TỔNG QUAN
LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.1.1 Định nghĩa về Rủi ro:
Rủi ro là khả năng xảy ra của các biến cố ngoài tầm kiểm soát, với xác suất xảy ra dưới 1 Nói cách khác, rủi ro phản ánh sự sai lệch lớn giữa thực tế và những dự kiến ban đầu, dẫn đến những hậu quả không thể chấp nhận.
Rủi ro là một khái niệm phổ biến trong nhiều lĩnh vực và cuộc sống hàng ngày Nó được định nghĩa là những thiệt hại, mất mát, và nguy hiểm có thể xảy ra cho con người, liên quan đến các yếu tố không chắc chắn Theo Hertz và Thomas, rủi ro bao gồm nhiều tình huống bất ngờ và không thể đoán trước Perry và Hayes cho rằng rủi ro là sự kiện không chắc chắn có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến mục tiêu dự án VOER phân loại rủi ro thành hai quan điểm: truyền thống và hiện đại, trong đó rủi ro vừa có thể gây tổn thất, vừa mang lại cơ hội Nhà xuất bản Chính trị quốc gia định nghĩa rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được, đồng quan điểm với Frank H Knight Cuối cùng, từ góc độ người tiêu dùng, rủi ro còn là những sai sót khi lựa chọn sản phẩm không phù hợp với nhu cầu.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 20
Rủi ro có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực, mục đích và phạm vi công việc Mặc dù khái niệm rủi ro có thể thay đổi, vẫn có thể đạt được một định nghĩa tương đối thống nhất Theo tiêu chuẩn quốc tế, định nghĩa về rủi ro được công nhận trong Điều 4 của ISO 9001:2015 là "rủi ro như ảnh hưởng của sự không chắc chắn về một kết quả mong đợi".
2.1.2 Định nghĩa về rủi ro trong thi công xây dựng:
Rủi ro trong thi công xây dựng là?
Sự không chắc chắn hoặc các mối nguy hiểm
Các kết quả thực tế chệch hướng khỏi dự báo/ Kế hoạch
Mất mát, thương tổn, sự bất lợi, sự hủy diệt/ phá hoại
Có thể xác định số lượng các rủi ro nhưng tính bất trắc thì không thể xác định
Theo định nghĩa tại Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 31000:2011 (ISO 31000:2009) QUẢN
Rủi ro trong quản lý dự án là khả năng xảy ra các sự kiện không lường trước, có thể tác động tiêu cực đến chi phí, thời gian và chất lượng của dự án Việc nhận diện và quản lý rủi ro là rất quan trọng để đảm bảo thành công trong quá trình thực hiện dự án.
2.1.3 Định nghĩa về Nhận dạng và Phân loại:
Nhận dạng rủi ro là một quá trình liên tục, vì rủi ro mới có thể xuất hiện trong suốt vòng đời của dự án, trong khi các rủi ro đã được xác định có thể giảm đi Các dự án xây dựng thường đối mặt với những rủi ro phức tạp, ảnh hưởng đến tất cả các bên liên quan như chủ sở hữu, tư vấn giám sát, nhà thầu và nhà cung cấp, đặc biệt khi xây dựng gần các cơ sở hoạt động hoặc khu vực đông đúc Những rủi ro này bao gồm điều kiện địa chất, ô nhiễm, can thiệp vào các hoạt động hiện tại, tai nạn trong quá trình xây dựng, cùng với các lỗi thiết kế và xây dựng có thể tác động tiêu cực đến dự án cả trong giai đoạn thi công lẫn sau khi hoàn thành.
Việc nhận dạng các rủi ro dự án chủ yếu được thực hiện dựa trên 02 phương pháp sau:
Dựa vào các yếu tố như năng lực và kinh nghiệm của tổ chức hoặc cá nhân tham gia, quy mô và tính chất của dự án, cùng với môi trường làm việc và điều kiện địa phương, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả và khả năng thành công của dự án.
Bài viết này dựa trên việc thu thập và phân tích dữ liệu từ các bài báo và nghiên cứu khoa học, đồng thời khảo sát ý kiến của các chuyên gia và kỹ sư tham gia trực tiếp vào công tác thi công xây dựng tại các dự án.
Rủi ro được phân thành 02 loại như sau:
Rủi ro khách quan là những rủi ro phát sinh từ các yếu tố ngẫu nhiên và không thể dự đoán trước, bao gồm thời tiết, địa chất, điều kiện về nhân lực, thiết bị và hàng hóa tại địa phương, biến động giá nhân công và nguyên vật liệu, cũng như các yếu tố chính trị và xã hội.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 21
Rủi ro chủ quan liên quan đến quyết định của nhà quản lý, bao gồm các sai sót trong điều chỉnh hồ sơ thiết kế, biện pháp thi công, quản lý nhân lực và thiết bị, quy trình phối hợp thông tin giữa các bên liên quan, cũng như các vấn đề về tài chính dự án, an toàn lao động và vệ sinh môi trường.
2.1.4 Định nghĩa về Quản lý rủi ro trong thi công xây dựng:
Quản lý rủi ro trong dự án xây dựng là quá trình quan trọng giúp đạt được mục tiêu về tiến độ, chi phí, chất lượng, an toàn lao động và bảo vệ môi trường Quá trình này cần được thực hiện một cách hệ thống từ giai đoạn lập kế hoạch cho đến khi hoàn thành dự án Việc áp dụng các hoạt động và phương pháp kiểm soát rủi ro một cách thích hợp là cần thiết để đảm bảo thành công cho dự án.
Quản lý rủi ro trong dự án xây dựng rất quan trọng, nhưng nhiều công cụ hiện có không phù hợp với tất cả các ngành và tổ chức Mặc dù các tổ chức đánh giá cao lợi ích của quản lý rủi ro, nhưng việc áp dụng các kỹ thuật phân tích rủi ro chính thức vẫn còn hạn chế do thiếu kiến thức và sự nghi ngờ về tính phù hợp Để xử lý rủi ro trong dự án xây dựng, có bốn chiến lược thay thế: tránh rủi ro, chuyển rủi ro, giảm thiểu rủi ro và chấp nhận rủi ro.
Quản lý rủi ro hiệu quả yêu cầu xác định và phân bổ rủi ro một cách rõ ràng, điều này chỉ khả thi khi các bên tham gia hợp đồng hiểu rõ trách nhiệm và điều kiện liên quan đến rủi ro Hiện nay, do thiếu nhà thầu có trách nhiệm và kiểm soát trong các giai đoạn phát triển dự án, chất lượng thực hiện của các dự án xây dựng tại Việt Nam thường không đạt yêu cầu Trong lĩnh vực xây dựng, các bên như chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu, nhà thầu phụ và nhà cung cấp đều phải đối mặt với những rủi ro riêng biệt Chuyển giao rủi ro đề cập đến việc chuyển trách nhiệm rủi ro cho một bên khác thông qua bảo hiểm hoặc hợp đồng.
- Bảo hiểm tiên tiến cho các công ty bảo hiểm;
- Hợp đồng thầu phụ/ Nhà cung cấp;
- Sửa đổi các điều khoản và điều kiện hợp đồng cho khách hàng hoặc các bên khác.
MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TƯƠNG TỰ
2.2.1 Một số nghiên cứu của nước ngoài:
Một nghiên cứu của Nur Alkaf Karim và Rahman Hameed Memon (2012) tại Malaysia đã xác định các rủi ro đáng kể ảnh hưởng đến dự án xây dựng từ góc độ của nhà thầu thi công Bài báo đã liệt kê 25 rủi ro phổ biến, được phân loại thành 5 nhóm khác nhau, thông qua việc khảo sát và phân tích các tác phẩm văn học liên quan.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 22
Nghiên cứu từ 74 nhà thầu và 100 người có kinh nghiệm từ 5 đến hơn 15 năm đã chỉ ra năm rủi ro quan trọng trong dự án thi công xây dựng, bao gồm: thiếu nguyên liệu, chậm trễ giao vật liệu, không áp dụng khoa học công nghệ vào xây dựng, chất lượng tay nghề kém và khó khăn về dòng tiền.
Theo nghiên cứu của Abdulaziz M.Jarkas và C Haupt (2014), có 37 yếu tố rủi ro tiềm ẩn trong ngành xây dựng, được phân loại thành 4 nhóm chính: thông tin của cán bộ kỹ thuật và hành chính, thiết bị và công cụ, tình hình tài chính và sức mạnh, cùng năng lực kinh nghiệm Nghiên cứu khảo sát 126 nhà thầu xây dựng tại Qatar, cho thấy các yếu tố rủi ro chính bao gồm: (1) quá trình ra quyết định chậm từ chủ đầu tư; (2) chậm trễ thanh toán từ chủ đầu tư; (3) thay đổi đơn đặt hàng thường xuyên; (4) lỗi và thiếu sót trong bản vẽ thiết kế; (5) thiếu yêu cầu vật liệu; (6) khó khăn tài chính của nhà thầu; (7) sự rõ ràng của bản vẽ và thông số kỹ thuật; (8) thiếu cán bộ kỹ thuật và lao động lành nghề; (9) giao tài liệu trễ; và (10) chậm trễ trong phản ứng của các nhà tư vấn đối với các yêu cầu thông tin (RFI).
Theo nghiên cứu của Alberto De Marco (2013), các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị dòng tiền của các dự án chăm sóc sức khỏe tư nhân hợp tác công tư (PPP) tại Vương Quốc Anh đã được điều tra Nghiên cứu dựa trên dữ liệu của 49 dự án với tổng giá trị đầu tư lên đến 2,575.5 triệu bảng và quy mô trung bình mỗi dự án là 52.57 triệu bảng, ghi nhận các khoản thanh toán hằng năm từ năm 1992 đến 2060 Kết quả cho thấy các yếu tố rủi ro chính ảnh hưởng đến các dự án bệnh viện PPP/PFI bao gồm tài chính, chính trị, kinh tế, thi công xây dựng và thị trường.
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua một cuộc khảo sát toàn diện và thí nghiệm chuyên môn của các chuyên gia xây dựng tại Hàn Quốc Theo Pejman Rezakhani (2012), các yếu tố rủi ro hiệu quả nhất đã được phân loại và xác định Cuộc khảo sát đã chỉ ra 26 yếu tố rủi ro khác nhau ảnh hưởng đến thi công dự án xây dựng, được phân chia thành 08 nhóm ảnh hưởng chính, trong đó có nhóm không có kế hoạch tổng thể dự án.
Thiếu thông tin dự án, tổ chức bộ máy yếu kém, nhà thầu không đủ năng lực tài chính, quản lý chi phí, tiến độ và chất lượng kém là những vấn đề chính gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của các dự án.
Bằng cách áp dụng phân tích rủi ro phân cấp, hầu hết các rủi ro trong các dự án phức tạp có thể được bảo hiểm, từ đó tạo ra một kế hoạch quản lý rủi ro hiệu quả.
Nghiên cứu của Jamal F Al-Bahar và Keith C Crandall tại Trường Đại học California đã chỉ ra sáu rủi ro chính ảnh hưởng đến dự án thi công xây dựng, dựa trên dữ liệu từ các hồ sơ lịch sử của nhà thầu Các rủi ro này bao gồm: (1) Thời tiết, (2) Tài chính và kinh tế, (3) Thiết kế, (4) Chính trị, (5) Vệ sinh môi trường, và (6) Thi công xây dựng Nghiên cứu này sử dụng mô hình Hệ thống để phân tích và đánh giá các yếu tố rủi ro này.
Mô hình Quản lý Rủi ro Xây dựng (CRMS) là giải pháp thay thế hợp lý cho phương pháp tiếp cận phí hệ thống hiện tại của các nhà thầu Kỹ thuật lập sơ đồ ảnh hưởng và mô phỏng Monte Carlo được sử dụng để phân tích và đánh giá rủi ro, giúp CRMS trở thành công cụ hiệu quả trong việc cung cấp cái nhìn rõ ràng về quản lý rủi ro trong dự án.
Akintola S Akintoye và Malcom J MacLeod (1997) đã tiến hành khảo sát 100 công ty hàng đầu trong ngành xây dựng tại Vương Quốc Anh, bao gồm 70 nhà thầu và 30 công ty quản lý dự án, nhằm phân tích và quản lý rủi ro trong xây dựng Các công ty này đại diện cho một phần lớn trong tổng số 50.000 nhân viên ngành xây dựng tại Vương Quốc Anh, với doanh thu vượt quá 7000 triệu bảng Anh, chiếm 20% sản lượng của các nhà thầu trong giai đoạn 1994-1995 Kết quả khảo sát cho thấy rằng cả nhà thầu và các công ty quản lý dự án đều nhận thức rõ ràng về rủi ro trong ngành, đó là khả năng xảy ra các sự kiện không lường trước có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chi phí, thời gian và chất lượng hoàn thành dự án.
Nghiên cứu của Nerija Banaitiene và Audrius Banaitis (2012) khám phá các quản lý rủi ro và chính sách ngăn chặn, giảm thiểu rủi ro trong dự án thi công xây dựng Bài báo khảo sát qua email 75 quản lý cao cấp và trung cấp trong các công ty xây dựng tại Litva Kết quả cho thấy có 23 rủi ro trong dự án thi công xây dựng, được phân loại thành hai nhóm chính.
- Rủi ro bên ngoài: 03 yếu tố (lực lượng tự nhiên; chính sách tài khóa; kiểm soát chính trị)
- Rủi ro nội bộ: 20 yếu tố
2.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam:
Nghiên cứu của Đỗ Tiến Sỹ (2011) về Chiến lược ứng phó rủi ro của liên doanh xây dựng quốc tế tại Việt Nam (ICJV) đã xác định và phân loại 47 yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến hiệu suất của ICJV thành ba nhóm: nội bộ, cụ thể theo dự án và bên ngoài Qua việc đánh giá tài liệu và phỏng vấn 15 chuyên gia, bài báo đã đề xuất các giải pháp ứng phó rủi ro cho từng yếu tố, cùng với chiến lược quản lý rủi ro Kết quả nghiên cứu này đóng góp vào việc thiết lập hệ thống quản lý rủi ro cho các dự án JCV tại Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG
Hầu hết các nghiên cứu trước đây, cả trong nước và quốc tế, chủ yếu tập trung vào rủi ro trong các dự án xây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật Chỉ có một nghiên cứu duy nhất trong tổng số tám nghiên cứu đề cập đến dự án y tế, nhưng quy mô chỉ giới hạn ở một phòng khám sức khỏe sử dụng vốn ngoài ngân sách theo hình thức hợp đồng hợp tác công – tư (PPP) Do đó, nghiên cứu này nhằm mở rộng hiểu biết về rủi ro trong lĩnh vực y tế.
Nghiên cứu này tập trung vào việc hình thành một khía cạnh quản lý rủi ro mới ở tầm vĩ mô, đặc biệt liên quan đến loại hình dự án và nguồn vốn ít được nghiên cứu Mục tiêu là khỏa lấp điểm khuyết về quản trị rủi ro, hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước và tập đoàn kinh tế tư nhân trong và ngoài nước có cái nhìn cụ thể hơn về công tác này Dự án nghiên cứu sẽ tập trung vào Bệnh viện với nguồn vốn ngoài ngân sách, nhằm nâng cao hiệu quả cho các dự án đầu tư xây dựng.
“Quản lý rủi ro ở giai đoạn thi công dự án Bệnh viện sử dụng nguồn vốn ngoài Ngân sách”
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 25
Sau khi tìm hiểu các nghiên cứu tương tự trước đây, các rủi ro ở giai đoạn thi công xây dựng được tóm tắt trong bảng sau:
No Risk Factor Nur Alkaf
Karim và Rahman Hameed Memon
Abdulaziz M.Jarkas và Theo C Haupt
Jamal F.Al-Bahar và Keith C.Crandall
Nerija Banaitiene and Audrius Banaitis
2 Sự chậm trễ trong phê duyệt dự án và giấy phép x x x
5 Thiếu cán bộ kỹ thuật và lao động lành nghề x x x x x x x
7 Nhà thầu chính chậm thanh toán cho nhà thầu phụ/ Nhà cung cấp x x x x x x x
8 Chủ đầu tư chậm thanh toán cho nhà thầu thi công x x x x x
9 Lỗi hoặc thiếu sót trong bản vẽ x x x
11 Các hiện tượng quan liêu như: tham nhũng, bỏ bước theo quy định, không tuân thủ,… x x
13 Thay đổi đơn hàng/ nguyên vật liệu thường xuyên từ chủ đầu tư x x x x x
14 Thay đổi phạm vi công việc x x x x
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 26
No Risk Factor Nur Alkaf
Karim và Rahman Hameed Memon
Abdulaziz M.Jarkas và Theo C Haupt
Jamal F.Al-Bahar và Keith C.Crandall
Nerija Banaitiene and Audrius Banaitis
15 Thời tiết (thiên tai, hạn hán, lũ lụt, ) x x x
17 Xã hội không ổn định (dịch bệnh, thảm họa, tai nạn, ) x x x x
18 Thay đổi luật pháp và chính sách (Thông tư, Nghị định, văn bản, chỉ thị,…) x x x x
19 Điều kiện về đất đai (pháp lý đất chưa hoàn chỉnh, đất bị thu hồi do quy hoạch,…) x x x
20 Thiếu ứng dụng công nghệ xây dựng x x x
21 Chậm trễ trong việc ra quyết định x x x
22 Không có sẵn hoặc thiếu yếu cầu kỹ thuật cho vật liệu x x x x
23 Chậm trễ trong việc phản ứng của các nhà tư vấn đối với yêu cầu cấp thông tin (RFI) x x x x
24 Sự rõ ràng của bản vẽ và thống số kỹ thuật x x x x
25 Không có kế hoạch tổng thể dự án x x
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 27
No Risk Factor Nur Alkaf
Karim và Rahman Hameed Memon
Abdulaziz M.Jarkas và Theo C Haupt
Jamal F.Al-Bahar và Keith C.Crandall
Nerija Banaitiene and Audrius Banaitis
27 Kinh tế thị trường (lạm phát, lãi suất, ) x x
28 Bị tác động từ yếu tố bên ngoài x x x
29 Thay đổi các điều khoản Hợp đồng (chậm trễ ký, thay đổi/ điều chỉnh, gia hạn, tranh chấp, kiện tụng, ) x x x x x x
Bảng 2.1: Danh sách các yêu tố rủi ro ở giai đoạn thi công xây dựng theo các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 28
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
TÓM TẮT CHƯƠNG
Hình 3.1: Quy trình thực hiện chương 3
Xác định vấn đề nghiên cứu
Khái niệm, lý thuyết nghiên cứu
Nhận dạng các rủi ro
Thiết kế bảng câu hỏi, khảo sát sơ bộ
Phân tích số liệu khảo sát Hiệu chỉnh bộ câu hỏi, khảo sát và thu thập dữ liệu Đánh giá kết quả, đề xuất và kiến nghị giải pháp
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 29
GIAI ĐOẠN 1: NHẬN DẠNG KHẢ NĂNG XẢY RA CÁC RỦI RO Ở GIAI ĐOẠN THI CÔNG XÂY DỰNG
Quy trình nhận dạng khả năng xảy ra được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 3.2: Quy trình nghiên cứu giai đoạn 1
Quy trình nghiên cứu bắt đầu bằng việc xác định các vấn đề và mục tiêu nghiên cứu Phương pháp đầu tiên được áp dụng là đọc hiểu các nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước để nhận diện sơ bộ các rủi ro Tiếp theo, tiến hành khảo sát và thu thập ý kiến từ các chuyên gia tham gia thi công dự án nhằm xác định các rủi ro trong giai đoạn thi công xây dựng.
Quá trình phát triển quy trình tổng thể được thực hiện thông qua việc tham khảo ý kiến và chỉnh sửa từ các kỹ sư, cán bộ và quản lý có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý dự án và thi công xây dựng Những chuyên gia này đang tham gia trực tiếp vào công tác xây dựng và được khảo sát thông qua các cuộc phỏng vấn phi cấu trúc, bao gồm trao đổi, đánh giá phiếu khảo sát và nhận ý kiến đóng góp Nhóm khảo sát gồm 20 người, trong đó có 10 người có hơn 15 năm kinh nghiệm, 6 người có ít nhất 15 năm và 4 người có ít nhất 5 năm kinh nghiệm Các cuộc phỏng vấn tập trung vào việc đánh giá tính chính xác của các rủi ro trong giai đoạn thi công và thu thập ý kiến bổ sung để cải thiện quy trình.
Tham khảo các bài báo khoa học, ra đưa các yếu tố rủi ro liên quan
Tiến hành khảo sát sơ bộ/ chính thức
Các rủi ro được nhận dạng Tham khảo ý kiến của người trực tiếp tham gia thi công xây dựng
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 30
GIAI ĐOẠN 2: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VÀ XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CÁC RỦI RO Ở GIAI ĐOẠN THI CÔNG XÂY DỰNG
ẢNH HƯỞNG CÁC RỦI RO Ở GIAI ĐOẠN THI CÔNG XÂY DỰNG
Quá trình nghiên cứu giai đoạn này đươc thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 3.3: Quy trình nghiên cứu giai đoạn 2
Sau khi hoàn thiện công tác nhận dạng ở giai đoạn 1, quy trình được xây dựng dựa trên nội dung công việc và mối quan hệ giữa các đơn vị Các hồ sơ cụ thể trong quy trình được tham khảo từ các công trình nghiên cứu trước đây và ý kiến của những người có kinh nghiệm trong quản lý dự án và quản lý rủi ro trong giai đoạn thi công xây dựng Qua đó, danh sách các rủi ro ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ, chi phí và hiệu quả dự án được xác định rõ ràng.
Thiết kế bảng câu hỏi là bước quan trọng để thu thập ý kiến và dữ liệu, nhằm phản ánh đầy đủ các yếu tố cần khảo sát và đánh giá mức độ ảnh hưởng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Sau khi hoàn thiện bảng câu hỏi sơ bộ, việc khảo sát thử nghiệm là cần thiết trước khi tiến hành khảo sát chính thức để thu thập dữ liệu Khảo sát thử nghiệm sẽ được thực hiện với những người có kinh nghiệm trong quản lý dự án và thi công xây dựng.
Bệnh viện sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách qua hợp đồng PPP để hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát Sau khi chỉnh sửa, bảng câu hỏi cuối cùng được sử dụng để tiến hành khảo sát chính thức và thu thập dữ liệu Dữ liệu từ các bảng trả lời cần đảm bảo tính khách quan, chính xác và độ tin cậy cao, nhằm phục vụ cho việc phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu chính xác và phù hợp với mục tiêu đề ra.
Sau khi thu thập dữ liệu từ các bảng khảo sát, việc phân tích dữ liệu được tiến hành bằng phần mềm SPSS Các bảng kết quả từ SPSS cần được phân tích, giải thích và đánh giá để phản ánh nội dung nghiên cứu một cách rõ ràng.
Tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó
Sơ bộ các rủi ro và khảo sát sơ bộ
Tham khảo ý kiến chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm
Thiết kế bảng câu hỏi và khảo sát sơ bộ
Hiệu chỉnh và hòa thiện bảng câu hỏi
Xác định các yếu tố rủi ro
Nhận xét, kết quả và kiến nghị
Khảo sát và thu thập dữ liệu chính thức
Phân tích dữ liệu, xác định tần suất và mức độ ảnh hưởng
Dùng SPSS để phân tích đánh giá, Cronbach’s Alpha để kiểm định thang đo
Bài nghiên cứu của Bùi Văn Nhật đã đề xuất các biện pháp phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Cuối cùng, tác giả đã đưa ra kết luận, nêu rõ những khó khăn và hạn chế của phương pháp cũng như nghiên cứu Từ đó, bài viết trình bày những khuyến nghị và hướng nghiên cứu trong tương lai nhằm cải thiện các hạn chế và đạt được kết quả nghiên cứu tốt hơn.
Dữ liệu thu thập từ các tổ chức và cá nhân tham gia khảo sát bao gồm những người trực tiếp thực hiện công tác quản lý dự án và thi công xây dựng bệnh viện, sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách.
Hình 3.4: Quy trình thu thập dữ liệu
3.3.1 Thiết kế bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi được thiết kế gồm 3 phần:
Giới thiệu về cuộc khảo sát để người được khảo sát nắm thông tin và hiểu rõ lý do, sự cần thiết của bảng khảo sát
Mục đích của phần này là thu thập ý kiến và đánh giá từ những người tham gia khảo sát về khả năng xảy ra rủi ro và mức độ ảnh hưởng của các rủi ro trong giai đoạn thi công xây dựng dự án bệnh viện sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách.
Loại câu hỏi đưa ra là câu hỏi thang đo Likert 05 mức độ để đánh giá khả năng xảy ra và mức độ ảnh hưởng của các rủi ro
Phần cuối: Phần thông tin chung
Phần này nhằm thu thập các thông tin tổng quát về người tham gia khảo sát bao gồm các câu hỏi
Khi phỏng vấn ứng viên cho vị trí trong dự án xây dựng, hãy đặt câu hỏi về vị trí mà họ đã đảm nhiệm trong các dự án trước đây, số năm kinh nghiệm mà họ có trong ngành xây dựng, và liệu họ đã từng tham gia vào các dự án xây dựng bệnh viện hay chưa.
Bùi Văn Nhật, MSHV: 1685802080015, đã tham gia vào nhiều dự án vốn ngoài ngân sách, bao gồm cả các dự án bệnh viện quy mô lớn nhất mà anh từng tham gia.
- Câu hỏi lựa chọn với dữ liệu khoảng để hỏi về kinh nghiệm công tác của người tham gia khảo sát
Để đánh giá khả năng xảy ra rủi ro trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện nguồn vốn ngoài ngân sách, người tham gia khảo sát cần cung cấp thông tin liên lạc và cho biết mức độ đồng ý của họ về khả năng xảy ra rủi ro theo thang đo Likert từ 1 đến 5, trong đó 1 biểu thị “Rất ít khi xảy ra” và 5 là “Luôn luôn xảy ra”.
Rất ít khi xảy ra Ít khi xảy ra Thỉnh thoảng xảy ra
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các rủi ro trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện nguồn vốn ngoài ngân sách, những người tham gia khảo sát được yêu cầu cho biết mức độ đồng ý của họ theo thang đo Likert năm mức độ Thang đo này bao gồm các mức từ 1 = “Ảnh hưởng rất ít” đến 5 = “Ảnh hưởng rất nhiều”, giúp xác định rõ ràng tác động của những rủi ro trong quá trình thi công.
Các người tham gia được yêu cầu bổ sung những yếu tố mà họ cho là cần thiết, nhưng các yếu tố này không có ảnh hưởng đáng kể.
Việc thử nghiệm bảng câu hỏi là cần thiết để đảm bảo rằng không có thông tin quan trọng nào bị bỏ sót, nhằm phục vụ cho nghiên cứu một cách đầy đủ và chính xác.
Quá trình thiết kế bảng câu hỏi thể hiện qua sơ đồ sau đây:
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 33
Hình 3.5: Quy trình thiết kế bảng câu hỏi
Học viên đã xác định được 29 rủi ro trong giai đoạn thi công xây dựng từ 08 nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm cá nhân, sau khi phỏng vấn nhóm chuyên gia có kinh nghiệm để lựa chọn và điều chỉnh danh sách Một số rủi ro không phù hợp đã bị loại bỏ, trong khi những người được phỏng vấn đã đề xuất thêm các rủi ro mới và hiệu chỉnh tên một số rủi ro cho phù hợp hơn với điều kiện Việt Nam Cuối cùng, danh sách rủi ro đã được rút gọn xuống còn 25 rủi ro và được phân loại thành các nhóm Từ danh sách này, một bảng câu hỏi sơ bộ đã được phát triển và được thử nghiệm với 10 chuyên gia có kinh nghiệm, đảm bảo sự đồng thuận về nội dung khảo sát.
Danh sách các yếu tố chính thức Bảng câu hỏi sơ bộ Thử nghiệm bảng câu hỏi
Các câu hỏi rõ ràng dễ hiểu, đầy đủ và phù hợp của nội dung nghiên cứu
Tiến hành khảo sát bảng câu hỏi chính thức
Bổ sung, chỉnh sửa Đạt
Phỏng vấn những người có nhiều kinh nghiệm
Danh sách sơ bộ các rủi ro Tham khảo các nghiên cứu trước đây
Kết hợp xem xét cùng quy trình đã được chuẩn hóa
Phỏng vấn những người có nhiều kinh nghiệm
CÁC CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU
Sử dụng lý thuyết thống kê mô tả để thu thập dữ liệu thực tế thông qua quan sát và khảo sát, đồng thời phân tích sự tương quan giữa các trọng số Bên cạnh đó, áp dụng các mô hình phân phối xác suất để xác định sự phân phối của các trọng số.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 37
Nghiên cứu bảng câu hỏi một cách khoa học là cần thiết để đảm bảo sự thuận tiện cho đối tượng khảo sát và thu thập dữ liệu chính xác, phục vụ tốt cho nghiên cứu Phần mềm SPSS 22.0 và Microsoft Excel là những công cụ chính được sử dụng để xử lý và phân tích dữ liệu trong nghiên cứu Các công cụ nghiên cứu này được liệt kê trong bảng dưới đây.
Công việc Công cụ nghiên cứu
Thu thập dữ liệu Bảng câu hỏi khảo sát
Mô tả dữ liệu Thống kê mô tả
Kiểm duyệt dữ liệu, kiểm tra độ tin cậy của thang đo Hệ số Conbach’s Alpha
Xếp hạng các rủi ro Trị trung bình MEAN Đánh giá sự khác biệt các nhóm tổng thể về trị trung bình
Kiểm định phi tham số Kruskal- Wallis
Rút gọn dữ liệu, nhóm các biến có liên hệ với nhau thành nhân tố chính Phân tích thành tố chính PCA
Bảng 3.2: Bảng liệt kê công cụ nghiên cứu
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
3.5.1 Kiểm định phi tham số Kruskal-Wallis
Kiểm định Kruskal-Wallis là phương pháp được sử dụng để so sánh sự khác biệt về giá trị trung bình của một biến phụ thuộc giữa hai hoặc nhiều nhóm của biến độc lập phân loại Phương pháp này không yêu cầu biến phụ thuộc phải tuân theo phân phối chuẩn, cho phép áp dụng cho các dữ liệu có phân phối bất kỳ và kích thước mẫu nhỏ, vì vậy nó được gọi là kiểm định phi tham số Để thực hiện kiểm định Kruskal-Wallis, dữ liệu cần đáp ứng bốn điều kiện nhất định.
+ Biến phụ thuộc phải là thứ tự hoặc biến liên tục
+ Biến độc lập là biến phân loại 02 mức trở lên0
+ Tính độc lập của mẫu: không có mối quan hệ giữa các quan sát trong cùng một nhóm hoặc giữa các nhóm
+ Biến phụ thuộc không yêu cầu phải có phân phối chuẩn trong từng nhóm
Kiểm định Kruskal-Wallis được thực hiện với giả thuyết H0 là trị trung bình của các nhóm tổng thể bằng nhau Khi mức ý nghĩa quan sát (P-value) lớn hơn 5%, chúng ta chấp nhận giả thuyết H0, cho thấy không có sự khác biệt về trị trung bình giữa các nhóm Ngược lại, nếu P-value nhỏ hơn 5%, giả thuyết H0 bị bác bỏ, cho thấy có sự khác biệt giữa các nhóm.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 38 là không có sự khác biệt về trị trung bình giữa các nhóm bị bác bỏ (Trọng và Ngọc,
Khi giả thuyết về sự cân bằng phương sai giữa các nhóm không được chấp nhận, chúng ta sẽ áp dụng các phương pháp kiểm định Post-Hoc để so sánh giá trị trung bình giữa các nhóm, nhằm xác định sự khác biệt giữa các nhóm.
Một số phương pháp kiểm định sau thường dùng là kiểm định Bonferroni và Tukey’s honestly significant difference “Phương pháp kiểm định Bonferroni và Tukey’s honestly significant difference thì được sử dụng cho hầu hết các kiểm định so sánh đa bội Kiểm định Sidak’s t test cũng được sử dụng tương tư như phương pháp Bonferroni tuy nhiên nó cung cấp những giới hạn chặt chẽ hơn Khi tiến hành kiểm định một số lượng lớn các cặp trung bình Tukey’s honestly significant difference test sẽ có tác động mạnh hơn là Bonferroni test Và ngược lại Bonferroni thì thích hợp hơn cho các kiểm định có số lượng cặp so sánh ít” (https://www.phamlocblog.com/2018/04/phan-tich-sau-one-way- anova.html) Trong trường hợp này, số lượng các cặp so sánh ít và kích thước mẫu không ngang bằng nhau nên sử dụng Bonferroni test là hợp lý Đây là thủ tục đơn giản và thường được áp dụng
Nếu giá trị Sig trong kiểm định Bonferroni lớn hơn 5%, điều này cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm là không đáng kể, tức là không có ý nghĩa thống kê Ngược lại, nếu giá trị Sig nhỏ hơn 5%, các nhóm sẽ có sự khác biệt lớn, thể hiện rằng sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Phương pháp phân tích dữ liệu này nhằm đánh giá và so sánh tầm quan trọng của các rủi ro ảnh hưởng trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách, đồng thời xếp hạng các rủi ro Đánh giá được thực hiện qua thang đo Likert 5 mức độ từ những người tham gia, giúp tính toán trị trung bình cho mỗi rủi ro ảnh hưởng.
Từ đấy tìm ra các rủi ro có xếp hạng cao (Nhóm đầu bảng) và các rủi ro xếp hạng thấp (nhóm cuối bảng) để phân tích:
- Nếu bật được ý nghĩa của thứ hạng các yếu tố
- Dùng thực tế để lý luận, giải thích vì sao các rủi ro đó có thứ hạng cao hoặc thấp
- Bình luận các rủi ro
- Đưa ra các nhận xét, đánh giá
3.5.3 Phân tích thành tố chính PCA (Principal Component Analysis)
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 39
Kĩ thuật phân tích nhân tố chính (Principal Component Analysis Technique) với phép quay Varimax để nhóm các biến có liên hệ với nhau thành một nhân tố
Phân tích nhân tố là một kỹ thuật thống kê quan trọng giúp nhận diện và nhóm các yếu tố có liên quan từ một tập hợp biến lớn, cho phép tóm tắt và giảm thiểu dữ liệu (Chan và ccs, 2010) Phương pháp này không chỉ giúp xác định các nhóm biến tương quan mà còn tập trung vào các yếu tố cốt lõi (Kim và ccs, 2008) Trong nghiên cứu này, việc áp dụng phân tích thành tố chính (PCA) là hợp lý để xác định mức độ ảnh hưởng của các rủi ro trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện nguồn vốn ngoài ngân sách.
Trước khi áp dụng kĩ thuật này, cần kiểm tra sự phù hợp của dữ liệu như sau
Để đánh giá sự thích hợp của các yếu tố trong phân tích, cần kiểm tra hệ số Kaiser – Meyer – Olkin (KMO) Theo Kaiser (1974), giá trị KMO tối thiểu là 0,5, được xem là gần như không chấp nhận; giá trị từ 0,7 đến 0,8 là chấp nhận được, trong khi các giá trị trên 0,9 được coi là tuyệt vời.
Kiểm tra phần trăm phương sai là cần thiết để đánh giá sự thất thoát của các yếu tố trong phân tích nhân tố Theo Ngọc (2010), phần trăm phương sai toàn bộ được giải thích bởi từng nhân tố cho thấy mức độ cô đọng của phân tích, với giá trị 100% biểu thị biến thiên Thông thường, phương sai tổng phải lớn hơn 50% để đảm bảo tính chính xác trong phân tích (Trọng và Ngọc, 2008).
Khi giá trị riêng (Hệ số Eigenvalue) lớn hơn 1, yếu tố trích ra sẽ có giá trị tóm tắt thể hiện thông tin tốt, cho thấy lượng biến thiên được giải thích bởi nhân tố đó là đáng kể (Trọng và Ngọc, 2008).
Kiểm tra Barlett được sử dụng để đánh giá mối tương quan giữa các biến, với giả thuyết H0 cho rằng các biến không có mối tương quan trong tổng thể Nếu kết quả kiểm định có ý nghĩa thống kê (Sig < 0.05), điều này cho thấy các biến có mối liên hệ với nhau trong tổng thể.
Hệ số tải nhân tố, hay còn gọi là trọng số nhân tố, biểu thị mối quan hệ tương quan giữa biến quan sát và nhân tố Giá trị của hệ số tải nhân tố càng cao thì mức độ liên kết giữa biến quan sát và nhân tố càng mạnh.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 40 cao, nghĩa là tương quan giữa biến quan sát đó với nhân tố càng lớn và ngược lại Theo Hair và ccs (2009) thì:
+ Factor Loading ở mức ± 0.3: Điều kiện tối thiểu để biến quan sát được giữ lại + Factor Loading ở mức ± 0.5: Biến quan sát có ý nghĩa thống kê tốt
+ Factor Loading ở mức ± 0.7: Biến quan sát có ý nghĩa thống kê rất tốt
KẾT LUẬN CHƯƠNG
Nghiên cứu đã xác định tần suất và mức độ ảnh hưởng của các rủi ro trong giai đoạn thi công xây dựng dự án Bệnh viện nguồn vốn ngoài ngân sách thông qua phỏng vấn và trao đổi với những người có kinh nghiệm Sử dụng bảng câu hỏi, nghiên cứu thu thập được 127 phản hồi hợp lệ từ các chuyên gia quản lý dự án và đơn vị thi công, tạo ra bộ dữ liệu cần thiết cho phân tích Các phân tích này giúp xác định khả năng xảy ra và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro trong quá trình thi công.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 41
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
PHÂN TÍCH TẦN SUẤT XẢY RA RỦI RO Ở GIAI ĐOẠN THI CÔNG DỰ ÁN BỆNH VIỆN NGUỒN VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH
DỰ ÁN BỆNH VIỆN NGUỒN VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH
Sau hơn 02 tháng chuẩn bị, tác giả đã liên hệ và mời các chuyên gia tham gia khảo sát qua điện thoại, đồng thời sắp xếp lịch phỏng vấn Tác giả gửi bảng khảo sát qua email, Viber, Zalo và thực hiện các cuộc gọi trực tiếp để thu thập dữ liệu Gần 150 người đã được liên hệ và đồng ý tham gia, nhưng do khó khăn trong việc phỏng vấn trực tiếp, chỉ có 131 bảng khảo sát được thu thập Trong số đó, 127 bảng khảo sát hợp lệ, trong khi 04 bảng bị loại do thiếu sót Số lượng mẫu hợp lệ 127 đã đáp ứng yêu cầu về kích thước mẫu dự kiến từ 100 đến 125 mẫu.
Các biến thông tin chung được đặt tên (Mã biến) như sau:
Mã Tên thông tin biến 1 2 3 4
BTG Bên tham gia CĐT Tư vấn Nhà thầu Khác
KN Kinh nghiệm công tác < 5 năm 5-10 năm 10-15 năm >15 năm
BV Tham gia dự án bệnh viện Có Không
VNNS Tham gia dự án vốn ngoài ngân sách Có Không
Tham gia dự án bệnh viện vốn ngoài ngân sách
QM Quy mô dự án < 5 tỷ 5-10 10-50 >50 tỷ
Bảng 4.1: Mã biến các biến thông tin chung Thông tin chung được thể hiện qua các bảng thống kê và biểu đồ minh họa như sau:
Vai trò đơn vị Số lượng Tỷ lệ Biểu đồ minh họa
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 42
Bảng 4.2: Vai trò của các đơn vị tham gia khảo sát
Trong tổng số 127 người phỏng vấn, có 37 người là Chủ đầu tư, chiếm 27%, tham gia với vai trò Ban quản lý điều hành dự án hoặc Tư vấn QLDA 39 người, tương đương 30.7%, là Tư vấn giám sát, đảm nhận việc giám sát tiến độ, chất lượng, chi phí và an toàn lao động cùng vệ sinh môi trường Ngoài ra, 17 người tham gia là nhà thầu thi công, chiếm 13.4%, và 34 người thuộc các bên khác, chiếm 26.8% Sự chênh lệch giữa các nhóm không lớn, không ảnh hưởng đến số liệu nghiên cứu.
4.1.1.2 Kinh nghiệm làm việc của người tham gia khảo sát (KN)
Số năm công tác Số lượng Tỷ lệ Biểu đồ minh họa
Bảng 4.3: Kinh nghiệm làm việc của người tham gia khảo sát
Kinh nghiệm của người tham gia khảo sát trong nghiên cứu rất đáng chú ý, với 23.6% (30 người) có trên 15 năm kinh nghiệm, 15.0% (19 người) có từ 10-15 năm, và 26.8% (34 người) có kinh nghiệm từ 5-10 năm Đặc biệt, 34.6% (44 người) có ít hơn 5 năm kinh nghiệm Tỷ lệ cao của những cá nhân có kinh nghiệm đảm bảo tính khách quan, độ chính xác và độ tin cậy của nghiên cứu.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 43 của dữ liệu dùng để phân tích nghiên cứu
4.1.1.3 Quy mô dự án từng tham gia (QM)
Quy mô dự án đã từng tham gia
Tỷ lệ Biểu đồ minh họa
Bảng 4.4: Quy mô dự án đã thực hiện
Kết quả từ biểu đồ cho thấy đội ngũ nhân sự trẻ có cơ hội thực hiện các dự án bệnh viện với nguồn vốn ngoài ngân sách đang phát triển khả quan, với 73 trên 127 người (57,5%) đã tham gia các dự án có quy mô dưới 5 tỷ Đây là bước đệm quan trọng cho công tác quản lý dự án đa ngành nghề sau này Số lượng người tham gia các dự án từ 5 tỷ đến 50 tỷ cũng ổn định, chiếm 16,5% Đối với các dự án trên 50 tỷ, yêu cầu kinh nghiệm lâu năm là cần thiết, nhưng vẫn có 12 người (9,4%) đã tham gia, cho thấy tỷ lệ khảo sát hợp lệ cao và độ tin cậy tốt.
4.1.2 Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm khảo sát đối với kết quả nghiên cứu Để thuận tiện cho việc phân tích định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm thống kê SPSS, các biến sử dụng trong nghiên cứu mã hóa tên các biến (Mã biến)
STT Biến quan sát Mã biến
1 Thiếu cán bộ kỹ thuật và lao động lành nghề CL1
2 Lỗi hoặc thiếu sót trong bản vẽ CL2
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 44
STT Biến quan sát Mã biến
5 Thiếu ứng dụng công nghệ xây dựng CL5
6 Quản lý điều hành kém CL6
7 Thay đổi đơn hàng/ nguyên vật liệu thường xuyên từ chủ đầu tư TD1
8 Không có kế hoạch tổng thể dự án TD2
9 Thay đổi các điều khoản Hợp đồng (chậm trễ ký, thay đổi/ điều chỉnh, gia hạn, tranh chấp, kiện tụng, ) TD3
10 Chậm trễ trong việc ra quyết định TD4
11 Chậm trễ trong việc phản ứng của các nhà tư vấn đối với yêu cầu cấp thông tin (RFI) TD5
12 Giao tài liệu trễ TD6
13 An toàn công trường không đảm bảo TD7
14 Vật tư không điều hòa: Giao hàng trễ, thiếu sót TD8
15 Sự chậm trễ trong phê duyệt dự án và giấy phép TD9
16 Thiếu máy móc, thiết bị TD10
17 Thời tiết thay đổi (thiên tai, hạn hán, lũ lụt, ) XH1
19 Xã hội không ổn định (dịch bệnh, thảm họa, tai nạn, ) XH3
20 Thay đổi luật pháp và chính sách (Thông tư, Nghị định, văn bản, chỉ thị,…) XH4
21 Điều kiện về đất đai (pháp lý đất chưa hoàn chỉnh, đất bị thu hồi do quy hoạch,…) XH5
22 Thay đổi phạm vi công việc CP1
23 Nhà thầu chính chậm trễ thanh toán cho thầu phụ/ Nhà cung cấp CP2
24 Chủ đầu tư chậm thanh toán cho nhà thầu CP3
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 45
STT Biến quan sát Mã biến
25 Kinh tế thị trường biến động (lạm phát, lãi suất, ) CP4
Bảng 4.5: Mã biến các yếu tố
4.1.2.1 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa nhóm các bên tham gia
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 46
CP1 CP2 CP3 CP4 CL1 CL2 CL3 CL4 CL5 CL6 XH1
XH2 XH3 XH4 XH5 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 47
Asymp Sig ,653 ,254 ,579 a Kruskal Wallis Test b Grouping Variable: BTG
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa nhóm các bên tham gia khảo sát
Theo bảng kết quả 4.6 ta thấy, giá trị Sig của tất cả các biến đều lớn hơn 0.05, chỉ có
Biến XH5 có giá trị nhỏ hơn 0.05, cho thấy sự khác biệt rõ rệt Do đó, chúng ta cần tiến hành phân tích hậu để xác định sự khác biệt giữa các nhóm liên quan đến biến này.
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định sâu về sự khác biệt giữa nhóm các bên tham gia khảo sát với yếu tố XH5
Sự khác biệt giữa nhóm chủ đầu tư và nhóm “khác” trong việc đánh giá khả năng xảy ra rủi ro trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách là không đáng kể Điều này cho thấy quan điểm đánh giá giữa các bên tham gia có sự đồng nhất, đặc biệt là trong nhóm chủ đầu tư và nhóm “khác”.
4.1.2.2 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm kinh nghiệm công tác được khảo sát (KN)
Kết quả kiểm định được thể hiện trong bảng sau:
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 48
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 49
CP1 CP2 CP3 CP4 CL1 CL2 CL3 CL4 CL5 CL6 XH1
XH2 XH3 XH4 XH5 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 50
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm kinh nghiệm công tác
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm có kinh nghiệm “Từ 10-15 năm” khác biệt rõ rệt so với nhóm “Trên 15 năm” về khả năng xảy ra rủi ro trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện nguồn vốn ngoài ngân sách Biến CL2 có giá trị Sig nhỏ hơn 0.05, cho thấy sự khác biệt này là có ý nghĩa Tuy nhiên, tất cả các biến khác đều có giá trị Sig lớn hơn 0.05, cho thấy không có sự khác nhau đáng kể trong đánh giá giữa các nhóm kinh nghiệm còn lại.
Kết quả từ bảng 4.8 cho thấy biến CL2 có giá trị Sig nhỏ hơn 0.05, điều này yêu cầu chúng ta thực hiện phân tích sâu (hậu kiểm) để xác định sự khác biệt của biến này giữa các nhóm.
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định sâu về sự khác biệt giữa các nhóm với kinh nghiệm công tác với yếu tố CL2
Dựa trên bảng kết quả, nhóm có hơn 15 năm kinh nghiệm và nhóm từ 10-15 năm kinh nghiệm thể hiện sự khác biệt rõ rệt hơn so với các nhóm khác Tuy nhiên, tất cả các giá trị Sig của các biến đều lớn hơn 0.05, cho thấy sự khác biệt trong quan điểm đánh giá khả năng xảy ra rủi ro của yếu tố CL2 trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện với nguồn vốn ngoài ngân sách là không đáng kể và không có ý nghĩa thống kê.
Sự khác biệt trong đánh giá khả năng xảy ra rủi ro của yếu tố CL2 (sự thay đổi của chủ đầu tư và đơn vị khác) giữa các nhóm kinh nghiệm có thể bắt nguồn từ số năm kinh nghiệm khác nhau Điều này đồng nghĩa với việc thời gian làm việc và trải nghiệm thực tế của từng nhóm không giống nhau, dẫn đến sự chênh lệch trong nhận thức và đánh giá rủi ro.
Bùi Văn Nhật (MSHV: 1685802080015) đã chỉ ra rằng trong các tình huống và vấn đề cần xử lý khác nhau, việc tiếp xúc với chủ đầu tư và các đơn vị khác nhau có thể tạo ra sự thay đổi trong số lượng và tính chất của các vấn đề gặp phải Điều này ảnh hưởng đến khả năng đánh giá rủi ro của các nhóm khác nhau, mặc dù sự khác biệt này không đáng kể.
Tổng quan về đánh giá khả năng rủi ro trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách cho thấy các nhóm có năm kinh nghiệm khác nhau có quan điểm tương đồng Sự khác biệt giữa các nhóm là nhỏ và không ảnh hưởng đến kết quả chung.
4.1.2.3 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia dự án
Bệnh viện (BV) Đã tham gia dự án
Số lượng Tỷ lệ Biểu đồ minh họa
Bảng 4.10: Tham gia thực hiện dự án Bệnh viện tham gia khảo sát
Trong nghiên cứu, có 62 người tham gia dự án bệnh viện, chiếm 48.8%, cho thấy một tỷ lệ cao so với thực tế là hầu hết cán bộ kỹ sư thường chỉ làm việc trong các dự án dân dụng và công nghiệp Trong khi đó, 65 người còn lại, chiếm 51.2%, không hoặc chưa từng tham gia dự án bệnh viện Tỷ lệ này phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, đảm bảo độ tin cậy cao cho kết quả.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 52
CP1 CP2 CP3 CP4 CL1 CL2 CL3 CL4 CL5 CL6 XH1
XH2 XH3 XH4 XH5 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7
Sig ,214 ,954 ,327 a Kruskal Wallis Test b Grouping Variable: BV
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia dự án Bệnh viện
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 53
Kết quả từ bảng 4.11 cho thấy tất cả các biến có giá trị Sig lớn hơn 0.05, cho thấy không có sự khác biệt về trị trung bình giữa các nhóm đã tham gia và chưa tham gia dự án Bệnh viện Điều này chỉ ra rằng khả năng xảy ra rủi ro giữa hai nhóm này là tương đương.
4.1.2.4 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia dự án vốn ngoài ngân sách (VNNS) Đã tham gia dự án vốn ngoài ngân sách
Tỷ lệ Biểu đồ minh họa
Bảng 4.12: Tham gia dự án vốn ngoài ngân sách
MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC RỦI RO Ở GIAI ĐOẠN THI CÔNG DỰ ÁN BỆNH VIỆN NGUỒN VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH
ÁN BỆNH VIỆN NGUỒN VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH
4.2.1 Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm khảo sát đối với kết quả nghiên cứu Để thuận tiện cho việc phân tích định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm thống kê SPSS, các biến sử dụng trong nghiên cứu mã hóa tên các biến (Mã biến)
STT Biến quan sát Mã biến
1 Thiếu cán bộ kỹ thuật và lao động lành nghề ChatLuong1
2 Lỗi hoặc thiếu sót trong bản vẽ ChatLuong2
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 66
STT Biến quan sát Mã biến
5 Thiếu ứng dụng công nghệ xây dựng ChatLuong5
6 Quản lý điều hành kém ChatLuong6
7 Thay đổi đơn hàng/ nguyên vật liệu thường xuyên từ chủ đầu tư TienDo1
8 Không có kế hoạch tổng thể dự án TienDo2
9 Thay đổi các điều khoản Hợp đồng (chậm trễ ký, thay đổi/ điều chỉnh, gia hạn, tranh chấp, kiện tụng, ) TienDo3
10 Chậm trễ trong việc ra quyết định TienDo4
11 Chậm trễ trong việc phản ứng của các nhà tư vấn đối với yêu cầu cấp thông tin (RFI) TienDo5
12 Giao tài liệu trễ TienDo6
13 An toàn công trường không đảm bảo TienDo7
14 Vật tư không điều hòa: Giao hàng trễ, thiếu sót TienDo8
15 Sự chậm trễ trong phê duyệt dự án và giấy phép TienDo9
16 Thiếu máy móc, thiết bị TienDo10
17 Thời tiết thay đổi (thiên tai, hạn hán, lũ lụt, ) RuiRoXaHoi1
19 Xã hội không ổn định (dịch bệnh, thảm họa, tai nạn, ) RuiRoXaHoi3
20 Thay đổi luật pháp và chính sách (Thông tư, Nghị định, văn bản, chỉ thị,…) RuiRoXaHoi4
21 Điều kiện về đất đai (pháp lý đất chưa hoàn chỉnh, đất bị thu hồi do quy hoạch,…) RuiRoXaHoi5
22 Thay đổi phạm vi công việc ChiPhi1
23 Nhà thầu chính chậm trễ thanh toán cho thầu phụ/ Nhà cung cấp ChiPhi2
24 Chủ đầu tư chậm thanh toán cho nhà thầu ChiPhi3
25 Kinh tế thị trường biến động (lạm phát, lãi suất, ) ChiPhi4
Bảng 4.30: Mã biến các yếu tố
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 67
4.2.1.1 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm các bên tham gia
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 68
CP1 CP2 CP3 CP4 CL1 CL2 CL3 CL4 CL5 CL6 XH1
XH2 XH3 XH4 XH5 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 69
Asymp Sig ,489 ,264 ,515 a Kruskal Wallis Test b Grouping Variable: BTG
Bảng 4.31: Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm các bên tham gia
Theo bảng kết quả 4.8 ta thấy, giá trị Sig của tất cả các biến đều lớn hơn 0.05, chỉ có
Biến XH5 có giá trị nhỏ hơn 0.05, cho thấy sự khác biệt rõ rệt Do đó, chúng ta sẽ tiến hành phân tích hậu để xác định sự khác biệt giữa các nhóm liên quan đến biến này.
Bảng 4.32: Kết quả kiểm định sâu về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia khác nhau đối với yếu tố XH5
Sự khác biệt giữa nhóm chủ đầu tư và nhóm "khác" trong việc đánh giá biến XH5 cho thấy quan điểm của các bên tham gia có sự khác nhau Tuy nhiên, khả năng xảy ra rủi ro trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách giữa hai nhóm này không có sự khác biệt đáng kể.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 70
4.2.1.2 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm kinh nghiệm công tác (KinhNghiem)
Kết quả kiểm định được thể hiện trong bảng sau:
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 71
CP1 CP2 CP3 CP4 CL1 CL2 CL3 CL4 CL5 CL6 XH1
XH2 XH3 XH4 XH5 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 72
Asymp Sig ,382 ,357 ,526 a Kruskal Wallis Test b Grouping Variable: KN
Bảng 4.33: Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm kinh nghiệm công tác
Kết quả từ bảng 4.10 cho thấy chỉ có biến CL2 có giá trị Sig nhỏ hơn 0.05, trong khi tất cả các biến khác đều có giá trị Sig lớn hơn 0.05 Điều này cho thấy rằng chỉ có yếu tố CL2 là khác biệt, còn lại không có sự khác nhau trong đánh giá mức độ ảnh hưởng của rủi ro trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện nguồn vốn ngoài ngân sách giữa các nhóm kinh nghiệm công tác Để xác định các nhóm khác nhau và đánh giá mức độ khác biệt, chúng ta tiến hành phân tích sâu hơn, kết quả được trình bày trong bảng tiếp theo.
Bảng 4.34: Kết quả kiểm định sâu về sự khác biệt giữa các nhóm với kinh nghiệm công tác khác nhau đối với yếu tố CL2
Dựa vào bảng kết quả, có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm có trên 15 năm kinh nghiệm và nhóm từ 10-15 năm kinh nghiệm, nhưng tất cả các giá trị Sig của các biến đều lớn hơn 0.05 Điều này cho thấy rằng sự khác biệt trong quan điểm đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố rủi ro CL2 trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện nguồn vốn ngoài ngân sách là không đáng kể, cho thấy kinh nghiệm của các nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê.
Sự khác biệt trong đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố rủi ro CL2 giữa các nhóm kinh nghiệm có thể xuất phát từ số năm kinh nghiệm làm việc khác nhau.
Bùi Văn Nhật (MSHV: 1685802080015) đã trải nghiệm nhiều tình huống và vấn đề khác nhau trong quá trình làm việc, đặc biệt là trong việc tiếp xúc với các chủ đầu tư và đơn vị khác Sự đa dạng này ảnh hưởng đến việc đánh giá mức độ rủi ro trong giai đoạn thi công dự án bệnh viện với nguồn vốn ngoài ngân sách Tuy nhiên, sự khác biệt này không đáng kể.
Tổng quan về khả năng xảy ra rủi ro trong giai đoạn thi công dự án Bệnh viện sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách cho thấy các nhóm có năm kinh nghiệm khác nhau đều có quan điểm đánh giá tương đương Sự khác biệt giữa các nhóm là rất nhỏ và không ảnh hưởng đến kết quả chung của dự án.
4.2.1.3 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia dự án
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 74
CP1 CP2 CP3 CP4 CL1 CL2 CL3 CL4 CL5 CL6 XH1
XH2 XH3 XH4 XH5 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7
Sig ,259 ,847 ,391 a Kruskal Wallis Test b Grouping Variable: BV
Bảng 4.4.35: Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia dự án Bệnh viện (BV)
Kết quả từ bảng 4.35 cho thấy tất cả các biến có giá trị Sig lớn hơn 0.05, điều này dẫn đến kết luận rằng không có sự khác biệt về trị trung bình giữa các nhóm tham gia và không tham gia dự án bệnh viện.
4.2.1.4 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia dự án vốn ngoài ngân sách (VNNS)
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 75
CP1 CP2 CP3 CP4 CL1 CL2 CL3 CL4 CL5 CL6 XH1
XH2 XH3 XH4 XH5 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7
,717 ,157 ,748 a Kruskal Wallis Test b Grouping Variable: VNNS
Bảng 4.36: Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia dự án vốn ngoài ngân sách (VNNS)
Theo bảng kết quả 4.36, giá trị Sig của tất cả các biến đều lớn hơn 0.05, cho thấy không có sự khác biệt giữa các nhóm tham gia và không tham gia dự án vốn ngoài ngân sách.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 76
4.2.1.5 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia dự án bệnh viện vốn ngoài ngân sách (BVVNNS)
Kết quả được thể hiện ở bảng sau:
CP1 CP2 CP3 CP4 CL1 CL2 CL3 CL4 CL5 CL6 XH1
XH2 XH3 XH4 XH5 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 77
,518 ,580 ,849 a Kruskal Wallis Test b Grouping Variable: BVVNNS
Bảng 4.37: Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm tham gia dự án bệnh viện vốn ngoài ngân sách (BVVNNS)
Kết quả 4.37 chỉ ra rằng giá trị Sig của tất cả các biến đều lớn hơn 0.05, ngoại trừ biến CP2 có giá trị nhỏ hơn 0.05 Do đó, có thể kết luận rằng tồn tại sự khác biệt giữa nhóm tham gia dự án bệnh viện vốn ngoài ngân sách và nhóm không tham gia dự án này.
4.2.1.6 Kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm quy mô dự án(QuyMo)
Kết quả kiểm định được thể hiện trong bảng sau:
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 78
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 79
CP1 CP2 CP3 CP4 CL1 CL2 CL3 CL4 CL5 CL6 XH1
XH2 XH3 XH4 XH5 TD1 TD2 TD3 TD4 TD5 TD6 TD7
Asymp Sig ,648 ,527 ,411 a Kruskal Wallis Test b Grouping Variable: BVVNNS
Bảng 4.38 cho thấy kết quả kiểm định Kruskal-Wallis về sự khác biệt giữa các nhóm quy mô dự án (QM), trong đó biến XH3 có sự khác biệt rõ rệt Do đó, cần tiến hành phân tích sâu hơn (hậu kiểm) để xác định nhóm nào có sự khác biệt đáng kể Kết quả phân tích sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 80
Bảng 4.39: Kết quả kiểm định sâu về sự khác biệt giữa các nhóm quy mô đối với biến
Qua kết quả ở bảng 4.39 ta thấy biến XH3 có giá trị Sig nhỏ hơn 0.05, nghĩa là nhóm
Nhóm quy mô nhỏ hơn 5 tỷ khác biệt với nhóm quy mô 10-15 tỷ ở yếu tố XH3, cho thấy rằng ngoài XH3, trị trung bình giữa các nhóm quy mô dự án không có sự khác biệt đáng kể Điều này chỉ ra rằng quy mô dự án không ảnh hưởng nhiều đến rủi ro trong giai đoạn thi công bệnh viện với nguồn vốn ngoài ngân sách.
Kết luận từ kiểm định Kruskal-Wallis cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm quan sát, điều này khẳng định rằng kết quả nghiên cứu là đáng tin cậy và có giá trị thực tiễn.
4.2.2 Xếp hạng các yếu tố Để xếp hạng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố theo quan điểm khách quan của các đối tượng khảo sát, phương pháp được sử dụng là trị trung bình của các yếu tố
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Phân tích tần suất và mức độ ảnh hưởng của các rủi ro trong giai đoạn thi công xây dựng dự án bệnh viện nguồn vốn ngoài ngân sách là cần thiết để xác định danh sách các rủi ro thường gặp Qua đó, tác giả mong muốn cung cấp cái nhìn tổng thể và rõ ràng cho các bên liên quan, bao gồm Chủ đầu tư, Tư vấn giám sát và đặc biệt là nhà thầu thi công, đơn vị trực tiếp thực hiện công việc tại công trường.
Trong giai đoạn thi công dự án bệnh viện với nguồn vốn ngoài ngân sách, việc quản lý rủi ro là rất quan trọng, đặc biệt khi có nhiều đơn vị thi công chuyên biệt như sàn chì, cách âm, cách nhiệt, và hệ thống khí y tế Điều này giúp nâng cao hiệu quả quản lý dự án, giảm thiểu thất thoát, đảm bảo tiến độ hoàn thành và chất lượng công trình, đồng thời hạn chế tối đa chi phí phát sinh.
Dưới góc nhìn của nhà thầu thi công, người trực tiếp quản lý và điều hành công tác thi công tại công trường, tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý rủi ro hiệu quả nhằm nâng cao hiệu suất và đảm bảo an toàn trong quá trình thi công.
Để đảm bảo tiến độ và chất lượng dự án, việc thiết lập kế hoạch tổng thể là rất quan trọng Nhà thầu thi công cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị tham gia như tư vấn giám sát và tư vấn thiết kế, nhằm xây dựng kế hoạch chi tiết cho quá trình triển khai Kế hoạch này bao gồm các quy trình như phê duyệt hồ sơ, vật tư, thi công, và thanh quyết toán, cùng với các tiêu chuẩn chất lượng cần tuân thủ Việc này giúp các bộ phận liên quan nắm bắt công việc kịp thời, giảm thiểu sai sót và đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bên.
Công tác lựa chọn nhà thầu/NCC kịp thời và hiệu quả là yếu tố quan trọng trong quản lý dự án, giúp giảm thiểu rủi ro như chậm trễ phê duyệt hồ sơ thiết kế, không kịp thời xác nhận và xử lý thay đổi, cũng như thiếu rõ ràng về yêu cầu kỹ thuật vật tư Giám sát kém hoặc thiếu nhân sự giám sát cũng góp phần vào sự không hiệu quả trong quá trình này Do đó, cải thiện quy trình lựa chọn nhà thầu là một giải pháp thiết yếu để nâng cao hiệu quả quản lý dự án và quản lý rủi ro.
Để đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa các bên tham gia dự án, việc xây dựng một quy trình phối hợp riêng là vô cùng cần thiết Các đơn vị tham gia thường là độc lập và được chủ đầu tư lựa chọn, dẫn đến sự chệch choạc và thiếu chủ động trong công việc, thường xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm Quy trình này không chỉ dựa trên chỉ thị mà còn cần có sự tương tác, đồng thuận và thống nhất từ tất cả các bên liên quan trong dự án.
Để đảm bảo tiến độ thi công và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh tại công trường, việc tổ chức họp giao ban định kỳ hàng tuần giữa các bên liên quan là rất quan trọng Trong dự án bệnh viện, nơi có nhiều đơn vị tham gia thi công với các yêu cầu đặc thù như sàn chì, cách âm, và hệ thống khí y tế, việc trao đổi thông tin và phối hợp chặt chẽ sẽ giúp ngăn chặn rủi ro và đảm bảo công việc không bị gián đoạn, không ảnh hưởng đến các đơn vị khác.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 98
Việc xây dựng kế hoạch kinh phí cho dự án là rất quan trọng để tránh các rủi ro như chậm tiến độ thi công, chậm kế hoạch cấp vật tư và chậm thanh toán cho nhà thầu Nhiều nhà đầu tư thường áp dụng phương pháp xoay vốn hoặc vay vốn theo tiến độ, nhưng điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro và có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Do đó, các chủ đầu tư và nhà thầu cần lập kế hoạch kinh phí ngay từ đầu để giảm thiểu các rủi ro không đáng có trong quá trình thực hiện dự án.
Để đảm bảo quá trình thi công diễn ra liên tục và hiệu quả, nhà thầu cần thiết lập một Ban quản lý dự án chuyên nghiệp tại công trường Bộ máy quản lý này phải đầy đủ và có chuyên môn phù hợp nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu công việc, từ đó giảm thiểu rủi ro như chậm trễ trong phê duyệt hồ sơ, thiếu kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật và tình trạng quản lý kém.
Để nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong thi công, các nhà thầu cần hiểu rõ hơn về những giải pháp phổ biến hiện nay.
Để phòng tránh rủi ro, mặc dù không thể loại bỏ hoàn toàn mọi nguy cơ, chúng ta có thể áp dụng các điều khoản hợp đồng phù hợp và thiết lập quy trình phối hợp giữa các bên liên quan nhằm giảm thiểu những rủi ro cụ thể.
Giảm nhẹ rủi ro có thể thực hiện bằng cách lựa chọn các nhà thầu có chuyên môn phù hợp, xây dựng một bộ máy quản lý điều hành có năng lực, và ký hợp đồng với các đơn vị bảo hiểm thích hợp.
Chấp nhận rủi ro: Chấp nhận các hậu quả bằng 02 cách:
- Chủ động: Xây dựng kế hoạch dự phòng (kinh phí, nhà thầu thi công, nhà cung cấp, ) nếu rủi ro xảy ra.
- Thụ động: chấp nhận giảm lợi nhuận nếu rủi ro xảy ra nhưng vẫn duy triển khai để đảm bảo yêu cầu của dự án.
HVTH: Bùi Văn Nhật - MSHV: 1685802080015 Trang 99