1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chi tiêu công các cấp tác động đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long

81 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chi tiêu công các cấp tác động đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Lê Thành Nhân
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thuấn
Trường học Trường Đại Học Mở TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iii TÓM TẮT Với mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu mức độ hiệu quả của chi tiêu công các cấp ngân sách tác động đến tăng trưởng kinh tế tại địa phương vùng ĐBSCL trong giai đoạ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HỒ CHÍ MINH

PGS.TS Nguyễn Thuấn

TP HỒ CHÍ MINH 2016

Tai Lieu Chat Luong

Trang 2

i

LỜI CAM Đ0AN Tôi cam đoan rằng luận văn “Chi tiêu công các cấp tác động đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long “là bài nghiên cứu của chính tôi Ngoài trừ những tài liệu được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm hay nghiên cứu nào của người khác được sữ dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Lê Thành Nhân

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Đề tài luận văn Thạc Sĩ: “Chi tiêu công các cấp tác động đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, là kết quả quá trình học tập và rèn luyện của tác giả trong suốt thời gian theo học chương trình đào tạo sau đại học tại trường Đại học Mở Tp.HCM Để đạt được kết quả này, đó là nhờ Quý Thầy, Cô của trường Đại học Mở Tp.HCM đã hết lòng tận tụy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tác giả theo học tại trường, đặc biệt là Phó giáo

sư, Tiến sĩ Nguyễn Thuấn đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, các bạn học viên cao học cùng khóa đã chia sẽ cho tác giả những kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã cố gắng hết sức để hoàn thiện luận văn, trao đổi và tiếp thu những ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu, song không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô và quý vị đọc giả

Xin chân thành cảm ơn./

Trang 4

iii

TÓM TẮT Với mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu mức độ hiệu quả của chi tiêu công các cấp ngân sách tác động đến tăng trưởng kinh tế tại địa phương vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2008 – 2014, tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi qui dữ liệu bảng với mô hình hôi quy OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) bằng phần mềm Stata 12 Từ kết quả ước lượng của mô hình tác giả dùng kiểm định Hausman để chọn mô hình FEM là phù hợp nhất để phân tích tác động của chi tiêu công của các cấp tác động đến tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL Các biến sử dụng trong mô hình: biến phụ thuộc tổng sản phẩm quốc nội của địa phương i tại năm t theo giá 1994, các biến độc lập: biến tỷ trọng chi tiêu chính phủ / GDP tỉnh – thành phố; biến nguồn vốn hỗ trợ của TW; biến chi cho đầu tư phát triển cấp tỉnh; biến chi thường xuyên cấp tỉnh; biến chi khác cấp tỉnh; biến chi cho đầu tư phát triển cấp huyện; biến chi thường xuyên cấp huyện; biến chi khác cấp huyện Các biến kiểm soát: lượng vốn SXKD các doanh nghiệp và biến dân số Sau khi chọn mô hình FEM và thực hiện các kiểm định mô hình cho kết quả có phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, tác giả sử dụng phương pháp GLS để xử lý và có những kết luận sau: Thứ nhất, chi đầu tư phát triển cấp tỉnh và cấp huyện có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế, trong đó chi đầu tư cấp tỉnh (0,0398) lớn hơn chi đầu tư cấp huyện (0,0295) Thứ hai, có sự khác biệc tác động rõ hơn của chi thường xuyên đến tăng trưởng kinh tế, trong đó tác động chi thường xuyên cấp tỉnh (0,212) cao hơn rất nhiều so với chi thường xuyên cấp huyện (0,060) Thứ ba, khoản chi khác cấp tỉnh có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế nhưng không có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng kinh tế còn khoản chi khác cấp huyện có tác động dương tới tăng trưởng kinh tế (0,023) Thứ tư, tỷ trọng chi tiêu của chính phủ / GDP địa phương có tác động âm đến tăng trưởng kinh

tế và chi hỗ trợ TW có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế (0,10) Thứ năm, dân số có quan hệ với tăng trưởng tuy nhiên mối quan hệ này là nghịch chiều

Trang 5

iv

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: mối quan hệ chi đầu tư tỉnh, huyện với GDP 36

Biểu đồ 4.2: mối quan hệ chi đầu thường xuyên tỉnh, huyện với GDP 36

Biểu đồ 4.3: mối quan hệ chi khác tỉnh, huyện với GDP 36

Biểu đồ 4.4: mối quan hệ chi hỗ trợ TW và nguồn vốn doanh nghiệp với GDP 37

Biểu đồ 4.5: mối quan hệ tỉ trọng chi tiêu chính phủ/GDP tỉnh với GDP 37

Biểu đồ 4.6: mối quan hệ dân số với GDP 37

Trang 6

v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình. 35

Bảng 4.2: mô tả tương quan giữa các biến 38

Bảng 4.3: hệ số nhân tử phóng đại phương sai 39

Bảng 4.4: kiểm định nghiệm đơn vị bằng hằng số không có xu thế 40

Bảng 4.5: kết quả lựa chọn mô hình của biến có độ trễ tối ưu 41

Bảng 4.6: kết quả hồi quy FEM 42

Bảng 4.7: kết quả hổi quy REM 43

Bảng 4.8: kết quả kiểm định Hausman 44

Bảng 4.9: kết quả kiểm định nhân tử Lagrangian 45

Bảng 4.10: so sánh mô hình OLS, FEM, REM 46

Bảng 4.11: kết quả hồi qui GLS 47

Trang 7

vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu long

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

ECM : Error Correction Model

FDI : Foreign Direct Investment

FEM : Fixed Effects Model

GDP : Sản lượng quốc gia

GLS : Generalized least squares

IS – LR : Investment/Saving - Liquidity preference/Money

NSNN : Ngân sách Nhà nước

OLS : Ordinary Least Squares

REM : Random Effects Model

SXKD : Sản xuất kinh doanh

Trang 8

vii

MỤC LỤC

LỜI CAM Đ0AN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

MỤC LỤC vii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tương nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 4

1.7 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Phân cấp tài khóa 6

2.2 Chi tiêu công 6

2.2.1 Khái niệm về chi tiêu công 6

2.2.2 Phân loại chi tiêu công 7

2.2.3 Vai trò chi tiêu công 8

Trang 9

viii

2.3 Tăng trưởng kinh tế 9

2.3.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 9

2.3.2 Lý thuyết của Keynes về tăng trưởng kinh tế 9

2.3.3 Lý thuyết mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển 11

2.3.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại 12

2.4 Lý thuyết chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế 14

2.5 Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế 14

2.6 Lý thuyết về phân cấp tài khóa 16

2.7 Một số mô hình chi tiêu công tác động đến tăng trưởng kinh tế 17

2.7.1 Mô hình của Robert Barro (1990) 17

2.7.2 Mô hình của Devarajan, Swaroop và Zou (1996) 18

2.7.3 Mô hình của Davoodi và Zou (1998) 19

2.8 Một số nghiên cứu trước 20

2.8.1 Nghiên cứu trong nước 20

2.8.2 Nghiên cứu nước ngoài 22

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 29

3.1 Phương pháp nghiên cứu và phân tích định lượng 29

3.1.1 Mô hình Pooled OLS 29

3.1.2 Mô hình tác động cố định (FEM) 29

3.1.3 Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) 30

3.2 Dữ liệu nghiên cứu và mô hình nghiên cứu thực nghiệm 31

3.2.1 Dữ liệu nghiên cứu. 31

3.2.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 31

CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

Trang 10

ix

4.1 Mô tả các biến trong mô hình 35

4.2 Tương quan các biến trong mô hình 38

4.3 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 39

4.4 Kiểm định tính dừng của các biến 39

4.5 Xác định độ trễ tối ưu của biến độ lập phù hợp với mô hình 40

4.6 Kết quả hồi quy 41

4.6.1 Mô hình các nhân tố tác động cố định (FEM) 42

4.6.2 Mô hình các nhân tố tác động ngẩu nhiên (REM). 43

4.6.3 Lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp 43

4.6.4 Phân tích kết quả nghiên cứu. 48

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Các khuyến nghị về chính sách 52

5.3 Những hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 11

Trong nhiều thập kỷ qua đã có nhiều nghiên cứu kinh tế, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm, tập trung xem xét vai trò của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước trên thế giới Các nhà kinh tế cũng như các nhà hoạch định chính sách đôi khi không thống nhất với nhau về việc liệu chi tiêu chính phủ có vai trò thúc đẩy hay làm chậm tăng trưởng kinh tế Những người ủng hộ quy mô chi tiêu chính phủ lớn cho rằng, các chương trình chi tiêu của chính phủ giúp cung cấp các hàng hoá công cộng quan trọng như cơ sở hạ tầng và giáo dục Họ cũng cho rằng sự gia tăng chi tiêu chính phủ có thể đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế thông qua việc làm tăng sức mua của người dân

Tại Việt Nam, Phạm Thế Anh (2008a) nghiên cứu phản ánh mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ với tăng trưởng kinh tế giúp gợi mở ra các hướng nghiên cứu ứng dụng cho Việt Nam, cũng năm 2008b Phạm Thế Anh phân tích cơ cấu chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cho thấy có sự chênh lệch khá lớn về tính hiệu quả giữa các khoản chi ngân sách đối với tăng trưởng kinh tế, Hoàng Thị

Trang 12

2

Chinh Thon và cộng sự (2010) với số liệu đã thu thập ở 31 địa phương ở Việt Nam phân tích theo chi tiêu cấp tỉnh và cấp huyện tác động như thế nào đến tăng trưởng của địa phương Bùi Đại Dũng (2012), phân tích chi tiêu công và phát triển bền vững cho rằng nợ công trong ngắn hạn có thể có những ảnh hưởng tích cực nhất định, Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014), nghiên cứu sự tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại TP.HCM bên cạnh các yếu tố đầu tư tư nhân,

độ mở thương mại và tăng trưởng lao động bình quân

Theo Luật ngân sách 2002, việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước vẫn còn những bất cập như mức độ chủ động về ngân sách của địa phương chưa cao, quy trình phê duyệt ngân sách nhà nước còn phức tạp, thời gian dài, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của địa phương nói riêng Từ những chính sách của nhà nước hiện nay, kết hợp với những nghiên cứu trước đây, tác giả nghiên cứu các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu long với dữ liệu từ năm 2008 - 2014 để thấy được tác động của việc phân cấp chi tiêu đến tăng trưởng như thế nào với tên đề tài nghiên cứu “Chi tiêu công các cấp tác động đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu long”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là phân tích tác động của chi tiêu công các cấp ngân sách đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu long Mục tiêu cụ thể là:

- Xác định hiệu quả chi tiêu công đến tăng trưởng kinh kế tại các tỉnh thuộc ĐBSCL

- Trên cơ sở phân tích thực nghiệm đề xuất, kiến nghị chi tiêu công như thế nào cho hiệu quả nhất

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi mà chúng tôi đặt ra cho bài nghiên cứu này là

1 Chi các cấp ngân sách tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh đồng bằng sông Cửu long?

Trang 13

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm 3 cấp: chi cấp Trung ương, chi cấp tỉnh, chi tiêu cấp huyện quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện - được tính toán dựa trên số liệu chi địa phương trừ đi chi cấp tỉnh)

Các khoản chi trong ngân sách cấp tỉnh và cấp huyện được chia thành ba mục lớn gồm: chi đầu tư phát triển (chi xây dựng cơ bản và chi đầu tư phát triển, chi trả

nợ gốc, lãi huy động đầu tư), chi thường xuyên (hành chính, an ninh quốc phòng, sự nghiệp, khoa học công nghệ) và chi khác (các khoản chi còn lại) Ngoài ra tác giả còn bổ sung các chỉ tiêu như: dân số của địa phương, lượng vốn SXKD của doanh nghiệp của địa phương làm các biến kiểm soát

Địa phương trong bài nghiên cứu được hiểu là tỉnh – thành phố trực thuộc Trung ương

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian bao gồm 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng Đồng bằng sông Cửu long dựa trên quyết toán thu chi ngân sách của từng điạ phương được chia thành chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi thường xuyên và chi khác (các khoản chi còn lại) ở cấp độ tỉnh và cấp huyện các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long

Về thời gian: giai đoạn 2008 - 2014

Dữ liệu nghiên cứu: đề tài sử dụng dữ liệu bảng gồm 13 đơn vị chéo tương đương 13 tỉnh, thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long và 7 đơn vị thời gian ứng với các năm 2008 – 2014 Tổng quan sát là 91 quan sát

Trang 14

4

Nguồn dự liệu: đề tài sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục thống kê bao gồm: GDP của các tỉnh theo giá 1994, các biến nguồn vốn SXKD, chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, khoản chi khác cấp tỉnh và cấp huyện (được tính bằng cách lấy chi tiêu của địa phương – chi cấp tỉnh), nguồn vốn tích lũy của doanh nghiệp được lấy từ các cuộc điều tra hàng năm của Cục thống kê

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua mô hình kinh tế lượng, xác định các thành phần chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu long Dữ liệu được sử dụng là dữ liệu bảng thông qua kết quả ước lượng vả kiểm định sự phù hợp của các giả thuyết trong mô hình Tác giả làm rõ mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu

Tiến trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế của địa phương đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế của quốc gia Bên cạnh sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn chi tiêu công, việc phân cấp quản lý tài chính ngày một sâu rộng đến nhiều quyền thu, chi được giao cho địa phương chủ động nên việc quản lý thông qua phân bổ cơ cấu chi tiêu hợp lý và cơ chế kiểm soát chi tiêu chặt chẽ nhất định sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Vì vậy, nghiên cứu này là hết sức quan trọng cho việc đánh giá, phân tích các cấp chi tiêu công tác động như thế nào đến tăng trưởng của địa phương Từ đó có những chính sách khuyến nghị chi tiêu hợp lý để mang lại hiệu quả kinh tế tốt nhất

1.7 Kết cấu luận văn

Chương 1: giới thiệu vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, kết cấu của luận văn

Chương 2: cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, trong chương 2 tác giả trình bài các khái niệm chi tiêu công, tăng trưởng kinh tế, đặc điểm của tăng trưởng kinh tế, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, lý thuyết liên quan giữa chi tiêu công

Trang 15

Chương 4: trình bày kết quả nghiên cứu thông qua phương pháp thống kê mô

tả, phân tích hồi quy dữ liệu bảng và kiểm định các giả thuyết của mô hình Đánh giá mức độ tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế

Chương 5: kết luận và khuyến nghị: trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Tóm tắt chương 1: Trong chương này nghiên cứu giới thiệu lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới thiệu phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài là đề tài sử dụng phương pháp định lượng, ý nghĩa luận thực tiễn và tính mới của đề tài mà tác giả thực hiện Đề tài được kết cấu gồm 5 chương, Chương I: Lời giới thiệu; Chương II: Cơ sở lý thuyết & Các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước; Chương III: Phương pháp nghiên cứu,mô hình nghiên cứu; Chương IV: Phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận; Chương V: Kết luận và khuyến nghị

Trang 16

và quyền hạn, cũng như lợi ích, giữa các cấp khác nhau của chính quyền về quản lý

và thực hiện ngân sách nhà nước

Thật vậy, phân cấp tài khóa xác lập cơ chế trao quyền cho chính quyền địa phương trong việc quyết định các khoản thu và chi Với ý nghĩa này, phân cấp tài khóa có liên quan nhiều hơn đến việc phân bổ nguồn lực công giữa Trung ương và địa phương, qua đó tái phân bổ các nguồn tài nguyên một cách tối ưu giữa các cấp chính quyền Ngoài ra, việc phân cấp tài khóa thể hiện vai trò quan trọng cho mục tiêu nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế như phát triển hạ tầng xã hội, phát triển giáo dục, y tế, giảm nghèo…

2.2 Chi tiêu công

2.2.1 Khái niệm về chi tiêu công

Về lý thuyết hay thực tế chi tiêu công có quan hệ trực tiếp và không thể tách rời với hoạt động của nhà nước với hai mục đích: cải thiện phân phối thu nhập trong

xã hội và nâng cao hiệu quả kinh tế Nói cách khác, chi tiêu công là những khoản chi tiêu do pháp nhân nhà nước thực hiện nhằm đạt mục đích kinh tế xã hội đề ra, cũng là sự phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính theo từng mục đích sử dụng

Trang 17

7

Theo Dương Thị Bình Minh (2005), chi tiêu công là các khoản chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện chức năng vốn có của Nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công, phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng

Còn theo Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài (2006), cho rằng về cơ bản việc đánh giá chi tiêu công là việc đánh giá công tác hoạch định chính sách ngân sách và xây dựng thể chế Nó là công cụ chủ yếu trong việc phân tích các vấn đề thuộc lĩnh vực công và giải thích tại sao lĩnh vực công cần được tài trợ cho các hoạt động kinh

tế - xã hội Và mục đích của việc đánh giá chi tiêu công là giúp Chính phủ sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực tài chính, nguồn lực xã hội thông qua việc ưu tiên các khoản chi tiêu nhằm đem lại lợi ích cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

2.2.2 Phân loại chi tiêu công

Theo Nguyễn Thị Hầu (2012), chi tiêu công diễn ra trên phạm vi rộng, dưới nhiều hình thức và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội của địa phương nói riêng của quốc gia nói chung Có nhiều cách phân loại các khoản chi, nhưng nhìn chung thường chia nội dung chi tiêu công theo cơ cấu phù hợp với thông lệ chung là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển Thứ nhất, chi tường xuyên là quá trình phân phối sử dụng nguồn lực tài chính của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu như tiền lương, chi sự nghiệp quản lý… Thường chi thường xuyên có các đặc điểm là khoản chi mang tính ổn định; mang tính tiêu dùng xã hội; phạm vi, mức độ chi thường gắn chặc với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Nếu phân loại theo lĩnh vực thì chi tiêu công được chia thành: chi quản lý hành chánh nhà nước; chi cho an ninh quốc phòng và trật tự xã hội; chi sự nghiệp văn hoá xã hội; chi sự nghiệp kinh

tế nhà nước; và các khoản chi khác Thứ hai, chi đầu tư phát triển là các khoản chi phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển sản xuất và dự trữ hàng hoá nhằm đảm bảo ổn định và phát triển nền kinh tế quốc gia Xét theo mục đích chi đầu tư phát triển được chia thành: chi xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng hoàn vốn; chi đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham

Trang 18

8

gia của nhà nước; chi thực hiện các chương trình mang tính mục tiêu; chi hỗ trợ các quỹ hỗ trợ phát triển; chi hỗ trợ nhà nước

2.2.3 Vai trò chi tiêu công

Vai trò chi tiêu công là rất quan trọng đến tăng trưởng kinh tế, góp phần quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội nói riêng và phát triển xã hội nói chung Tính quan trọng này không chỉ là nguồn đầu tư của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư toàn xã hội mà còn góp phần hình thành những công trình trọng điểm là cột mốc quan trọng làm chuyển dịch cơ cấu, thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện căn bản đời sống xã hội

Theo Nguyễn Thị Mầu (2005), cho rằng vai trò chi tiêu công thể hiện: Thứ nhất, thu hút vốn đầu tư của khu vực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua các khoản chi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, trường học, bệnh viện, viễn thông, thủy lợi … Bên cạnh đó nhà nước còn hỗ trợ cho các doanh nghiệp bằng nhiều hình thức khác nhau như: trợ giá, hỗ trợ vốn, … sự hỗ trợ của nhà nước thường tập trung cho các lĩnh vực quan trọng như bình ổn giá, bù đắp thua thiệt cho những doanh nghiệp phải hoạt động theo chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế, các chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực thông qua các chính sách phát triển hoạt động giáo dục, đào tạo nghiên cứu khoa học, y tế … Thứ hai, chi tiêu công góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế, với vai trò này nhà nước tác động đến tổng cầu của xã hội thông qua việc tiêu thụ khối lượng lớn hàng hóa trên thị trường, làm tác động trở lại doanh nghiệp nâng cao khả năng sản xuất phát triển hơn nữa Dưới góc độ này, chi tiêu công trở thành công cụ kinh tế quan trọng của nhà nước, góp phần tái tạo lại cân bằng của thị trường hàng hóa khi bị mất cân đối, tác động đến mối quan hệ cung cầu bằng cách tăng hay giảm mức độ chi tiêu công của nhà nước Thứ ba, thông qua công cụ thuế chi tiêu công góp phần phân phối lại thu nhập, thực hiện công bằng xã hội giữa các tầng lớp dân cư, mang lại nguồn thu cho nhà nước, chi tiêu công trở thành công cụ chuyển giao khoản thu nhập này đến những người có thu nhập thấp thông qua các khoản chi an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, các chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo…

Trang 19

9

2.3 Tăng trưởng kinh tế

2.3.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Theo Đinh Vũ Trang Ngân (2010), tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là mức độ gia tăng GDP thực trên đầu người Chúng ta sử dụng GDP thực bởi vì GDP

là đơn vị đo lường tổng sản lượng hay tổng thu nhập của một nền kinh tế trong một thời gian nhất định

Theo Simon Kuznets (trích Nguyễn Trọng Hoài, 2010), tăng trưởng là sự gia tăng một cách bền vững về sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân

Còn David Begg (1991), cho rằng tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng phần trăm hàng năm của GDP thực tế hay GDP thực tế trên đầu người trong dài hạn

Mai Đình Lâm (2012), coi tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên trong tổng sản phẩm quốc nội

Theo Phạm Ngọc Linh (2008), xuất phát từ tư tưởng nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith (1723-1790), những quan điểm phát triển kinh tế gồm nội dung căn bản sau: Thứ nhất, yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn Trong ba yếu tố trên thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, là giới hạn của sự tăng trưởng Thứ hai, phân chia xã hội thành 3 nhóm người: địa chủ, tư bản và công nhân Sự phân phối thu nhập của ba nhóm này phụ thuộc vào quyền sở hữu của họ đối với các yếu tố sản xuất Địa chủ có đất thì nhận địa tô, tư bản có vốn thì nhận lợi nhuận, công nhân có sức lao động thì nhận tiền công Trong 3 nhóm người này, thì nhà tư bản giữ vai trò quan trọng trong cả sản xuất, tích luỹ và phân phối Họ đứng

ra tổ chức sản xuất, giành lại một phần lợi nhuận để tích luỹ và chủ động trong quá trình phân phối

2.3.2 Lý thuyết của Keynes về tăng trưởng kinh tế

Phạm Ngọc Linh (2008), nhấn mạnh vai trò của tổng cầu trong xác định sản lượng của nền kinh tế: sau khi phân tích các xu hướng biến đổi của tiêu dùng, tiết

Trang 20

tư của nhà nước vào các công trình công cộng và một số biện pháp hỗ trợ khác khi đầu tư tư nhân giảm sút

Nền kinh tế có thể đạt tới và duy trì một sự cân đối ở mức sản lượng nào đó, với mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người, tại nơi mà những khoản chi tiêu mới cho đầu tư được hình thành từ các khỏan tiết kiệm được đưa vào nền kinh tế Keynes cũng cho rằng có hai đường tổng cung: AS-LR phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế và AS-SR phản ánh khả năng thực tế Cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng mà thông thường sản lượng thực tế đạt ở mức cân bằng nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng

Phát triển tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 của thế kỉ 20, hai nhà kinh

tế học Harod nguời Anh và Domar người Mỹ đưa ra mô hình xem xét mối quan hệ tăng trưởng với các nhu cầu về vốn:

Trang 21

11

Hệ số ICOR phản ánh trình độ kỹ thuật của sản xuất và là số đo năng lực sản xuất của đầu tư (để tăng 1 đồng tổng sản phẩm cần k đồng vốn) Hệ số này nói lên rằng : vốn được tạo ra từ đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, tiết kiệm của người dân và của công ty là nguồn gốc của đầu tư

Mô hình này chỉ ra sự tăng trưởng là do kết quả của tương tác giữa đầu tư và tiết kiệm và đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế Trên thực tế thì tăng trưởng kinh tế có thể xẩy ra không phải vì lý do tăng đầu tư hoặc ngược lại đầu tư không có hiệu quả vẫn có thể dẫn đến không có sự tăng trưởng Kể cả trong trường hợp đầu tư có hiệu quả thì sự gia tăng tỷ lệ tiết kiệm cũng chỉ có thể gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn không thể đạt được trong dài hạn Dựa trên mô hình trên, Solow đưa thêm nhân tố lao động và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào mô hình tăng trưởng kể cả trong ngắn hạn và dài hạn để cho thấy các biến này ảnh hưởng như thế nào tới mức sản lượng và tăng trưởng của nền kinh tế theo thời gian

Từ đó, mô hình Solow cho thấy nếu tỷ lệ tiết kiệm cao thì nền kinh tế sẽ có mức sản lượng lớn hơn Tuy nhiên việc tăng tỷ lệ tiết kiệm chỉ đưa đến tăng trưởng nhanh hơn trong một thời gian ngắn hạn trước khi nền kinh tế đạt tới trạng thái ổn định Nếu nền kinh tế duy trì một tỷ lệ tiết kiệm cao nhất định nó sẽ duy trì mức sản lượng cao nhưng không duy trì được tốc độ tăng trưởng cao

2.3.3 Lý thuyết mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển

Cuối thế kỷ 19, đánh dấu thời kỳ sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, hàng loạt phát minh khoa học và tài nguyên được khai thác phục vụ cho quá trình sản xuất có ảnh hưởng rõ rệt trong trong các trào lưu chính của tư tưởng kinh

tế Do đó, thời gian này được xem như là điểm mốc ra đời của trường phái tân cổ điển

Trong mô hình tân cổ điển, họ bác bỏ quan điểm cổ điển cho rằng sản xuất trong tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về vốn, lao động, họ cho rằng vốn có thể thay thế nhân công và trong quá trình sản xuất có thể kết hợp nhiều cách khác nhau của 2 yếu tố đầu vào Họ đưa ra khái niệm “sự phát triển kinh tế theo chiều sâu” có nghĩa là gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động trong sản

Trang 22

12

xuất còn sự gia tăng vốn phù hợp với sự gia tăng về lao động được gọi là “phát triển kinh tế theo chiều rộng” Ngoài ra, việc phát triển khoa học kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Theo Vũ Thị Ngọc Phùng (2005), các nhà kinh tế cổ điển cho rằng nền kinh tế

có 2 đường cung: IS-LR phản ánh sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, IS-LR phản ánh khả năng thực tế và cho rằng nền kinh tế luôn đạt trạng thái cân bằng ở mức sản lượng tiềm năng Trong điều kiện thị trường cạnh tranh, khi nền kinh tế có biến động thì sự linh hoạt về giá cả và tiền công là nhân tố khôi phục nền kinh tế về sản lượng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lực lao động Các chính sách kinh tế của chính phủ không thể tác động vào sản lượng nó chỉ có thể ảnh hưởng đến mức giá của nền kinh tế do đó vai trò của chính phủ bị các nhà kinh tế cổ điển xem là mờ nhạt trong phát triển kinh tế

2.3.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại

Phạm Ngọc Linh (2008), các nhà kinh tế học cổ điển mới quan niệm về sự cân bằng kinh tế không nhất thiết tại mức sản lượng tiềm năng mà thường ở dưới mức sản lượng tiềm năng, trong điều kiện hoạt động bình thường nền kinh tế vẫn có thất nghiệp và lạm phát và nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp và mức lạm phát ở mức chấp nhận được

Để giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học công nghệ

Trang 23

Sau khi biến đổi hàm Cobb-Douglas thiết lập được mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số:

G = t + αk + βl + γr

Trong đó: g: tốc độ tăng trưởng của GDP

k, l, r: tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào t: phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ

Như vậy, hàm Cobb-douglas cho biết có 4 yếu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh tế và cách thức tác động của 4 yếu tố này cũng khác nhau trong đó yếu

tố công nghệ có vai trò quan trọng nhất với sự phát triển kinh tế

Mô hình này cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của thay đổi công nghệ trong quá trình tăng trưởng Việc tiếp thu công nghệ mới thông qua phát minh trong nước hay nhập khẩu từ nước ngoài có thể kích thích tăng trưởng kinh tế mạnh như thế nào? Làm thế nào để tiếp thu công nghệ mới một cách tốt nhất

Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế như là không làm rõ những yếu tố then chốt nào ảnh hưởng đến trạng thái ổn định, hai là mô hình chỉ bao gồm một khu vực nên không chỉ ra được vai trò của sự phân bổ vốn và lao động giữa các ngành sản xuất với nhau

Trang 24

14

Nhà kinh tế hiện đại nhấn mạnh vai trò chính phủ trong tăng trưởng kinh tế với các chức năng cơ bản: thiết lập khuôn khổ hệ thống pháp luật, xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế, thiết lập các chương trình tác động đến việc phân phối thu nhập

2.4 Lý thuyết chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế

Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế được nghiên cứu rất nhiều trên cả hai phương diện lý thuyết và kiểm định thực nghiệm Theo nhiều nhà kinh tế, các lý thuyết thường không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng: trong một số trường hợp, việc cắt giảm hay gia tăng quy mô chi tiêu công đều có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Theo Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014), xem đường cong RAHN Nhà kinh tế học Richard Rahn (1986) thể hiện mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế Biểu đồ này gọi là đường cong Rahn” (The Rahn Curve) đường cong Rahn hàm ý: tăng trưởng kinh tế sẽ đạt được tối đa khi chi tiêu công là vừa phải và được phân bổ hết cho những hàng hóa công cơ bản như cơ sở hạ tầng… Tuy nhiên, chi tiêu công sẽ có hại đối với tăng trưởng kinh tế nếu nó vượt qua mức giới hạn này, tức là chi tiêu công nằm phía biên kia dốc của đường cong Rahn Ngoài ra, trường phái của John Maynard Keynes và các nhà kinh tế học theo trường phái của Keynes cho rằng: chi tiêu công – đặc biệt là chi tiêu thông qua vay nợ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ làm tăng sức mua của nền kinh tế Nhưng lý thuyết của trường phái Keynes đã bỏ qua một sự thật là Chính phủ không thể bơm sức mua vào nền kinh tế trước khi làm giảm nó thông qua thuế và vay nợ

2.5 Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế

Giữ chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế vẫn còn là đề tài mà nhiều học giả trải qua nhiều cuộc tranh cãi, chưa đi đến sự thống nhất còn tranh luận gay gắt về vai trò của chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế Với vai trò cốt lỗi của chính phủ là thực thi hai chức năng cơ bản là đảm bảo an ninh quốc phòng bào vệ lãnh thổ quốc gia và

Trang 25

15

cung cấp hàng hóa công nhằm đảm bảo đời sống, giữ gìn tài sản người dân.Trong

đó, việc cung cấp hàng hóa công chủ yếu tập trung các lĩnh vực: quốc phòng, giao thông, y tế, giáo dục … Theo Nguyễn Đức Tú Anh (2013), lập luận rằng chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội sẽ khuyến khích tăng trưởng kinh tế và chi tiêu công vào y tế giáo dục làm tăng hiệu suất lao động dẫn đến tăng sản lượng quốc gia, còn chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng như đường sá, truyền thông, … làm giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng đầu ra Và tác giả kết luận rằng sự mỡ rộng chi tiêu công đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng kinh tế

Theo Sử Đình Thành (2012, trích Nguyễn Đức Tú Anh 2013), sự tranh luận

về gánh nặng tài chính mà chính phủ áp đặt lên nền kinh tế và nhân dân dựa trên hai khía cạnh: Thứ nhất, ngân sách càng lớn thì gánh nặng tài chính áp đặt lên nền kinh

tế càng lớn Thứ hai, khu vực tư nhân sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn Chính phủ

và nền kinh tế trở nên có sự đánh đổi giữa hai khu vực tư và khu vực công Tuy nhiên, cũng có nhiều học giả đã chứng minh rằng chi tiêu công càng lớn lại gây ra hiệu ứng âm đối với tăng trưởng kinh tế (Laudau D, 1986; Barro R, 1991; Folster S, 2001) Điều này được lý giải bởi 2 yếu tố làm cho hiệu ứng tăng trưởng trở nên yếu

ớt và tiêu cực Thứ nhất, càng mở rộng khu vực công để thực tthi chính sách tăng trưởng sẽ làm thâm hụt ngân sách nhà nước trầm trọng hơn Sự nỗ lực gia tăng chi tiêu công, chính phủ lựa chọn gia tăng thuế và vay nợ Đánh thuế làm tổn thất cho

xã hội vì thuế tạo ra gánh nặng cho thu nhập và làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng, khi đó vay nợ để tài trợ cho chi tiêu công gây ra hiện tượng chèn lấn khu vực tư nhân Thứ hai, chi tiêu càng nhiềm làm xói mòn tăng trưởng kinh tế bởi sự chuyển giao thêm nguồn lực từ khu vực sử dụng hiệu quả nhất của nền kinh tế sang khu vực công nơi được xem là sử dụng kém hiệu quả vì chính phủ thiếu thông tin trong việc ra quyết định chính sách, đồng thời do các nhà chính trị theo đuổi lợi ích riêng nên quyết định phân bổ sai nguồn lực gây cản trở tăng trưởng kinh tế Hệ quả

là hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu kinh tế - xã hội mà bộ máy chính phủ ngày càng phình to

Trang 26

16

2.6 Lý thuyết về phân cấp tài khóa

Zang & Zou (1998), cho rằng tăng trưởng kinh tế do ảnh hưởng bởi lực lượng lao động, tỉ lệ đầu tư của khu vực tư nhân, độ mở của nền kinh tế, tỉ lệ lạm phát, thuế quốc gia, thuế địa phương, nguồn thu của địa phương, GDP của quốc gia và mức độ phân cấp

Theo Nguyễn Đình Lâm (2012), trong quá trình chuyển đổi kinh tế, cho đến nay vẫn có những nghi ngờ giữa lý thuyết và thực tế Phân cấp là chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Về mặt lý thuyết, phân cấp có thể được coi là cách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra các

cơ hội đáng kể cho quá trình quản trị công được tốt hơn Lợi ích tiềm năng của việc chuyển giao trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương là nâng cao hiệu quả của quá trình cung ứng dịch vụ công, theo đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vì vậy, về lý thuyết phân cấp tài khóa được kỳ vọng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Mặt khác, phân cấp tài khóa cũng có thể tạo ra mối quan hệ tiêu cực với tăng trưởng kinh tế nếu việc phân cấp tài khóa không đi kèm với cải thiện năng lực và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương

Theo Zang và Zou (1998, trích Nguyễn Đình Lâm 2012) lập luận rằng việc phân cấp về nguồn thu và nhiệm vụ chi cho chính quyền địa phương là phương thức nhằm nâng cao hiệu quả của khu vực công, giảm thâm hụt ngân sách, và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Lập luận này được dựa trên cơ sở chính quyền địa phương có được ưu thế tốt hơn trong việc cung cấp dịch vụ công phù hợp với ưu tiên và nhu cầu địa phương so với chính quyền Trung ương

Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu thực nghiệm ở một số quốc gia tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa tăng trưởng kinh tế và phân cấp tài khóa như Abachi Terhemen Philip & Salamatu Isah (2012, trích mai Đình Lâm) sử dụng dữ liệu tổng thể về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của Nigeria trong giai đoạn từ 1970 đến

2009, bằng phương pháp OLS lại tìm thấy kết quả cho rằng phân cấp tài khóa có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của Nigeria

Trang 27

17

Theo World Bank (1997), phân cấp tài khóa có thể tác động gián tiếp lên tăng trưởng kinh tế Có ba cơ chế truyền dẫn tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế Thứ nhất, phân cấp tài khóa sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhờ khía cạnh chi tiêu công, điều đó có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế Thứ hai, phân cấp tài khóa có thể dẫn đến sự mất ổn định kinh tế vĩ mô có nghĩa là phân cấp tài khóa và tăng trưởng có mối quan hệ tiêu cực Thứ ba, tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế có sự khác biệt giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, nếu ở các nước phát triển mối quan hệ giữa phân cấp tài khóa và tăng trưởng là tích cực khi đó ở các nước đang phát triển ngược lại Điều này được

lý giải là do chính quyền địa phương ở các nước đang phát triển có thể không có nguồn nhân lực có kỹ năng trong quản lý tài chính khi được phân cấp, dẫn đến sự mất ổn định kinh tế vĩ mô, làm cản trở tăng trưởng kinh tế

2.7 Một số mô hình chi tiêu công tác động đến tăng trưởng kinh tế

2.7.1 Mô hình của Robert Barro (1990)

Trước Barro (1990) cũng đã có nhiều nghiên cứu về chi tiêu chính phủ, tuy nhiên vai trò của chi tiêu chính phủ và thuế đối với tăng trưởng kinh tế chỉ được xem xét một cách có hệ thống dựa trên các hành vi tối đa hoá lợi ích của các tác nhân trong nền kinh tế Năm 1990, theo Barro “Government Spending in a Simple Model of Endogenous Growth” khi đưa khu vực chính phủ vào mô hình tăng trưởng tân cổ điển chuẩn để nghiên cứu mối quan hệ giữa các lựa chọn chính sách của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Ý tưởng chính của mô hình Barro (1990) có thể tóm tắt như sau:

Trên mối quan hệ tác động giữa 3 yếu tố: i) khu vực sản xuất: Barro (1990) giả định chi tiêu chính phủ đối với hàng hoá và dịch vụ công cộng, ví dụ chi xây dựng

cơ sở hạ tầng, bảo vệ quyền sở hữu…, có ảnh hưởng tích cực đến sản xuất của khu vực tư nhân ii) Do mô hình không nhằm phân tích tác động của các loại thuế suất khác nhau đến tăng trưởng kinh tế nên để đơn giản, Barro (1990) giả định rằng chính phủ tài trợ cho chi tiêu của mình nhờ áp dụng một mức thuế suất cố định điều này hàm ý chính phủ luôn thực hiện cán cân ngân sách cân bằng iii) Tốc độ tăng

Trang 28

18

trưởng: tổng thu nhập trong nền kinh tế được phân bổ cho tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu chính phủ Mô hình của Barro (1990) cho rằng tốc độ tăng trưởng là cố định và nền kinh tế không có tính động Ảnh hưởng của chính phủ đối với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế có thể được thực hiện: chi tiêu chính phủ phải được tài trợ bằng thuế do chính phủ luôn thực hiện cán cân ngân sách cân bằng Việc tăng thuế

sẽ làm giảm sản phẩm biên sau thuế của tư bản do vậy làm giảm tốc độ tích luỹ tư bản và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và việc tăng chi tiêu chính phủ hay tăng thuế chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi tác động tích cực của việc tăng chi tiêu lớn hơn tác động tiêu cực của việc tăng thuế

2.7.2 Mô hình của Devarajan, Swaroop và Zou (1996)

Devarajan, Swaroop, và Zou (1996) đã dựa trên mô hình của Barro (1990) và một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác để xây dựng một mô hình nghiên cứu vai trò của các thành phần chi tiêu chính phủ khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế

Cụ thể, mô hình của họ cố gắng xác định thành phần chi tiêu nào là hiệu quả, thành phần chi tiêu nào là không hiệu quả và sự chuyển dịch giữa các thành phần chi tiêu

có tác động như thế nào đối với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Mô hình Devarajan, Swaroop, và Zou (1996) xem xét tác động 3 yếu tố: i) Khu vực sản xuất: Hàm tổng sản xuất có dạng CES với sản lượng phụ thuộc vào lượng tư bản của khu vực tư nhân (k), và hai thành phần chi tiêu khác nhau của chính phủ là chi tiêu cấp tỉnh và dưới tỉnh (huyện) mỗi loại chi tiêu được giả định là có tác động khác nhau đến tổng sản lượng của nền kinh tế ii) Khu vực chính phủ: tương tự như trong Barro (1990), các tác giả giả định rằng chính phủ tài trợ cho chi tiêu của mình nhờ

áp dụng một mức thuế suất cố định iii) Hộ gia đình: Devarajan và công sự (1996) giả định rằng trong nền kinh tế có nhiều hộ gia đình giống nhau mỗi hộ gia đình sẽ lựa chọn các quyết định về mức tiêu dùng (c), và mức tư bản (k) để tối đa hoá lợi ích của mình trong cả vòng đời Mô hình Devarajan và công sự (1996) cho rằng sự chuyển dịch cơ cấu chi tiêu giữa hai thành phần chi tiêu chính phủ là là chi tiêu cấp tỉnh và dưới tỉnh (huyện) làm tăng hay giảm tốc độ tốc độ tăng trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào hiệu suất của hai thành phần đối với tổng sản lượng, mà còn phụ

Trang 29

19

thuộc vào tỷ trọng ban đầu của hai thành phần chi tiêu Và cho thấy mối quan hệ giữa giữa tốc độ tăng trưởng và thuế suất là không rõ ràng Dấu của nó có thể thay đổi tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa mức thuế và tổng hiệu suất của các khoản chi tiêu chính phủ đối với sản lượng

2.7.3 Mô hình của Davoodi và Zou (1998)

Tương tự như Barro (1990) và Devarajan, Swaroop, và Zou (1996) Davoodi

và Zou (1998) để xem xét mối quan hệ cả về lý thuyết lẫn thực nghiệm, giữa tính tập trung của chính sách tài khoá và tăng trưởng kinh tế Trước đó, nhiều nhà kinh

tế đã đưa ra nhiều lập luận ủng hộ sự phân quyền trong việc thực thi chính sách tài khoá Họ cho rằng: (i) sự phân quyền sẽ làm tăng tính hiệu quả của các khoản chi bởi vì các chính quyền địa phương có thông tin tốt hơn so với chính quyền Trung ương; (ii) chính quyền địa phương có thể cung cấp hàng hoá và dịch vụ đáp ứng thiết thực hơn đối với nhu cầu của cộng đồng địa phương, do họ nắm bắt được các đặc tính khác biệt về mặt địa lý, con người…

Davoodi và Zou (1998) giả định rằng chi tiêu chính phủ có thể được phân thành ba cấp: trung ương, bang, và địa phương Mức độ phân cấp trong việc thực thi chính sách tài khoá được xác định theo tỉ phần chi tại các cấp địa phương so với tổng chi tiêu chính phủ Ví dụ mức độ phân cấp sẽ tăng nếu chi tiêu cấp địa phương

và chi tiêu cấp bang tăng một cách tương đối so với chi ở cấp Trung ương

Davoodi và Zou (1998) giả định rằng trong nền kinh tế chi tiêu của hộ gia đình

là như nhau

Davoodi và Zou (1998) lưu ý rằng với tổng chi tiêu cố định, sự thay đổi tỉ trọng chi giữa các cấp có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nếu sự phân bổ hiện tại chưa đạt tối ưu và việc thay đổi phân bổ chi tiêu giữa các cấp có thể thúc đẩy tăng trưởng mà không cần phải tăng tỉ trọng chi tiêu chính phủ trong GDP

Trang 30

20

2.8 Một số nghiên cứu trước

2.8.1 Nghiên cứu trong nước

Theo Nguyễn Phi Lân (2008), nghiên cứu “phân cấp quản lý tài khóa và tăng trưởng kinh tế địa phương tại Việt nam” tác giả sử dụng các phương pháp ước lượng hiệu ứng cố định (Fixed Effects-FE) và hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects-RE), các phương pháp này được đánh giá là hiệu quả và tối ưu hơn các phương pháp truyền thống như OLS Việc lựa chọn phương pháp tối ưu sẽ được thực hiện thông qua các kiểm định Hausman test và Breusch and Pagan test Kết quả cho thấy hệ số biến phân cấp chi tiêu ngân sách địa phương phản ánh phân cấp quản lý chi tiêu thường xuyên và chi tiêu cho đầu tư xây dựng cơ bản tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1997- 2007 Tuy nhiên, giai đoạn 2002 –

2007 chi thường xuyên tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế nhưng chi đầu tư xây dựng cơ bản lại tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế địa phương

Theo Phạm Thế Anh (2008b), phân tích cơ cấu chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở Việt nam Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch khá lớn về tính hiệu quả giữa các khoản chi ngân sách khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế Thứ nhất, các khoản chi đầu tư có hiệu ứng tích cực hơn so với các khoản chi thường xuyên trong các ngành nông, lâm, thuỷ sản, giáo dục & đào tạo, y tế, và ngành khác Thứ hai, cả chi đầu tư và thường xuyên cho ngành giao thông vận tải, giáo dục & đào tạo, và ngành khác có vai trò tích cực lớn hơn đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn so với các khoản chi tương ứng cho ngành nông, lâm, thuỷ sản và ngành y tế

Theo Hoàng Thị Chinh Thon và cộng sự (2010), đánh giá phân tích chi tiêu cấp tỉnh và cấp huyện tác động như thế nào đến tăng trưởng của địa phương, với số liệu

đã thu thập được ở 31 địa phương ởViệt Nam tác giả cho rằng nguồn chi cho đầu tư cấp huyện cần được tăng cường, trong khi chi tiêu đầu tư cấp tỉnh nên giảm để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương

Trang 31

21

Theo Bùi Đại Dũng (2012), phân tích chi tiêu công và phát triển bền vững cho rằng nợ công trong ngắn hạn có thể có những ảnh hưởng tích cực nhất định Tuy nhiên, nợ công ở mức cao, kéo dài sẽ gây tác động tiêu cực cho sự phát triển bền vững Những nước có mức nợ công nghiêm trọng đều bắt nguồn từ tình trạng thâm hụt ngân sách không thể kiểm soát mà nguyên nhân trực tiếp là sự yếu kém của chính phủ và nguyên nhân sâu xa chính là sự yếu kém của thể chế Tình trạng chi tiêu công thiếu hiệu quả có các biểu hiện như: chi tiêu vượt quá quy mô tối ưu, chi sai chức năng, chi sai thứ tự ưu tiên

Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014), nghiên cứu sự tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại TP.HCM bên cạnh các yếu tố đầu tư tư nhân,

độ mở thương mại và tăng trưởng lao động bình quân Tác giả sử dụng phương pháp phân tích đồng liên kết (cointergration) của Engle-Granger để đo lường các mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến và mô hình điều chỉnh sai số ECM (Error Correction Model) được sử dụng để khảo sát mối quan hệ động trong ngắn hạn giữa tăng trưởng kinh tế và các biến tác động trong mô hình kết luận rằng

Thứ nhất: chi thường xuyên không có quan hệ với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, nhưng tác động thuận chiều trong ngắn hạn

Thứ hai: chi đầu tư phát triển có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn Song, hiệu ứng trong dài hạn (0,184) lớn hơn hiệu ứng trong ngắn hạn (0,066)

Thứ ba: chi thường xuyên, tổng chi tiêu công cũng không tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn nhưng lại có tác động trong ngắn hạn và mối quan hệ này là nghịch chiều

Thứ tư, đầu tư khu vực tư nhân có tác động thuận chiều đến tăng trưởng kinh

tế trong dài hạn và tác động này lớn hơn trong ngắn hạn

Thứ năm: độ mở nền kinh tế cũng có tác động thuận chiều lên tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và ngắn hạn

Trang 32

2.8.2 Nghiên cứu nước ngoài

Theo Nworji và cộng sự (2012), nghiên cứu “ ảnh hưởng của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế ở Nigeria: mô hình phân tích theo chuỗi thời gian” trong giai đoạn từ 1970-2009 Bằng mô hình hồi quy OLS để xem xét quan hệ nhân quả giữa chi tiêu công của chính phủ và tăng trưởng kinh tế dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian Kết quả cho thấy vốn đầu tư và chi thường xuyên dịch vụ kinh tế có tác động tiêu cực đáng kể đến tăng trưởng kinh tế nhưng chi thường xuyên về các dịch vụ xã hội

và cộng đồng và chi thường xuyên có tác dụng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, chi phí chuyển nhượng vốn có tác động tích cực đáng kể tới tăng trưởng trong giai đoạn nghiên cứu

Thanh Phạm (2009), nghiên cứu “Chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế bằng chứng cho Singapore, Hong Kong, Trung Quốc và Malaysia”, bài nghiên cứu phân tích tiềm năng của chi tiêu chính phủ gây ảnh hưởng đáng kể bốn nền kinh tế trong khu vực châu Á: Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia và Singapore Bằng mô hình hồi quy OLS được sử dụng chạy trên dữ liệu bảng Các kết quả thực nghiệm cho thấy chi tiêu của chính phủ ảnh hưởng tiêu cực về phát triển xã hội và tác động tích cực về phát triển kinh tế của nền kinh tế

Theo Constantinos Alexiou (2009), phân tích “chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng kinh tế từ Đông Nam châu Âu (SEE)” Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chi tiêu chính phủ, nghiên cứu dựa trên dữ liệu bảng bảy nền kinh tế chuyển đổi ở phía Đông Nam Châu Âu (SEE) Kết quả các bằng chứng cho thấy rằng bốn trong số năm biến được sử dụng trong ước tính chi tiêu như chính phủ về sự hình thành vốn,

Trang 33

2012 đặc biệt tập trung phân tích chi phí của ngành Chi tiêu chính phủ là những công cụ rất quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế ở việc xử lý của các nhà hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển như Nigeria Mục tiêu của nghiên cứu này là để xác định hiệu quả của chi tiêu công cho tăng trưởng kinh tế ở Nigeria sử dụng mô hình ECM để kiểm tra tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế

ở Nigeria trong dài và ngắn hạn Các kết quả chỉ ra rằng tổng chi tiêu giáo dục là rất cao và có ý nghĩa thống kê và có mối quan hệ tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài hạn Kết quả này có nghĩa quan trọng về mặt chính sách và thực hiện ngân sách ở Nigeria Chúng tôi kết luận rằng tăng trưởng kinh tế rõ ràng là bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại sinh và cả nội sinh Do đó, khuyến cáo chính phủ giảm phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho giáo dục và chú trọng hơn đến các chi phí vốn để đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế

Abu Nurudeen và cộng sự (2010), “nghiên cứu ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế”, kết quả cho thấy rằng tổng chi tiêu đầu tư, tổng chi thường xuyên và chi tiêu của chính phủ về giáo dục, chính phủ tăng chi tiêu về vận tải và thông tin liên lạc, đều tác động gia tăng tăng trưởng kinh tế Tác giả kiến nghị như sau: Chính phủ nên tăng cả chi phí đầu tư và chi thường xuyên bao gồm chi phí về giáo dục đồng thời đảm bảo rằng các quỹ có nghĩa là cho sự phát triển và quản lý đúng cách Thứ hai, Chính phủ cần tăng đầu tư vào sự phát triển của giao thông vận tải và thông tin liên lạc để tạo ra một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp Thứ ba, Chính phủ cần tăng chi tiêu đầu tư phát triển của ngành y tế vì nó

sẽ nâng cao năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế Cuối cùng, chính phủ cần khuyến khích và tăng kinh phí của cơ quan chống tham nhũng để giải quyết mức độ tham nhũng cao được tìm thấy trong văn phòng công cộng

Trang 34

24

Tóm tắt các nghiên cứu trước:

STT Tác giả Thời gian Tên nghiên cứu Mô hình Kết quả

1 Nguyễn Phi

Lân 2008 phân cấp quản lý tài khóa và

tăng trưởng kinh

tế địa phương tại Việt nam

-Biến phụ thuộc: Tỷ

lệ tăng trưởng kinh tế của tỉnh hoặc thành phố

-Biến độc lập: Xuất khẩu bình quân đầu người, Tích lũy vốn đầu tư con người, Tăng trưởng cung tiền M2, tỷ lệ chi tiêu của chính quyền địa phương (chi thường xuyên và chi cho xây dựng cơ bản) so với tổng chi tiêu của chính quyền trung ương, tỷ lệ các nguồn thu của chính quyền địa phương so với tổng các nguồn thu của chính quyền trung ương, tỷ lệ tăng trưởng của TP Hồ Chí Minh với các tỉnh, tỷ lệ giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp so với GDP, Tăng trưởng lao động bình quân,

tỷ lệ lạm phát

phản ánh phân cấp quản lý chi tiêu thường xuyên và chi tiêu cho đầu tư xây dựng cơ bản tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế

Trang 35

25

2 Phạm Thế

Anh 2008b Phân tích cơ cấu chi tiêu chính

phủ và tăng trưởng kinh tế Việt nam

-Biến phụ thuộc: tốc

độ tăng GDP bình quân đầu nguời của tỉnh

-Biến độc lập: tỷ trọng chi tiêu chính phủ tính theo phần trăm GDP, tốc độ thay đổi của chỉ số điều chỉnh GDP, log(GDP) của tỉnh, tốc độ thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng, log của luợng vốn tích luỹ của các doanh nghiệp, tỷ trọng của các loại chi tiêu chính phủ tại tỉnh

Chi đầu tư có tích cực hơn chi thường xuyên trong ngành nông, lâm thủy sản và cả chi đầu

tư và thường xuyên của ngành GTVT, giáo dục

và đào tạo đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn

-Biến phụ thuộc: tốc

độ tăng GDP bình quân đầu nguời -Biến độc lập: tỷ trọng chi tiêu chính phủ trên GDP của từng địa phương, tốc

độ thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng trong cả nuớc, log của luợng vốn tích luỹ các doanh nghiệp, tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển cấp tỉnh, tỷ trọng chi thuờng xuyên cấp tỉnh, tỷ trọng các khoản chi khác cấp tỉnh, tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển cấp huyện,

tỷ trọng chi thuờng xuyên cấp huyện, tỷ trọng các khoản chi khác cấp huyện

Nguồn chi đầu tư cấp huyện cần được tăng cường, trong khi chi đầu

tư cấp tỉnh nên giảm để thức đẩy tăng trưởng kinh

tế của địa phương

Trang 36

tế Tp.HCM

-Biến phụ thuộc: sản lượng kinh tế (lnGDP)

-Biến độc lập: Đầu tư

tư nhân (lnPI), tổng kim ngạch XNK (LnTOP), tổng chi ngân sách (LnBS), chi đầu tư phát triển (lnBI), chi thường xuyên (LnBC), tăng trưởng lao động bình quân (LnPRG)

Chi thường xuyên không có mối quan hệ kinh

tế trong dài hạn nhưng tác động cùng chiều trong ngắn hạn v.v

5 Sử Đình

Thành 2013 Hiệu ngưỡng chi tiêu ứng

công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam:

Kiểm định bằng phương pháp bootstrap

-Biến phụ thuộc: tỷ lệ tăng trưởng GDP

-Biến độc lập: tỷ lệ vốn đầu tư tư nhân, Tăng trưởng lao động, tăng trưởng lao động, tỷ lệ chi tiêu công/GDP

Có sự tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa tăng trưởng kinh tế với chi công tổng thể và chi thường xuyên ở Việt nam, lần lượt mức ngưỡng 28% GDP và 10% GDP

Disaggregated Analysis

-Biến phụ thuộc:tỷ lệ tăng trưởng kinh tế

-Biến độc lập: chi đầu

tư, chi thường xuyên, chi quốc phòng, chi nông nghiệp, chi vận tải thông tin liên lạc, chi giáo dục, chi sức khỏe, tỷ lệ lạm phát

Tổng chi tiêu đầu

tư, tổng chi thường xuyên và chi tiêu của chính phủ về giáo dục, chính phủ tăng chi tiêu

về vận tải và thông tin liên lạc, đều tác động gia tăng tăng trưởng kinh tế

-Biến phụ thuộc: tổng sản lượng kinh kế (LnGDP)

-Biến độc lập: Chi tiêu giáo dục (lnTEDU)

tổng chi tiêu giáo dục là rất cao và

có ý nghĩa thống

kê và có mối quan hệ tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài hạn

Trang 37

27

8 Constantinos

Alexiou 2009 Government Spending and

Economic Growth:

Econometric Evidence from the South Eastern Europe (SEE)

-Biến phụ thuộc: tổng sản lượng kinh tế

-Biến độc lập: vốn vật chất trong nước, lực lượng lao động, chi đầu tư trong nước, chi đầu tư nước ngoài, độ mở nền kinh tế,

bằng chứng cho thấy rằng bốn trong số năm biến được sử dụng trong ước tính chi tiêu như chính phủ về sự hình thành vốn,

hỗ trợ phát triển, đầu tư tư nhân và thương mại tất cả đều có tác động tích cực và đáng

kể trên tăng trưởng kinh tế

9 Thanh Pham 2009 Government

expenditure and economic growth:

evidence for Singapore, Hong Kong China and Malaysia

-Biến phụ thuộc: tăng trưởng kinh tế (GDP) -Biến phụ thuộc: chi tiêu chính phủ về phát triển kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, giao thông thông tin liên lạc), chi tiêu chính phủ về phát triển xã hội (giáo dục, y tế, an sinh xã hội),chi tiêu chính phủ về phát triển chung (quốc phòng,

an ninh), vốn đầu tư, thu nhập

Cho thấy chi tiêu của chính phủ ảnh hưởng tiêu cực về phát triển

xã hội và tác động tích cực về phát triển kinh tế của nền kinh tế

a disaggregated time series analysis

Biến phụ thuộc: tăng trưởng kinh tế (GDP) -Biến phụ thuộc: chi đầu tư và thường xuyên cho lĩnh vực kinh tế, chi đầu tư và thường xuyên về xã hội và dịch vụ cộng đồng, chi đầu tư và thường xuyên về chuyển nhượng

Kết quả cho thấy vốn đầu tư và chi thường xuyên dịch vụ kinh tế

có tác động tiêu cực đáng kể đến tăng trưởng kinh

tế nhưng chi thường xuyên về các dịch vụ xã hội và cộng đồng

và chi thường xuyên có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế

Nguồn:tác giả tổng hợp

Trang 38

K: lượng vốn SXKD của doanh nghiệp theo địa phương

Ds: dân số của địa phương

X1: tỷ trọng chi tiêu chính phủ/địa phương

X2: Hỗ trợ của TW cho địa phương

X3: Chi đầu tư cấp tỉnh của địa phương

X4: Chi thường xuyên cấp tỉnh của địa phương

X5: Chi khác cấp tỉnh của địa phương

X6: Chi đầu tư cấp huyện của địa phương

X7: Chi thường xuyên cấp huyện của địa phương

X8: Chi khác cấp huyện của địa phương

Địa phương đây được hiểu như là tỉnh – thành phố trực thuộc TW

Tóm tắt chương 2 Chương này tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế Khái quát những nghiên cứu trước đây của một số tác giả trong nước và ngoài nước để chi ra mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng thông qua mô hình kinh tế Đây là cơ sở để tác giả nghiên cứu thiết kết mô hình tổng quát chi tiêu công các cấp tác động đến tăng trưởng của vùng ĐBSCL giai đoạn 2008 - 2014

Trang 39

Từ kết quả ước lượng của mô hình, đề tài tiến hành kiểm định Hausman, kiểm định nhân tử Lagrange để lựa chọn mô hình thích hợp nhất

3.1.1 Mô hình Pooled OLS

Mô hình Pooled OLS là mô hình hồi quy dữ liệu bảng đơn giản nhất, nghĩa là không kể đến các kích thước không gian và thời gian của bảng dữ liệu và chỉ ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) Với giả thuyết: tất cả những đơn vị chéo có cùng điều kiện và rũi ro tương tự nhau Nghĩa là các hệ số độ dốc của các biến độc lập và giá trị là giống hệt nhau Đây là những giả định rất hạn chế, vì thế

mô hình hồi quy OLS có thể làm biến dạng các mối quan hệ thực chất giữa các biến độc lập và biến giải thích dẫn đến mô hình không phù hợp trong điều kiện thực tế Thực tế dữ liệu sử dụng cho phân tích là dữ liệu dạng bảng với chuỗi thời gian là 7 năm với 13 địa phương khác nhau có thể chịu tác động của đặt thù kinh tế địa lý, văn hóa, Chính vì những đặc trưng của bộ dữ liệu các mẫu dữ liệu có thể không độc lập ngẫu nhiên và sai số sẽ không ngẫu nhiên, vì thế vi phạm giả thuyết của mô hình OLS gây ra ước lượng chệch khi sử dụng mô hình OLS để ước lượng

3.1.2 Mô hình tác động cố định (FEM)

Với giả định mỗi thực thể đều có những đặc điểm riêng biệt có thể ảnh hưởng đến các biến giải thích, FEM phân tích mối tương quan này giữa phần dư của mỗi thực thể với các biến giải thích qua đó kiểm soát và tách ảnh hưởng của các đặc điểm riêng biệt (không đổi theo thời gian) ra khỏi các biến giải thích để chúng ta có thể ước lượng những ảnh hưởng thực (net effects) của biến giải thích lên biến phụ thuộc

Trang 40

Ci(i=1 n): hệ số chặn cho từng thực thể nghiên cứu

β: hệ số góc đối với nhân tố X

uit: phần dư

i : thực thể các nghiên cứu khác nhau

t : biểu thị thời gian

Mô hình trên đã thêm vào chỉ số i cho hệ số chặn “C” để phân biệt hệ số chặn của từng doanh nghiệp khác nhau có thể khác nhau, sự khác biệt này có thể do đặc điểm khác nhau của từng địa phương hoặc do sự khác nhau trong chính sách quản

lý, hoạt động của địa phương

3.1.3 Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM)

Điểm khác biệt giữa mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên và mô hình ảnh hưởng cố định được thể hiện ở sự biến động giữa các thực thể Nếu sự biến động giữa các thực thể có tương quan đến biến độc lập –biến giải thích trong mô hình ảnh hưởng

cố định thì trong mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên sự biến động giữa các thực thể được giả sử là ngẫu nhiên và không tương quan đến các biến giải thích

Chính vì vậy, nếu sự khác biệt giữa các thực thể có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc thì REM sẽ thích hợp hơn so với FEM Trong đó, phần dư của mỗi thực thể (không tương quan với biến giải thích) được xem là một biến giải thích mới

Ý tưởng cơ bản của mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên cũng bắt đầu từ mô hình:

Yit = Ci + βXit + uit

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm