Kết quả mô hình hồi quy 1 và 2 đều chứng minh rằng, trong cấu trúc vốn xã hội, nhân tố “lòng tin” TRUST có tác động mạnh mẽ nhất với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kế đến là nh
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
TP Hồ Chí Minh, Năm 2019
Tai Lieu Chat Luong
Trang 2NGUYỄN THỊ THANH THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số chuyên ngành: 60 31 01 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS Hà Minh Trí
TP Hồ Chí Minh, Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tiền Giang” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, 2019
Nguyễn Thị Thanh Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với TS Hà Minh Trí, người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn quý Thầy, Cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt và chia sẽ những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, các cơ quan Sở, Ngành tỉnh Tiền Giang và các doanh nghiệp tham gia khảo sát đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình
Chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin chúc quý Thầy, Cô, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân sức khoẻ, thành công và hạnh phúc
Xin trân trọng cảm ơn!
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Thị Thanh Thảo
Trang 5Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phương pháp hồi quy bội tuyến tính để xác định các yếu tố của vốn xã hội tác động đến hiệu quả hoạt
động của DNNVV tại tỉnh Tiền Giang Trong nghiên cứu này, hiệu quả hoạt động của
DNNVV được đo lường theo hai phương pháp tài chính (FPI) và phi tài chính (OPE) Kết quả mô hình hồi quy 1 và 2 đều chứng minh rằng, trong cấu trúc vốn xã hội, nhân
tố “lòng tin” (TRUST) có tác động mạnh mẽ nhất với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kế đến là nhân tố “mạng lưới quan hệ” (NET_TIE), và “tầm nhìn chung” (SH_VISION) Các nhân tố này đều có mối tương quan dương ( + ) với nhân tố hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (gồm, hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp – FPI; và hiệu quả hoạt động phi tài chính của doanh nghiệp – OPE) Đồng thời, kết
quả hồi quy cũng cho thấy, các nhóm nhân tố đặc tính của doanh nghiệp gồm: số năm
doanh nghiệp hoạt động (AGE), quy mô của doanh nghiệp (SIZE); nhân tố sự tham gia hiệp hội (MEMBER) cũng có tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Kết quả của các nhóm nhân tố này đáp ứng kỳ vọng và phù hợp với giả thuyết mà tác giả đã đặt ra
Trang 6ABSTRACT
The topic "The impact of social capital on the performance of small and medium-sized enterprises in Tien Giang province", in the current practice in Tien Giang is really necessary Based on primary data through a survey of 322 businesses from April 2019 to May 2019, and a secondary data on the performance of businesses
in the four years from 2015 to 2018, the research results will be: basis for small and medium enterprises to develop and effectively exploit social capital in the context of scarcity of other resources
The study uses exploratory factor analysis method, multiple linear regression method to identify the factors of social capital affecting the performance of SMEs in Tien Giang province In this study, SME performance is measured using two financial (FPI) and non-financial (OPE) methods The results of regression models 1 and 2 both show that, in the social capital structure, the factor "trust" (TRUST) has the strongest impact on the performance of enterprises, followed by the factor "Relationship network" (NET_TIE), and "common vision" (SH_VISION) These factors all have a positive correlation () with the firm's performance (including, the firm's financial performance - FPI; and the company's non-financial performance - OPE ) At the same time, the regression results also show that the characteristic groups of enterprises include: the number of years the business operates (AGE), the size of the business (SIZE); factors of association participation (MEMBER) also affect the performance of enterprises The results of these factors groups meet expectations and are consistent with the hypothesis that the author has set
Trang 7
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do nghiên cứu và đặt vấn đề 1
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 4
1.7 Kết cấu dự kiến nghiên cứu 5
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa 6
2.2 Khái niệm về vốn xã hội 8
Trang 82.3 Khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 9
2.4 Các nghiên cứu trước 12
2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài 12
2.4.2 Các nghiên cứu trong nước 22
2.5 Mô hình nghiên cứu của đề tài 25
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Thiết kế nghiên cứu 27
3.2 Nghiên cứu định tính 29
3.3 Nghiên cứu định lượng chính thức 30
3.4 Kỹ thuật xử lý dữ liệu 31
3.5 Mô hình nghiên cứu 33
3.5.1 Mô hình nghiên cứu của đề tài 33
3.5.2 Giả thuyết của mô hình nghiên cứu 37
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu 41
4.2 Thống kê mô tả các thang đo 44
4.3 Kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 45
4.3.1 Mạng lưới quan hệ 45
4.3.2 Lòng tin 46
4.3.3 Tầm nhìn chung 46
4.3.4 Hiệu quả hoạt động phi tài chính 47
4.4 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 48
4.4.1 Phân tích EFA các yếu tố của VXH tác động đến hiệu quả hoạt động 48
4.4.2 Phân tích EFA các yếu tố hiệu quả hoạt động phi tài chính 49
Trang 94.4 Phân tích tương quan 50
4.5 Phân tích hồi quy bội 53
4.6.1 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình hồi quy 4.6.1 Mô hình hồi quy hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp (Mô hình 1) 54
4.6.2 Mô hình hồi quy hiệu quả hoạt động phi tài chính của doanh nghiệp (Mô hình 2) 57
4.7 Kiểm định những giả định của mô hình hồi quy 58
4.7.1 Kết quả kiểm định giả thuyết 58
4.7.2 Kiểm định về phân phối chuẩn của phần dư 59
4.7.3 Kiểm định về giả định liên hệ tuyến tính 61
4.8 Thảo luận kết quả hồi quy 61
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Hàm ý chính sách 66
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 1 78
PHỤ LỤC 2 80
PHỤ LỤC 3 85
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Cấp độ lý thuyết vốn xã hội 13
Hình 2.2: Vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của DNNVV 14
Hình 2.3: Mạng lưới chiến lược giữa các doanh nghiệp nhỏ 17
Hình 2.4: Mô hình hòa giải quan hệ giữa các mạng, đổi mới và hiệu quả doanh nghiệp18 Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của VXH phi gia đình có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gia đình 20
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu vốn xã hội và hiệu quả của doanh nghiệp 21
Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu 26
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 28
Hình 4.1: Tỉ trọng mẫu khảo sát theo loại hình doanh nghiệp 41
Hình 4.2: Tỉ trọng mẫu khảo sát theo hình thức doanh nghiệp 42
Hình 4.3: Tỉ trọng tuổi doanh nghiệp khảo sát 43
Hình 4.4: Tỉ trọng quy mô doanh nghiệp khảo sát 43
Hình 4.5: Phân phối chuẩn các các phần dư 60
Hình 4.6: Biểu đồ phần dư chuẩn hóa Normal P-P 60
Hình 4.7: Biểu đồ Scatter Plot 61
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng phân phối số lượng nhân viên theo doanh nghiệp ở các quốc gia 7
Bảng 2.2: Bảng phân loại DNNVV của Liên minh Châu Âu (2015) 8
Bảng 3.1: Thang đo của nghiên cứu 37
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các thang đo 44
Bảng 4.2: Độ tin cậy thang đo “Mạng lưới quan hệ” 46
Bảng 4.3: Độ tin cậy thang đo “Lòng tin” 46
Bảng 4.4: Độ tin cậy thang đo “Tầm nhìn chung” 47
Bảng 4.5: Độ tin cậy thang đo “Hiệu quả hoạt động phi tài chính” 47
Bảng 4.6: Kết quả phân tích EFA các biến độc lập 48
Bảng 4.7: Kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc (OPE) 50
Bảng 4.8: Ma trận hệ số tương quan 52
Bảng 4.9: Kết quả phân tích mô hình 1 – Hiệu quả hoạt động tài chính (FPI) 56
Bảng 4.10: Kết quả phân tích mô hình 2 – Hiệu quả hoạt động phi tài chính (OPE) 58
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do nghiên cứu và đặt vấn đề
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang phát triển Cùng với việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động và giải quyết tình trạng thất nghiệp, các DNNVV còn tạo nên nguồn thu nhập ổn định cho một bộ phận dân cư, khai thác nguồn lực, tiềm năng của địa phương Mặt khác, DNNVV giữ vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn tạo thành mối liên kết trong phát triển kinh tế Vì vậy, Chính phủ các nước luôn mong muốn phát huy các nguồn lực để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNVV
Tại Việt Nam, DNNVV đã giữ một vị trí ngày càng quan trọng trong kinh tế, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của đất nước DNNVV ở Việt Nam đã có bước phát triển mạnh với số lượng tăng rất nhanh, Tổng cục Thống kê công bố giai đoạn 05 năm, từ năm 2017 so với năm 2012, doanh nghiệp vừa tăng 23,6%, doanh nghiệp nhỏ tăng 21,2% và doanh nghiệp siêu nhỏ tăng tới 65,5%, chỉ riêng doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới 74% tổng số doanh nghiệp, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế Khu vực doanh nghiệp này đóng góp đến 40% GDP, thu hút hơn 50% tổng số lao động, tạo ra từ 45-50% khối lượng hàng tiêu dùng và xuất khẩu, chiếm 17,26% tổng thu ngân sách nhà nước
Tiền Giang nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thuộc vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam Theo số liệu thu thập từ các cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm, số lượng DNNVV đang hoạt động thời điểm 31/12 của tỉnh Tiền Giang năm 2015 là 3.013 doanh nghiệp, chiếm 98,08% tổng số; năm 2016 là 3.562 doanh nghiệp chiếm 98,18% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh; năm 2017 là 3.909 doanh nghiệp chiếm 98,08% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh; năm 2018 là 4.237 doanh nghiệp chiếm 98,0% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh; bình quân từ 2015 đến 2018 số
Trang 14doanh nghiệp tăng 9,6%/năm (mỗi năm tăng thêm 408 doanh nghiệp), đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh tế của tỉnh, giải quyết việc làm cho người lao động địa bàn tỉnh Tiền Giang Tuy nhiên, DNNVV ở Tiền Giang xuất phát từ quy
mô nhỏ, liên kết giữa các doanh nghiệp còn hạn chế Do đó, các DNNVV tại Tiền
Giang cần phải tìm ra giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả hoạt động
Ngày nay, phát triển kinh tế không chỉ dựa vào các nguồn lực hữu hình (vốn tài chính, máy móc, công nghệ) mà còn cần sự đóng góp quan trọng của các nguồn vốn khác như vốn con người, vốn xã hội Mối liên hệ giữa vốn xã hội và sự phát triển của DNNVV đã được thừa nhận qua kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới (Saha và Banerjee, 2015; Gronum và ctg, 2012; Sanchez-Famoso và ctg, 2015; Miller và ctg, 2007; Pratono và ctg, 2016) Việc ra tạo các mối quan hệ mạng lưới xã hội, xây dựng niềm tin và chia sẻ tầm nhìn chung giữa các bên có liên quan Điều này giúp các doanh nghiệp nhỏ này thu được những nguồn tài chính, hỗ trợ, những thông tin và kiến thức cần thiết mà doanh nghiệp khó có thể tiếp cận (Saha và Banerjee, 2015)
Tại Việt Nam, lý thuyết về vốn xã hội đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện, cụ thể: nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh Tuyết và Bùi Thị Phương (2014), về
“Vốn xã hội từ một cách tiếp cận nghiên cứu trên thế giới”; Hoàng Bá Thịnh (2009) nghiên cứu vốn xã hội, mạng lưới xã hội, những phí tổn; Vũ Hoàng Nam, Nguyễn Thanh Liêm (2014), đã tiến hành khảo sát của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam từ năm 2005 đến 2011 để tìm hiểu vai trò của vốn con người và vốn xã hội đối với sự phát triển của các DNNVV; Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DNNVV ở thành phố Cần Thơ Tuy nhiên, cho đến hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu ở Việt Nam nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng, tập trung nghiên cứu nguồn lực vốn xã hội đối với hiệu quả hoạt động của DNNVV
Do đó, đề tài “Tác động của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tiền Giang”, được chọn để nghiên cứu nhằm
Trang 15giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về tác động của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của DNNVV Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để DNNVV có thể phát triển và khai thác hiệu quả nguồn lực vốn xã hội trong bối cảnh khan hiếm các nguồn lực khác
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của DNNVV tại tỉnh Tiền Giang được thực hiện nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn, với các mục tiêu nghiên cứu như sau:
Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá mức độ tác động của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó khai thác vai trò tích cực và làm giảm hạn chế tác động tiêu cực của vốn xã hội đối với hiệu quả hoạt động của DNNVV tại tỉnh Tiền Giang
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Mô hình nghiên cứu vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của DNNVV tại tỉnh Tiền Giang được xây dựng như thế nào?
Trang 16- Các yếu tố vốn xã hội dưới dạng các mạng lưới quan hệ, lòng tin và tầm nhìn chung tác động đến hiệu quả hoạt động của các DNNVV tại tỉnh Tiền Giang như thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của các DNNVV tại tỉnh Tiền Giang Đối tượng được khảo sát là 350 DNNVV đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua hai gia đoạn bao gồm nghiên cứu định tính
và nghiên cứu định lượng Phân tích nhân tố khám phá (EFA), mô hình hồi quy bội tuyến tính được áp dụng trong nghiên cứu này Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) dùng để kiểm tra tính phù hợp của cấu trúc các nhân tố với dữ liệu thực tế Mô hình hồi quy bội tuyến tính được sử dụng để xác định các yếu tố của vốn xã hội tác động đến hiệu quả hoạt động của DNNVV tại tỉnh Tiền Giang
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu
Bằng phương pháp khảo sát thực nghiệm và mô hình hồi quy bội tuyến tính nhằm đánh giá tác động của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tiền Giang, nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sau:
Trang 17- Nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ vai trò cũng như cơ chế tác động của từng yếu tố của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
- Kết quả nghiên cứu, chỉ ra được những đóng góp của vốn xã hội vào hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là bằng chứng để khẳng định vốn xã hội là một trong những nguồn lực cần được bổ sung vào chiến lược kinh doanh để mang lại hiệu quả hoạt động cho DNNVV
- Nghiên cứu này đã có những đóng góp thực tiễn cho các DNNVV và cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
1.7 Kết cấu dự kiến nghiên cứu
Kết cấu dự kiến của nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương này trình bày lý do nghiên cứu
và đặt vấn đề của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu luận văn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày khái niệm và phân loại DNNVV, khái niệm về vốn xã hội và hiệu quả hoạt động; tổng hợp một số nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu, các kỹ thuật xử lý số liệu và mô hình nghiên cứu, xác định
rõ các biến trong mô hình
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ trình bày thống kê mô tả mẫu
và các biến nghiên cứu, kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, phân tích hồi quy, thảo luận về kết quả Công cụ được sử dụng phân tích là phần mềm SPSS 25 Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu được tìm thấy, đưa ra hàm ý chính sách, hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 18Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày khái niệm và phân loại DNNVV, khái niệm về vốn xã hội và hiệu quả hoạt động; tổng hợp một số nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hiện nay, chưa có sự thống nhất chung về khái niệm DNNVV của các nhà nghiên cứu Các quốc gia cũng như các liên kết kinh tế trên thế giới tùy theo trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của mình đưa ra các định nghĩa và tiêu chí xác định DNNVV khác nhau
Theo Çela và Gaspari (2015), các quốc gia khác nhau định nghĩa các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau Ví dụ: ở Canada định nghĩa một doanh nghiệp nhỏ là một doanh nghiệp có ít hơn 100 nhân viên (nếu là một doanh nghiệp sản xuất hàng hóa) hoặc ít hơn 50 nhân viên (nếu là một doanh nghiệp dịch vụ) Một doanh nghiệp
có từ trên 100 nhân viên đến dưới 500 nhân viên được phân loại là một doanh nghiệp trung bình (doanh nghiệp vừa) Nói chung ở Canada, một doanh nghiệp vừa
và nhỏ là bất kỳ doanh nghiệp nào có từ 1 đến 499 nhân viên và tổng doanh thu dưới 50 triệu đô la Ở Đức, một doanh nghiệp vừa và nhỏ có giới hạn 250 nhân viên, trong khi đó, ở Bỉ có giới hạn 100 nhân viên Ở New Zealand một doanh nghiệp nhỏ có 19 nhân viên hoặc ít hơn Ở Hoa Kỳ (Hoa Kỳ), một doanh nghiệp nhỏ đề cập đến những doanh nghiệp có ít hơn 100 nhân viên, trong khi doanh nghiệp cỡ trung bình chỉ những doanh nghiệp có ít hơn 500 nhân viên
Berisha và Pula (2015), đã định nghĩa DNNVV một cách khá cụ thể, chi tiết, theo đó, “một doanh nghiệp được cho là một doanh nghiệp nhỏ khi mà doanh nghiệp đó sử dụng tối đa 9 nhân viên làm việc trong 12 tháng và có tổng doanh thu tối đa 500.000 Euro trở xuống; Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp sử dụng từ 10 đến 49 nhân viên trở xuống, làm việc trong 12 tháng và có tổng doanh thu từ 2,4 triệu Euro trở xuống”
Trang 19Theo Berisha và Pula (2015), trong một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), được biết đến với một ấn phẩm nổi tiếng “Các chỉ số Quốc gia” cho thấy rằng, trong số 132 quốc gia được đề cập trong nghiên cứu, có 46 trong số 132 tương ứng một phần ba, đã định nghĩa các DNNVV là các doanh nghiệp có ít hơn 250 nhân viên Mỗi quốc gia có quyền tự do định nghĩa các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách cụ thể cho riêng mình, theo bảng biểu sau
Bảng 2.1: Bảng phân phối số lượng nhân viên theo doanh nghiệp ở các quốc gia
Siêu
Các Quốc gia Châu Âu,
Iceland, Na Uy và Thụy Điển 1-9 10-49 50-249 1-249 250+
(Nguồn: Berisha & Pula, 2015)
Theo Liên minh Châu Âu (2015), doanh nghiệp siêu nhỏ được là doanh nghiệp có sử dụng ít hơn 10 người và có tổng doanh thu hàng năm hoặc bảng quyết toán cuối năm không vượt quá 2 triệu Euro; Các doanh nghiệp nhỏ được định nghĩa là doanh nghiệp sử dụng ít hơn 50 người và có tổng doanh thu hàng năm hoặc bảng quyết toán cuối năm không vượt quá 10 triệu Euro; Các doanh nghiệp được gọi là doanh nghiệp vừa, là các doanh nghiệp sử dụng ít hơn 250 nhân viên và có doanh thu hàng năm không vượt quá 50 triệu Euro hoặc bảng cân đối hàng năm không vượt quá 43 triệu Euro
Trang 20Bảng 2.2: Bảng phân loại DNNVV của Liên minh Châu Âu (2015)
Theo loại hình
doanh nghiệp
Số lượng nhân viên
Tổng doanh thu Bảng cân đối
hàng năm
Doanh nhiệp vừa <250 ≤ 50 triệu EURO ≤ 43 triệu EURO Doanh nghiệp nhỏ <50 ≤ 10 triệu EURO ≤ 10 triệu EURO Doanh nghiệp siêu
(Nguồn: European Uinon, 2015)
Tại Việt Nam, DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: i) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; ii) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng theo quy định tại Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017
2.2 Khái niệm về vốn xã hội
Vốn xã hội (VXH) là khái niệm đã được nhiều học giả tranh luận, các khái niệm về VXH tập trung vào các mối quan hệ xã hội và các yếu tố chính của nó bao gồm các mạng xã hội, sự tham gia của công dân, các chuẩn mực có đi có lại và niềm tin (Bhandari và Yasunobu, 2009)
Bhandari và Yasunobu (2009) cho rằng VXH là một khái niệm đa chiều phức tạp bao gồm các tiết mục của hệ thống giá trị văn hóa và xã hội Theo đó, VXH được định nghĩa là một hiện tượng đa chiều bao gồm một loạt các chuẩn mực xã hội, giá trị, niềm tin, sự tin tưởng, nghĩa vụ, mối quan hệ, hệ thống mạng, bạn bè, thành viên, sự tham gia của công dân, luồng thông tin và các tổ chức thúc đẩy hợp tác và hành động chung lợi ích và đóng góp cho sự phát triển kinh tế và xã hội
Theo Guđmundsson và Mikiewicz (2012), có những khái niệm khác nhau về VXH: Vốn xã hội là những tài nguyên được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong
và ngoài nhóm có một số hình thức kết nối với nhau (Lin, 2001); Vốn xã hội là một khía cạnh của cấu trúc xã hội và là phương tiện để tạo điều kiện cho các cá nhân cải
Trang 21thiện tình hình của họ và đạt được các mục tiêu xã hội khác (Coleman, 1960)
Nahapiet và Ghoshal (1998), thì vốn xã hội là nguồn lực tồn tại bên trong các mạng lưới quan hệ xã hội của tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là chủ thể), thông qua mạng lưới quan hệ xã hội này giúp các chủ thể trong xã hội dễ dàng huy động được các nguồn lực hơn Nahapiet và Ghosal (1998) cũng chỉ ra ba khía cạnh của vốn xã hội gồm: (1) khía cạnh cấu trúc mạng lưới: chủ thể và tần suất kết nối giữa các chủ thể trong mạng lưới; (2) khía cạnh quan hệ: biểu hiện chất lượng của các mối quan hệ như sự tín cẩn, kỳ vọng và chia sẻ lẫn nhau giữa các chủ thể trong mạng lưới; và (3) khía cạnh nhận thức: là những quy định, quy tắc…để giao tiếp và hành xử với nhau trong mạng lưới quan hệ
Qua đó cho thấy, VXH là nguồn lực của cá nhân hoặc nhóm hoặc tổ chức được hình thành và phát triển trên cơ sở các mạng lưới quan hệ qua lại với các chuẩn mực xã hội, các giá trị, niềm tin, sự tin cậy, chia sẽ tầm nhìn, sự tương hỗ lẫn nhau (các mạng lưới quan hệ có chất lượng).
2.3 Khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Ngày nay, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã trở thành một khái niệm có
liên quan trong nghiên cứu quản lý chiến lược và thường được sử dụng như một biến
phụ thuộc (Taouab và Issor, 2019) Mặc dù đó là một khái niệm rất phổ biến trong
các tài liệu học thuật, hầu như không có sự đồng thuận về định nghĩa và đo lường của
nó Theo Taouab và Issor (2019), do không có bất kỳ định nghĩa hoạt động nào về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà phần lớn các học giả thống nhất, đương nhiên sẽ có nhiều cách giải thích khác nhau được đề xuất bởi nhiều người khác nhau theo nhận thức cá nhân của họ Các định nghĩa của khái niệm này có thể là trừu tượng, hoặc chung chung, ít hoặc được xác định rõ ràng Sau đây là những quan điểm của các học giả về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Taouab và Issor, 2019):
- Trong những 1950, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được coi là tương đương với hiệu quả tổ chức, đại diện cho mức độ tổ chức, giống như một hệ thống xã hội với một số nguồn lực và phương tiện hạn chế, đạt được mục tiêu của mình mà
Trang 22không cần nỗ lực quá mức từ các thành viên Các tiêu chí được sử dụng để đánh giá hiệu quả là năng suất, tính linh hoạt và sự căng thẳng bên trong hệ thống (Georgopoulos và Tannenbaum, 1957) Tiếp theo, vào những năm 1960 và 1970, các
tổ chức bắt đầu khám phá những cách mới để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp, trong thời gian này, hiệu quả được định nghĩa là khả năng khai thác môi trường của tổ chức để tiếp cận và sử dụng các tài nguyên hạn chế (Yuchtman và Seashore, 1967);
Price (1968) đã cho rằng, hiệu quả là đồng nghĩa với hiệu quả tổ chức, và xác định là tiêu chí đánh giá cao: năng suất, sự phù hợp và thể chế hóa; Trong khi đó, Moh (1972) xác định những điều sau đây là tiêu chí để đánh giá hiệu quả: năng suất, tính linh hoạt và khả năng thích ứng;
Tiếp đó, Harrison (1974) đã định nghĩa hiệu quả là kết quả của việc đánh giá
cố gắng Lupton (1977) đã cẩn trọng hơn khi đưa ra khái niệm về hiệu quả của tổ chức một cách rõ ràng nhất so với các nhà nghiên cứu khác trong cùng thời kỳ Theo đó, một tổ chức hoạt động hiệu quả, thì tổ chức đó phải đạt mức tỷ lệ năng suất, mức độ động lực, và sự hài lòng của các thành viên trong tổ chức phải đạt ở mức cao, đồng thời tỷ lệ doanh thu, chi phí, tình trạng bất ổn lao động thấp hoặc không có Tuy nhiên, theo Katz và Kahn (1978), hiệu lực và hiệu quả của một tổ chức là tương tự nhau, và cả hai đều là thành phần quan trọng của hiệu quả của tổ chức toàn cầu, có thể được đánh giá thông qua việc tối đa hóa toàn bộ lợi nhuận của tất cả các yếu tố trên
Trong những năm 1980, Porter (1986) cho rằng hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng tạo ra giá trị cho khách hàng của mình Tương tự, Cherrington (1989) coi hiệu quả là một khái niệm thành công hay hiệu quả của một
tổ chức và như một chỉ dẫn của tổ chức theo cách nó đang thực hiện hiệu quả để đạt được mục tiêu thành công cho doanh nghiệp
Đến những năm 1990, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm mới về hiệu quả doanh nghiệp Cụ thể, Cohen (1994) đưa ra quan đểm riêng về việc nhận diện giữa hiệu suất và hiệu quả, theo đó, hiệu quả của doanh nghiệp là kết quả thu được
Trang 23của toàn bộ các hoạt động có liên quan đến tài nguyên được sử dụng Harrison và Freeman (1999) đã xác nhận rằng một tổ chức hiệu quả với mức độ hiệu suất cao là
tổ chức giúp đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan
Lebans và Euske (2006) đã cung cấp một bộ định nghĩa để minh họa khái niệm về hiệu quả tổ chức: Hiệu quả là một tập hợp các chỉ số tài chính và phi tài chính cung cấp thông tin về mức độ hoàn thành các mục tiêu và kết quả; Hiệu quả
là năng động, đòi hỏi sự phán đoán và giải thích; Hiệu quả có thể được minh họa bằng cách sử dụng mô hình nhân quả mô tả cách các kết quả trong tương lai có thể
bị ảnh hưởng bởi các hành động hiện tại; Hiệu quả có thể được hiểu khác nhau tùy thuộc vào người tham gia đánh giá hiệu suất của doanh nghiệp
Colase (2009) định nghĩa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các khái niệm khác nhau như tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng lợi nhuận, tăng trưởng năng suất, và khả năng cạnh tranh
Qua lược khảo các khái niệm về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp của các
nhà nghiên cứu trước đây, có thể thấy, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp là một tập
hợp bao gồm các yếu tố thuộc về hiệu quả hoạt động tài chính - Finalcial Firm Financial (gồm tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng lợi nhuận, tăng trưởng năng suất), và các yếu tố thuộc về hiệu quả hoạt động phi tài chính - Non Finalcial Firm Financial (gồm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp)
Việc tìm kiếm khái niệm lý tưởng để quản lý và đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, đã tranh luận rất nhiều về thuật ngữ này trong việc tìm ra một khái niệm chung nhất Bên cạnh đó, đã xảy ra các mâu thuẫn trong việc sử dụng các chỉ số truyền thống và các chỉ số hiện đại để đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Selvam, Gayathri, Vasanth, Lingaraja & Marxiaoli (2016) cho rằng các chỉ
số để đo lường hiệu quả doanh nghiệp gồm: hiệu quả khả năng sinh lời; hiệu quả giá trị thị trường; hiệu quả của sự phát triển; hiệu quả sự hài lòng của nhân viên; hiệu quả sự hài lòng của khách hàng; hiệu quả của môi trường; hiệu quả của việc kiểm
Trang 24toán môi trường; hiệu quả quản trị doanh nghiệp; hiệu quả của xã hội
Theo Zhining Wang và Nianxin Wang (2012), các chỉ số để đo lường hiệu
quả hoạt động phi tài chính của doanh nghiệp bao gồm: (1) Sự hài lòng của khách
hàng đối với doanh nghiệp tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh chính; (2) Phát triển chất lượng của doanh nghiệp tốt hơn so với để các đối thủ cạnh tranh chính; (3) Quản lý chi phí của doanh nghiệp tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh chính; (4) Trách nhiệm của doanh nghiệp tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh chính; (5) Năng suất của doanh nghiệp tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh chính; (6) Quản lý tài sản của doanh nghiệp tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh chính
2.4 Các nghiên cứu trước
2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài
2.4.1.1 Nghiên cứu của Akdere và Roberts (2008), Ngành kinh tế của vốn xã hội:
Ý nghĩa đối với hoạt động của tổ chức
Akdere và Roberts (2008), đã xác định vốn xã hội là mối quan hệ giữa các nhân viên cá nhân hoặc giữa các nhóm làm việc mang lại lợi ích và lợi ích để tăng hiệu quả mà không được tổ chức lên kế hoạch hoặc dự định Hình 2.2 cho thấy mức độ mà vốn xã hội có thể tồn tại ở 3 cấp độ: Vi mô, trung gian và vĩ mô
VXH cấp độ vi mô là vốn xã hội được tạo ra bởi các các quan hệ cá nhân Mỗi cá nhân có trữ lượng VXH khác nhau, được hình thành từ mạng lưới các mối quan hệ của bản thân và trữ lượng này tỷ lệ thuận với các hình thức vốn khác (văn hóa và kinh tế) mà mạng lưới cá nhân đó quan hệ sở hữu VXH vi mô được xem như là tiềm năng của chiến lược hợp tác nhằm tăng cường khả năng tập thể Tác giả cho rằng VXH là cần thiết cho sự thành công của doanh nghiệp nhỏ và cho rằng VXH
là một yếu tố quyết định tích cực đến thu nhập Qua đó, làm nổi bật vai trò kinh tế của vốn xã hội ở cấp độ vi mô cá nhân
Trang 25Hình 2.1: Cấp độ lý thuyết vốn xã hội
(Nguồn: Akdere và Roberts, 2008)
VXH cấp độ trung gian là sản phẩm của mối quan hệ liên phụ thuộc giữa cá nhân và các nhóm trong cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp Các mối quan hệ và hiệp hội được tạo ra như một kết quả của thành viên nhóm và liên kết, có thể cung cấp nền tảng và cơ hội cho VXH Bởi vì VXH đòi hỏi sự hợp tác của người khác trong nhóm cho nó hữu ích, nó không phải là một dạng tài sản riêng như vốn vật chất hoặc vốn nhân lực của con người (Allen vad Reed, 2006)
Ở cấp vĩ mô, VXH tồn tại ở một môi trường xã hội lớn hơn VXH hội bao gồm các mối liên kết giữa các địa phương và xuyên quốc gia VXH ở cấp độ này là sản phẩm của cấu trúc xã hội, cụ thể là các giá trị và chuẩn mực của nền văn hóa xã hội Đây cũng là cơ sở cho sự hoạt động hiệu quả của thể chế, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của các thành viên trong khối tổng thể Ở cấp độ tổ chức (cấp vĩ mô), sự tăng trưởng và phát triển của cộng đồng, tổ chức phi chính phủ và vốn xã hội không chỉ quan trọng đối với thực hiện các chương trình phát triển, sự đa dạng và sức mạnh của các tổ chức mà còn là một sự bảo vệ các chương trình ưu tú và lợi ích của dự án (Binswanger, 2007)
Cấp độ trung gian
Cấp độ vĩ mô
Lý thuyết vốn xã hội
Cấp độ vi mô
Trang 262.4.1.2 Nghiên cứu của Saha và Banerjee (2015), Tác động của vốn xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp nhỏ
Saha và Banerjee (2015) đã nghiên cứu phân tích tác động của VXH đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ thông qua các mối liên kết mạng xã hội,
sự tin cậy và chia sẽ tầm nhìn chung bằng cách so sánh các doanh nghiệp liên kết với mạng lưới xã hội chính thức và phi chính thức Nghiên cứu này được thực hiện qua việc thực nghiệm thông qua một mẫu bảng câu hỏi cho 100 doanh nghiệp nhỏ ở phía Tây Bengal, trong đó, có 50 doanh nghiệp là thành viên của các hiệp hội công nghiệp/thương mại, được gọi là nhóm thực nghiệm và 50 doanh nghiệp còn lại chỉ tham gia vào mạng lưới xã hội phi chính thức, được gọi là nhóm kiểm soát Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, VXH ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tham gia vào mạng lưới xã hội chính thức và phi chính thức nhiều hơn là đối với các doanh nghiệp chỉ tham gia vào mạng lưới xã hội phi chính thức
Hình 2.2: Vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của DNNVV
(Nguồn: Saha và Banerjee, 2015)
Saha và Banerjee (2015), đã đề xuất mô hình nghiên cứu vốn xã hội phát triển từ các mối quan hệ vững chắc trong các mối quan hệ mạng chính thức và mạng không chính thức (Hình 2.2), ba cấu trúc của vốn xã hội được sử dụng: quan
Tầm nhìn chung Lòng tin
Vốn xã hội
Mạng lưới quan hệ
Hiệu quả hoạt động của DNNVV
Trang 27hệ mạng (Network Ties), niềm tin (Trust) và tầm nhìn chung (Shared Vision), có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Mối quan hệ mạng, theo Saha và Banerjee (2015), mô tả một bộ sưu tập
“những nghệ sĩ” (con người, phòng ban hoặc doanh nghiệp) và các liên kết chiến lược của họ (gia đình, cộng đồng, tài chính, liên minh kinh doanh) với nhau (Johnsen & Johnsen, 1999) Mối quan hệ mạng được coi là phương tiện quan trọng trong việc trao đổi và truyền thông tin trong giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Uzzi, 1997; Vanhaverbeke, 2001) Các mối quan hệ trong mạng lưới công nghiệp/thương mại và hiệp hội doanh nghiệp cung cấp thông tin, ý tưởng, khả năng giải quyết vấn đề, lợi ích của việc chia sẻ tài nguyên, tiếp cận thị trường mới, phát triển kỹ năng và dịch vụ pháp lý và vận động cho các công ty thành viên (Bennett & Ramsden, 2007; De Wit & Meyer, 1998; Fuller-Love & Thomas, 2004; Miller, Besser & Malshe, 2007) Saha & Banerjee (2015), Inkpen & Chung (1998), Singh
& Lee (2000) cũng nhấn mạnh hiệu quả tích cực của việc gộp hoặc chia sẻ tài nguyên và khả năng của công ty với những người khác về hiệu quả và tạo ra giá trị của doanh nghiệp
Lòng tin, khái niệm này được Saha & Banerjee (2015), diễn giải là sự tin
tưởng trong việc trao đổi giữa các đối tác với nhau, có tác động đáng kể đến hiệu quả của doanh nghiệp tương ứng với cách giảm chi phí giao dịch và mâu thuẫn Niềm tin là sự kỳ vọng giữa hai hoặc nhiều thực thể (con người và các tổ chức) và niềm tin là hành vi hàng ngày và sẽ trở thành trung thực, hợp tác và dự đoán dựa trên các tiêu chuẩn chung (Fukuyama, 1995) Niềm tin được coi là đặc biệt có giá trị như một cơ chế quản trị (Dyer và Chu, 2003; Nooteboom và ctg, 1997), đưa ra một điều kiện trao đổi cơ hội an toàn và cơ bản nhỏ Saha và Banerjee (2015), nhấn mạnh, trên thực tế, những lợi ích khác, chẳng hạn như tăng doanh thu và lợi tức đầu tư lớn hơn, cũng có thể được xác định là kết quả trực tiếp của niềm tin (Luo, 2002; Zaheer và Harris, 2006) Neace (1999) xác định niềm tin là điều kiện tiên quyết để thành công và là yếu tố quan trọng để thiết lập doanh nghiệp nhỏ bền vững và khả thi
Trang 28Tầm nhìn chung, được Saha và Banerjee (2015) cho là những cá nhân có
giá trị và kỳ vọng tương tự về hành vi (Thorelli, 1986) Inkpen & Tsang (2005), và thảo luận về hành vi này như là mục tiêu chung Kết quả thực hiện được tạo ra thông qua tầm nhìn chung giữa các tổ chức thành viên bao gồm các chiến lược tích hợp, các hoạt động đồng bộ hơn và phổ biến kiến thức kịp thời và có ý nghĩa hơn trên các đối tác mạng của họ (Kandemir và ctg, 2006) Trong các mạng hiệu quả (Wollebaek và Selle, 2002), các thành viên giữ một tầm nhìn chung về những gì các thành viên nên hoàn thành, những gì có giá trị hoặc quan tâm và những gì được yêu cầu hoặc mong đợi từ tư cách thành viên
2.4.1.3 Nghiên cứu của Miller, Besser & Malshe (2007), Mạng lưới chiến lược giữa các doanh nghiệp nhỏ
Miller và ctg (2007) nghiên cứu mạng lưới chiến lược giữa các doanh nghiệp nhỏ tại các cộng đồng nhỏ của Hoa Kỳ Trong nghiên cứu này, lý thuyết VXH và mạng chiến lược là cơ sở để kiểm tra tiền đề, tác động và kết quả của các tổ chức mạng chính thức để tăng cường kinh doanh thành công Dữ liệu định tính có được
từ các cuộc phỏng vấn với các giám đốc mạng lưới kinh doanh nhỏ và các thành viên đã được sử dụng để xác định cấu trúc lý thuyết và các mối quan hệ tiềm năng giữa các cấu trúc đó Với cái nhìn sâu sắc từ các cuộc phỏng vấn, các giả thuyết đã được đưa ra và thử nghiệm với dữ liệu định lượng được thu thập khảo sát qua điện thoại với 377 chủ doanh nghiệp nhỏ là thành viên trong các cộng đồng nhỏ
Mô hình của Miller và ctg (2007), bao gồm các điều kiện kết nối mạng trước đây về chia sẻ tài nguyên, tầm nhìn chung, các biến số của lợi nhuận đối với doanh nghiệp, các lợi thế của mạng lưới chung và sự tiếp tục của mạng lưới Các cấu trúc của việc chia sẻ tài nguyên, tầm nhìn chung, lợi ích cho các cá nhân, các doanh nghiệp, lợi thế tổng quát của mạng và sự tiếp tục của mạng đã được định nghĩa trong các cuộc thảo luận trước đó
Trang 29Hình 2.3: Mạng lưới chiến lược giữa các doanh nghiệp nhỏ
2.4.1.4 Nghiên cứu của Gronum, Verreynne, and Kastelle (2012), Vai trò của các mạng lưới trong đổi mới và hiệu quả hoạt động của DNNVV
Gronum và ctg (2012), đã đưa ra giả thuyết về các mối quan hệ giữa các mạng (Networks), sự đổi mới (Innovation) và hiệu quả hoạt động (Performance) đối với các DNNVV Có hai quan điểm liên quan đến mối liên hệ giữa hiệu quả mạng lưới và hiệu quả doanh nghiệp Thứ nhất, từ bối cảnh tạm thời, việc tranh luận các mối quan hệ này đã được xác định rằng, việc thiết lập các mạng sẽ dẫn đến chiều rộng đổi mới lớn hơn, từ đó sẽ chuyển thành hiệu quả doanh nghiệp cao hơn (van de Ven và Poole, 1989) Thứ hai, một số quan điểm, bao gồm cả lý thuyết VXH, ủng
hộ sự tồn tại của một mối quan hệ trực tiếp được giải thích bằng VXH được gắn trong các mạng, điều này chuyển biến thành hiệu quả của doanh nghiệp Trong trường hợp này, hòa giải bằng cách đổi mới là không cần thiết
Chia sẽ tài
nguyên
Tầm nhìn
chung
Lợi nhuận cho doanh
nghiệp
Lợi thế mạng lưới chung
Mạng lưới liên tục
Trang 30Gronum và ctg (2012), lập luận rằng các DNNVV bị hạn chế về tài nguyên dường như không đạt được lợi ích từ các hoạt động kết nối mạng lưới không có mục đích Thay vào đó, mạng lưới sẽ dẫn đến hoạt động sản xuất, chẳng hạn như đổi mới, để tác động đến hiệu suất Do đó, các tác giả đã nhận diện và điều tra bốn mối quan hệ như được mô tả trong Hình 2.4 để kiểm tra các tương tác Các mối quan hệ này là mối quan hệ giữa mạng lưới và chiều rộng đổi mới (Đường dẫn A), giữa chiều rộng đổi mới và hiệu quả doanh nghiệp (Đường dẫn B), mạng lưới và hiệu quả doanh nghiệp (Đường dẫn C) và các mạng lưới có liên quan đến doanh nghiệp qua trung gian bởi chiều rộng đổi mới (Đường A và B) Gronum và ctg (2012), cho rằng phương pháp này có thể hữu ích trong việc giải thích kết quả mâu thuẫn liên quan đến các mối quan hệ giữa sự đổi mới, mạng lưới và hiệu quả của các DNNVV
Hình 2.4: Mô hình hòa giải quan hệ giữa các mạng, đổi mới và
hiệu quả doanh nghiệp
(Nguồn: Gronum và ctg, 2012)
Theo đó, Gronum và ctg (2012) đã nghiên cứu vai trò của các mạng lưới trong đổi mới và hiệu quả hoạt động của DNNVV dựa vào dữ liệu 1.435 DNNVV
của Cục Thống kê Úc Nhân tố các mạng lưới (Networks), được đo bằng số lượng
các mối quan hệ mạng tham gia, cũng như tần số tương tác Trong mô hình, nhân tố các mạng lưới được đo bằng cách xác định số lượng các tham gia (với 9 biến quan sát) trong mạng lưới với các tác nhân khác nhau, cũng như tần suất tương tác giữa
công ty đầu mối và các tác nhân này; Nhân tố chiều rộng đổi mới (Innovation
Breadth ) với 12 biến quan sát được đo lường qua bảng câu hỏi các đáp viên về bất
kỳ hàng hóa/ dịch vụ mới mà họ đã giới thiệu hoặc được cải thiện đáng kể, quy
Chiều rộng đổi mới
C
Trang 31trình hoạt động, quy trình tổ chức/ quản lý, cũng như phương thức tiếp thị; Nhân tố
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Firm Performance)được đo lường về mặt tài chính với hai công cụ đo lường sự khác biệt tiềm năng giữa hiệu quả về tăng trưởng doanh số và phạm vi tăng trưởng sản phẩm hoặc dịch vụ, và tính hiệu quả của lợi nhuận và tăng trưởng năng suất
Kết quả phân tích hồi quy đa biến, cho thấy mối quan hệ trong các mạng lưới
là một yếu tố quan trọng trong quá trình đổi mới, tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra đổi mới là trung gian mối quan hệ giữa các mạng lưới và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
2.4.1.5 Nghiên cứu của Sanchez-Famoso, Akhter, Iturralde, Chirico, Maseda
(2015), Vốn xã hội phi gia đình có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gia đình
Sanchez-Famoso và ctg (2015), đã nghiên cứu điều tra tác động của cả vốn
xã hội gia đình và phi gia đình đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp với mẫu khảo sát gồm 172 doanh nghiệp ở Tây Ban Nha, hai phiếu khảo sát cho mỗi doanh nghiệp gồm một thành viên gia đình và một thành viên không phải là thành viên gia đình Trong nghiên cứu này, VXH gia đình và không gia đình được đo lường dưới dạng cấu trúc (mức độ mà các thành viên nhóm được kết nối - các hình thức kết nối), quan hệ (tin cậy), nhận thức (mức độ mà các thành viên trong nhóm chia sẻ quan điểm chung hoặc sự hiểu biết - mục tiêu chung cùng có lợi giữa các chủ thể)
Sanchez-Famoso và ctg (2015) đã sử dụng Mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modelling - SEM) để kiểm định giả thuyết nghiên cứu (Hình 2.5) Theo Sanchez-Famoso & ctg (2015), để đo lường biến “hiệu quả”, các nhà nghiên cứu trước đó đã sử dụng hai biện pháp thực hiện có thể được phân biệt theo nguyên tắc (Lumpkin & Dess, 1996): các biện pháp tài chính tức thang đo khách quan (objective measures) như “lợi nhuận trên tài sản” (ROA) và “lợi tức đầu tư” (ROI); và các biện pháp phi tài chính tức thang đo chủ quan (subjective measures) như “sự thỏa mãn chung của chủ sở hữu” và “các mục tiêu phi tài chính” Trong nghiên cứu này, Sanchez-Famoso & ctg (2015) đã sử dụng thang đo chủ quan (các
Trang 32bảng tự báo cáo) về hiệu quả của doanh nghiệp Sanchez-Famoso & ctg, 2015) Kết quả phân tích hồi quy cấu trúc (SEM) cho thấy VXH không gia đình tác động mạnh mẽ hơn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp so với VXH gia đình và nó cũng đóng vai trò là tích cực làm trung gian cho mối quan hệ giữa VXH gia đình và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của VXH phi gia đình có ảnh hưởng đến hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp gia đình
(Nguồn: Sanchez-Famoso và ctg (2015)
Tuy nhiên, về phương diện rộng, Sanchez-Famoso và ctg (2015) cho rằng vốn xã hội gia đình và phi gia đình đều có một vị trí trọng tâm trong hiệu quả hoạt
Hiệu quả doanh nghiệp
Kích thước mối quan hệ
Kích thước cấu trúc
Vốn xã hội gia đình
Kích thước nhận thức
Kích thước mối quan hệ
Kích thước cấu trúc
Vốn xã hội phi gia đình
Kích thước nhận thức
Các biến kiểm soát:
- Quy mô DN
- Lĩnh vực DN
- Tuổi của DN
- Thế hệ gia đình trong kiểm soát
- Sự tham gia của gia đình
Trang 33động của doanh nghiệp và nghiên cứu này sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo trong việc nghiên cứu sâu hơn về sự tác động của cả VXH gia đình và phi gia đình đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian tới
2.4.1.6 Nghiên cứu của Pratono, Saputra & Pudjibudojo (2016), Vốn xã hội và hiệu quả của doanh nghiệp
Pratono và ctg (2016), nghiên cứu tác động của VXH (Social Capital) và khả năng tiếp thị (Marketing Capability) đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Firm Performance) Tác giả đã khảo sát 390 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Indonesia Với cách tiếp cận cho phép phân tích các yếu tố của VXH gồm mạng lưới (Network),
sự tin cậy (Trust), nhận thức (Cognitive); các yếu tố của khả năng tiếp thị gồm khả năng định giá, phát triển sản phẩm, truyền thông tiếp thị Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế cắt ngang (cross-section design) Các thông tin cần thiết để trả lời các câu hỏi nghiên cứu gồm các mối quan hệ giữa các biến quan sát, ý kiến khảo sát được thu thập thông qua phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu vốn xã hội và hiệu quả của doanh nghiệp
Năng lực giá Phát triển sản
phẩm
Truyền thông thị trường
Hiệu quả doanh nghiệp
Trang 34thức”; Nhân tố “Năng lực thị trường” được đo lường bởi 3 nhân tố “năng lực giá”,
“phát triển sản phẩm”, và “truyền thông thị trường”; nhân tố “Hiêu quả của doanh nghiệp” được đo lường bới 2 nhân tố “Vốn xã hội” và Năng lực thị trường” Kết quả nghiên cứu của Pratono và ctg (2016), cho thấy VXH và khả năng tiếp thị cung cấp hiệu ứng bổ sung cho hiệu quả hoạt động của DNNVV Các tác giả khẳng định, rằng vốn xã hội là một nguồn tài nguyên có giá trị, cho phép các doanh nghiệp nhỏ
có được lợi thế cạnh tranh, đồng thời năng lực thị trường cũng góp phần vào hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
2.4.2 Các nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Ánh Tuyết và Bùi Thị Phương (2014) trong nghiên cứu “Vốn xã hội từ một cách tiếp cận nghiên cứu trên thế giới”, đã đi sâu vào phân tích những nội dung chính của hai cách tiếp cận nghiên cứu về VXH: cách tiếp cận về lý thuyết, và cách tiếp cận về nghiên cứu thực tiễn hiện nay, diễn ra chủ yếu ở Mỹ và phương Tây Trong cách tiếp cận về lý thuyết, bao gồm các nghiên cứu về vốn xã hội từ góc độ tiếp cận lối sống nông thôn và thành thị; VXH từ góc độ tiếp cận mạng lưới xã hội; VXH từ góc độ tiếp cận nguồn lực; VXH từ góc độ tiếp cận vốn con người Tác giả khẳng định, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau với nhiều lĩnh vực khác nhau về vốn xã hội, song các tác giả đều gặp nhau ở những điểm sau: (1) vốn xã hội gắn liền với mạng lưới xã hội, quan hệ xã hội; (2) VXH là nguồn lực cần thiết cho các loại hoạt động đặc biệt là trong lao động sản xuất; (3) VXH được tạo ra thông qua việc đầu tư vào thiết lập, duy trì, củng cố, phát triển các quan hệ xã hội, hoặc mạng lưới xã hội, và các cá nhân có thể sử dụng vốn xã hội để tìm kiếm hoặc tăng cường những lợi ích nhất định; (4) bao gồm sự tin cậy và quan hệ qua lại
Trong cách tiếp cận về nghiên cứu thực tiễn, bao gồm các nghiên cứu về: (1) VXH của người lao động, theo đó, có ba hình thức của VXH đã được các nghiên cứu thực nghiệm bao gồm: vốn gắn bó (bonding capital); vốn bắc cầu (bridging capital), chỉ ra các mối quan hệ lỏng lẻo với các mối quan hệ bạn bè bình thường, đồng nghiệp hay đối tác; vốn kết nối (linking capital), bao gồm sự tương tác giữa
Trang 35các thành viên gia đình và bạn bè thân thiết Trong các hình thức thức trên, vốn gắn
bó có sự liên kết mạnh hơn 2 nhóm còn lại, tuy nhiên lại ít đa dạng so với vốn kết nối trong các mối quan hệ quan trọng; (2) nghiên cứu về tiếp cận nghiên cứu ứng dụng vốn xã hội trong tìm việc làm, qua đó, vai trò quan trọng trong việc tích lũy vốn xã hội từ các mạng lưới giao tiếp để hỗ trợ trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm Quan hệ lao động có hiệu quả tại nơi làm việc có thể hỗ trợ sự hình thành của vốn xã hội cho người lao động bằng cách phát triển liên kết giữa các đồng nghiệp hoặc quan hệ giữa quản lý và nhân viên VXH có thể vẫn tồn tại ngay cả khi mối quan hệ lao động là giữa người nghèo với người nghèo hoặc người giàu với người nghèo
Hoàng Bá Thịnh (2009) nghiên cứu vốn xã hội, mạng lưới xã hội, những phí tổn Tác giả cho rằng, vốn xã hội (Social Capital) có liên quan đến vị trí mạng lưới của khách thể, bao gồm khả năng đạt được các nguồn lực của các thành viên trong mạng xã hội đó, trong khi đó, mạng lưới xã hội (Social network) là các quan hệ gồm sản phẩm của các chiến lược đầu tư, của các cá nhân hoặc tập thể, có ý thức hay không có ý thức nhằm thiết lập hoặc tái tạo các quan hệ xã hội được sử dụng trực tiếp trong giai đoạn ngắn hạn hoặc lâu dài Tác giả nhận định, cấu trúc và chức năng của vốn xã hội được hình thành và phát triển dựa vào sự tin cậy, mức độ tin tưởng Như vậy, độ bền vững của VXH tuỳ thuộc vào mật độ tương tác giữa các cá nhân, các nhóm xã hội Do đó, vốn xã hội có được duy trì và phát triển bền vững hay không, đều phụ thuộc vào mức độ liên hệ thường xuyên, không gián đoạn giữa các cá nhân, nhóm Và như vậy, mức độ quan hệ thưa thì sự gắn kết của mạng xã hội sẽ mỏng hoặc giảm dần
Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DNNVV ở thành phố Cần Thơ với một mẫu khảo sát gồm 389 doanh nghiệp Các nhân tố mức độ tiếp cận chính sách hỗ trợ, trình độ học vấn chủ doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, vốn xã hội, tốc độ tăng doanh thu được đưa vào nghiên cứu Trong nghiên cứu này, vốn xã hội được đo lường dưới dạng mối quan hệ của doanh nghiệp với các Hiệp hội
Trang 36Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo bằng tỷ suất lợi nhuận/doanh thu (ROS) Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy, các nhân tố mức độ tiếp cận chính sách hỗ trợ, trình độ học vấn chủ doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, vốn xã hội, tốc độ tăng doanh thu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DNNVV ở thành phố Cần Thơ
Vũ Hoàng Nam, Nguyễn Thanh Liêm (2014) đã sử dụng số liệu khảo sát của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam từ năm 2005 đến 2011 để tìm hiểu vai trò của vốn con người và vốn xã hội đối với sự phát triển của các DNNVV Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu vốn con người của chủ doanh nghiệp thông qua trình độ học vấn và kinh nghiệm thực tế, chất lượng lao động, và vốn xã hội của chủ doanh nghiệp có được khi tham gia các hiệp hội doanh nghiệp Kết quả hồi quy hai giai đoạn (mô hình OLS, mô hình Logit và mô hình Fixed Effects ), vốn con người và vốn xã hội của các doanh nghiệp có vai trò quyết định đối với các cải tiến về sản phẩm, quy trình sản xuất, marketing và kết quả kinh doanh của các DNNVV
Nguyễn Vũ Quỳnh Anh (2015) nghiên cứu vai trò của VXH đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn hiện nay Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu vai trò của VXH, cụ thể là những yếu tố: uy tín, giá trị, chuẩn mực, mạng lưới quan hệ của doanh nghiệp đối với các hoạt của doanh nghiệp như vay vốn, tuyển dụng lao động, phát triển thị trường, quản lý nhân sự Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phỏng vấn bằng bảng câu hỏi đối với 132 doanh nghiệp đang hoạt động tại ba làng nghề ở đồng bằng sông Hồng: làng nghề mộc Hữu Bằng, làng nghề gốm sứ Bát Tràng và làng nghề chế tạo kim loại màu Văn Ô, Xuân Phao Ngoài ra, tác giả còn phỏng vấn sâu 21 cuộc với lãnh đạo các doanh nghiệp, cán bộ phụ trách kinh tế các xã và chủ tịch/phó chủ tịch hội làng nghề của
ba làng nghề được khảo sát Kết quả khảo sát cho thấy, vốn xã hội có tác động ý nghĩa đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể, lòng tin, sự tương trợ lẫn nhau, và sự kết hợp thành mạng lưới đã giúp các doanh nghiệp huy động, tiếp cận và sự dụng hiệu quả các nguồn lực khác như vốn tài chính, vốn con
Trang 37người… Sử dụng uy tín của doanh nghiệp, mạng lưới quan hệ trong gia đình, họ hàng, người quen giúp các doanh nghiệp huy động được nguồn tài chính, tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch, tuyển dụng nhân sự dễ dàng hơn
2.5 Mô hình nghiên cứu của đề tài
Trong nghiên cứu này, để tìm hiểu cơ chế tác động của từng yếu tố của VXH đến hiệu quả hoạt động của DNNVV tại tỉnh Tiền Giang, qua lược khảo và nghiên cứu các mô hình nghiên cứu trước đây của các tác giả ngoài nước, tác giả luận văn nhận thấy, mô hình nghiên cứu VXH tác động đến hiệu quả hoạt động của DNNVV tại tỉnh Tiền Giang ở cấp độ vi mô là phù hợp và sẽ được tác giả xem xét ở cả ba
khía cạnh: mối quan hệ mạng, lòng tin và tầm nhìn chung
Ngoài ra, các khía cạnh đặc tính của doanh nghiệp cũng được tác giả đưa
vào kiểm định trong mô hình: loại hình doanh nghiệp; hình thức của doanh nghiệp;
số năm doanh nghiệp hoạt động (độ tuổi của doanh nghiệp); quy mô của doanh nghiệp; sự tham gia hiệp hội Để đo lường hai nhóm nhân tố độc lập, tác giả vận
dụng mô hình của Saha và Banerjee (2015) để kiểm định các giả thuyết
Đối với nhân tố hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được xem như là
nhân tố phụ thuộc, theo Sanchez-Famoso và ctg (2015), các thang đo khách quan (objective measures) như “lợi nhuận trên tài sản” (ROA) và “lợi tức đầu tư” (ROI);
và các thang đo chủ quan (subjective measures) như “sự thỏa mãn chung của chủ sở hữu” được sử dụng để đo lường biến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Do đó, để
xác định thang đo “hiệu quả hoạt động phi tài chính” (thang đo chủ quan), tác giả
đã vận dụng các tiêu chí đánh giá của Wang & ctg (2012), như đã trình bày ở mục
2.3; đồng thời sử dụng thang đo “hoạt động hiệu quả tài chính” của Saha và
Banerjee (2015) để đo lường các thang đo khách quan
Trang 38Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu
(Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của tác giả)
Tóm tắt Chương 2
Chương 2 đã trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Đồng thời chương này cũng đưa ra mô hình nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của DNNVV tại tỉnh Tiền Giang Mô hình đề xuất “Tác động của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tiền Giang”, gồm 2 nhóm nhân tố độc lập: tác động vốn xã hội (mạng lưới quan hệ, lòng tin, tầm nhìn chung), và các đặc tính của doanh nghiệp (loại doanh nghiệp, hình thức doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, tuổi của doanh nghiệp, sự tham gia hiệp hội)
Đặc tính của doanh nghiệp:
Trang 39Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, kết hợp cơ sở lý thuyết liên quan và mô hình nghiên cứu đề xuất; chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu để đánh giá tác động của VXH đến hiệu quả hoạt động của các DNNVV Bên cạnh đó, chương này cũng sẽ mô tả quy trình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, cách lấy dữ liệu và nguồn dữ liệu được sử dụng trong đề tài
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu Các nghiên cứu về vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Đây là phương pháp nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi đã được chuẩn hóa để khảo sát doanh nghiệp Chiến lược chọn mẫu thường là ngẫu nhiên với quy mô mẫu đủ lớn nhằm đảm bảo tính đại diện, độ tin cậy trong việc so sánh và rút ra quy luật chung cho tổng thể chứa mẫu đó Đặc trưng của phương pháp nghiên cứu định lượng là áp dụng các công cụ của khoa học tự nhiên vào nghiên cứu Để tìm hiểu mối tương quan giữa vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của DNNVV tại tỉnh Tiền Giang, phương pháp nghiên cứu định lượng là thích hợp
Để đảm bảo tính khoa học, nghiên cứu thực hiện thông qua 2 giai đoạn gồm: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Nghiên cứu được tiến hành theo quy trình nghiên cứu như sau (Hình 3.1):
Trang 40Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ (n=20)
Kiểm tra tương quan với biến tổng
và độ tin cậy Cronbach’s Alpha
Loại bỏ phiếu khảo sát
Mô hình nghiên cứu
Tương quan - Hồi
quy tuyến tính bội
Kiểm định giả thuyết nghiên cứu, phân tích kết quả nghiên cứu
Kết luận và hàm ý chính sách
Định lượng chính thức
(N=322)