1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại việt nam

99 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam
Tác giả Đỗ Thị Hoài
Người hướng dẫn TS. Trần Huỳnh Thanh Nghị
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu bao gồm cả Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ và tạp chí, những công trình này là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý giá, mang lại nhiều giá trị tham khảo về m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

ĐỖ THỊ HOÀI

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, năm 2019

Tai Lieu Chat Luong

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

ĐỖ THỊ HOÀI

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số chuyên ngành: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

TS Trần Huỳnh Thanh Nghị

TP Hồ Chí Minh, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “ Thực trạng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong Luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong Luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 10 năm 2019

Tác giả

Đỗ Thị Hoài

Trang 4

Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô của Khoa đào tạo Sau Đại học – Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi và các anh, chị học viên của Khoa lĩnh hội được những kiến thức quý báu trong quá trình học tập, có cơ hội được tiếp thu những kiến thức chuyên môn cũng như thực tế của những giảng viên giàu kinh nghiệm và tận tâm

Tuy nhiên, trong Luận văn này do kiến thức còn hạn hẹp, kinh nghiệm cũng như chưa kịp lĩnh hội được hết những gì thầy cô truyền đạt, nên kết quả nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những nhận xét quý báu của các Thầy, Cô để Luận văn được hoàn thiện hơn

Cuối cùng tôi xin kính chúc Quý Thầy, Cô sức khỏe và thành công trong sự nghiệp trồng người!

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Luận văn nghiên cứu về thủ tục đăng ký doanh nghiệp dựa trên quy định pháp luật

về đăng ký doanh nghiệp tại Luật Doanh nghiệp 2014 Để đăng ký doanh nghiệp, nhà đầu tư phải chuẩn bị một bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, bao gồm Giấy đề nghị đăng

ký doanh nghiệp theo mẫu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, điều lệ công ty Khi hồ sơ đăng

ký doanh nghiệp nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh hợp lệ thì trong thời gian 3 ngày làm việc, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho nhà đầu tư

Luật Doanh nghiệp 2014 đã bóc tách thủ tục đăng ký đầu tư và thủ tục đăng ký doanh nghiệp thành hai thủ tục độc lập, nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không bao gồm thông tin về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Việc đăng ký doanh nghiệp được thực hiện qua mạng điện tử cũng góp phần nâng cao chất lượng và

số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong thủ tục đăng ký doanh nghiệp, các văn bản pháp luật còn chồng chéo, khó áp dụng, ngành nghề kinh doannh có điều kiện và điều kiện kinh doanh vẫn còn nhiều, là một trở lực lớn cho quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư

Luận văn nêu lên một số kiến nghị lập pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vềđăng ký

doanh nghiệp, sửa đổi, khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các văn bản luật với nhau,

nâng cao năng lực của cán bộ phòng đăng ký doanh nghiệp về cả chuyên môn, nghiệp

vụ lẫn đạo đức hành nghề

Trang 6

THESIS SUMMARY

The Thesis studying about the procedures of business registration on the basis of legal regulation of Business Registration at Law on Enterprises 2014 In order to register enterprise, the investor has to prepare a set of files of Business Registration, including Business RegistrationProposal Letter in the format of Ministry of Planning and Investment, company rules When the files of Business Registration have been legally submitted to Business RegistrationOrganization, within 3 working days, Business RegistrationOrganization willgrant certificate of business establishment registration to the investor

Law on Enterprises 2014 dissected the procedure of investment registration and procedures of business registrationinto two individually procedures, the content ofcertificate of business establishment registrationdoes not include information of business sector of enterprises The Business Registration being completed via internet also contributes to enhance the quality and the amount of enterprises participating market However, there are still many difficulties in the procedures of business registration, the legal documents still overlap, hard to apply, conditional business sector and have many conditions of business, which is a gradual disadvantage for business freedom rights of the investor

The thesis shows some legislative suggestions in order to completeLaw on

Enterprises, amend, overcome incident of overlapping between the legal documents and

enhance capacity of officers in the department of Business Registration both on knowledge, skills and professional ethics

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Câu hỏi nghiên cứu 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5.1 Đối tượng nghiên cứu 4

5.2 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

7.1 Ý nghĩa khoa học 5

7.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

8 Kết cấu của Luận văn 6

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 7

1.1 Khái quát chung về đăng ký doanh nghiệp 7

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đăng ký doanh nghiệp 7

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đăng ký doanh nghiệp 10

1.2 Quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam 12

1.2.1 Điều kiện đăng ký doanh nghiệp 12

1.2.2 Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp 22

Trang 8

1.2.3 Quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp 29

1.3 Quy định về đăng ký doanh nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới 31

1.3.1 Quy định về đăng ký doanh nghiệp tại Singapore 33

1.3.2 Quy định về thành lập doanh nghiệp tại Vương quốc Anh 36

1.3.3 Quy định về đăng ký doanh nghiệp tại Australia 42

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 50

2.1 Tổng quan về tình hình đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam 50

2.2 Đánh giá chung các quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam 53 2.2.1 Những thành công 53

2.2.2 Những vướng mắc, bất cập 57

2.2.3 Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập 66

2.3 Hoàn thiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam 69

2.3.1 Phương hướng hoàn thiện 69

2.3.2 Các giải pháp hoàn thiện 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80

KẾT LUẬN 81

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ACN : Mã số công ty tại Úc

ASIC : Australia Securities and Investments Commission Công ty TNHH : Công ty Trách nhiệm hữu hạn

CQĐKKD : Cơ quan đăng ký kinh doanh

CTCP : Công ty Cổ phần

CTHD : Công ty Hợp danh

ĐKDN : Đăng ký doanh nghiệp

ĐKKD : Đăng ký kinh doanh

GCNĐKDN : Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Năm 2014 là năm đánh dấu hàng loạt các thay đổi trong hoạt động ban hành văn bản luật trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (Luật Doanh nghiệp 2014) đã mở ra một bước ngoặt mới về thể chế quản

lý doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp 2014 đã bổ sung nhiều điểm mới, với mục tiêu mang đến một môi trường pháp lý hoàn thiện và hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư, tạo thuận hơn cho hoạt động thành lập doanh nghiệp Đây được xem là một đột phá lớn nhằm thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp và phù hợp với thông lệ quốc tế

Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2014 với nhiều cải cách đáng kể, góp phần quan trọng vào sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, sau hơn 3 năm thực thi, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, mâu thuẫn, chưa có sự thống nhất, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện, cơ quan đăng ký kinh doanh (CQĐKKD) còn gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý Cụ thể các quy định về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập, điều kiện kinh doanh và ngành nghề kinh doanh

có điều kiện vẫn còn quá lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh và việc gia nhập thị trường của nhà đầu tư Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu về lý luận lẫn thực tiễn để tìm ra các giải pháp thúc đẩy hoạt động ĐKDN diễn ra mạnh mẽ và thuận lợi hơn trong thời gian tới tại Việt Nam, là yêu cầu cần thiết và cấp bách

Xuất phát từ thực trạng trên, Tác giả quyết định lựa chọn đề tài: Thực trạng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam để làm Luận văn tốt nghiệp cho mình

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến vấn đề ĐKDN Các công trình nghiên cứu bao gồm cả Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ

và tạp chí, những công trình này là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý giá, mang lại nhiều giá trị tham khảo về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong đó có thể kể đến như:

Luận án về Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách cải cách thủ

tục hành chính ở Việt Nam của tác giả Trần Huỳnh Thanh Nghị năm 2014 tại Đại học

Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh - đây là đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên về mối quan hệ giữa pháp luật doanh nghiệp với cải cách thủ tục hành chính, Luận án cung cấp một dung lượng đáng kể thông tin có giá trị về cơ sở lý luận của quy định pháp luật doanh nghiệp về cải cách thủ tục hành chính

Luận án Tiến sĩ Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay của tác giả

Nguyễn Thị Thu Thủy năm 2016 tại Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Học viện khoa học xã hội – Luận án chủ yếu nghiên cứu về vấn đề đăng ký kinh doanh ở Việt Nam về cơ sở lý luận và thực tiễn sau đó đánh giá những thành công và hạn chế

Luận văn Thạc sĩ về Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

của tác giả Nguyễn Thị Nga năm 2016 tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội – Luận văn chủ yếu phân tích về các thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, tác giả đã nghiên cứu một số điểm mới và một số hạn chế, đưa ra một số phương án về thành lập doanh nghiệp

Luận văn Thạc sĩ về Thực trạng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Đồng Tháp

của tác giả Trần Biên Cương năm 2018 tại Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh – Luận văn nghiên cứu về lý luận và thực trạng về ĐKDN tại tỉnh Đồng Tháp, sau đó đưa ra một

số giải pháp để hoàn thiện pháp luật

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 04 (236), 02/2013 về: Thực trạng pháp luật về

giấy phép kinh doanh của tác giả Trần Huỳnh Thanh Nghị

Trang 12

3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu đề tài Thực trạng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam là nhằm hướng đến mục tiêu:

Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về ĐKDN và quy định pháp luật hiện hành

về ĐKDN tại Việt Nam, bên cạnh đó cũng phân tích các quy định pháp luật về ĐKDN ở một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và học hỏi những quy định tiến bộ, mang lại hiệu quả cao trong ĐKDN

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về ĐKDN, chỉ ra những vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật hiện hành về ĐKDN

Thứ ba, từ những vướng mắc, bất cập tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về ĐKDN, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam trong thời gian tới

4 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của Luận văn, đạt được mục đích nghiên cứu và chứng minh cho các giả thuyết nghiên cứu Một số câu hỏi

nghiên cứu cơ bản được đặt ra trong quá trình nghiên cứu như sau:

Quy định của pháp luật về ĐKDN ở Việt Nam hiện nay như thế nào? So với pháp luật ĐKDN của các quốc gia khác thì pháp luật về ĐKDN tại Việt Nam có những điểm

Trang 13

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu đề tài Thực trạng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Việt

Nam có đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật ĐKDN về thủ tục thành lập, cách

thức ĐKDN gắn liền với quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư và việc quản lý ĐKDN hiện nay Việc phân tích, đánh giá thành công và những vướng mắc, bất cập của thủ tục thành lập, cách thức ĐKDN được Luận văn nghiên cứu ở các quy định tại Luật DN 2014

và các văn bản thi hành Luật Doanh Nghiệp 2014

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu pháp luật về ĐKDN về thủ tục thành lập, cách thức ĐKDN gắn liền với quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư và việc quản lý ĐKDN được áp dụng đối với doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2014 trên phạm vi

lãnh thổ Việt Nam

Về nội dung, Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về ĐKDN tại Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản dưới luật thi hành Luật Doanh nghiệp 2014, thực trạng áp dụng các quy định pháp luật doanh nghiệp về ĐKDN trên lãnh thổ Việt Nam với cột mốc thời gian từ năm 2018 đến tháng 7/2019

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn, tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, phù hợp với từng nội dung nghiên cứu như sau:

Chương 1: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích đánh giá, tổng hợp để phân tích những vấn đề lý luận và đánh giá pháp luật để rút ra nhựng hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về ĐKDN Bên cạnh đó phương pháp so sánh được sử dụng trong phần pháp luật của nước Singapore, Vương quốc Anh và nước Australia và Việt Nam, nhằm

Trang 14

mục đích là làm sáng tỏ pháp luật 3 nước này có những gì khác biệt và tiến bộ hơn Từ

đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương 2: Tác giả sử dụng phương pháp thống kê nhằm thống kê thực trạng hiện nay tại Việt Nam từ đó mà có các phương hướng hoàn thiện phù hợp Kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp để chỉ ra thực trạng thực hiện pháp luật trong hoạt động ĐKDN hiện nay Trong đó bao gồm những thành công đã đạt được và đặc biệt là những hạn chế, bất cập và những nguyên nhân tồn tại trong quá trình thực hiện đăng ký kinh doanh từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoạn thiện pháp luật về ĐKDN

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học

Sau khi hoàn thành Luận văn đóng góp về phương diện lý luận cho việc nghiên cứu pháp luật, góp phần làm rõ vai trò, ý nghĩa của việc ĐKDN, tình trạng ĐKDN tại Việt Nam hiện nay tác động như thế nào đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ cung cấp những nội dung, thông tin tin cậy,

có giá trị về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn có thể góp phần là một tài liệu tham khảo cho quá trình học tập, giảng dạy hoặc nghiên cứu về ĐKDN Luận văn rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về ĐKDN, bên cạnh đó Luận văn cũng phân tích thực trạng về ĐKDN hiện nay ở Việt Nam, từ đó đưa ra những vướng mắc, bất cập

và nguyên nhân dẫn đến vướng mắc, bất cập đó, sau đó là kiến nghị những phương hướng giải quyết và những giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những tồn tại trong quy định pháp luật về ĐKDN tại Việt Nam

Trang 15

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 02 Chương:

Chương 1: Lý luận chung về đăng ký doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và một số giải pháp hoàn thiện

Trang 16

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát chung về đăng ký doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đăng ký doanh nghiệp

Trong điều kiện kinh tế thị trường, để khởi nghiệp hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp thì nhà đầu tư phải đáp ứng nhiều điều kiện khác nhau do nhà nước đặt ra Trong đó, điều kiện đầu tiên mà nhà đầu tư phải làm là hoàn thành thủ tục ĐKDN, việc này nhằm mục đích để các cơ quan nhà nước biết và ghi nhận sự ra đời của chủ thể kinh doanh, hơn hết là quản lý các thông tin liên quan đến doanh nghiệp Ngoài ra, các chủ thể khác cũng sẽ biết đến sự tồn tại cùng với các thông tin của doanh nghiệp trên thị trường kinh doanh

Về bản chất pháp lý, có thể hiểu rằng doanh nghiệp chính là tổ chức có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch Được đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật với mục đích là kinh doanh Và bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều phải làm thủ tục

thành lập theo luật định trước khi bắt đầu hoạt động kinh doanh “ĐKDN là việc nhà đầu

tư đăng ký xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp, xác lập tính hợp pháp của các hoạt động kinh doanh dưới sự bảo hộ của nhà nước.” “Đăng ký được hiểu là hoạt động của một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức cá nhân nào đó được ủy quyền thực hiện việc ghi nhận, xác nhận về một sự việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa

vụ của người được đăng ký cũng như tổ chức, cá nhân đứng ra thực hiện việc đăng ký Còn ĐKDN là một thủ tục bắt buộc nhằm mục đích xác lập tư cách pháp lý của chủ thể tham gia kinh doanh” 1

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015

của Chính phủ về ĐKDN thì “ĐKDN là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký

thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc

1 Xem: Kế toán Sài Gòn: Thành lập doanh nghiệp là gì?, đăng tại địa chỉ: doanh-nghiep-la-gi-164-22.html

Trang 17

https://ketoansaigon.com.vn/thanh-lap-dự kiến thay đổi trong thông tin về ĐKDN với cơ quan đăng ký kinh doanh (CQĐKKD)

và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN ĐKDN bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp , đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định 78/2015/NĐ-CP.”

ĐKDN có những đặc điểm cơ bản sau :

Thứ nhất, ĐKDN là hoạt động gia nhập thị trường của nhà đầu tư

Có thể nói gia nhập thị trường là việc tham gia vào thị trường của một hay nhiều doanh nghiệp mới, việc này đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng cung cấp các sản phẩm cho thị trường, ngoại trừ lợi nhuận siêu ngạch Nhưng trên thực tế thì

sự gia nhập mới của doanh nghiệp cũng có thể diễn ra dưới hình thức như thôn tính hay sáp nhập2 Như vậy, khi nhà đầu tư thực hiện ĐKDN có nghĩa là thị trường kinh doanh

sẽ xuất hiện một doanh nghiệp mới, góp phần cung cấp ra thị trường các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó đã đăng ký

Thứ hai, ĐKDN là một thủ tục hành chính

“Thủ tục hành chính là tổng thể các quy phạm bắt buộc phải tuân theo khi tiến hành thành lập, thay đổi, giải thể, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phạm vi hoạt động của các tổ chức, khi ban hành các văn bản hành chính, khi thực hiện các hành

vi hành chính; khi các công dân, các tổ chức quần chúng xã hội tiến hành những công việc đòi hỏi có sự chứng kiến, chứng nhận, giúp đỡ, can thiệp của các cơ quan và cán bộ, nhân viên nhà nước.” 3 ĐKDN cũng giống như vậy, đây là một thủ tục hành chính

bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức phải thực hiện nếu các chủ thể đó muốn ĐKDN hay

2 Xem: Thanh Hằng (VietNam Finance): Gia nhập thị trường là gì? Rào cản gia nhập thị trường là gì?, đăng tại

địa chỉ:

https://vietnamfinance.vn/gia-nhap-thi-truong-la-gi-rao-can-gia-nhap-thi-truong-la-gi-20180504224208502.htm, 24/06/2018

3 Xem: Thư viện Pháp luật: Thủ tục hành chính là gì?, đăng tại địa chỉ: van-phap-luat/linh-vuc-khac/thu-tuc-hanh-chinh-la-gi-122918

Trang 18

https://nganhangphapluat.thukyluat.vn/tu-đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN và các nghĩa vụ https://nganhangphapluat.thukyluat.vn/tu-đăng ký, thông báo khác theo quy định của pháp luật doanh nghiệp

Thứ ba, ĐKDN là dịch vụ công do nhà nước thực hiện

“Dịch vụ công được hiểu là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, toà

án cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng” 4 Có thể nói rằng

hoạt động ĐKDN chính là hoạt động công, bởi lẽ hiện nay gần như tất cả các dịch vụ công ở Việt Nam đều do Nhà nước cung ứng Nó được xem như là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước đối với xã hội Có thể nói, ĐKDN là dịch vụ công chủ yếu do Nhà nước cung ứng, xuất phát từ những lý do sau: trước hết, về mặt kinh tế thì việc cung ứng dịch vụ công không mang lại nhiều lợi ích Cũng chính vì vậy mà rất

ít doanh nghiệp dân doanh tự bỏ vốn ra để đầu tư, lý do là vì hoạt động kinh doanh của

họ trên thị trường hầu hết đều có mục đích sinh lời, tìm kiếm lợi nhuận Hơn hết, hoạt động này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau Chính vì vậy mà thường xảy ra

sự bất cập giữa đại diện là nhà nước - là nơi cung ứng về dịch vụ công và người dân

trong xã hội - là cầu về dịch vụ công

Thứ tư, ĐKDN nhằm công bố thông tin trong xã hội

Việc ĐKDN có nội dung chính bao gồm việc ĐKDN, đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN và các nghĩa vụ đăng ký khác hay các thông báo theo quy định của pháp luật Khi mà một pháp nhân được thành lập hợp pháp và để muốn kinh doanh có hiệu quả thì phải doanh nghiệp đó phải được khách hàng biết đến với số lượng lớn Do đó, nếu mà chỉ có các cơ quan nhà nước biết đến sự tồn tại của doanh nghiệp thì chưa đủ mà phải

4 Xem: Nguyễn Lê Hà Phương (Tri thức công cộng): Dịch vụ công là gì? Quản lý nhà nước về dịch vụ công hiện nay, đăng tại địa chỉ: https://trithuccongdong.net/dich-vu-cong-la-gi-quan-ly-nha-nuoc-ve-dich-vu-cong-hien- nay.html, ngày 20/4/2018

Trang 19

công bố thông tin về doanh nghiệp cho tất cả mọi người cùng biết, phải quảng bá để ai cũng có thể biết đến sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường, việc này giúp cho doanh nghiệp hoạt động đưuọc tốt hơn trên thị trường kinh doanh Các mục tiêu trên có thể được đáp ứng thông qua hoạt động ĐKDN

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đăng ký doanh nghiệp

Hiện nay, xã hội càng ngày càng phát triển và hiện đại hơn chính vì vậy mà hầu như những cá nhân, tổ chức chọn con đường kinh doanh để khởi nghiệp bằng việc ĐKDN Việc kinh doanh sẽ mang lại rất nhiều lợi nhuận nếu như nhà đầu tư chọn đúng lĩnh vực, đi đúng hướng và có năng lực kinh doanh Đây chính là con đường ngắn nhất

để đi đến sự giàu có và thành công ĐKDN là hoạt động mang lại rất nhiều ý nghĩa cho nhà đầu tư nói riêng và xã hội nói chung

Đối với chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp: Việc ĐKDN của nhà đầu tư khi

được chấp nhận và cơ quan nhà nước đồng ý cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN) thì rõ ràng về mặt pháp lý doanh nghiệp đó đã được nhà nước công nhận

sự tồn tại và đương nhiên có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường như đã đăng ký dưới sự bảo hộ của nhà nước Ngoài ra, thông qua hoạt động ĐKDN, doanh nghiệp được thừa nhận tư cách pháp lý và có quyền hoạt động kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Điều 33 Hiến pháp năm

2013 và Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014 Mặt khác, việc ĐKDN còn có thể bảo vệ thương hiệu của doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp đó có đăng ký thương hiệu của mình, nhận được niềm tin của người tiêu dùng, giúp doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh, gia tăng quy mô hoạt động của mình

Đối với nền kinh tế và cơ quan quản lý nhà nước: Việc ĐKDN có nghĩa là hoạt

động kinh doanh đã được nhà nước bảo hộ, đồng thời khi ĐKDN cơ quan nhà nước sẽ

dễ dàng quản lý được thông tin và các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hơn và giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước quản lý và kiểm soát hoạt động kinh doanh của

Trang 20

các thành phần kinh tế trong nền kinh tế Hơn hết hoạt động ĐKDN và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giúp cho cơ quan quản lý nhà nước biết được những xu hướng mới của thị trường, việc áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tế từ đó mà cũng

dễ dàng và thuận lợi hơn Chính từ đây mà có thể rút ra làm căn cứ có thể hoạch định các chủ chương, chính sách và các biện pháp nhằm khuyến kích hoặc hạn chế để phù hợp hơn và kịp thời đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường

Đối với đời sống xã hội: khi ĐKDN doanh nghiệp công khai được các hoạt động

kinh doanh cho mọi người được biết đến, thu hút được khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp, dần dần tạo được niềm tin cho khách hàng và đối tác, thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển Và khi doanh nghiệp phát triển lớn mạnh thì không những đời sống kinh tế mà cả đời sống xã hội của Việt Nam cũng sẽ phát triển mạnh mẽ hơn Thông qua ĐKDN, chủ thể kinh doanh được quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp

và hoàn tất thủ tục ĐKDN tại cơ quan đăng ký kinh doanh thì tư cách pháp lý của doanh nghiệp trong xã hội cũng được xác lập từ khi được cấp GCNĐKDN Không những vậy ĐKDN còn là công cụ để cá nhân và tổ chức thực hiện quyền tự do kinh doanh Đây quyền năng Hiến định gắn với nghĩa vụ ĐKDN của chủ thể kinh doanh quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định 78/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/9/2015 về ĐKDN, theo đó thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ Như vậy, ĐKDN là một hoạt động có vai trò

và ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp bên cạnh đó sẽ đảm bảo được trật tự quản lý nhà nước, bảo đảm về quyền lợi cho các chủ thể khác khi tham gia vào hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế

Trang 21

1.2 Quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam

1.2.1 Điều kiện đăng ký doanh nghiệp

1.2.1.1 Điều kiện về chủ thể thành lập

Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 thì các tổ chức và cá nhân được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy

định của Luật doanh nghiệp năm 2014 Cụ thể: người thành lập doanh nghiệp là tổ chức,

cá nhân thành lập hoặc góp vốn để thành lập doanh nghiệp 5 Nghĩa là, cá nhân, tổ chức

đều có quyền tự bỏ vốn thành lập doanh nghiệp hoặc là góp vốn chung với cá nhân, tổ chức khác để thành lập doanh nghiệp Nhà nước cho phép, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cá nhân, tổ chức được lựa chọn cách thức để thành lập doanh nghiệp, đảm bảo quyền

tự do kinh doanh Song, không phải cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền thành lập doanh nghiệp Ngược lại, nếu cá nhân, tổ chức thuộc vào một trong những trường hợp sau thì

họ không được thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam:

Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình

Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ,8 công chức, viên chức

Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp

5 Khoản 19 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 22

Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác

Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự, tổ chức không có tư cách pháp nhân

Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định

xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng

Như vậy, có thể thấy rằng ngoại trừ 6 đối tượng trên thì tất cả các chủ thể khác đều

có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp Ngoài quyền thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư còn có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần (CTCP), công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH), công ty hợp danh (CTHD).6Việc góp vốn theo quy định tại Khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 được hiểu là

“việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn để

thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập” Có thể hiểu rằng việc góp vốn của cá nhân, tổ chức ở đây là việc họ góp thêm tiền,

tài sản để ĐKDN mới hoặc là góp phần vào vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập từ trước đó với mục đích đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận cho mình Tuy nhiên, việc góp vốn vào CTCP, công ty TNHH, CTHD bị hạn chế trong hai trường hợp:

Một là, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp

vốn vào doanh nghiệp, để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

6 Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 23

Hai là, các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của

pháp luật về cán bộ, công chức

Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo rằng các cá nhân, tổ chức là cơ quan nhà nước, cán bộ công chức không được sử dụng tài sản công, lạm dụng quyền hạn, chức vụ nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, thu lợi riêng cho cơ quan và cá nhân mình

1.2.1.2 Điều kiện về ngành nghề kinh doanh

Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014 thì “doanh

nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm, có quyền tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh, chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh” Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 5 Luật Đầu tư 2014 (sửa đổi, bổ sung năm

2016) cũng quy định theo hướng thông thoáng cho nhà đầu tư trong việc gia nhập thị trường, nhà đầu tư sẽ có quyền hoạt động đầu tư và kinh doanh các ngành, nghề mà Luật Đầu tư 2014 không cấm Tổ chức, cá nhân có quyền quyết định lựa chọn ngành nghề kinh doanh còn Nhà nước giữ quyền kiểm soát sự lựa chọn đó thông qua các quy định thủ tục hành chính cần thực hiện khi gia nhập thị trường.7 Như vậy, doanh nghiệp có quyền tự do ĐKDN và tự do kinh doanh nếu không thuộc ngành, nghề bị cấm đầu tư, kinh doanh và không thuộc ngành, nghề kinh doanh có điều kiện Hiện nay, theo quy định tại Luật Đầu tư năm 2014 (sửa đổi bổ sung 2016) thì có 7 ngành nghề bị cấm đầu

tư, kinh doanh tại Việt Nam, bao gồm: “Kinh doanh các chất ma túy theo quy định tại

Phụ lục 1 của Luật Đầu tư 2014; Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục của Luật Đầu tư 2014; Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang

dã theo quy định tại Phụ lục 1 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm

7 Xem: TS.GVC Nguyễn Thị Dung (Trường Đại học Luật Hà Nội): Thực thi quy định về ngành nghề cấm kinh

doanh và ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo luật đầu tư năm 2014, đăng tại địa chỉ http://plkt.hlu.edu.vn/SubNews/Details/16842, 16/01/2018

Trang 24

Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 của Luật của Luật Đầu tư 2014; Kinh doanh mại dâm; Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người; Kinh doanh pháo nổ.” 8

Ngoại trừ 7 ngành nghề bị cấm đầu tư, kinh doanh trên thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh các ngành nghề còn lại Bên cạnh đó, theo quy định tại Luật Đầu tư 2014/2016 thì ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện bao gồm 243 ngành nghề được quy định tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư 2014 (sửa đổi, bổ sung 2016) Đây là những ngành nghề mà khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh thuộc một trong các ngành nghề này thì phải đáp ứng một số điều kiện nhất định vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn, đạo đức xã hội và sức khỏe của cộng đồng

Ngành nghề kinh doanh có điều kiện có một số đặc điểm sau :

Thứ nhất, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh chỉ được

quy định tại Luật, Pháp lệnh, Nghị định chuyên ngành và Điều ước Quốc tế mà Việt nam

là thành viên Các quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh tại các văn bản quy phạm pháp luật khác đều không có hiệu lực thi hành

Thứ hai, các điều kiện đầu tư, kinh doanh khi đặt ra đều phải bảo đảm sự công khai,

minh bạch cho nhà đầu tư Như vậy, các cá nhân, tổ chức có quyền tiếp cận thông tin, được biết về các thông tin do cơ quan quản lý nhà nước nắm giữ, quy định Việc không giữ kín, mà để cho mọi người đều có thể biết về điều kiện đầu tư, kinh doanh một cách

rõ ràng, rành mạch là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Có nghĩa là mọi quy định

về các điều kiện đầu tư, kinh doanh khi đặt phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân có thể tiếp cận được các quyết định của nhà nước một cách dễ dàng Mà cụ thể ở đây chính là Cổng thông tin quốc gia về ĐKDN Những thông tin này phải cụ thể không gây khó khăn cho công dân

8 Điều 1 Quy định về việc sửa đổi, bổ sung điểm g vào Khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư 2014

Trang 25

trong tiếp cận thông tin Việc công khai thông tin ở đây vừa là nhiệm vụ, vừa là hoạt động cụ thể của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và phải đảm bảo rằng người dân biết rõ, hiểu đúng bản chất nội dung đã được công khai Công khai, minh bạch trong các điều kiện đầu tư, kinh doanh khi đặt ra gắn quyền của nhà đầu tư trong việc tiếp cận những

thông tin, tài liệu chính thức của các cơ quan nhà nước

Thứ ba, nội dung cụ thể của các điều kiện kinh doanh được quy định tại pháp luật

chuyên ngành, Luật Doanh nghiệp 2014 thực chất chỉ là luật khung điều chỉnh của việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, không quy định các điều kiện kinh doanh cụ thể trong từng lĩnh vực của nền kinh tế Thực chất, Luật Doanh nghiệp 2014 có nhiều điều khoản chỉ dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc hoặc chung nhất, chưa đạt đến một sự điều chỉnh cụ thể, rõ ràng

và đầy đủ đến mức cần thiết, do vậy mà các điều kiện kinh doanh cụ thể trong từng kĩnh vực kinh tế sẽ có các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật

Thứ tư, các điều kiện kinh doanh tồn tại đa dạng dưới các hình thức khác nhau như:

Giấy phép; Giấy chứng nhận đủ điều kiện; Chứng chỉ hành nghề; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; Văn bản xác nhận; Các hình thức văn bản khác theo quy định của pháp luật không thuộc 5 trường hợp trên Các điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng, để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản quy định trong 6 trường hợp trên

Thứ năm, doanh nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có

điều kiện kể từ khi có đủ điều kiện luật định và phải bảo đảm đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó trong suốt quá trình tồn tại, hoạt động.9 Các cá nhân, tổ chức khi ĐKDN được quyền tự mình kê khai các ngành nghề kinh doanh có điều kiện và phải tự chịu trách

9 Xem: TS.Trần Huỳnh Thanh Nghị (2019) Giáo trình Luật Doanh Nghiệp, NXB Lao Động, trang 169

Trang 26

nhiệm về những kê khai đó Do đó, khi có đủ điều kiện luật định và được phép kinh doanh thì doanh nghiệp phải bảo đảm đáp ứng các điều kiện kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động Bởi lẽ nếu như doanh nghiệp không đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh theo ngành nghề đã đăng ký trong quá trình kinh doanh thì cơ quan đăng ký kinh doanh

có thể ra thông báo yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ngành nghề kinh doanh

có điều kiện mà doanh nghiệp đã đăng ký trước đó

1.2.1.3 Điều kiện về tên gọi và trụ sở của doanh nghiệp

Để thành lập một doanh nghiệp mới thì trước đó nhà đầu tư sẽ phải mất một thời gian, công sức để chọn tên đặt tên cho doanh nghiệp theo đúng quy định Luật Doanh nghiệp năm 2014 và có nơi đặt trụ sở có địa chỉ xác định cụ thể theo quy định Tên doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng, đây chính là điểm để dễ dàng phân biệt các doanh nghiệp với nhau Hơn hết, tên doanh nghiệp chứa đựng các giá trị cốt lõi mà nhà đầu tư muốn tạo dựng và thể hiện mục tiêu của doanh nghiệp Trụ sở của doanh nghiệp chính là nơi thực hiện các giao dịch giữa doanh nghiệp với các đối tác của doanh nghiệp cũng như phân định thẩm quyền quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

Hiện nay, có rất nhiều nước trên thế giới quy định về việc đặt tên cho doanh nghiệp

và coi đây là một phần quan trọng không thể thiếu trong pháp luật của họ Không thể phủ nhận rằng tên của một doanh nghiệp có sức ảnh hưởng rất lớn đến khách hàng, nếu như doanh nghiệp có một cái tên ý nghĩa, thể hiện được tầm nhìn, sứ mệnh của mình thì chắc chắn sẽ tạo được ấn tượng tốt đối với khách hàng và khẳng định được vị thế trên thương trường Pháp luật Việt Nam quy định rằng việc đặt tên cho doanh nghiệp bắt buộc phải đúng theo quy định pháp luật, khi đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật đưa

ra thì doanh nghiệp sẽ được cấp GCNĐKDN Việc đặt tên cho doanh nghiệp phải đảm bảo 2 quy tắc sau:

Một là, theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Luật Doanh nghiệp 2014 và khoản 1

Điều 18 NĐ 78/2015/NĐ-CP thì bắt buộc tên của doanh nghiệp phải bao gồm hai thành

Trang 27

tố, đó là: “Loại hình doanh nghiệp: Việc viết tắt loại hình doanh nghiệp được thực hiện

như sau: Công ty Trách nhiệm hữu hạn có thể được viết tắt là Công ty TNHH; tương tự như vậy Công ty Cổ phần có thể được viết tắt là Công ty CP; Công ty Hợp Danh có thể được viết tắt là Công ty HD; Doanh nghiệp tư nhân có thể được viết tắt là Doanh nghiệp

TN Và Tên riêng của doanh nghiệp: Tên riêng của doanh nghiệp được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu.”

Bên cạnh đó, tại Điều 40 Luật Doanh nghiệp 2014 còn quy định về việc đặt tên cho doanh nghiệp chính là tên nước ngoài và tên viết tắt của doanh nghiệp Cụ thể: nếu nhà đầu tư đặt tên cho doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài, là tên được dịch từ tên tiếng Việt sang một trong những tiếng nước ngoài hệ chữ La-tinh Thì khi dịch sang tiếng nước ngoài, tên riêng của doanh nghiệp có thể giữ nguyên hoặc dịch theo nghĩa tương ứng sang tiếng nước ngoài Nhà nước không cấm việc doanh nghiệp sử dụng tên nước ngoài

để đặt tên riêng cho doanh nghiệp của mình, doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng tên tiếng nước ngoài cho doanh nghiệp, có thể giữ nguyên tên hoặc là dịch theo nghĩa tương ứng để phù hợp với doanh nghiệp, với thuần phong mỹ tục của Việt Nam Nhưng nếu như doanh nghiệp có tên bằng tiếng nước ngoài, thì tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp phải được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoặc trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu, ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành Hơn nữa, nếu như doanh nghiệp có tên viết tắt thì có thể viết tắt tên doanh nghiệp của mình bằng tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nước ngoài Quy định này nhằm tạo cho doanh nghiệp

có cơ hội tự chọn lựa cho mình tên viết tắt phù hợp nhất nhằm tạo thuận lợi cho việc giao dịch của doanh nghiệp về sau

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 38 Luật Doanh nghiệp 2014 và Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 của Chính Phủ về ĐKDN đều quy định

“CQĐKKD là đơn vị có quyền từ chối chấp thuận tên dự kiến đăng ký của doanh nghiệp

Trang 28

Và quyết định của Phòng Đăng ký kinh doanh là quyết định cuối cùng” Như vậy, việc

đặt tên cho doanh nghiệp phải đầy đủ 2 thành tố là mang tính bắt buộc Nếu như khi đặt tên cho doanh nghiệp mà thiếu 1 trong 2 thành tố thì khi nộp hồ sơ lên CQĐKKD sẽ không được chấp thuận Do đó việc hồ sơ có được chấp thuận hay không còn phải phụ thuộc vào việc kiểm tra của CQĐKKD xem hồ sơ đó đã hợp lệ hay chưa, chứ không chỉ đơn thuần là chủ đầu tư lựa chọn tên cho doanh nghiệp và có thể tự quyết định tên đó là

hợp lệ hay không

Hai là, khi đặt tên cho doanh nghiệp nhà đầu tư buộc phải tránh không được vi

phạm các điều cấm về đặt tên cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều Luật Doanh nghiệp 2014và Nghị định 78/2015/NĐ-CPngày 14/09/2015 của Chính Phủ về ĐKDN, bao gồm :

Đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký Tên trùng là tên tiếng Việt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được viết hoàn toàn giống với tên tiếng Việt của doanh nghiệp đã đăng ký.10 Có thể hiểu rằng tên trùng là tên được viết giống từng câu, từng chữ, không có điểm khác biệt giữa tên của doanh nghiệp đã đăng

ký và tên của doanh nghiệp đề nghị đăng ký Nếu tên mà chủ đầu tư dự định đăng ký cho doanh nghiệp của mình đã được đăng ký bởi một doanh nghiệp khác trước đó đã đăng

ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN trên phạm vi toàn quốc, thì tên này sẽ hoàn toàn không được chấp thuận Tuy nhiên, nếu như doanh nghiệp khác trước đó đã đăng

ký tên này, nhưng doanh nghiệp đó đã giải thể hoặc là đã có quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản, thì doanh nghiệp mới mặc nhiên có thể chọn

và đăng ký sử dụng tên này cho doanh nghiệp của mình

10 Khoản 1 Điều 42 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 29

Còn tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký khi:

Một doanh nghiệp nếu như tên Tiếng việt mà họ đề nghị đăng ký nhưng lại được đọc giống như tên của một doanh nghiệp đã đăng ký trước đó Bởi lẽ, khi phát âm Tiếng việt nếu như 2 tên được đọc gần giống hoặc giống nhau sẽ rất dễ gây ra những nhầm lẫn

về doanh nghiệp, các doanh nghiệp có thể bỏ lỡ cơ hội kinh doanh của mình bởi vì đối tác đã tìm đến một công ty khác có tên Tiếng việt được đọc giống như tên của doanh nghiệp mình Nếu như tên viết tắt của hai công ty giống nhau thì sẽ gây ra hậu quả khôn lường cho các giao dịch, có thể gây nhầm lẫn nghiêm trọng trong công tác lưu trữ, gửi thư, công văn và các giao dịch khác Do đó, nhà nước cấm doanh nghiệp đề nghị đăng

ký tên trùng với tên viết tắt của doanh nghiệp đã được đăng ký trước đó Nhà nước cho phép doanh nghiệp có quyền được sử dụng tên cho doanh nghiệp mình bằng tiếng nước ngoài, được tự do lựa chọn Tuy nhiên, tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đề nghị đăng ký phải không được trùng với tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đã đăng ký trước đó

Ngoài ra, theo quy định pháp luật thì tên riêng doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký, bởi một số tự nhiên, số thứ tự hoặc các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W ngay sau tên riêng của doanh nghiệp đó cũng hoàn toàn không được chấp nhận Tương tự như vậy thì tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký, nếu chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký, bởi ký hiệu “&”, “.”, “+”, “-”, “_”, thì sẽ không được chấp thuận khi đăng ký Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký, chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký, bởi từ “tân” ngay trước hoặc “mới” ngay sau hoặc trước tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký cũng không thể được chấp thuận Bởi lẽ nếu như doanh nghiệp đề nghị đăng ký tên thêm từ “ tân” hoặc “ mới” trước hoặc sau tên của mình giống với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký trước đó, thì sẽ gây ra hiểu lầm cho đối tác và khách hàng rằng công ty đăng ký tên trước đó mở thêm chi

Trang 30

nhánh, văn phòng mới, điều này sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp đã đăng ký trước đó và

có thể bị tổn hại về danh tiếng, uy tín khi doanh nghiệp đề nghị đăng ký có những hành

vi không tốt hoặc là việc kinh doanh thua lỗ, phá sản Tương tự, tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký, chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi từ “miền Bắc”, “miền Nam”, “miền Trung”, “miền Tây”, “miền Đông” hoặc từ có ý nghĩa tương tự sẽ không được CQĐKKD chấp thuận khi nộp hồ sơ đăng ký, đây là các

từ rất dễ gây hiểu nhầm về việc doanh nghiệp đã đăng ký trước đó mở thêm chi nhánh, văn phòng mới Mặt khác, theo quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 của Chính Phủ về ĐKDN, thì tên riêng của doanh nghiệp trùng với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký thì cũng được xem là gây nhầm lẫn Ngoài ra, theo quy định pháp luật thì việc sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó.11 Việc cấm đoán này

là phù hợp Bởi lẽ, tên của các cơ quan trên chỉ được sử dụng cho cơ quan đó, liên quan đến các vấn đề chính trị và an ninh quốc gia, nếu như các doanh nghiệp sử dụng tên của các cơ quan này để đặt tên cho doanh nghiệp mình sẽ làm ảnh hưởng đến chính trị và an ninh, mất đi đặc trưng của cơ quan công quyền

Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ngõ phố, phố, đường hoặc thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có).12 Một doanh

nghiệp khi muốn ĐKDN bắt buộc phải có thông tin trụ sở chính - là nơi để cơ quan nhà nước có thể kiểm tra, giám sát và cũng như là nơi doanh nghiệp nhận hồ sơ, thư tín từ khách hàng và các đơn vị khác, còn địa điểm kinh doanh là nơi mà doanh nghiệp tiến

11 Khoản 2 Điều 39 Luật Doanh nghiệp 2014

12 Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 31

hành hoạt động kinh doanh13 Cụ thể, một doanh nghiệp chỉ có thể đăng ký một trụ sở chính cho doanh nghiệp của mình nhưng đối với hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp

có thể hoạt động ở nhiều địa điểm, nhiều nơi khác nhau Có thể địa điểm kinh doanh sẽ nằm cùng địa chỉ với trụ sở chính nhưng cũng có thể nằm ngoài địa chỉ đã đăng ký trụ

sở chính

1.2.2 Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp

Sau khi đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về chủ thể, ngành nghề kinh doanh, tên gọi và trụ sở chính của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp phải tiến hành ĐKDN tại CQĐKKD cấp tỉnh, nếu doanh nghiệp đăng ký và được sự chấp thuận của CQĐKKD thì doanh nghiệp được phép hoạt động kinh doanh ngành nghề như đã đăng ký Tại Việt Nam từ ngày 01 tháng 06 năm 2010 đến nay, thủ tục thành lập doanh nghiệp được gọi là thủ tục ĐKDN- bao gồm đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp.14

Trình tự, thủ tục ĐKDN là một thủ tục hành chínhvới thẩm quyền cấp phép ĐKDN thuộc về Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, để thành lập doanh nghiệp, nhà

đầu tư phải chuẩn bị 1 bộ hồ sơ ĐKDN, trong đó bao gồm:

+ Giấy đề nghị ĐKDN hiệp theo mẫu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định,15đây

là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp , do chủ thể đăng ký kinh doanh nộp đến CQĐKKD Trong giấy đề nghị ĐKDN sẽ thể hiện những thông tin cơ bản dự định đăng ký của doanh nghiệp, cụ thể: Tên công ty, địa chỉ trụ sở chính, ngành nghề kinh doanh, thông tin về thành viên/chủ sở hữu, thông tin về vốn, người đại diện, thông tin đăng ký thuế

13 Khoản 3 Điều 45 Luật Doanh nghiệp 2014

14 Xem: TS.Trần Huỳnh Thanh Nghị (2019) Giáo trình Luật Doanh Nghiệp, NXB Lao Động, trang 189

15 Khoản 1 Điều 6 Nghị định 78/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2015 về Đăng ký doanh nghiệp

Trang 32

+ Điều lệ công ty là bản thỏa thuận giữa những người cùng là chủ sở hữu công ty với nhau, đây chính là sự cam kết, ràng buộc các thành viên trong một luật lệ chung nhất, điều lệ công ty do doanh nghiệp tự lập nên được soạn dựa vào những quy định chung của pháp luật và không trái với các quy định pháp luật

Mục đích của điều lệ công ty nhằm để quy định các nguyên tắc về cách thức thành lập, cách thức quản lý, hoạt động và giải thể của doanh nghiệp Đây là căn cứ pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất khi có tranh chấp trong công ty xảy ra, nó cũng được xem như là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào giải quyết tranh chấp cũng như

là các vấn đề phát sinh sau này của doanh nghiệp Ngoài các nội dung chủ yếu của điều

lệ công ty quy định tại Khoản 1 Điều 25 Luật Doanh nghiệp 2014 thì: “khi ĐKDN bắt

buộc phải có đầy đủ họ, tên và chữ ký của các thành viên hợp danh đối với CTHD, của chủ sở hữu công ty là cá nhân hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu công

ty là tổ chức đối với công ty TNHH một thành viên, của thành viên là cá nhân và người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của thành viên là tổ chức đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, của cổ đông sáng lập là cá nhân và người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của cổ đông sáng lập là tổ chức đối với CTCP.”16

Riêng đối với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) không cần phải có điều lệ doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp

+ Danh sách thành viên công ty TNHH, CTHD danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với CTCP

“Danh sách thành viên bao gồm đầy đủ thông tin cá nhân, phần vốn góp, giá trị vốn góp, loại tài sản Thời hạn góp vốn phần vốn góp của từng thành viên đối với công

ty TNHH, CTHD số lượng cổ phần, loại cổ phần, loại tài sản, số lượng tài sản, giá trị

16 Khoản 2 Điều 25 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 33

của từng loại tài sản góp vốn cổ phần của từng cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu

tư nước ngoài đối với CTCP.”17

+ Bản sao các giấy tờ: giấy chứng minh nhân dân thẻ căn cước công dân, hộ chiếu

và bản sao GCNĐKĐT đối với nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty hợp danh Ngoài

ra, nếu là công ty TNHH, CTCP thì phải có thêm quyết định thành lập, GCNĐKDN hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức và văn bản ủy quyền;

Riêng đối với thành viên là tổ chức nước ngoài thì phải cung cấp thêm bản sao GCNĐKDN hoặc tài liệu tương đương phải được hợp pháp hóa lãnh sự.18 Hồ sơ nộp tại Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính Tuy nhiên, nhà đầu tư có thể tự mình đi nộp hoặc ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác thực hiện thủ tực ĐKDN, không nhất thiết nhà đầu tư phải đến trực tiếp tại CQĐKKD để nộp hồ sơ.19 Trường hợp nhà đầu tư ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác đến CQĐKKD để nộp hồ sơ ĐKDN thì cá nhân, tổ chức đó phải nộp bản sao hợp lệ chứng minh nhân dân/thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu Bên cạnh đó nếu là tổ chức thì cần phải cung cấp thêm hợp đồng cung cấp dịch vụ giữa tổ chức với nhà đầu tư thỏa thuận về việc tổ chức đó sẽ làm dịch vụ thực hiện thủ tục liên quan đến ĐKDN Đồng thời tổ chức này phải cung cấp giấy giới thiệu cho cá nhân được

cử đến trực tiếp tại CQĐKKD để thực hiện thủ tục ĐKDN hoặc là một văn bản ủy quyền cho cá nhân đó.20

Để nộp hồ sơ ĐKDN cho CQĐKKD không nhất thiết nhà đầu tư bắt buộc phải mang hồ sơ đến cơ quan để nộp trực tiếp, mà nhà đầu tư còn có thể đăng ký qua mạng điện tử thông qua Cổng thông tin quốc gia về ĐKDN, hồ sơ ĐKDN qua mạng điện tử có giá trị pháp lý như hồ sơ ĐKDN bản giấy và phải được xác thực bằng việc sử dụng chữ

17 Điều 26 Luật Doanh Nghiệp 2014

18 Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23 Luật Doanh nghiệp 2014

19 Khoản 1 Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2014

20 Điều 11 Nghị định 108/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 23 tháng 8 năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 78/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2015 về Đăng ký doanh nghiệp

Trang 34

ký số công cộng hoặc là Tài khoản đăng ký kinh doanh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp21 Cũng như việc nộp hồ sơ trực tiếp tại CQĐKKD, hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử cũng phải có đầy đủ các giấy tờ, nội dung phải thể hiện chính xác, toàn vẹn nội dung của văn bản giấy Bởi lẽ khi đăng ký qua mạng điện tử thành công và có thông báo doanh nghiệp được cấp GCNĐKDN, thì doanh nghiệp đó phải bổ sung 1 bộ hồ sơ ĐKDN bằng bản giấy cho CQĐKKD.22 Nếu như bộ hồ sơ nộp bằng bản giấy không chính xác so với bộ hồ sơ được gửi qua mạng điện tử, mà người nộp hồ sơ cố ý không thông báo với CQĐKKD tại thời điểm nộp hồ sơ bằng bản giấy thì hồ sơ được coi là giả mạo và sẽ bị xử lý

Cụ thể, trường hợp doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thì CQĐKKD sẽ ra thông báo về hành vi vi phạm của doanh nghiệp này và quyết định thu hồi GCNĐKDN, còn nếu doanh nghiệp thay đổi nội dung ĐKDN thì CQĐKKD sẽ ra thông báo về hành vi vi phạm của doanh nghiệp và quyết định hủy bỏ những thay đổi trong nội dung ĐKDN được thực hiện trên cơ sở các thông tin giả mạo, sẽ khôi phục lại GCNĐKDN được cấp trên cơ sở hồ sơ hợp lệ gần nhất, đồng thời sẽ thông báo với cơ quan có thẩm quyền để

xử lý CQĐKKD chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ bao gồm: hồ sơ và nội dung hồ sơ được kê khai đầy đủ theo quy định của pháp luật khi ĐKDN Còn nhà đầu tư là người sẽ phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của thông tin được khai trong hồ

sơ Sau khi doanh nghiệp nộp hồ sơ ĐKDN thì CQĐKKD sẽ xem xét tính hợp lệ của hồ

sơ, nếu hồ sơ hợp lệ thì trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ CQĐKKD sẽ cấp GCNĐKDN

Tuy nhiên, để được cấp GCNĐKDN, doanh nghiệp bắt buộc phải đảm bảo các điều kiện sau:

21 Điều 35 Nghị định 78/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2015 về Đăng ký doanh nghiệp

22 Điều 36 Nghị định 78/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2015 về Đăng ký doanh nghiệp

Trang 35

Một là, ngành, nghề đăng ký kinh doanh không thuộc diện bị cấm đầu tư, kinh

doanh;

Hai là, tên của doanh nghiệp phải được đặt đúng theo quy định của pháp luật tại

Luật Doanh nghiệp 2014;

Ba là, hồ sơ ĐKDN phải hợp lệ, giấy tờ và nội dung phải đưuọc kê khai đầy đủ,

chính xác, trung thực;

Bốn là, doanh nghiệp phải nộp đủ lệ phí ĐKDN đối với trường hợp đăng ký trực

tiếp, riêng đối với trường hợp đăng ký qua mạng điện tử thông qua Cổng thông tin quốc gia về ĐKDN thì không cần phải nộp lệ phí ĐKDN Điều này cho thấy rằng nhà nước khuyến khích việc ĐKDN qua mạng điện tử, việc quy định như vậy không những tạo thuận lợi trong công tác quản lý của nhà nước về ĐKDN, mà còn giúp cho các doanh nghiệp không mất thời gian đến trực tiếp để nộp hồ sơ, tiết kiệm được thời gian, chi phí

và đảm bảo hiệu quả

Trong GCNĐKDN được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 thì GCNĐKDN sẽ phải ghi rõ ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng đến Luật Doanh nghiệp

2014 thì GCNĐKDN không còn ghi ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp nữa, thay

vào đó sẽ gồm 4 nội dung chính, đó là: “Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; Địa

chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đối với công ty TNHH

và CTCP; của các thành viên hợp danh đối với CTHD; của chủ doanh nghiệp đối với DNTN; họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của thành viên

là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp và địa chỉ trụ sở chính của thành viên là tổ chức đối với công ty TNHH; Vốn điều lệ.” Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, trong

vòng 30 ngày, kể từ ngày được cấp GCNĐKDN, doanh nghiệp phải làm thủ tục để thông

Trang 36

báo công khai thông tin của doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Mục đích của việc công khai thông tin doanh nghiệp trên báo nhằm để cho mọi người biết đến sự xuất hiện và tồn tại của doanh nghiệp, nếu như một doanh nghiệp được mọi người biết và nhớ đến nhiều hơn thì chắc chắn rằng doanh nghiệp đó sẽ có thêm nhiều cơ hội hợp tác và phát triển Để công khai nội dung đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Giấy đề nghị Công bố nội dung ĐKDN đến CQĐKKD nơi đã đăng ký

và nộp phí theo quy định 300.000 đồng/lần.23 Nội dung công bố bắt buộc phải bao gồm các yếu tố sau: ngành, nghề đăng ký kinh doanh; Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông

là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần.24

Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam có chi nhánh và văn phòng đại diện ở các vị trí địa lý khác nhau Việc kinh doanh được mở rộng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và tăng doanh thu cho doanh nghiệp Để được phép hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, thì bắt buộc doanh nghiệp phải gửi thông báo lập chi nhánh, văn phòng đại diện đến phòng đăng ký kinh doanh nơi đặt chi nhánh,văn phòng đại diện Thông báo này được gửi trực tiếp tới CQĐKKD nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc được gửi qua mạng điện tử theo quy trình trên Cổng thông tin quốc gia về ĐKDN Theo

đó, “chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ

hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải đúng với ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp Còn văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ các lợi ích đó.”25

Kèm theo thông báo phải có bản sao quyết định thành lập và bản sao biên bản họp

về việc thành lập chi nhánh, VPĐD của doanh nghiệp Cụ thể là: quyết định và bản sao

23 Khoản 5 Điều 1 Thông tư 106/2013/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 09 tháng 08 năm 2013 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 176/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản

lý và sử dụng lệ phí đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh và phí cung cấp thông tin doanh nghiệp

24 Điều 33 Luật Doanh nghiệp 2014, ngày 26/11/2014

25 Điều 45 Luật Doanh nghiệp 2014, ngày 26/11/2014

Trang 37

hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên; của chủ sở hữu công ty hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty đối với công ty TNHH một thành viên; của Hội đồng quản trị đối với CTCP, của các thành viên hợp danh đối với CTHD về việc thành lập chi nhánh; văn phòng đại diện; Bản sao hợp

lệ quyết định bổ nhiệm người đứng đầu chi nhánh văn phòng đại diện; Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân, đối với công dân Việt Nam sẽ là thẻ căn cước công dân hoặc chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực; đối với người nước ngoài sẽ là hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực của người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện.26

Trường hợp nếu doanh nghiệp đăng ký thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại tỉnh, thành phố khác nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, thì CQĐKKD nơi chi nhánh, văn phòng đại diện đặt trụ sở gửi thông tin đến CQĐKKD nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính Việc này tạo điều kiện thuận lợi trong quản lý doanh nghiệp, CQĐKKD nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính sẽ kiểm soát được ngoài trụ sở chính ra thì doanh nghiệp có bao nhiêu chi nhánh và văn phòng đại diện đang hoạt động Khi nhận được hồ sơ hợp lệ, CQĐKKD sẽ nhập thông tin vào Hệ thống thông tin quốc gia về ĐKDN để yêu cầu mã

số chi nhánh, văn phòng đại diện Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được

hồ sơ hợp lệ, CQĐKKD cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh văn phòng đại diện trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại tỉnh, thành phố khác nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, thì CQĐKKD nơi chi nhánh, văn phòng đại diện đặt trụ sở gửi thông tin đến CQĐKKD nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính Trường hợp doanh nghiệp lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài, thì ngoài thông báo về việc lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài, còn phải có bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động

26 Điều 10 và Điều 33 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính Phủ về Đăng ký doanh nghiệp

Trang 38

chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc giấy tờ tương đương và phải tuân thủ quy định của pháp luật nước đó

Tuy nhiên trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày chính thức mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài, doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản đến CQĐKKD nơi doanh nghiệp đã đăng ký Kèm theo thông báo phải có bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc giấy tờ tương đương, để bổ sung thông tin về chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp trong

Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký kinh doanh

1.2.3 Quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp

Nhà nước là chủ thể quản lý doanh nghiệp với tư cách là cơ quan quyền lực nhằm

bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của doanh nghiệp.“Quản lý nhà nước về

ĐKDN là một trong những nội dung của quản lý nhà nước, trong đó, đối tượng quản lý

là doanh nghiệp Quản lý nhà nước về ĐKDN là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả nhất công tác ĐKDN để đạt được các mục tiêu về điều hành, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” 27 Điều này

cũng có nghĩa là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều chịu sự tác động của bộ máy hành chính, chính hiệu quả quản lý của nhà nước có tác động rất lớn đến sự thành bại của doanh nghiệp

Chính vì vậy mà hiện nay thực hiện quản lý nhà nước về ĐKDN được nhà nước thực hiện một cách chặt chẽ Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 của Chính Phủ

về ĐKDN quy định rõ việc hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ĐKDN cho cán bộ làm công tác ĐKDN và tổ chức, cá nhân có yêu cầu; đôn đốc, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện ĐKDN trong khuôn khổ pháp luật và đảm bảo điều này phải được thực

27 Xem: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về

đăng ký doanh nghiệp, đăng tại địa chỉ huong-den-quan-ly-nha-nuoc-ve-dang-ky-doanh-nghiep.aspx, ngày 23/09/2014

Trang 39

https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/tin-tuc/599/3813/cac-yeu-to-anh-hiện.28 Trong quá trình quản lý, các cơ quan quản lý nhà nướcvề ĐKDN phải thực hiện nhiệm vụ ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật về doanh nghiệp và văn bản pháp luật có liên quan ĐKDN là một nội dung trong số đó, cụ thể Bộ

Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan trình cấp có thẩm quyền ban hành, ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về ĐKDN, văn bản hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp

vụ, biểu mẫu, chế độ báo cáo phục vụ công tác ĐKDN và việc ĐKDN qua mạng điện

tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư chính là cơ quan của Chính phủ, có chức năng thực hiện quản

lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển và thống kê trong đó bao gồm việc phát triển doanh nghiệp

Như vậy, đây không những là nơi ban hành các văn bản hướng dẫn mà còn là nơi công bố nội dung ĐKDN; cung cấp thông tin về nội dung ĐKDN, tình trạng pháp lý và báo cáo tài chính của doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN cho các

cơ quan có liên quan của Chính phủ, cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu Việc quy định như vậy giúp dễ dàng quản lý thông tin của doanh nghiệp, khi cần thông tin của doanh nghiệp

có thể dễ dàng tìm kiếm và xuất thông tin Bảo đảm thực hiện tốt chiến lược, quy hoạch

và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư là 02 cơ quan sẽ phối hợp với nhau trong việc kết nối giữa Hệ thống thông tin quốc gia về ĐKDN và Hệ thống thông tin đăng ký thuế mà Bộ Tài Chính sẽ cung cấp mã số doanh nghiệp, mã số đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, mã số địa điểm kinh doanh phục vụ ĐKDN và trao đổi thông tin về doanh nghiệp

Ngoài ra, Bộ Tài chính còn chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí ĐKDN, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, phí cung cấp thông tin và công bố nội dung về ĐKDN Doanh nghiệp phải tự điền thông tin và chịu trách nhiệm về tính trung

28 Điểm b Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính Phủ về Đăng ký doanh nghiệp

Trang 40

thực và chính xác của thông tin được khai trong hồ sơ ĐKDN Bên cạnh đó, Bộ Công an

sẽ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để hướng dẫn việc xác định nội dung

kê khai trong hồ sơ ĐKDN là giả mạo.Việc hướng dẫn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm việc chấp hành các điều kiện kinh doanh thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước và do các Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hướng dẫn

Thực tế hiện nay cho thấy rằng hệ thống pháp luật doanh nghiệp bao gồm các luật, nghị định, thông tư và các quyết định quy định về ĐKDN chưa bao quát được tất cả các vấn đề phát sinh liên quan đến doanh nghiệp Do đó, để giải quyết các vấn đề phát sinh còn tùy thuộc vào từng tình huống thực tế cụ thể để chọn áp dụng luật và các văn bản có liên quan cho phù hợp Bên cạnh đó, cũng có những tình huống nằm ngoài phạm vi hoặc chưa được quy định trong luật và các văn bản pháp luật có liên quan, cần phải có văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý về ĐKDN

1.3 Quy định về đăng ký doanh nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới

Hiện nay, có rất nhiều quốc gia quy định về trình tự, thủ thục ĐKDN tuy nhiên tác giả lựa chọn cho mình 3 quốc gia để phân tích, đánh giá là Singapore, Vương Quốc Anh

và Australia Bởi lẽ, 3 quốc gia này có nhiều điểm tiến bộ về trình tự, thủ tục và các vấn

đề liên quan đến ĐKDN mà Việt Nam cần phải học hỏi kinh nghiệm Cụ thể, Singapore

là quốc gia được Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá có môi trường kinh doanh thuận lợi nhất trên thế giới, trong đó, xét về khía cạnh “Khởi sự kinh doanh”, Singapore đứng thứ 3/189 quốc gia, nền kinh tế (Báo cáo Môi trường kinh doanh 2013), các cơ quan quản lý nhà nước được kết nối chặt chẽ với nhau thành một hệ thống để kiểm tra, kiểm soát tình hình đăng ký và hoạt động của doanh nghiệp Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp được thực hiện trực tiếp tại trụ sở cơ quan Kế toán và Quản lý doanh nghiệp của Singapore (ACRA) hoặc trực tuyến qua trang thông tin điện tử của ACRA Mặc dù hệ thống pháp luật Singapore đối với doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều của pháp luật Anh (trừ những

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nghị định 78/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2015 về Đăng ký doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 78/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2015 về Đăng ký doanh nghiệp
Năm: 2015
16. Bùi Ngọc Cường (2004), “Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
12. Nghị định 108/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 23 tháng 8 năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 78/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2015 về Đăng ký doanh nghiệp Khác
13. Nghị định số 19/2016/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 22/3/2016 về kinh doanh khí Khác
14. Nghị định số 87/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/6/2018 về kinh doanh khí Khác
15. Thông tư 106/2013/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 09 tháng 08 năm 2013 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 176/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh và phí cung cấp thông tin doanh nghiệp.III SÁCH CHUYÊN KHẢO, TẠP CHÍ Tài liệu trong nước Khác
17. Bùi Xuân Hải (2011), “Tự do kinh doanh : Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5 (277);18 Bùi Xuân Hải (03/2011), “Một số vấn đề về pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, Bài viết trong Hội thảo khoa học tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm