1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố tác động kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh tây ninh

168 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Tác giả Nguyễn Thành Được
Người hướng dẫn PGS.TS. Trịnh Thùy Anh
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 7,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHNGUYỄN THÀNH ĐƯỢC CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH Chuyê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THÀNH ĐƯỢC

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

Mã số chuyên ngành : 60 34 01 02

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Trịnh Thùy Anh

Tp Hồ Chí Minh, Năm 2019

Tai Lieu Chat Luong

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Các yếu tố tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Tp Hồ Chí Minh, 2019

Học viên thực hiện

Nguyễn Thành Được

Trang 3

cỗ vũ và góp ý cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Trịnh Thùy Anh

đã luôn tận tình hỗ trợ, chỉ dẫn về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn khi thực hiện đề tài Tác giả đã cố gắng tiếp thu sự đóng góp và hỗ trợ về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn từ thầy cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu, nhiều nghiên cứu và nổ lực hoàn thành đề tài, tuy nhiên, thiếu sót trong đề tài là điều không thể tránh khỏi, tác giả rất mong sẽ nhận được sự góp ý, phản hồi từ Quý thầy cô và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

TÓM TẮT

Nghiên cứu này thực hiện nhằm tìm hiểu các yếu tố tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp Với mô hình nghiên cứu ban đầu được đề xuất gồm ba yếu tố độc lập: thứ nhất, Giáo dục khởi nghiệp; thứ hai, Môi trường khởi nghiệp; thứ ba, Yếu tố cá nhân Cả ba yếu tố độc lập này cùng tác động gián tiếp đến kết quả hoạt động khởi nghiệp thông qua hai yếu tố là Sự hiểu biết về khởi nghiệp và Khả năng khởi nghiệp Nghiên cứu thực hiện lấy ý kiến khảo sát của 579 người; trong đó có 492 người là chủ doanh nghiệp và là những người trực tiếp quản

lý doanh nghiệp, chiếm 85%; 29 người là chủ doanh nghiệp nhưng không trực tiếp quản lý doanh nghiệp, chiếm 5%; 58 người là quản lý doanh nghiệp nhưng không phải là chủ doanh nghiệp, chiếm 10% Các ý kiến khảo sát được tập hợp và mã hóa

để phân tích định lượng, gồm: thống kê mô tả; kiểm định độ tin cậy của thang đo; phân tích nhân tố khám phá; phân tích nhân tố khẳng định; phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

Kết quả nghiên cứu định lượng đã giúp cho nghiên cứu khẳng định được, cả ba yếu tố độc lập trong mô hình nghiên cứu được đề xuất đều có ảnh hưởng lên kết quả hoạt động khởi nghiệp Cụ thể, Yếu tố cá nhân có mức tổng ảnh hưởng lên kết quả hoạt động, với hệ số ước lượng chuẩn hóa là  = 0.235; Giáo dục khởi nghiệp

có mức tổng ảnh hưởng lên kết quả hoạt động, với hệ số ước lượng chuẩn hóa là  = 0.235; Môi trường khởi nghiệp có mức tổng ảnh hưởng lên kết quả hoạt động, với

hệ số ước lượng chuẩn hóa là  = 0.275 Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra được các yếu tố trung gian như Khả năng khởi nghiệp và Sự hiểu biết về khởi nghiệp cũng có mối tương quan mạnh với kết quả hoạt động khởi nghiệp Trong đó, Sự hiểu biết về khởi nghiệp có tác động rất tích cực lên kết quả hoạt động khởi nghiệp,  = 0.496; Khả năng khởi nghiệp có tác động tích cực lên kết quả hoạt động khởi nghiệp,  = 0.300

Trang 5

Tóm lại, nghiên cứu đã cho thấy được mô hình được đề xuất là phù hợp tốt với

dữ liệu nghiên cứu, các kết quả đều ủng hộ cho các kết luận trong những nghiên cứu trước đó Trên cơ sở kết quả thu được, nghiên cứu đã đưa ra những khuyến nghị dành cho các cá nhân đang có ý định khởi nghiệp và những cá nhân đã khởi nghiệp

có được cái nhìn tổng quan tích cực hơn, từ đó góp phần tạo ra sự thành công cho quá trình khởi nghiệp

Trang 6

ABSTRACT

This study aims to understand the factors that affect the effectiveness of the start-up process With the initial proposed research model, there are three independent factors: first, entrepreneurship education; second, entrepreneurship environment; third, Personal factors All three independent factors indirectly impact

on the efficiency of starting a business through two factors: Understanding of entrepreneurship and Entrepreneurship The study carried out collecting opinions of

579 people; of which 492 are business owners and direct managers of enterprises, accounting for 85%; 29 people are business owners but not directly managing businesses, accounting for 5%; 58 people are business managers but not business owners, accounting for 10% The survey opinions are gathered and coded for quantitative analysis, including: descriptive statistics; verify the reliability of the scale; analysis of discovery factors; factor analysis analysis; linear structure model analysis (SEM)

Quantitative research results have helped confirm the study, all three independent factors in the proposed research model have an impact on the effectiveness of the start-up process Specifically, individual factors have the total effect on entrepreneurship efficiency, with a standardized estimated coefficient  = 0.235; Start-up education has the total effect on entrepreneurship efficiency, with a standardized estimated coefficient  = 0.235; The startup environment has a total effect on startup efficiency, with a standardized estimated coefficient  = 0.275 In addition, the study also found that intermediary factors such as Entrepreneurship and Entrepreneurship also had a strong correlation with Entrepreneurial Performance In particular, Understanding about starting a business has a very positive effect on Startup efficiency,  = 0.496; Entrepreneurship has a positive impact on Entrepreneurship efficiency,  = 0.300

Trang 7

In summary, the study has shown that the proposed model fits well with the research data, the results support the conclusions in previous studies Based on the results, the study has made recommendations for individuals who are intending to start a business and those who have started the business to have a more positive overview, thereby contributing to creating success for the startup process

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC vii

DANH MỤC HÌNH x

DANH MỤC BẢNG xi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xii

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 4

1.4 Ý nghĩa học thuật và thực tiễn đề tài 4

1.5 Kết cấu của nghiên cứu 5

1.6 Tóm tắt chương 1 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Cơ sở lý thuyết 7

2.1.1 Khái niệm khởi nghiệp (Startup) 7

2.1.2 Khái niệm về thái độ 7

2.1.3 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action-TRA)9 2.1.4 Mô hình lý thuyết hành vi dự định (Theory of planned behavior model-TPB) 9

2.1.5 Năng lực khởi nghiệp 10

Trang 9

2.1.6 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp 11

2.2 Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu 15

2.2.1 Các nghiên cứu trước đây 15

2.2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết 22

2.3 Tóm tắt chương 2 24

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Quy trình nghiên cứu: 26

3.2 Xây dựng thang đo trong mô hình nghiên cứu 27

3.3 Nghiên cứu định tính và kết quả 34

3.4 Nghiên cứu định lượng với thang đo hoàn chỉnh 34

3.4.1 Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát 34

3.4.2 Mẫu nghiên cứu 35

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 35

3.5 Tóm tắt Chương 3 38

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG 39

4.1 Kết quả thống kê mô tả 39

4.1.1 Thống kê biến định tính 39

4.1.2 Thống kê biến định lượng 41

4.2 Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s alpha 47

4.3 Phân tích nhân tố khám phá 48

4.4 Phân tích nhân tố khẳng định 52

4.4.1 Kiểm tra tính đơn hướng 52

4.4.2 Kiểm tra giá trị hội tụ 52

4.4.3 Kiểm tra giá trị phân biệt 52

4.4.4 Hệ số tin cậy tổng hợp và phương sai trích 53

4.5 Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 57

4.6 Tổng ảnh hưởng của các nhân tố lên Hiệu quả khởi nghiệp 59

4.7 Kết luận giả thuyết nghiên cứu 59

4.8 Phân tích ảnh hưởng của Thái độ khởi nghiệp trong mô hình SEM 60

Trang 10

4.9 Tóm tắt chương 4 65

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Hàm ý quản trị 68

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI PHỎNG VẤN 88

PHỤ LỤC 2: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 93

PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU TỪ PHẦN MỀM 94

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA 9

Hình 2.2: Mô hình lý thuyết hành vi dự định TPB 10

Hình 2.3 Mô hình Giáo dục và đào tạo doanh nhân tại Canada 16

Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Díaz-Casero và cộng sự (2012) 18

Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Vuorio và cộng sự (2018) 20

Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Varamäki và cộng sự, 2015 22

Hình 2.7 Mô hình các yếu tố tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 23

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 26

Hình 4.1 - Kết quả phân tích mô hình nghiên cứu SEM 57

Hình 4.2 – Đồ thị biểu diễn ước lượng chuẩn hóa của các mô hình 63

Hình 4.3 - Ảnh hưởng của thái độ khởi nghiệp tích cực 64

Hình 4.4 – Ảnh hưởng của thái độ khởi nghiệp không tích cực 65

Trang 12

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Thống kê về loại hình doanh nghiệp 39

Bảng 4.2 Thống kê về vai trò trong doanh nghiệp 40

Bảng 4.3 Thống kê về chức vụ trong doanh nghiệp 40

Bảng 4.4 Thống kê mẫu nghiên cứu về thời gian làm việc tại doanh nghiệp 41

Bảng 4.5 Thống kê mẫu nghiên cứu về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp 41

Bảng 4.6 – Kết quả thống kê thang đo Yếu tố cá nhân 41

Bảng 4.7 – Kết quả thống kê thang đo Giáo dục khởi nghiệp 42

Bảng 4.8 – Kết quả thống kê thang đo Môi trường khởi nghiệp 43

Bảng 4.9 – Kết quả thống kê thang đo Sự hiểu biết về khởi nghiệp 44

Bảng 4.10 – Kết quả thống kê thang đo Khả năng khởi nghiệp 45

Bảng 4.11 – Kết quả thống kê thang đo Hiệu quả khởi nghiệp 46

Bảng 4.12 – Kết quả thống kê thang đo Thái độ khởi nghiệp 47

Bảng 4.13 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo 47

Bảng 4.14 - Kết quả xoay nhân tố 49

Bảng 4.15 - Kết quả kiểm định giá trị phân biệt 53

Bảng 4.16 - Kết quả tính toán hệ số tin cậy tổng hợp và phương sai trích. 53

Bảng 4.17 - Kết quả phân tích mô hình SEM 58

Bảng 4.18 - Kết quả kiểm định bootstrap. 59

Bảng 4.19 – Tổng ảnh hưởng 59

Bảng 4.20 - Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 60

Bảng 4.21 - Tổng hợp kết quả phân tích đa nhóm 63

Trang 13

DNKN Doanh nghiệp khởi nghiệp

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

EA Thái độ khởi nghiệp

EC Khả năng khởi nghiệp

EF Hiệu quả khởi nghiệp

EFA Phân tích nhân tố khám phá

ML Phương pháp MaxLikelihood

ROA tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản

ROE tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu

ROI tỷ lệ sinh lời trên vốn đầu tư

Trang 14

Ký hiệu Diễn giải

SEM Mô hình cấu trúc tuyến tính

TPB Theory of planned behavior model - Lý thuyết hành vi dự định TRA Theory of Reasoned Action -Lý thuyết hành động hợp lý

Trang 15

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do nghiên cứu

Trong nhiều năm qua, lĩnh vực khởi nghiệp đang rất được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, đặc biệt là nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của một cá nhân Lee và cộng sự (2006) cho rằng tinh thần khởi nghiệp được chú trọng ở nhiều quốc gia và được xem là cách thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm Sobel và King (2008) nhận định khởi nghiệp (KN) là chìa khóa quan trọng để tăng trưởng kinh tế, chính vì vậy việc thúc đẩy giới trẻ khởi nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu của các nhà chính sách

Tại Việt Nam, trong bối cảnh kinh tế có mức tăng trưởng nhanh, cấu trúc thị trường và cấu trúc cạnh tranh có nhiều biến động trong thời gian ngắn, nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng gia tăng liên tục qua các năm, các cơ hội kinh doanh xuất hiện nhiều Nhiều cá nhân đã từ bỏ cơ hội nghề nghiệp ổn định để nắm bắt cơ hội kinh doanh với mong muốn trở thành ông chủ, được độc lập tự chủ, được thể hiện bản thân và có thu nhập (Lê Quân, 2004) Mặt khác, ngày 18/5/2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” Đề án “Quốc gia khởi nghiệp, Doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN)” đang được Chính phủ triển khai Đây là lần đầu tiên Chính phủ xây dựng một kế hoạch cụ thể thúc đẩy môi trường đầu tư kinh doanh, đặc biệt là khuyến khích khởi nghiệp một cách quy mô

Và trong những năm gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng có nhiều chương trình về khởi nghiệp, đặc biệt là sự quan tâm của các tổ chức chính trị xã hội trong việc thúc đẩy các cá nhân tham gia khởi nghiệp như Cuộc thi “Thắp sáng ước mơ kinh doanh trẻ”, Chương trình “Làm giàu không khó”, Đề án xây dựng

“Làng Thanh niên lập nghiệp”, các câu lạc bộ khởi nghiệp,… Thông qua đó, có nhiều doanh nghiệp mới được hình thành từ các ý tưởng kinh doanh, các chương trình hỗ trợ vốn cho các dự án khởi nghiệp cho các cá nhân.Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam chưa đáp ứng năng lực

Trang 16

cạnh tranh với doanh nghiệp khác, nhiều DNKN có thời gian tồn tại và phát triển khá thấp Bên cạnh đó, các cá nhân tham gia KN còn thiếu kiến thức về DNKN và thiếu kinh nghiệm thực tiễn trong điều hành DN

Vậy câu hỏi được đặt ra là các cá nhân, tổ chức khi khởi nghiệp cần chuẩn bị những gì để đạt được thành công và duy trì phát triển DNKN trong đoạn đường dài Xuất phát từ câu hỏi này, việc thực hiện nghiên cứu về các yếu tố tác động đến kết quả khởi nghiệp là điều cần thiết Tây Ninh là một tỉnh ở Đông Nam Bộ, Việt Nam Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm Pênh vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Tỉnh có Thành phố Tây Ninh nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 99 km theo đường quốc lộ 22, cách biên giới Campuchia 40 km về phía Tây Bắc Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 01/2016/QĐ-UBND, ngày ngày

05 tháng 01 năm 2016, Quyết định ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh 5 năm giai đoạn 2016-2020 trong đó mục tiêu tổng quát trong phát triển kinh tế là đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Từ những mục tiêu đó, việc tìm hiểu về việc khởi nghiệp, hiểu được yếu tố ảnh hưởng đến việc thành công của một doanh nghiệp là rất quan trọng Đó là lý do luận văn đề xuất đề tài: Các yếu tố tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn hướng đến các mục tiêu sau:

Thứ nhất, xác định các yếu tố ảnh hướng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp tại tỉnh Tây Ninh;

Thứ hai, đo mức độ tác động của các yếu tố đến kết quả khởi nghiệp;

Thứ ba, kiểm tra sự khác biệt giữa các yếu tố tác động đến sự thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp như: Tố chất của cá nhân khởi nghiệp, các yếu tố về giáo

Trang 17

dục, môi trường xung quanh, hiểu biết về hoạt động khởi nghiệp và năng lực của nhà khởi nghiệp;

Thứ tư, qua đề tài, đề xuất các giải pháp, chính sách nhằm hỗ trợ và tác động đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu cần giải quyết các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:

Thứ nhất, mức độ ảnh hưởng giữa các nhân tố đến việc hiểu biết về hoạt động khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn tỉnh Tây Ninh là như thế nào?

Thứ hai, mức độ ảnh hưởng giữa các nhân tố đến năng lực khởi nghiệp của thanh niên tại tỉnh Tây Ninh là như thế nào?

Thứ ba, đánh giá mức độ hiểu biết về khởi nghiệp có ảnh hưởng thế nào đến việc hình thành năng lực khởi nghiệp của thanh niên tại tỉnh Tây Ninh như thế nào? Thứ tư, xác định mức độ ảnh hưởng giữa năng lực khởi nghiệp và kết quả khởi nghiệp tại tỉnh Tây Ninh

Thứ năm, đánh giá thái độ của cá nhân đến hoạt động khởi nghiệp

Thứ sáu, những giải pháp và chính sách nào có thể đưa ra nhằm hỗ trợ, tác động đến các doanh nghiệp khởi nghiệp và hình thành mạng lưới doanh nghiệp khởi nghiệp bền vững?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến hiểu, năng lực và kết quả khởi nghiệp của thanh niên

Trang 18

Đối tượng khảo sát: các doanh nghiệp (bao gồm: doanh nghiệp mới, doanh nghiệp đã hoạt động, tổ hợp tác, hợp tác xã, v.v) các cơ quan, cá nhân có liên quan đến hình thành và sự phát triển của doanh nghiệp tại tỉnh Tây Ninh

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này được thực hiện tại Tây Ninh

Thời gian thực hiện khảo sát: từ tháng 3/2019 đến tháng 9/2019

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này vẫn dụng chủ yếu hai phương pháp: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định tín nhằm hiệu chỉnh thang đo các yếu tố ảnh hưởng và bảng câu hỏi, thông qua hình thức thảo luận nhóm 10 cá nhân là chủ doanh nghiệp khởi nghiệp

Nghiên cứu định lượng là để kiểm định các giả thuyết của mô hình dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 579 chủ doanh nghiệp với phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện Thông qua phương pháp phỏng vấn là gửi bảng câu hỏi trực tiếp đến các cá nhân

1.4 Ý nghĩa học thuật và thực tiễn đề tài

Đối với kết quả của nghiên cứu này có thể là tài liệu tham khảo cho:

Thứ nhất, các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các cơ quan, ban ngành trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nhằm xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp phù hợp, các chương trình hỗ trợ, hướng dẫn hiệu quả nhằm phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp bền vững

Thứ hai, các hội doanh nghiệp, hội doanh nhân trẻ, các tổ chức có liên quan đến đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nâng cao hiệu quả đầu tư và cung cấp các dịch

vụ phát triển kinh doanh

Trang 19

Thứ ba, các cá nhân đặc biệt là đối tượng thanh niên có quan tâm và mong muốn khởi nghiệp

1.5 Kết cấu của nghiên cứu

Kết cấu của luận văn gồm 5 chương, nội dung của từng chương xoay quanh các vấn đề sau:

Chương I: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm đặt vấn đề nghiên cứu, vấn đề nghiên cứ, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu

Chương II: Cơ sở lý thuyết về các tố chất để khởi nghiệp, các mô hình nghiên

cứ trên thế giới và trong nước, mô hình đề xuất và các giải thuyết được đặt ra trong nghiên cứu

Chương III: Thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách thức thu thập

số liệu

Chương này trình bày cụ thể phương pháp nghiên cứu bao gồm quy trình nghiên cứu, xây dựng và kiểm định thang đo cho các nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng

Chương IV: Phân tích dữ liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu thu được

Gồm các nội dung chính trình bày là thống kê mô tả mẫu khảo sát, kiểm định thang đo, giả thuyết và mô hình thông qua các bước kiểm định như Cronbach’s Alpha, EFA, CFA, SEM bằng phần mềm SPSS 20 và AMOS 20

Chương V: Trình bày kết luận của nghiên cứu, hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo Qua kết quả nghiên cứu đạt được, đưa ra những kiến nghị thực tiễn cho vấn đề đang nghiên cứu

1.6 Tóm tắt chương 1

Chương 1 đã trình bày được lý do nghiên cứu của đề tài này Dựa trên các lý do nghiên cứu, tác giả đã đưa ra các mục tiêu cụ thể cho nghiên cứu Để đạt được các

Trang 20

mục tiêu nghiên cứu đó, nghiên cứu đã trình bày được các câu hỏi nghiên cứu Sau cùng, trong chương này, nghiên cứu đã trình bày được đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cũng như những ý nghĩa về mặt học thuật và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Tiếp theo chương 2 sẽ trình bày phần cơ sở lý thuyết

Trang 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Khái niệm khởi nghiệp (Startup)

Khởi nghiệp là giai đoạn đầu trong vòng đời của một doanh nghiệp (DN) khi chủ DN đó chuyển từ giai đoạn ý tưởng sang giai đoạn đảm bảo được nguồn tài chính, hình thành cơ cấu cơ bản của DN và bắt đầu có những hoạt động hoặc trao đổi thương mại Theo Cơ quan phát triển DN nhỏ và vừa Hoa Kỳ: Khởi nghiệp là đơn vị kinh doanh với đặc thù phát triển dựa trên định hướng công nghệ và có khả năng tăng trưởng nhanh

Tại Việt Nam, thuật ngữ “khởi nghiệp” được đề cập đến trong vài năm gần đây Tuy nhiên chưa có văn bản nào nêu rõ khái niệm “khởi nghiệp” cũng như còn nhiều quan điểm khác nhau về khởi nghiệp Khởi nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng là khởi sự doanh nghiệp Khởi nghiệp thường liên quan đến các hoạt động chuẩn bị cho cá nhân như tìm ý tưởng kinh doanh, tìm hiểu thị trường, điều kiện sẵn có về tài chính, nhân lực, v.v Khởi nghiệp là việc cá nhân tự làm chủ, tự mở công ty (Lý Thục Hiền, 2010)

Tóm lại, Khởi nghiệp là một doanh nghiệp mới được hình thành của một cá nhân được xuất phát từ một cá nhân hay một nhóm người có chung ý tưởng kinh doanh về một sản phẩm hay dịch vụ rõ ràng, có tìm hiểu thị trường, điều kiện về tài chính, nhân lực để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả

2.1.2 Khái niệm về Thái độ

Theo Fishbein và Ajen (1975) thái độ được định nghĩa là “một khuynh hướng học dược để trả lời trong một cách nhất quản thuận lợi hay không thuận lợi với một đối tượng nhất định” Thái độ ít ổn định hơn so với đặc điểm tính cách và có thể được thay đổi theo thời gian và trong các tình huống của cá nhân (Robinson et al., 1991)

Trang 22

Stephen P.Robbins (2013) cho rằng thái độ là thể hiện đánh giá thuận lợi hoặc không thuận lợi về đối tượng, con người hoặc sự kiện Chúng phản ánh cách chúng

ta cảm nhận về điều gì đó

Thái độ có 3 thành phần đó là thành phần nhận thức, cảm xúc và hành vi dự định

Thành phần nhận thức (cognitive component): thể hiện ý kueesn hay thể hiện niềm tin của thái độ, gắn với đánh giá của cá nhân về những gì đã xảy ra trong kinh nghiệm

Thành phần cảm xúc (affective component): thể hiện tình cảm hay cảm xúc của thái độ, thể hiện ở phản ứng sinh học và cảm nhận của cá nhân

Thái độ với khởi nghiệp có thể được xem như tính tích cực hay động lực sẵn sàng tham gia hoạt động khởi nghiệp khi có cơ hội (Fishbein &Ahzen, 1975; Krueger &cộng sự, 2000) Thái độ tích cực với khoeir nghiệp còn thể hiện ở mong muốn tự mở doanh nghiệp hơn là đi làm công (Tella & Issa, 2013) Cá nhân có thái

độ tích cực với khởi nghiệp thường hứng thú với hoạt động kinh doanh, dễ dàng xem các cơ hội để thành lập doanh nghiệp và có thể xem mục tiêu trở thành doanh nhân là mục tiêu quan trọng Nói cách khác, thái độ tishc cực với khởi nghiệp được xem như một nhân tố thúc đẩy ý định khởi nghiệp hay lamftawng quyết tâm thực hiện hoạt động khởi khiệp (Autio & cộng sự, 2001; Linan & Chen, 2009)

Trang 23

2.1.3 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action-TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein, (1975) xây dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70 Theo TRA, quyết định hành vi là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi tiêu dùng Quyết định hành vi bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ và ảnh hưởng xã hội Mà theo đó, thái độ đối với quyết định là biểu hiện yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của người tiêu dùng đối với của sản phẩm; còn ảnh hưởng xã hội thể hiện ảnh hưởng của mối quan hệ xã hội lên cá nhân người tiêu dùng

Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA

(Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975) 2.1.4 Mô hình lý thuyết hành vi dự định (Theory of planned behavior model-TPB)

Do những hạn chế của mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA), (Ajzen và Fishbein, 1975) đề xuất mô hình lý thuyết hành vi hoạch định trên cơ sở phát triển

lý thuyết hành động hợp lý với giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các quyết định để thực hiện hành vi đó Các quyết định được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nổ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen và Fishbein, 1975) Hành vi hoạch định khẳng định rằng quyết định hành vi là một chức năng của thái độ và ảnh hưởng xã hội Hành vi hoạch định thêm nhận thức kiểm soát hành vi xác định quyết định hành vi Quyết định lại là một hàm của ba nhân tố

Trang 24

Thứ nhất: Nhân tố thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực

về hành vi thực hiện Ajzen lập luận rằng một cảm xúc tích cực hay tiêu cực cá nhân, cụ thể là thái độ để thực hiện một hành vi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố số tâm

lý và các tình huống đang gặp phải

Thứ hai: Nhân tố ảnh hưởng xã hội được định nghĩa là “áp lực xã hội nhận thức

để thực hiện hành vi” (Ajzen và Fishbein, 1975) Ảnh hưởng xã hội đề cập đến những ảnh hưởng và tác động của những người quan trọng và gần gũi có thể tác động đến cá nhân thực hiện hành vi

Thứ ba: nhận thức kiểm soát hành vi được định nghĩa như là đánh giá của chính mình về mức độ khó khăn hay dễ dàng ra sao để thực hiện hành vi đó (Ajzen và Fishbein, 1975) đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến quyết định thực hiện hành vi, và nếu như người tiêu dùng chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi Trong bối cảnh mua sắm trực tuyến, kiểm soát hành vi đề cập đến nhận thức và niềm tin của các cá nhân có các nguồn lực cần thiết, kiến thức và khả năng trong quá trình sử dụng Internet để mua sắm trực tuyến

Trang 25

thường song hành với sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Colombo và Grilli, 2005; Nuthall, 2006)

Năng lực khởi nghiệp đóng vai trò rất quan trọng cho sự tăng trưởng và thành công của doanh nghiệp, tuy nhiên việc nghiên cứu về năng lực khởi nghiệp chỉ đang trong giai đoạn sơ khai (Brinckman, 2008) Năng lực khởi nghiệp được thực hiện bởi các cá nhân (nhà khởi nghiệp) là người bắt đầu hay thực hiện sự chuyển hóa tổ chức, là người tạo nên giá trị gia tăng cho tổ chức Bird (1995) cho rằng năng lực khởi nghiệp là những đặc trưng cơ bản như các kiến thức cụ thể, các đặc điểm, khả năng nhận thức về bản thân, vai trò xã hội và những kỹ năng giúp cho một người hình thành, duy trì sự tồn tại và tạo sự tăng trưởng cho một doanh nghiệp

Một khía cạnh then chốt của các nghiên cứu về năng lực chính là việc tìm kiếm những đặc trưng cá nhân mang tính chất lâu dài dẫn đến sự thành công hay thực hiện một cách vượt trội cho một công việc hoặc toàn bộ tổ chức Các đặc trưng cá nhân này được Barlett và Ghoshal (1997) phân thành ba nhóm năng lực: Thái độ hay các đặc điểm cá nhân, kiến thức hay kinh nghiệm và kỹ năng hay khả năng Nghiên cứu Stuart và Lindsay (1997) cũng tìm ra ba nhóm năng lực như nghiên cứu của hai tác giả nêu trên và chúng bao gồm: các kỹ năng cá nhân, kiến thức và các đặc trưng cá nhân

2.1.6 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp

2.1.6.1 Định nghĩa về kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp

Hiện có rất nhiều định nghĩa về kết quả hoạt động của doanh nghiệp và hệ thống đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Business performance measurement system) Monica và cộng sự (2007) đã thống kê hơn 300 tài liệu (có từ năm 1990 đến năm 2003) bao gồm các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học, sách, báo cáo khoa học, v.v Tùy theo mục tiêu nghiên cứu hay đo lường mà có những khái niệm khác nhau, dưới đây là một số định nghĩa tiêu biểu: Theo Kaplan

và Norton (1993): “Kết quả của doanh nghiệp được xác định từ 04 nhóm thành phần

cơ bản, bao gồm: Tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học tập phát triển Nó

Trang 26

xây dựng cơ sở để chuyển nội dung chiến lược kinh doanh thành các điều kiện thực hiện” Năm 2007, Waal và Coevert đã đề cập đến yếu tố về tài chính, quá trình đáp ứng nhu cầu khách hàng, phát triển sản phẩm và tạo ra năng lực của doanh nghiệp

Nó phản ánh tính hệ thống trong các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh

và thích ứng với môi trường năng động của doanh nghiệp Từ sau những năm 1980, các tác giả không còn đo lường kết quả chỉ bằng những tiêu chí tài chính đơn thuần nữa như: tỷ lệ sinh lời trên vốn đầu tư (ROI), tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA),

tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận thuần (net earnings), v.v, mà còn chú trọng đến các tiêu chí phi tài chính khác như: thị phần (market share), sự thỏa mãn của khách hàng, chất lượng sản phẩm, chính sách nội bộ, thỏa mãn của người lao động, v.v, ngoài ra, chính những tiêu chí phi tài chính này khi xét về lâu dài mới là yếu tố cốt lõi để giúp cho các nhà quản trị có thể điều chỉnh và đánh giá

sự tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp Carlos và cộng sự (2011) đánh giá ở phạm vi phân tích kỹ thuật về lý thuyết kết quả hoạt động của doanh nghiệp và đo lường kết quả hoạt động lại nêu lên được năm đặc trưng chung nổi bật của các định nghĩa, bao gồm:

Thứ nhất, tính linh hoạt của các chỉ tiêu đo lường;

Thứ hai, tính quan trọng của thông tin trong suốt quá trình đo lường;

Thứ ba, cách tiếp cận mang tính chiến lược trong mỗi nỗ lực đo lường;

Thứ tư, tầm quan trọng của yếu tố con người quyết định sự thành công trong quá trình đo lường;

Thứ năm, khái niệm kết quả hoạt động và đo lường kết quả hoạt động ngày càng được cải tiến và quan trọng hơn nữa đối với doanh nghiệp

Tóm lại: Trên cơ sở khi xem xét kết luận của Marr và Schiuma (2003) “Hệ thống đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp chưa nhất quán, không giống nhau, nên việc sử dụng công cụ đo lường nào hoàn toàn là do mục tiêu quản trị Càng có nhiều nghiên cứu về đo lường kết quả của các lãnh vực: quản trị chiến lược, quản trị vận hành, quản trị nhân sự, kế toán, kiểm toán, v.v, càng có đóng góp

Trang 27

làm phong phú thêm kiến thức, tính tiếp cận đa dạng và hoàn thiện” Do các nhà khởi nghiệp có sự khác nhau về các đặc trưng cá nhân và họ cũng cảm nhận khác nhau về môi trường kinh doanh, hoạt động khởi nghiệp kinh doanh của họ cũng khác nhau Các nhà nghiên cứu cho rằng các đặc điểm cá nhân có liên quan đến năng lực khởi nghiệp và môi trường kinh doanh có mối liên hệ mật thiết với kết quả thực hiện của doanh nghiệp Các chỉ tiêu tài chính đo lường kết quả kinh doanh trong nghiên cứu này sẽ bao gồm: sự gia tăng doanh số, sự tăng trưởng của lợi nhuận, sự gia tăng đáng kể về thị phần và hiệu quả sử dụng nguồn lực, hệ số hoàn vốn đầu tư (Ahmad và Seet, 2009; Hoque, 2005)

2.1.6.2 Mối quan hệ giữa năng lực khởi nghiệp và kết quả hoạt động của danh

nghiệp

Việc xác định và hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là rất quan trọng và cần thiết cho việc thiết lập các chính sách kinh tế phù hợp Khởi nghiệp không có nghĩa là chắc chắn sẽ thành công và thịnh vượng Nghiên cứu của Stephan và cộng sự (2015) đã chỉ ra rằng, hơn 50% doanh nghiệp phải đóng cửa trong thời gian từ 0-3 năm sau khi khởi nghiệp và 33% đóng cửa trong thời gian 3 năm tiếp theo Một trong những động lực chính cho nghiên cứu liên quan đến năng lực nhà khởi nghiệp vì nó gắn liền với kết quả hoạt động và sự tăng trưởng của doanh nghiệp (Lerner và Almor, 2002; Bird, 1995) Bên cạnh đó Chandler và Jansen, (1992) cũng đã chứng minh rằng việc phát triển năng lực nhà khởi nghiệp sẽ làm tăng kết quả hoạt động và sự tăng trưởng của doanh nghiệp Các tài liệu trên nêu bật ba xu hướng ảnh hưởng đến kết quả làm việc của doanh nghiệp Thứ nhất, các nhà khởi nghiệp có quyền chọn lựa và khai thác các

cơ hội tốt hơn, chất lượng của cơ hội và tình hình kinh doanh phù hợp với tình hình kinh doanh Thứ hai, năng lực quản lý có liên quan đến năng lực kinh doanh, các nhà khởi nghiệp có năng lực hơn sẽ xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế Thứ ba, năng lực của nhà khởi nghiệp cũng là nguồn lực và tài sản quan trọng của doanh nghiệp Bird (1995) đã cho thấy năng lực và hành động của nhà khởi nghiệp có liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh Chandler

Trang 28

và Jansen (1992) đã nghiên cứu 3 vai trò cơ bản: kỹ năng kinh doanh truyền thống; vai trò quản lý và vai trò kỹ thuật chức năng Kết quả của họ tiết lộ rằng tự báo cáo năng lực của các thành viên sáng lập có tương quan với hiệu suất kinh doanh Năng lực kinh doanh của nhà khởi nghiệp được đánh giá cao có liên quan đến giai đoạn kinh doanh và vòng đời của doanh nghiệp Một số nghiên cứu đã xác định các kỹ năng khác nhau, kiến thức và kinh nghiệm làm việc của các doanh nghiệp thành công Ví dụ như: nền tảng cá nhân, kinh nghiệm trong kinh doanh, quá trình sáng tạo, kinh nghiệm sản xuất và tiếp thị, quan hệ với các nhà đầu tư mạo hiểm, v.v (Murray, 1996) Các yếu tố kinh tế xã hội như trình độ học vấn, kinh nghiệm kinh doanh trước đây, truyền thống kinh doanh của gia đình, kinh nghiệm kinh doanh, sự phụ thuộc về tài chính với ngân hàng và các nguồn tài chính không chính thức khi mới bắt đầu kinh doanh Sự yếu kém của các doanh nghiệp nhỏ như: quy hoạch kém, đánh giá tài chính, ủy quyền không hiệu quả, thiếu chuyên môn hoặc thiếu sự hỗ trợ, thiếu liên kết giữa nhân viên quản lý và tiếp thị

Khả năng nhận thức, khả năng xã hội, kỹ năng quản lý và năng lực cá nhân Phẩm chất cá nhân như: tính cách cởi mở, khả năng giải quyết vấn đề, lãnh đạo, tự tin, sáng tạo, đối mặt với rủi ro (Martin và Staines, 1994) Khả năng nhìn thấy cơ hội kinh doanh, hình thành ý tưởng kinh doanh, hình dung được sự thuận lợi từ các

cơ hội kinh doanh, hình thành chiến lược để khai thác cơ hội kinh doanh, phát triển các sản phẩm phù hợp (Mitton, 1989)

Khả năng quản lý, phân chia thời gian cho các công việc khác nhau, giữa các công việc quản lý và truyền thông Nghiên cứu của Man và cộng sự (2002) đã chứng minh năng lực khởi nghiệp cụ thể: cơ hội, mối quan hệ, khả năng phân tích, sáng tạo, vận hành, quản trị nhân lực, chiến lược, cam kết, khả năng học hỏi, thế mạnh cá nhân có tác động trực tiếp và gián tiếp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Một trong những thách thức lớn đối với doanh nghiệp mới là phải đối mặt và có các kỹ năng cần thiết để ứng phó với sự thay đổi (Churchill và Lewis, 1983) Vì

Trang 29

vậy, hiểu những thay đổi khi tăng trưởng là khả năng và kỹ năng quan trọng của doanh nghiệp Mối liên hệ tích cực giữa tri thức của nhà quản lý và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường là lập luận về sự cần thiết để cung cấp các chương trình phát triển quản lý cho các nhà khởi nghiệp Phát triển năng lực quản lý được định nghĩa là quá trình các nhà quản lý tìm hiểu và nâng cao khả năng của mình để lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và phối hợp các nguồn lực trong tổ chức 2.2 Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu

2.2.1 Các nghiên cứu trước đây

2.2.1.1 Nghiên cứu của Ahmad và cộng sự (2010)

Ahmad và cộng sự (2010) nghiên cứu về năng lực khởi nghiệp và khởi nghiệp thành công phụ thuộc vào môi trường kinh doanh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Malaysia Trong nghiên cứu, Ahmad và cộng sự (2010) đã xác nhận rằng năng lực kinh doanh là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ cho thành công kinh doanh Kết quả nghiên cứu của Gibb (2005) cho rằng, trong DNVVN, lợi thế cạnh tranh là đạt được

và duy trì thông qua khả năng của doanh nghiệp, bất chấp những hạn chế liên quan đến công ty quy mô Tương tự, Westerberg và cộng sự (1997) nhấn mạnh sự quan trọng vai trò của các giám đốc điều hành việc mua lại và phát triển kiến thức, kỹ năng và khả năng ảnh hưởng đến sự thành công của một công ty Những phát hiện này, được xem xét cùng với những phát hiện của nghiên cứu hiện tại rằng năng lực của doanh nhân có tác động trực tiếp đáng kể đến thành công kinh doanh cho thấy các doanh nhân nên tham gia phát triển kỹ năng là bước đầu tiên quan trọng đối với thành công kinh doanh

Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, môi trường kinh doanh đã kiểm duyệt đáng kể mối quan hệ giữa năng lực kinh doanh và thành công kinh doanh Kết quả chỉ ra rằng các doanh nhân sở hữu mức độ cao hơn về năng lực đo lường hoạt động tốt hơn so với các doanh nhân có mức độ thấp hơn về năng lực này trong các tình huống mà môi trường được coi là thù địch (trái ngược với Benign) và Năng động (trái ngược với ổn định) Trong khác từ, doanh nghiệp với năng lực kinh doanh mạnh mẽ dường như ở một vị trí tốt hơn so với các đối tác ít có thẩm quyền của

Trang 30

mình để đối mặt với một môi trường kinh doanh đầy biến động và không chắc chắn Một ý nghĩa của phát hiện này là các doanh nghiệp trong các DNNVV có thể có khả năng để giảm thiểu các tiêu cực tác động của một hỗn loạn và thù địch môi trường trên kinh doanh thành công thông qua việc hiển thị các năng lực phù hợp Điều này phù hợp với nghiên cứu của Westerberg và cộng sự (1997) đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của Giám đốc điều hành trong việc xác định khả năng của một công ty

để sống sót trong các tình huống hỗn loạn của Hồi giáo

2.2.1.2 Nghiên cứu của Ibrahaim và Soufani (2002)

Ibrahaim và Soufani (2002) đã đưa ra mô hình Giáo dục và đào tạo doanh nhân tại Canada Trong nghiên cứu, các tác giả cung cấp một mô hình lý thuyết (conceptual model) cho việc giáo dục và đào tạo khởi nghiệp ở Canada Mô hình dựa trên những câu hỏi căn bản như: Thứ nhất, những đức tính và kĩ năng nào gắn với sự thành công của khởi nghiệp? Thứ hai, ta có thể dự đoán những phẩm chất cá nhân của nhà khởi nghiệp thành công? Thứ ba, đào tạo và phát triển việc khởi nghiệp theo hướng tiếp cận nào là phù hợp? Thứ tư, vai trò của các tổ chức là gì trong việc đào tạo và phát triển kĩ năng lãnh đạo?

Theo tác giả McClelland đã đề cập tới 3 phẩm chất của những nhà khởi nghiệp thành công: (1) Sự khao khát giành chiến thắng và sự thỏa mãn từ việc đạt được mục đích mà họ đã đặt ra và ưu tiên (2) Khả năng chấp nhận rủi ro tương đối sau khi cân nhắc các khả năng (3) Nhu cầu nhận được phản hồi như một thước đo cho

sự thành công

Việc đào tạo các nhà khởi nghiệp được biện luận cho là một chiến lược quyết định để giảm tỉ lệ thất bại ở doanh nghiệp khởi nghiệp Các tổ chức nhà nước và ngoài nhà nước đã cống hiến nhiều cho việc đào tạo này Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động của họ vẫn còn hạn chế Hơn nữa việc thiếu một chiến lược đồng bộ và một chính sách hoạt động có thể đe dọa sức mạnh của nền khởi nghiệp Canada trong bối cảnh toàn cầu

Hình 2.3 Mô hình Giáo dục và đào tạo doanh nhân tại Canada

Trang 31

(Nguồn: Ibrahaim và Soufani,2002)

2.2.1.3 Nghiên cứu của José Luis Neri Torres và Warren Watson (2012)

José Luis Neri Torres và Warren Watson (2012) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lực khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp và sự thành công trong khởi nghiệp của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Mexico Các tác giả đã xem xét mối quan hệ giữa

ý định khởi nghiệp và năng lực khởi nghiệp và thành công của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Mexico Kết quả nghiên cứu cho thấy việc hình hành ý định khởi nghiệp có tác động đến nhà khởi nghiệp sẽ có mức năng lực khác nhau, cho dù doanh nghiệp

là hoạt động về điều kiện ổn định hay không, khi kinh doanh đang giảm, tăng trưởng, hoặc khi các doanh nghiệp đang mở rộng; thứ hai là loại nhiệm vụ hoặc vai trò mà người quản trị thực hiện khi ông bước ra khỏi vùng an toàn, quá trình chuyển đổi có thể dẫn đến kết quả tối ưu (White, 2009), đặc biệt là trong công việc liên quan đến sự căng thẳng của việc mở rộng kinh doanh; chúng tôi đặt tên các yếu tố

“mở rộng” Trong trường hợp của các yếu tố thứ ba, ba mặt hàng dường như liên quan đến quá trình kiến thức dựa trên sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, như phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, định vị một sản phẩm, hoặc đạt một mục tiêu thị phần Chúng tôi đặt tên là yếu tố “kiến thức”

Một trong những yếu tố làm tăng năng lực khởi nghiệp là ý định rõ ràng (Baum

và Locke, 2004), đó là một khái niệm mà kèm theo kỹ năng, kiến thức hoặc thái độ (Vander Klink và Boon, 2002) và có liên quan chặt chẽ với nhiệm vụ và vai trò

Trang 32

Nếu mức độ niềm tin của nhà khởi nghiệp về năng lực của mình để thực hiện hoạt động kinh doanh, hoặc thực hiện một ý định kinh doanh thì cần dựa vào kiến thức

và mục tiêu dài hạn, ông sẵn sàng phân bổ nguồn lực mới cho các doanh nghiệp sẽ tăng lên, một mối quan hệ tích cực phù hợp với những phát hiện trên một thước đo chung của năng lực khởi nghiệp Theo nghiên cứu của De Noble và cộng sự (1999), kết quả hoạt động kinh doanh cao sẽ đòi hỏi cao hơn về ý định của chủ sở hữu hoặc người quản lý về mình hoặc khả năng của mình để thực hiện thực hiện hoạt động kinh doanh, trong đó điều quan trọng nằm trong đánh giá quản lý năng lực Tuy nhiên, chủ doanh nghiệp hoặc ý định kinh doanh sẵn sàng phân bổ nguồn lực cho sự phát triển hoặc phát triển của hoạt động động kinh doanh; Hoạt động kinh doanh sẽ đạt hiệu quả cao khi ý định của nhà đầu tư rõ ràng và góp phần tác động đến năng lực khởi nghiệp của học trong việc thực hiện các ý định còn nhiều khó khăn và phức tạp

2.2.1.4 Nghiên cứu của Díaz-Casero và cộng sự (2012)

Díaz-Casero và cộng sự (2012) đã nghiên cứu về các yếu tố thuộc môi trường khởi nghiệp có ảnh hưởng đến năng lực khởi nghiệp, cụ thể gồm: Giáo dục và đào tạo doanh nhân, Chuyển giao nghiên cứu và phát triển, và Các chuẩn mực văn hóa

và xã hội Các yếu tố này được xây dựng thành một mô hình cấu trúc để tiến hành phân tích và đánh giá mức độ tương quan Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thực nghiệm bằng kỹ thuật PLS (Partial Least Squares) với mẫu số liệu gồm

380 chuyên gia Tây Ban Nha

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được vai trò nổi bật của các chuẩn mực văn hóa và

xã hội đối với năng lực khởi nghiệp Ngoài ra, giáo dục và đào tạo doanh nhân có ảnh hưởng trực tiếp không đáng kể đến năng lực khởi nghiệp, nhưng lại có ảnh hưởng gián tiếp đáng kể đến năng lực khởi nghiệp thông qua các chuẩn mực văn hóa và xã hội Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy, yếu tố Chuyển giao nghiên cứu

và phát triển cũng có tác động tích cực đến khả năng khởi nghiệp

Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Díaz-Casero và cộng sự (2012)

Trang 33

(Nguồn: Díaz-Casero và cộng sự, 2012) 2.2.1.5 Nghiên cứu của Vuorio và cộng sự (2018)

Vuorio và cộng sự (2018) đã nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp bền vững Dữ liệu được khảo sát lần thứ nhất tại Liechtenstein và Austria vào tháng 3 năng 2015, lần thứ hai tại Finland vào tháng 4 và 5 năm 2015 Đối tượng khảo sát là sinh viên đại học, là những người có trình độ nhận thức cao Vì theo Levie và Autio (2008, dẫn từ Vuorio và cộng sự, 2018), giáo dục đại học được liên kết với các hoạt động kinh doanh ngày càng tăng, thêm vào đó là trình độ học vấn đóng một vai trò quan trọng đối với các hình thức kinh doanh cụ thể Với kích thước mẫu nghiên cứu là 415, các tác giả sử dụng phương pháp ước lượng OLS để

dự đoán các mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu đã đưa ra mô hình gồm các yếu tố độc lập như lòng vị tha; những lợi ích thu được từ bên ngoài và bên trong quá trình khởi nghiệp; tính bảo mật và năng lực của bản thân người khởi nghiệp tác động đến các yếu tố phụ thuộc gồm thái độ đối với sự bền vững; nhận thức mong muốn khởi nghiệp; nhận thức về khả năng khởi nghiệp, sau cùng tác động đến ý định khởi nghiệp bền vững của người khởi nghiệp

Trang 34

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, nhận thức mong muốn khởi nghiệp có tác động tích cực mạnh nhất đế ý định khởi nghiệp bền vững của các sinh viên Tiếp theo là thái độ đối với sự bền vững có tác động rất tích cực đến ý định khởi nghiệp bền vững Nhận thức mong muốn khởi nghiệp không có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp bền vững

Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Vuorio và cộng sự (2018)

(Nguồn: Vuorio và cộng sự, 2018)

2.2.1.6 Nghiên cứu của Heuer và Kolvereid (2014)

Heuer và Kolvereid (2014) dựa trên nền tảng lý thuyết hành động hợp lý (TRA)

và lý thuyết hành vi dự định (TPB) để đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Các tác giả xem xét mối tương gia giữa: thứ nhất, giáo dục về tinh thần khởi nghiệp ba tiền đề của ý định là thái độ, chuẩn chủ quan, và kiểm soát hành vi nhận thức; thứ hai, các khóa học mở rộng trong kinh doanh có ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp đến thái độ, chuẩn chủ quan, và kiểm soát hành vi nhận thức là mạnh hơn so với hình thức giáo dục khởi nghiệp ngắn hạn; thứ ba, giáo dục về tinh thần khởi nghiệp chỉ liên quan gián tiếp đến ý định khởi nghiệp thông qua ảnh hưởng đến thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức

Trang 35

Dữ liệu nghiên cứu được lấy thành hai mẫu khác nhau vào năm 2007, với sự hợp tác và hỗ trợ từ trung tâm khởi nghiệp tại Pháp và Na Uy Một mẫu tại Pháp và một mẫu tại Na Uy Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa thái độ, nhận thức về kiểm soát hành vi và ý định khởi nghiệp (trong cả hai mẫu) và giữa chuẩn mực chủ quan với ý định khởi nghiệp Tuy nhiên, kết quả tổng quan sau cùng cho thấy không có giả thuyết nghiên cứu nào được ủng hộ mạnh

2.2.1.7 Nghiên cứu của Varamäki và cộng sự (2015)

Varamäki và cộng sự (2015) nghiên cứu về “Sự phát triển của tiềm năng khởi nghiệp giữa các sinh viên có trình độ giáo dục cao”, với mục đích để tìm hiểu về cách phát triển tiềm năng khởi nghiệp trong giới trẻ, những thay đổi trong các cá nhân có ý định khởi nghiệp và các tiền đề của ý định khởi nghiệp được nghiên cứu, cũng như tác động của giáo dục khởi nghiệp đối với những thay đổi

Theo Varamäki và cộng sự (2015), trong xã hội hiện nay, đặc biệt là ở các nước phương Tây, một số lượng lớn các sáng kiến nhằm thúc đẩy các hành động khởi nghiệp đã được đưa ra để đáp ứng các thách thức xã hội khác nhau (như dân số già, bất bình đẳng khu vực, v.v) Cuối cùng, giáo dục là một trong những cách phổ biến hơn thông qua đó phát huy tiềm năng khởi nghiệp Và do đó, một trong những vấn

đề quan trọng là việc điều tra tác động của các sáng kiến khởi nghiệp ở cấp độ cá nhân

Mô hình nghiên cứu của Varamäki và cộng sự (2015) cho trong Hình 2.6 Kết quả nghiên cứu chỉ ra được, giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên người khởi nghiệp, làm cho họ thay đổi thái độ về khởi nghiệp và từ đó làm gia tăng ý định khởi nghiệp Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra giáo dục khởi nghiệp không làm thay đổi trong hành vi kiểm soát của người khởi nghiệp, và cũng không làm thay đổi về chuẩn chủ quan, nhưng việc thay đổi trong hành vi kiểm soát và thay đổi chuẩn chủ quan lại có ảnh hưởng tích cực lên việc thay đổi ý định khởi nghiệp

Trang 36

Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Varamäki và cộng sự, 2015

(Nguồn: Varamäki và cộng sự, 2015) 2.2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết

2.2.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Qua các mô hình nghiên cứu về năng lực cá nhân, sự tác động của năng lực cá nhân đến khởi nghiệp, tinh thần doanh nhân và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước ở trên; nghiên cứu đưa ra mô hình cho trong Hình 2.7

Trang 37

Hình 2.7 Mô hình các yếu tố tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Personality Yếu Tố Cá Nhân EP

Attitude / Thái Độ EPA

Skills / Kỹ Năng EPS

Knowledge / Kiến Thức EPK

Education / Giáo Dục EE

Attitude / Thái Độ EPA

Knowledge / Kiến Thức EPK

Environment / Môi Trường EV

Skills / Kỹ Năng EUS

Knowledge / Kiến Thức EUK

Competency/

Khả năng khởi nghiệp EC

ECA Attitude / Thái Độ

ECK Knowledge / Kiến Thức

Performance / Hiệu quả khởi nghiệp EF

Attitude / Thái độ khởi nghiệp EA

Softskill / Kỹ năng mềm/

Human Resources /EFH

Vận hành/

Operation/

EFO

Softskill / Kỹ năng mềm/

EPSS

Hard skill / Kỹ năng cứng / EPSH

(Nguồn: Tác giả nghiên cứu đề xuất, 2019)

Trang 38

2.2.2.2 Giả thuyết nghiên cứu

Dựa vào các mô hình lý thuyết mà tác giả đã trình bày, cùng với một số bài nghiên cứu cùng lĩnh vực, mô hình được tác giả đề xuất nghiên cứu về các yếu tố tác động đến sự thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh gồm 6 giả thuyết Cụ thể:

H1: Yếu tố cá nhân của người khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên sự hiểu biết về khởi nghiệp của họ

H2: Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên sự hiểu biết về khởi nghiệp của người khởi nghiệp

H3: Môi trường khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên sự hiểu biết về khởi nghiệp của người khởi nghiệp

H4: Yếu tố cá nhân của người khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên khả năng khởi nghiệp của họ

H5: Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên khả năng khởi nghiệp của người khởi nghiệp

H6: Môi trường khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên khả năng khởi nghiệp của người khởi nghiệp

H7: Sự hiểu biết về khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên khả năng khởi nghiệp của người khởi nghiệp

H8: Sự hiểu biết về khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên hiệu quả khởi nghiệp của người khởi nghiệp

H9: Khả năng khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên hiệu quả khởi nghiệp của người khởi nghiệp

2.3 Tóm tắt chương 2

Như vậy, trong chương 2, nghiên cứu đã trình bày được phần lý thuyết nền, cùng với các nghiên cứu trước có liên quan Để từ đó làm cơ sở cho tác giả đề xuất

Trang 39

mô hình nghiên cứu và thang đo lường cho các khái niệm trong mô hình nghiên cứu Tiếp theo trong chương 3, nghiên cứu sẽ thực hiện các khảo sát định tính nhằm làm rõ bảng thang đo trước khi tiến hành khảo sát định lượng

Trang 40

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu định tính và định lượng, cụ thể là xây dựng và hiệu chỉnh thang đo định lượng thông qua phỏng vấn định tính, xây dựng bảng câu hỏi, xác định kích thước mẫu, phương pháp chọn mẫu và phỏng vấn đối tượng, đồng thời chương này cũng trình bày cách thức xử lý số liệu để phục vụ cho nghiên cứu

3.1 Quy trình nghiên cứu:

Quy trình nghiên cứu được thể hiện chi tiết ở hình 3.1 Quy trình được mở đầu bằng việc đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, từ đó lựa chọn cơ sở lý thuyết phù hợp để đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển thang đo sơ bộ Tiếp đó, sử dụng hai phương pháp chính là nghiên cứu định tính để điều chỉnh thang đo và nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo, giả thuyết và thảo luận kết quả Quy trình được kết thúc bằng việc báo cáo nghiên cứu, bao gồm kết luận, trình bày hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu phát triển

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w