1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của giá nông sản xuất khẩu đến lạm phát ở việt nam giai đoạn 2005 2014

106 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của giá nông sản xuất khẩu đến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2005 đến 2014
Tác giả Tăng Sơn Kiệt
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Giáp
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (12)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (12)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (14)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (15)
    • 1.4. Đối tượng nghiên cứu (15)
    • 1.5. Phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.6. Phương pháp nghiên cứu (15)
    • 1.7. Ý nghĩa của nghiên cứu (16)
    • 1.8. Khác biệt giữa các nghiên cứu trước và luận văn (16)
    • 1.9. Kết cấu của luận văn: gồm 5 chương (16)
  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT (18)
    • 2.1. Cơ sở lý thuyết (18)
      • 2.1.1. Lạm phát (18)
      • 2.1.2. Các nguyên nhân gây lạm phát (19)
      • 2.1.3. Tỷ giá (23)
      • 2.1.4. Xuất khẩu, Nhập khẩu hàng hóa (23)
      • 2.1.5. Phương pháp tính CPI (24)
    • 2.2. Các nghiên cứu trước (25)
    • 2.3. Tóm tắt chương 2 (32)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1. Thiết kế quy trình nghiên cứu (33)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (34)
    • 3.3. Mô hình nghiên cứu (35)
    • 3.4. Mô hình hồi quy (37)
    • 3.5. Dữ liệu nghiên cứu (41)
    • 3.6. Các bước thực hiện trong nghiên cứu khi dùng phương pháp ARDL (41)
      • 3.6.1. Hiệu chỉnh mùa vụ (41)
      • 3.6.2. Đồng liên kết (41)
      • 3.6.3. Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu (42)
      • 3.6.4. Xác định độ trễ tối ưu và ước lượng phương trình bằng mô hình ARDL. 32 3.6.5. Kiểm định biến thừa trong mô hình (43)
      • 3.6.6. Kiểm định tương quan chuỗi (43)
      • 3.6.7. Kiểm định phương sai của sai số thay đổi (44)
      • 3.6.8. Kiểm định sự phù hợp của dạng hàm (44)
    • 3.7. Tóm tắt chương 3 (44)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (45)
    • 4.1. Phân tích thống kê mô tả (45)
      • 4.1.1 Diễn biến lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2005-2014 (48)
      • 4.1.2 Diễn biến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2014 (48)
      • 4.1.3 Diễn biến giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2014 (48)
      • 4.1.4 Diễn biến giá cao su xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2014 (48)
      • 4.1.5 Diễn biến giá hạt điều xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2014 (49)
      • 4.1.6 Diễn biến giá hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2014 (49)
      • 4.1.7 Diễn biến cung tiền M2, tỷ giá, lãi suất và kim ngạch nhập khẩu của Việt (49)
    • 4.2. Hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ (50)
    • 4.3. Kiểm định và lựa chọn mô hình (51)
      • 4.3.1 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến (51)
      • 4.3.2. Kiểm định đồng liên kết (52)
      • 4.3.3 Kiểm định nghiệm đơn vị đối với tính dừng (52)
    • 4.4 Mô hình ARDL (54)
      • 4.4.1 Xác định độ trễ tối ưu của mô hình ARDL (54)
      • 4.4.2 Kiểm định đồng liên kết bằng phương pháp ARDL Bound Test (55)
      • 4.4.3 Kết quả chạy mô hình ARDL (56)
      • 4.4.4 Kiểm định biến thừa trong mô hình (Redundant test) (56)
      • 4.4.5 Kiểm định biến thừa trong mô hình (Wald test) (57)
      • 4.4.6 Kiểm định tương quan chuỗi (Kiểm định Breusch-Godfreyt Serial (58)
      • 4.4.7 Kiểm định phương sai thay đổi (59)
      • 4.4.8 Kiểm định sự phù hợp của dạng hàm (60)
      • 4.4.9 Mô hình tốt nhất (60)
      • 4.4.10 Ý nghĩa của mô hình nghiên cứu (60)
      • 4.4.11 Ước lượng phương trình trong dài hạn bằng mô hình ARDL (63)
      • 4.4.12 Kiểm định sự ổn định của mô hình trong ngắn hạn và dài hạn (64)
      • 4.4.13 Ý nghĩa của mô hình (65)
    • 4.5 Tóm tắt chương 4 (68)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (69)
    • 5.1. Kết luận (69)
    • 5.2. Các khuyến nghị (70)
    • 5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (73)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (75)
    • 1.1 Biểu đồ sự thay đổi của các biến trong mô hình (79)
    • 1.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến (80)
    • 1.3 Kiểm định đồng liên kết (81)
    • 2.1 Biến phụ thuộc LCPI_SA (0)
    • 2.2 Biến độc lập LPRice_SA (0)
    • 2.3 Biến độc lập LPCoffee_SA (0)
    • 2.4 Biến độc lập LPRubber_SA (0)
    • 2.5 Biến độc lập LPCashew_SA (0)
    • 2.6 Biến độc lập LPPepper_SA (88)
    • 2.7 Biến độc lập LM2_SA (0)
    • 2.8 Biến độc lập LFe_SA (91)
    • 2.9 Biến độc lập LI_SA (0)
    • 2.10 Biến độc lập LX_SA (0)
    • 2.11 Biến độc lập LR_SA (0)
    • 3.1 Xác định độ trễ tối ưu của mô hình ARDL (0)
    • 3.2 Lựa chọn độ trể tối ưu (0)
    • 3.3 Kiểm định đồng liên kết ARDL Bounds Test (97)
    • 4.1 Kết quả chạy mô hình ARDL đầy đủ biến (99)
    • 4.2 Kiểm định biến thừa trong mô hình (Redundant test) (100)
    • 4.3 Kiểm định biến thừa trong mô hình (Wald test) (101)
    • 4.5 Kiểm định phương sai thay đổi (102)
    • 4.6 Kiểm định sự phù hợp của dạng hàm (0)
    • 5.1 Kết quả chạy mô hình ARDL dài hạn (105)
    • 5.2 Kiểm định sự ổn định của mô hình trong ngắn hạn và dài hạn (106)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Lý do chọn đề tài

Việt Nam, với 70% dân số là nông dân, có truyền thống nông nghiệp lâu đời Từ một quốc gia thiếu lương thực và phải nhập khẩu hàng triệu tấn mỗi năm, Việt Nam đã chuyển mình trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.

Xuân Bách (2014),“ Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) nhận định, đến năm

Năm 2022, Việt Nam giữ vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, chỉ sau Thái Lan, theo thông tin từ báo Nhân Dân Điện Tử.

Tại Hội nghị Thương mại Gạo Thế giới lần thứ 6 ở Phnom Penh, Bộ trưởng Thương mại Campuchia, Sun Chanthol, nhấn mạnh vai trò quan trọng của lúa gạo trong an ninh lương thực toàn cầu Ông kêu gọi các doanh nghiệp và công ty xuất khẩu gạo phát triển chiến lược thương mại nhằm đảm bảo sự ổn định nguồn lương thực và quyền lợi hài hòa giữa người tiêu dùng, tổ chức kinh doanh và nông dân.

Trong giai đoạn 2007-2008, khủng hoảng lương thực toàn cầu diễn ra khi giá lương thực tăng liên tục Mặc dù Việt Nam hưởng lợi từ việc tăng giá xuất khẩu, nhưng lương thực là mặt hàng thiết yếu cho đời sống người dân Do đó, trong những điều kiện nhất định, cần phải hạn chế xuất khẩu để đảm bảo an sinh xã hội, như Nguyễn Sinh Cúc (2008) đã nhấn mạnh về việc xuất khẩu gạo.

Cần tính toán lại các phương án xuất khẩu gạo để đảm bảo lợi ích cho nông dân, doanh nghiệp, Nhà nước và người tiêu dùng Hiện tại, vụ lúa đông - xuân ở phía Bắc chưa thu hoạch và sản lượng khó đạt mức như năm trước, trong khi giá gạo trong nước đang cao Do đó, chỉ nên xuất khẩu theo hợp đồng đã ký (2,4 triệu tấn) và lùi việc ký kết 1,6 triệu tấn dự kiến cuối năm đến sau khi thu hoạch vụ đông - xuân để đảm bảo an ninh lương thực và kiềm chế lạm phát.

Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu cà phê, với các vùng trồng cà phê chủ yếu tập trung tại Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum và Sơn.

Theo Minh Ngọc (2012), cà phê Việt Nam nằm trong nhóm 12 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 2 tỷ USD trở lên Năm 2012, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt kỷ lục cả về khối lượng lẫn kim ngạch, lần đầu tiên vượt qua Brazil để đứng đầu thế giới Cà phê Việt Nam đã vươn lên vị trí hàng đầu toàn cầu.

Trong năm 2013, xuất khẩu cao su đạt giá trị 2,49 tỷ USD, đứng thứ 3 trong nhóm mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị cao, sau gạo và cà phê Cao su không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn tạo việc làm cho hàng vạn lao động ở các vùng nông thôn miền núi Cây cao su được trồng rộng rãi từ Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải miền Trung đến vùng Tây Bắc Theo ông Trần Ngọc Thuận, TGĐ VRG, tổng diện tích cao su của Việt Nam xếp thứ 4 thế giới, sản lượng mủ đứng thứ 3, năng suất thứ 2 và xuất khẩu thứ 4 toàn cầu Báo Nông nghiệp khuyến nghị không nên quay lưng với cây cao su.

Hạt điều Việt Nam đã có mặt trên hơn 50 thị trường toàn cầu và từ năm 2014, Việt Nam đã giữ vị trí dẫn đầu thế giới về xuất khẩu điều nhân trong suốt 9 năm liên tiếp Năm 2014 cũng đánh dấu lần đầu tiên giá trị xuất khẩu hạt điều của Việt Nam vượt mốc 2 tỷ USD, theo thông tin từ Duy Quang.

Năm 2014, chế biến điều đã trở thành một trong những ngành nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đứng thứ 4 sau lúa gạo, cao su và cà phê Theo các chuyên gia nông nghiệp, chế biến điều không chỉ có hàm lượng khoa học công nghệ cao mà còn mang lại giá trị gia tăng lớn nhất trong các ngành nông sản Xuất khẩu điều trong năm đầu tiên đã đạt hơn 2 tỷ USD, khẳng định vị thế quan trọng của ngành này trong nền kinh tế.

Từ năm 2000 đến 2014, Việt Nam đã liên tục giữ vị trí hàng đầu thế giới trong xuất khẩu hồ tiêu, chiếm hơn 50% thị phần toàn cầu, theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) và nghiên cứu của Thủy Chung (2015).

Vào năm 2014, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam lần đầu tiên vượt mốc 1 tỷ USD, đạt kỷ lục 1,2 tỷ USD, khẳng định vị thế của hạt tiêu như một mặt hàng xuất khẩu đầy tiềm năng.

Việt Nam, một quốc gia đang phát triển, nổi bật với xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, nhưng cũng phải đối mặt với việc nhập khẩu lớn máy móc, thiết bị, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Dù nông sản đóng vai trò quan trọng, đời sống của người nông dân vẫn gặp nhiều khó khăn, trong khi lương thực và thực phẩm chiếm tỷ trọng cao trong chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của quốc gia.

Tác giả đã chọn đề tài "Tác động của giá nông sản xuất khẩu đến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2005 đến 2014", tập trung vào 5 mặt hàng nông sản xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam Trong năm 2014, giá trị xuất khẩu của các mặt hàng này đã vượt qua 1 tỷ USD, cụ thể là: gạo đạt 2,977 tỷ USD, cà phê 3,553 tỷ USD, cao su 1,787 tỷ USD, hạt điều 2,012 tỷ USD và hồ tiêu 1,205 tỷ USD, theo số liệu từ Tổng cục thống kê.

Mục tiêu nghiên cứu

Trong nghiên cứu, các mục tiêu cần đạt được như: Đánh giá lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2005 đến 2014

Nghiên cứu mối quan hệ giữa giá của năm mặt hàng nông sản xuất khẩu tại Việt Nam, bao gồm gạo, cà phê, cao su, hạt điều và hồ tiêu, với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là cần thiết để hiểu rõ tác động của giá nông sản đối với nền kinh tế Việc phân tích này giúp xác định những yếu tố ảnh hưởng đến giá cả và xu hướng tiêu dùng, từ đó có thể đưa ra các chính sách phù hợp nhằm ổn định thị trường và hỗ trợ nông dân.

Bài viết này định lượng tác động của giá năm mặt hàng nông sản xuất khẩu gồm gạo, cà phê, cao su, hạt điều và hồ tiêu đến lạm phát tại Việt Nam thông qua chỉ số giá tiêu dùng CPI Các kết luận và khuyến nghị được đưa ra nhằm cải thiện chính sách điều hành xuất khẩu, trợ cấp và trợ giá, cũng như thu mua tạm trữ những mặt hàng này Đồng thời, bài viết cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách hỗ trợ nông dân từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng.

Câu hỏi nghiên cứu

Trong nghiên cứu, câu hỏi được đặt ra như sau:

Giá của năm mặt hàng nông sản xuất khẩu, bao gồm gạo, cà phê, cao su, hạt điều và hồ tiêu, có ảnh hưởng đáng kể đến lạm phát tại Việt Nam Sự biến động của giá các mặt hàng này tác động trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI), làm thay đổi chi phí sinh hoạt của người dân Khi giá nông sản tăng, sẽ kéo theo sự gia tăng giá cả hàng hóa và dịch vụ khác, dẫn đến áp lực lạm phát Do đó, việc theo dõi giá cả nông sản xuất khẩu là rất quan trọng để đánh giá tình hình kinh tế và lạm phát của đất nước.

Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung phân tích tác động của giá năm mặt hàng nông sản xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng như cung tiền, tỷ giá, lãi suất, và giá trị xuất nhập khẩu đến lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2005-2014, mà không xem xét toàn bộ các yếu tố tác động đến lạm phát.

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của giá năm mặt hàng nông sản xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng khác đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại Việt Nam, mà không mở rộng ra các quốc gia trong khu vực hay các nước khác trên thế giới.

Về thời gian nghiên cứu các nhân tố tác động đến CPI của Việt Nam từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 12 năm 2014.

Phương pháp nghiên cứu

Để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát, nghiên cứu này áp dụng phương pháp định lượng và sử dụng phần mềm Eviews để thực hiện thống kê mô tả.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ phân tích 5 biến trong mô hình hồi quy để làm rõ các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Việc kiểm định mô hình sẽ được thực hiện dựa trên dữ liệu theo chuỗi thời gian, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc và chính xác hơn về mối quan hệ giữa các biến.

Ý nghĩa của nghiên cứu

Nông dân Việt Nam là một trong những tầng lớp gặp nhiều khó khăn trong xã hội, với sản xuất chủ yếu là nhỏ lẻ và luôn khao khát có được mùa màng bội thu với giá cả hợp lý Sự biến động giá cả của các mặt hàng như gạo, cà phê, cao su, hạt điều và hồ tiêu không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập ngoại tệ mà còn tác động trực tiếp đến đời sống của hàng triệu nông dân Do đó, nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của giá các mặt hàng xuất khẩu đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI), từ đó đề xuất các biện pháp trợ cấp và trợ giá nhằm nâng cao phúc lợi cho nông dân, giúp họ có cuộc sống tốt hơn trong khi vẫn đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát mà chính phủ đã đặt ra.

Khác biệt giữa các nghiên cứu trước và luận văn

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động của giá 5 mặt hàng nông sản xuất khẩu đến lạm phát tại Việt Nam, khác với các nghiên cứu trước đây chủ yếu xem xét các yếu tố như cung tiền, lãi suất, tỷ giá và giá cả thế giới ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Những mặt hàng này có giá trị xuất khẩu cao và thuộc nhóm 9 mặt hàng nông, lâm, thủy sản có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, do đó có vai trò quan trọng trong việc tác động đến lạm phát quốc gia.

Kết cấu của luận văn: gồm 5 chương

Bài viết này tóm tắt về vấn đề nghiên cứu, lý do và câu hỏi nghiên cứu, cùng với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng, đồng thời nêu bật ý nghĩa của nghiên cứu trong việc đóng góp vào lĩnh vực liên quan Cuối cùng, bài viết cũng trình bày kết cấu của luận văn, giúp người đọc dễ dàng theo dõi và hiểu rõ hơn về nội dung nghiên cứu.

Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thyết

Lạm phát là hiện tượng tăng giá chung của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một công cụ quan trọng để đo lường mức độ lạm phát Phương pháp tính CPI bao gồm việc thu thập dữ liệu về giá cả của một rổ hàng hóa tiêu dùng theo thời gian Các nhân tố tác động đến lạm phát có thể bao gồm nhu cầu thị trường, chi phí sản xuất, và chính sách tiền tệ Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa các yếu tố này và sự biến động của lạm phát, giúp hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của nền kinh tế.

Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu

Trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình kinh tế lượng và nguồn dữ liệu thu thập dùng cho nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Bài viết trình bày và phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, đồng thời phân tích kết quả từ mô hình kinh tế lượng Nó xác định mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và biến độc lập, và so sánh, giải thích kết quả nghiên cứu này với các nghiên cứu liên quan trước đó.

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu này tóm tắt kết quả chính, nêu rõ những hạn chế và đề xuất một số chính sách nhằm đạt được mục tiêu lạm phát và bảo đảm các tiêu chí an sinh xã hội.

TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Cơ sở lý thuyết

Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung, không yêu cầu mọi hàng hóa và dịch vụ phải tăng giá cùng một tỷ lệ Chỉ cần mức giá trung bình tăng lên là đủ để xác định lạm phát Điều này có nghĩa là lạm phát vẫn có thể xảy ra ngay cả khi giá của một số hàng hóa giảm, miễn là giá của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng mạnh.

Lạm phát là sự suy giảm sức mua của đồng tiền, khiến cho một đơn vị tiền tệ có thể mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn Điều này có nghĩa là trong bối cảnh lạm phát, người tiêu dùng phải chi nhiều tiền hơn để mua cùng một giỏ hàng hóa và dịch vụ.

Theo Mankiw (2010), lạm phát là hiện tượng kinh tế khi mức giá chung của nền kinh tế tăng lên theo thời gian, dẫn đến sự mất giá trị thị trường và giảm sức mua của đồng tiền Tỷ lệ lạm phát được thể hiện qua chỉ số giá cả, phản ánh tỷ lệ phần trăm tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá ở thời điểm gốc Để hình dung dễ hơn, mức giá cả có thể được ví như kích thước của một quả cầu, trong đó lạm phát là độ tăng kích thước của nó.

Theo David Begg (2010), lạm phát được định nghĩa là tốc độ tăng của giá cả qua các thời kỳ Mô hình giá cả cũng phản ánh mô hình lạm phát, và việc tăng lượng tiền danh nghĩa sẽ gây ra sự thay đổi tương ứng trong mức giá.

Chính sách tiền tệ hiện nay thường được mô tả thông qua việc đặt mục tiêu lạm phát, và quy tắc này đang được áp dụng rộng rãi tại hầu hết các ngân hàng trung ương.

Theo David Begg (2010), ở Liên hiệp Anh, chỉ số giá tiêu dùng được gọi là chỉ số giá bán lẻ RPI, dùng để đo lường sự thay đổi giá sinh hoạt của hộ gia đình RPI được xây dựng qua hai giai đoạn, tính toán cho từng hàng hóa và lấy trung bình có trọng số các nhóm hàng hóa khác nhau Tại Việt Nam, Tổng cục thống kê (TCTK) chịu trách nhiệm tính toán và công bố chỉ tiêu lạm phát, sử dụng chỉ số giá tiêu dùng CPI từ năm 1998 CPI phản ánh xu hướng và biến động giá cả của một số lượng cố định hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, không bao gồm giá niêm yết hay giá khuyến mại CPI được tính cho tất cả 63 tỉnh/thành phố và công bố định kỳ hàng tháng, hàng năm theo bốn tiêu chí: so sánh kỳ gốc, so sánh cùng kỳ, so sánh đầu năm và so sánh tháng trước.

2.1.2 Các nguyên nhân gây lạm phát

Nguyễn Như Ý và Trần Thị Bích Dung (2009), lạm phát do các nguyên nhân sau:

Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng, dẫn đến mức giá chung của hàng hóa tăng, đặc biệt khi sản lượng đạt hoặc vượt sản lượng tiềm năng Sự gia tăng tổng cầu chủ yếu làm lạm phát tăng cao, trong khi sản lượng và việc làm chỉ tăng rất ít, đặc biệt khi nhu cầu xuất khẩu tăng Điều này dẫn đến lượng hàng hóa cung ứng trong nước giảm, làm tăng mức giá trong nước Ngoài ra, nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn chảy vào cũng có thể góp phần gây ra lạm phát.

Lạm phát do chi phí đẩy xảy ra khi chi phí sản xuất, tiền lương và giá nguyên liệu đồng loạt tăng, dẫn đến giá bán hàng cao hơn Sự gia tăng này làm giảm lượng hàng hóa cung ứng, từ đó thúc đẩy lạm phát trong toàn bộ nền kinh tế.

Lạm phát do sức ỳ của nền kinh tế thường ổn định theo thời gian, với mức giá tăng lên hàng năm theo một tỷ lệ nhất định Tỷ lệ lạm phát này, được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ, hoàn toàn có thể dự đoán trước và sẽ được tính toán vào tất cả các hợp đồng trong nền kinh tế.

Lạm phát do nhập khẩu xảy ra khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng, dẫn đến giá bán hàng hóa này trong nước cũng tăng Kết quả là mức giá chung trong nền kinh tế bị đẩy lên bởi sự gia tăng giá của hàng hóa nhập khẩu.

Lạm phát do xuất khẩu xảy ra khi nhu cầu xuất khẩu tăng, dẫn đến việc huy động sản phẩm cho xuất khẩu tăng Điều này làm giảm lượng cung trong thị trường nội địa, khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Kết quả là giá các mặt hàng xuất khẩu tăng, dẫn đến mức giá chung tăng lên và gây ra lạm phát.

Lạm phát tiền tệ xảy ra khi cung tiền tăng, dẫn đến sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông Theo thuyết số lượng tiền tệ, có mối quan hệ rõ ràng giữa cung tiền và giá cả trong nền kinh tế, được thể hiện qua một công thức cụ thể.

M: Số lượng tiền tệ V: Số nhân tiền

Triển khai công thức dưới dạng logarith, như sau:

LnM + LnV = LnP + LnY Khi triển khai công thức dưới dạng phần trăm, như sau:

Lạm phát (% thay đổi P) chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự thay đổi của cung tiền (% M) Khi cung tiền tăng trưởng quá nhanh mà các yếu tố như tốc độ lưu thông tiền tệ (% V) và sản lượng (% Y) không thay đổi tương ứng, sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát cao.

Tất cả công cụ tài chính trong M1 và những khoản tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn

M2 = M1+ tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn

M1 là loại tiền có tính thanh khoản cao, cho phép chuyển đổi ngay lập tức thành tiền mặt với mức giá cố định Vì lý do này, M1 thường được gọi là tiền hẹp hay tiền giao dịch, bao gồm các loại tiền tệ có thể sử dụng nhanh chóng trong các giao dịch.

C M : Tiền mặt ngoài ngân hàng

D M : Tiền gửi không kỳ hạn sử dụng sec

Theo nghiên cứu của Camen và Ulrich (2006), lạm phát ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cung tiền M2, tỷ giá VND/USD, mức tín dụng, lãi suất, giá dầu thế giới, giá gạo toàn cầu và cung tiền Mỹ M3.

Các nghiên cứu trước

Camen và Ulrich (2006) đã thực hiện nghiên cứu sử dụng mô hình VAR với dữ liệu thu thập theo tháng từ tháng 2 năm 1996 đến tháng 4 năm 2005 Kết quả cho thấy tín dụng chiếm 25% của nền kinh tế là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát, với tác động rõ rệt sau 24 tháng Bên cạnh đó, cung tiền giải thích 18% biến động lạm phát, trong khi giá dầu và giá gạo quốc tế lần lượt đóng góp 21% và 11% vào biến động này sau 12 tháng Cuối cùng, tỷ giá cũng có ảnh hưởng, giải thích 19% biến động của lạm phát.

Gilbert, Linyoung, and Divine (2013) utilized the Vector Error Correction Model (VECM) to analyze secondary data collected from 1975 to 2009 The model incorporates various variables, including real Gross Domestic Product (RGDPt), total labor force (LABt), gross domestic fixed capital (CAPt), and exports of cocoa (COCXt), coffee (COFXt), and bananas (BANXt), along with the consumer price index (CPIt).

LGDPt =  0 +  1 LLABt +  2 LCAPt +  3 LCPIt +  4 LCOCXt+  5 LCOFXt +  6 LBANXt +  t

Nghiên cứu chỉ ra rằng xuất khẩu Cà phê và Chuối có mối quan hệ tích cực với tăng trưởng kinh tế tại Cameroon, trong khi xuất khẩu Ca cao lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát, với việc lạm phát tăng 1% có thể dẫn đến sự thay đổi 10,79% trong tốc độ tăng trưởng kinh tế tại Cameroon.

Lê Quốc Hưng (2012) đã sử dụng mô hình véc-tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) để phân tích tác động của các yếu tố đến chỉ số CPI, với dữ liệu thứ cấp được thu thập theo tháng từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 2 năm 2011 Các biến trong mô hình bao gồm CPI, cung tiền M2, lãi suất, kim ngạch nhập khẩu, chi tiêu chính phủ, tỷ giá và sản lượng công nghiệp.

Nghiên cứu chỉ ra rằng trong ngắn hạn, các yếu tố có mối quan hệ tích cực với chỉ số CPI bao gồm kỳ vọng lạm phát của người dân, tốc độ tăng cung tiền M2, nhập khẩu hàng hóa và chi tiêu chính phủ.

Nghiên cứu chỉ ra rằng trong dài hạn, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng mạnh do các yếu tố như: sự biến động của tỷ giá USD/VNĐ, thay đổi giá trị sản lượng công nghiệp, kim ngạch nhập khẩu và lãi suất VNĐ.

Lê Việt Hùng và Pfau (2008) đã sử dụng mô hình VAR để phân tích tác động của chính sách tiền tệ tại Việt Nam, với dữ liệu thứ cấp được thu thập theo quý bắt đầu từ quý 2 năm.

1996 đến quý 4 năm 2005, các biến trong mô hình: Sản lượng thực OUTPUT (giá

In 1994, various economic indicators such as the Consumer Price Index (CPI), money supply (M2), real interest rates (IRATE), credit levels, the real effective exchange rate (REER), global oil prices, rice prices, and the federal funds rate (FFR) played significant roles in shaping the financial landscape.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự liên kết mạnh mẽ giữa cung tiền và sản lượng thực, trong khi mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát lại không rõ ràng Bên cạnh đó, tỷ giá hối đoái và tín dụng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam.

Loungani và Swagel (2001) đã sử dụng mô hình VAR để phân tích lạm phát tại 53 quốc gia đang phát triển, với dữ liệu thứ cấp được thu thập từ năm 1964 đến 1998 Các biến trong mô hình này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát trong bối cảnh kinh tế của các nước này.

2 Non-Oil commodity price growth,

Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự liên kết mạnh mẽ giữa tăng trưởng cung tiền, tỷ giá hối đoái và lạm phát ở các quốc gia này, trong khi giá dầu và các hàng hóa khác có ảnh hưởng hạn chế đến lạm phát.

Nguyễn Phi Lân (2010) đã sử dụng mô hình véc-tơ tự hồi quy cấu trúc (SVAR) để phân tích tác động của chính sách tiền tệ và các kênh truyền dẫn khác đến giá cả hàng hóa và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế nội địa Nghiên cứu dựa trên dữ liệu thứ cấp theo tháng từ tháng 1 năm 1998 đến tháng 12 năm 2009, với 9 biến trong mô hình, tất cả đều ở dạng logarith cơ số tự nhiên, ngoại trừ lãi suất, và được chia thành 2 khu vực.

Khu vực quốc tế bao gồm các yếu tố quan trọng như chỉ số CPI toàn cầu (WCPI), sản lượng công nghiệp của Hoa Kỳ (USSL), chỉ số CPI của Hoa Kỳ (USCPI) và lãi suất công bố của FED (USLS) Những chỉ số này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình hình kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư.

Khu vực trong nước gồm các biến: Sản lượng công nghiệp trong nước (SL), Chỉ số CPI trong nước (CPI), Cung tiền M2, Lãi suất ngắn hạn 3 tháng VND (LS),

Tỷ giá hối đoái giữa USD và VND (EX)

Nghiên cứu cho thấy rằng biến động sản lượng trong nước liên quan chặt chẽ đến lãi suất thị trường tiền tệ, tốc độ tăng CPI và cung tiền M2 Chỉ số CPI trong nước chịu ảnh hưởng lớn từ cú shock nội tại và các yếu tố bên ngoài như giá cả, sản lượng tại Hoa Kỳ, cùng với chính sách lãi suất của FED Khi loại bỏ ảnh hưởng của sản lượng, lãi suất và lạm phát tại Hoa Kỳ, việc điều hành lãi suất và tỷ giá trong nước cũng có tác động đáng kể đến biến động CPI trong trung hạn Đặc biệt, CPI phản ứng mạnh mẽ trước chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm mạnh trong khoảng thời gian 6 - 9 tháng sau khi thực hiện các biện pháp này.

Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010), dựa theo Chhibber

Tóm tắt chương 2

Chương 2 đã trình bày các mô hình nghiên cứu và các kênh truyền tải đến lạm phát của các nghiên cứu trước, dựa vào các biến trong mô hình nghiên cứu trước để chọn ra mô hình phù hợp nhất được trình bày trong chương 3

PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Thiết kế quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua các bước sau:

Bước đầu tiên trong nghiên cứu là xác định vấn đề và mục tiêu, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát cao hiện nay Mặc dù Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, nhưng đời sống người dân vẫn gặp nhiều khó khăn Do đó, cần phải làm rõ các yếu tố tác động đến lạm phát để từ đó đề xuất các chính sách phù hợp nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Bước 2 trong quá trình nghiên cứu là xây dựng cơ sở lý thuyết, dựa trên vấn đề và mục tiêu nghiên cứu Cần thu thập tài liệu liên quan đến lạm phát thông qua chỉ số giá tiêu dùng CPI, đồng thời tham khảo các công trình nghiên cứu thực nghiệm đã được công bố về các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát Những thông tin này sẽ là nền tảng để phát triển mô hình nghiên cứu.

Bước 3 trong quy trình nghiên cứu là xây dựng mô hình nghiên cứu, dựa trên cơ sở lý thuyết và vấn đề thực tiễn cần giải quyết Mô hình này sẽ tham khảo các nghiên cứu trước đó, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam Cuối cùng, cần sử dụng các số liệu có thể thu thập được để phát triển mô hình kinh tế lượng, nhằm xác định các nhân tố tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Bước 4 trong quy trình nghiên cứu là thu thập và xử lý số liệu từ các nguồn chính thức như Tổng cục Thống kê, IMF và Ngân hàng Nhà nước Do số liệu kinh tế thường bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, cần thực hiện hiệu chỉnh mùa vụ và chuyển đổi chúng sang dạng logarith trước khi đưa vào mô hình kinh tế lượng.

Bước 5: Khảo sát đồng liên kết giữa các biến: Khảo sát đồng liên kết giữa các biến trong mô hình từ đó chọn phương pháp ước lượng phù hợp

Bước 6: Kiểm tra tính dừng của các biến trong mô hình Nếu phát hiện biến nào chưa dừng, cần thực hiện lấy sai phân cho đến khi đạt được tính dừng Việc sử dụng chuỗi dữ liệu không dừng trong mô hình sẽ dẫn đến kết quả hồi quy giả mạo.

Bước 7: Ước lượng mô hình nghiên cứu: Ước lượng mô hình nghiên cứu bằng mô hình ARDL

Bước 8: Kiểm định giả thuyết: Tiến hành kiểm định các giả thuyết và tính ổn định của mô hình

Bước 9 trong quá trình nghiên cứu bao gồm việc phân tích kết quả hồi quy để làm sáng tỏ vấn đề, mục tiêu và giả thuyết đã đề ra Dựa trên phân tích này, các khuyến nghị sẽ được đưa ra nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tự hồi quy phân phối trễ ARDL được áp dụng để kiểm định tác động ngắn hạn và dài hạn của giá nông sản xuất khẩu đến chỉ số giá tiêu dùng Mô hình ARDL (p, q1, , qk) cho phép phân tích mối quan hệ giữa các biến trong thời gian, từ đó giúp hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của giá nông sản đến chỉ số giá tiêu dùng.

Bước 2: Xây dựng cơ sở lý thuyết

Bước 1: Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

Bước 6: Khảo sát tính dừng của các biến

Bước 5: Khảo sát đồng liên kết giữa các biến

Bước 4: Thu thập, xử lý số liệu

Bước 7: Ước lượng mô hình nghiên cứu

Bước 8: Kiểm định giả thuyết

Bước 9: Phân tích kết quả, kết luận và khuyến nghị

Bước 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu

24 p là mức trể của biến phụ thuộc, q 1 là mức trể của biến độc độc thứ 1, q k là mức trể của biến độc lập thứ k, mô hình có dạng: yt =  + ∑ 𝑃 𝑖=1 𝛾 𝑖 𝑦 𝑡−𝑖 + ∑ 𝑘 𝑗=1 ∑ 𝑞 𝑖=0 𝑗 𝑋 𝑗,𝑡−𝑖  𝑖,𝑗 + t

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên các nghiên cứu trước về lạm phát và dữ liệu có sẵn, tác giả đã xác định các kênh ảnh hưởng đến lạm phát, bao gồm giá của năm mặt hàng nông sản xuất khẩu, cung tiền, tỷ giá, cũng như giá trị xuất khẩu, nhập khẩu và lãi suất.

Hình 3.2 Các kênh truyền tải đến lạm phát

Trong nền kinh tế, lạm phát chịu ảnh hưởng từ nhiều nhân tố, bao gồm cả biến nội sinh và ngoại sinh, cũng như các yếu tố có thể đo lường và không thể đo lường Bài viết này tập trung vào những nhân tố tác động trực tiếp đến lạm phát và đời sống người dân, nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách an sinh xã hội Mục tiêu là ổn định và phát triển kinh tế, từ đó tạo ra thu nhập ổn định cho người nông dân.

Giá hàng hóa thương mại

(Giá hàng nông sản xuất khẩu và các đầu vào nhập khẩu khác)

Tiền tệ, lãi suất, xuất khẩu

Tổng cung nhập khẩu, tỷ giá

Giá hàng hóa phi thương mại

Hình 3.3 Sơ đồ các nhân tố tác động đến lạm phát

Bảng 3.1 Các biến áp dụng trong mô hình được kế thừa từ nghiên cứu trước

Ký hiệu Tên biến Nghiên cứu trước

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

Các nghiên cứu của Camen và Ulrich (2006), Lê Quốc Hưng (2012), Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010), Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013), Phan Thế Anh (2009), Trương Văn Phước và Chu Hoàng Long (2005), Trần Hữu Ngọc (2013), cùng với Gilbert, Linyoung và Divine (2013) đã đóng góp quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu hiện tại.

Camen and Ulrich (2006); Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010); Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013); Trương Văn Phước và Chu Hoàng Long (2005)

PCoffee Giá cà phê Tác giả thêm biến vào mô hình

PRubber Giá cao su Tác giả thêm biến vào mô hình

PCashew Giá hạt điều Tác giả thêm biến vào mô hình

PPepper Giá hồ tiêu Tác giả thêm biến vào mô hình

Lê Quốc Hưng (2012); Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010); Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013); Phan thế Anh (2009);Trương

Văn Phước và Chu Hoàng Long (2005); Trần Hữu Ngọc (2013)

Camen và Ulrich (2006), Lê Quốc Hưng (2012), Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010), Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013), Phan Thế Anh (2009), Trương Văn Phước và Chu Hoàng Long (2005), Trần Hữu Ngọc (2013) đều đóng góp vào nghiên cứu trong lĩnh vực này, cung cấp những cái nhìn sâu sắc và quan trọng cho các vấn đề đang được thảo luận.

I Nhập khẩu Lê Quốc Hưng (2012)

X Xuất khẩu Tác giả thêm biến vào mô hình

Lê Quốc Hưng (2012); Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010); Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013); Phan thế Anh (2009);Trần Hữu Ngọc (2013)

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Mô hình hồi quy

Mô hình nghiên cứu đề xuất phản ánh mối quan hệ giữa các biến tác động đến CPI như sau:

CPI=f (PRice, PCoffee, PRubber, PCashew, PPepper, M2, Fe, I, X, R)

Biến phụ thuộc: Chỉ số giá tiêu dùng CPI

Biến độc lập trong nghiên cứu này bao gồm giá gạo xuất khẩu (PRice), giá cà phê xuất khẩu (PCoffee), giá cao su xuất khẩu (PRubber), giá hạt điều xuất khẩu (PCashew), và giá hồ tiêu xuất khẩu (PPepper) Ngoài ra, các yếu tố khác như cung tiền (M2), tỷ giá (Fe), nhập khẩu (I), xuất khẩu (X), và lãi suất (R) cũng được xem xét để phân tích ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu.

Phương trình hồi quy phản ánh mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập như sau: lnCPI =  +  1 lnPRice +  2 lnPCoffee +  3 lnPRubber +  4 lnPCashew +

 5 lnPPepper +  6 lnM2 +  7 lnFe +  8 lnI +  9 lnX +  10 R +  t

i: là hệ số hồi quy,  t : Phần dư

Biến phụ thuộc : lnCPI: Logarith tự nhiên chỉ số giá tiêu dùng

Biến độc lập trong nghiên cứu này bao gồm lnPRice, đại diện cho logarith tự nhiên của giá gạo xuất khẩu; lnPCoffee, logarith tự nhiên của giá cà phê xuất khẩu; lnPRubber, logarith tự nhiên của giá cao su xuất khẩu; lnPCashew, logarith tự nhiên của giá hạt điều xuất khẩu; và lnPPepper, logarith tự nhiên của giá hồ tiêu xuất khẩu Ngoài ra, lnM2 là logarith tự nhiên của cung tiền M2, lnFe là logarith tự nhiên của tỷ giá hối đoái VND/USD, lnI là logarith tự nhiên của giá trị hàng nhập khẩu, và lnX là logarith tự nhiên của giá trị hàng xuất khẩu.

Các biến được chuyển đổi sang dạng Logarith tự nhiên bao gồm Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), Giá gạo xuất khẩu (PRice), Giá cà phê xuất khẩu (PCoffee), Giá cao su xuất khẩu (PRubber), Giá hạt điều xuất khẩu (PCashew), Giá hồ tiêu xuất khẩu (PPepper), Cung tiền (M2), Tỷ giá (Fe), Nhập khẩu (I) và Xuất khẩu (X), trong khi biến lãi suất cơ bản không được chuyển đổi Việc sử dụng dữ liệu dưới dạng Logarith giúp giảm độ phân tán cao và xử lý các biến có giá trị lớn, từ đó thuận lợi hơn cho việc nhận dạng và phân tích dữ liệu.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả của một nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu theo thời gian CPI được tính toán dựa trên năm gốc so sánh, giúp theo dõi sự thay đổi trong mức sống của người dân và hỗ trợ trong việc phân tích tình hình kinh tế.

2005 (Index Numbers 20050), số liệu được thu thập từ IFS

Giá gạo xuất khẩu (Rice Price) là giá trị của 1 tấn gạo xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu Giá này được tính bằng cách chia tổng giá trị xuất khẩu cho sản lượng xuất khẩu, với đơn vị tính là tấn/USD Dữ liệu về giá gạo xuất khẩu được thu thập hàng tháng từ Tổng cục thống kê.

Giá cà phê xuất khẩu (PCoffee) là giá trị của 1 tấn cà phê xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu Để tính giá này, người ta lấy tổng giá trị xuất khẩu chia cho sản lượng xuất khẩu, với đơn vị tính là tấn/USD Thông tin này được thu thập hàng tháng từ Tổng cục thống kê.

Giá cao su xuất khẩu (PRubber) là giá trị của 1 tấn cao su xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu Giá này được tính bằng cách chia tổng giá trị xuất khẩu cho sản lượng xuất khẩu, với đơn vị tính là tấn/USD Dữ liệu về giá cao su xuất khẩu được thu thập hàng tháng từ Tổng cục thống kê.

PCashew cung cấp thông tin về giá hạt điều xuất khẩu, được tính theo tấn hạt điều và không bao gồm thuế xuất khẩu Giá này được xác định bằng cách chia giá trị xuất khẩu cho sản lượng xuất khẩu, với đơn vị tính là tấn/USD Dữ liệu được thu thập hàng tháng từ Tổng cục thống kê.

Giá hồ tiêu xuất khẩu (PPepper) là giá trị của 1 tấn hồ tiêu xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu Giá này được tính bằng cách chia giá trị xuất khẩu cho sản lượng xuất khẩu, với đơn vị tính là tấn/USD Thông tin này được thu thập hàng tháng từ Tổng cục thống kê.

M2, or Broad Money, plays a crucial role in influencing inflation through monetary policy Monthly data collected from the International Financial Statistics (IFS) is measured in trillion VND.

Tỷ giá hạch toán kế toán và báo cáo thu chi ngoại tệ được Bộ Tài chính công bố hàng tháng, thể hiện mối quan hệ giữa đồng nội tệ VNĐ và các đồng ngoại tệ.

29 trong nghiên cứu này đồng ngoại tệ được tính là đô la Mỹ (USD), tỷ giá được tính theo tháng, số liệu được thu thập từ Bộ tài chính

I: Nhập khẩu (Import), là tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu, được tính theo tháng, đơn vị tính là triệu USD, giá trị hàng nhập khẩu không bao gồm thuế xuất, số liệu được thu thập từ Tổng cục thống kê

X: Xuất khẩu (Export), là tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu, được tính theo tháng, đơn vị tính là triệu USD, giá trị hàng xuất khẩu không bao gồm thuế xuất, số liệu được thu thập từ Tổng cục thống kê

R: Lãi suất (Interest rate), là lãi suất cơ bản, căn cứ vào mức lãi suất này chính phủ sẽ đưa ra tỷ lệ lãi suất cho vay hổ trợ doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất, đồng thời Tổng cục thuế căn cứ vào mức lãi suất này để đưa ra mức phạt tiền chậm nộp thuế, về mặt pháp lý căn cứ vào lãi suất cơ bản để xử lý việc cho vay nặng lãi, lãi suất cơ bản được công bố theo tháng, số liệu được thu thập từ Ngân hàng nhà nước

Dựa trên phân tích các biến trong mô hình từ các nghiên cứu trước và lý thuyết kinh tế, nghiên cứu này mong muốn làm rõ ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc, với sự xem xét điều kiện thực tế tại Việt Nam.

Bảng 3.2 Tóm tắt các biến và dấu kỳ vọng của mô hình

Ký hiệu Tên biến Đơn vị Dấu kỳ vọng Phương pháp tính

CPI Chỉ số giá tiêu dùng Thu thập từ IFS, số liệu theo tháng

Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các nguồn như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê và IFS, với chuỗi thời gian hàng tháng từ tháng 1-2005 đến tháng 12-2014, tổng cộng 120 quan sát Số liệu và đơn vị tính được giải thích trong phần mô tả các biến.

Các bước thực hiện trong nghiên cứu khi dùng phương pháp ARDL

Phương pháp SA (Census X12) do U.S Bureau of Census phát triển được sử dụng để hiệu chỉnh số liệu kinh tế theo chuỗi thời gian, nhằm loại bỏ ảnh hưởng của tính mùa vụ.

3.6.2 Đồng liên kết Đồng liên kết là khái niệm cơ bản của kinh tế lượng hiện đại, là một khái niệm cơ bản của kinh tế học và mô hình phân tích chuỗi, theo Enggle và Granger

Năm 1987, khi nghiên cứu mô hình với nhiều biến số theo chuỗi thời gian, có nhiều trường hợp mặc dù các biến số không dừng nhưng việc thực hiện hồi quy hay tổ hợp tuyến tính của chúng vẫn cho ra nhiễu trắng, tức là tạo ra một chuỗi dừng Trong những trường hợp này, mô hình vẫn có thể được ước lượng mà không gặp phải vấn đề hồi quy giả mạo, và mối quan hệ giữa các biến được gọi là quan hệ đồng liên kết (Cointegrating relationships).

3.6.3 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu

Một chuỗi dữ liệu thời gian được coi là dừng khi trung bình và phương sai của nó không thay đổi theo thời gian Đồng phương sai giữa hai thời đoạn chỉ phụ thuộc vào khoảng cách và độ trễ thời gian giữa chúng, không phụ thuộc vào thời điểm tính toán Ngược lại, một chuỗi thời gian không dừng có thể có giá trị trung bình, phương sai hoặc đồng phương sai thay đổi theo thời gian.

Y t là chuỗi thời gian ngẫu nhiên có tính chất sau:

Phương sai: Var(Y t ) = E(Y t -) 2 =  2 Đồng phương sai:  k = E[(Y t -)(Y t+k- )]

Trong đó  k là đồng phương sai tại độ trễ k đồng phương sai chỉ phụ thuộc khoảng cách của độ trễ là k, mà không phụ thuộc thời gian t

Khi dữ liệu không ngừng, chúng ta có thể chuyển đổi dữ liệu chuỗi thời gian không dừng thành chuỗi thời gian có tính dừng bằng cách thực hiện phép sai phân.

∆Y t = Y t - Y t-1 Sai phân bậc nhất, được ký hiệu là I(1)

∆ 2 Y t = Y t - 2Y t-1 – Yt-2 Sai phân bậc hai, được ký hiệu là I(2)

Chuỗi Y_t không dừng khi sai phân bậc 1 của nó cũng không dừng, nhưng nếu sai phân bậc d dừng lại, Y_t được gọi là tích hợp bậc d, ký hiệu là I(d) Nếu chuỗi ban đầu chưa được lấy sai phân mà vẫn có tính dừng, nó sẽ được ký hiệu là I(0).

Kiểm định nghiệm đơn vị là phương pháp xác định tính dừng của chuỗi thời gian Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng kiểm định Dicky và Fuller mở rộng (ADF) để kiểm tra tính dừng của dữ liệu Nếu chuỗi dữ liệu không dừng, chúng tôi sẽ thực hiện phép sai phân để tạo ra chuỗi dừng.

3.6.4 Xác định độ trễ tối ưu và ước lượng phương trình bằng mô hình ARDL Độ trễ tối ưu của mô hình được lựa chọn dựa trên các kiểm định Akaike Information Criterion (AIC), Schawarz infomation Criterion (SC) và Hannan- Quinn Criterion (HQ) Ước lượng bằng mô hình ADRL với các độ trễ đã được xác định để kiểm định mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa của giá nông sản xuất khẩu đến chỉ số giá tiêu dùng

3.6.5 Kiểm định biến thừa trong mô hình

Sau khi ước lượng mô hình ARDL với các độ trễ khác nhau, việc xác định hệ số hồi quy yêu cầu loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê Để thực hiện điều này, cần tiến hành kiểm định thừa biến, bao gồm kiểm định Redundant và Wald test, và sau đó chạy lại mô hình.

3.6.6 Kiểm định tương quan chuỗi

Theo Gujarati (2004), một giả định quan trọng trong mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển là các sai số \( u_i \) không có tự tương quan, nghĩa là không có mối quan hệ tương quan giữa các thành phần của chuỗi dữ liệu Điều này áp dụng cho các quan sát được sắp xếp theo thời gian hoặc không gian.

Corr(𝑢 𝑡 , 𝑢 𝑠 |𝑋) = 0, với mọi ts Đối với chuỗi thời gian, nếu sai số u i trong mô hình bị tương quan chuỗi mà vẫn dùng phương pháp OLS thì:

Các hệ số ước lượng hồi quy sẽ bị chệch, các phương sai không còn nhỏ nhất, vì vậy việc ước lượng không còn hiệu quả

Mức ý nghĩa của kiểm định t và F không còn đáng tin cậy, do đó độ chính xác của việc kiểm định không còn hiệu quả

Sai số bình phương trung bình (MSE) là ước lượng của phương sai của số hạng sai số u i

Để đảm bảo mô hình hồi quy đạt tiêu chuẩn ước lượng không thiên lệch tuyến tính tốt nhất (BLUE), cần kiểm tra tính tương quan chuỗi của các sai số \( u_i \) Nếu giả định về việc các sai số này không có tương quan chuỗi không được đảm bảo, cần thực hiện các biện pháp khắc phục thích hợp.

3.6.7 Kiểm định phương sai của sai số thay đổi

Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh (2012), phương pháp OLS giả định rằng phương sai của sai số ngẫu nhiên là không đổi, tức là phương sai của sai số u i là đồng nhất cho tất cả các giá trị của X và bằng một hằng số.

Giả thuyết này nhằm đảm bảo tính không chệch và độ chính xác của ước lượng.

3.6.8 Kiểm định sự phù hợp của dạng hàm

Kiểm định RESET của Ramsey để xác định sự phù hợp của dạng hàm.

Tóm tắt chương 3

Chương 3 đề xuất mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là lnCPI và các biến độc lập lần lượt là lnPRice, lnPCoffee, lnPRubber, lnPCashew, lnPPepper, lnM2, lnFe, lnI, lnX và R , trong đó các biến đều được hiệu chỉnh mùa vụ bằng phương pháp Census X12 trước khi lấy logarith, riêng biến lãi suất R không hiệu chỉnh mùa vụ và không lấy logarith

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w