hưởng bởi độ tuổi, giới tính, bằng cấp nghề của đại diện doanh nghiệp, các giả thuyết đặt ra là:
Trang 39+ Giả thuyết H 7 : Tuổi người đại diện càng cao thì khả năng chọn đầu tư vào KCN càng cao
Khi tuổi cao, con người sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm và vốn, họ cần có
sự ổn định, có biện pháp bảo vệ an toàn để đảm bảo cho việc đầu tư, KCN được sự quản lý của nhà nước, đảm bảo sự ổn định và an toàn theo nhu cầu của nhà đầu tư nên
sẽ thu hút được các dự án đầu tư
+ Giả thuyết H 8 : DN do người nam quản lý có xu hướng chọn đầu tư vào KCN
Đa số các doanh nghiệp có người quản lý là nam, có nhiều kinh nghiệm và khả năng lãnh đạo sẽ chọn những địa điểm có nhiều thuận lợi để đầu tư như: vị trí địa lý, nguồn lao động, nguồn nguyên liệu, tư vấn tài chính, đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật, dịch
vụ thông tin, cơ sở chia sẻ và hạ tầng kỹ thuật được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của các công ty bằng cách cung cấp các dịch vụ hiện đại cho việc triển khai và phát triển kinh doanh Các tiêu chí này thường được cung cấp bởi các KCN (Eugenia and Georgeta, 2014)
+ Giả thuyết H 9 : Bằng cấp nghề của người đại diện DN càng cao thì có xu hướng chọn đầu tư vào KCN càng lớn
Bằng cấp nghề thể hiện số tháng học nghề của người đại diện Khi trình độ nghề càng cao, người đại diện doanh nghiệp càng có khả năng tiếp cận các phương thức khoa học quản lý hiện đại giúp công ty phát triển hơn và có nhiều cơ hội hơn, đồng thời có mối quan hệ rộng hơn, thông hiểu về các thể chế, quy định chính sách nhiều hơn để lựa chọn vị trí đầu tư phù hợp, một vị trí cần có sự ổn định, có biện pháp bảo vệ an toàn để đảm bảo cho việc đầu tư Điều này sẽ được đáp ứng khi doanh nghiệp đầu tư vào KCN
tư vào KCN chủ đầu tư là người đánh giá và quyết định cuối cùng xem có nên hay
Trang 40không nên chọn KCN làm nơi thực hiện dự án đầu tư Chủ đầu tư có thể là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc không phải là người đại diện pháp luật của doanh nghiệp Trường hợp chủ đầu tư cũng chính là người đại diện pháp luật của doanh nghiệp thì được xem là doanh nghiệp của chủ đầu tư, do chủ đầu tư sở hữu và chịu trách nhiệm trong hoạt động đầu tư Trường hợp chủ đầu tư không phải là người đại diện pháp luật của doanh nghiệp thì chủ đầu tư đóng vai trò là người sở hữu vốn lớn của doanh nghiệp, không chịu trách nhiệm trong hoạt động của doanh nghiệp, người đại diện pháp luật chỉ là người sở hữu vốn ít hoặc là người làm thuê và chịu trách nhiệm trong hoạt động của doanh nghiệp Trong điều kiện thực tế ở Bình Thuận thời gian qua, đa số chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân ngoài tỉnh đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Có nhiều cách thức phân loại chủ đầu tư, trong nghiên cứu này, phân loại chủ đầu tư gồm hai thành phần: Hình thức chủ đầu tư (trong tỉnh, ngoài tỉnh) và tình trạng chủ đầu tư (tổ chức, cá nhân)
Các chủ đầu tư trong tỉnh thường ít có sự thay đổi về địa điểm đầu tư, do các chủ đầu tư này đã có sẵn địa điểm đầu tư cố định, việc di chuyển khỏi địa điểm cũ để đến một địa điểm mới là rất ít hoặc nếu có là do doanh nghiệp thuộc vào trường hợp bắt buộc phải di dời đến đia điểm mới Theo Kotler (2000), các địa phương thường có
xu hướng thu hút các doanh nghiệp từ nơi khác đến đầu tư nhằm cải thiện lợi thế cạnh tranh của địa phương mình Khi các doanh nghiệp từ nơi khác đến đầu tư có thể mang theo vốn, thiết bị, nhân lực và trình độ khoa học kỹ thuật, sẽ tạo nên hiệu ứng lan tỏa công nghệ Khi các doanh nghiệp đến tỉnh đầu tư thường chọn đầu tư vào KCN vì nơi đây có được diện tích đất sạch với các điều kiện về cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động ổn định, lâu dài
+ Giả thuyết H 10 : Chủ đầu tư ngoài tỉnh có tác động cùng chiều (+) với việc chọn đầu tư vào KCN
Các chủ đầu tư khi đến Tỉnh thường là các tổ chức ở nơi khác, việc đầu tư tại Tỉnh có thể do nhu cầu mở rộng quy mô của nhà đầu tư hoặc do nhìn thấy cơ hội khi đầu tư tại Tỉnh Các tổ chức này đã hoạt động ở những nơi khác trong thời gian dài, đã thực hiện một hoặc nhiều dự án đầu tư, có quy mô, kinh nghiệm đầu tư và thường có thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định Do đó họ thường chọn đầu tư vào KCN để tận