Đề tài “Thái độ và xu hướng sử dụng thuốc đông dược của người tiêu dùng” được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm phân tích các nhân tố tác động và mức độ tác động của
Trang 1HÀ THIÊN BẢO VŨ
THÁI ĐỘ VÀ XU HƯỚNG SỬ DỤNG THUỐC ĐÔNG DƯỢC
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TP Hồ Chí Minh, Năm 2019
Tai Lieu Chat Luong
Trang 2HÀ THIÊN BẢO VŨ
THÁI ĐỘ VÀ XU HƯỚNG SỬ DỤNG THUỐC ĐÔNG DƯỢC
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số chuyên ngành : 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO
TP Hồ Chí Minh, Năm 2019
Trang 3tiêu dùng” là bài nghiên cứu do tôi thực hiện với sự hướng dẫn của PGS TS Hoàng Thị Phương Thảo
Tất cả những sản phẩm/nghiên cứu của người khác được sử dụng trong luận văn này đều được trích dẫn theo đúng quy định
Ngoài những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 09 năm 2019 Thực hiện
Hà Thiên Bảo Vũ
Trang 4sắc đến Quý thầy cô, bạn bè, người thân, tổ chức… đã hướng dẫn và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
- Kính gửi lời cám ơn trân trọng đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian qua, không chỉ để hoàn thành luận văn này, những kiến thức quý báu ấy còn là hành trang trong cuộc sống và công việc
- Trân trọng cám ơn PGS.TS Hoàng Thị Phương Thảo là người luôn tận tình trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này
- Trân trọng cám ơn Khoa sau đại học cùng các bạn bè sinh viên, học viên các khóa Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
- Trân trọng cám ơn các Doanh nghiệp, bạn bè đồng nghiệp, người thân đã nhiệt tình động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong việc thu thập số liệu cũng như suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Trân trọng cám ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 09 năm 2019
Hà Thiên Bảo Vũ
Trang 5sóc sức khỏe con người Đặc biệt khi các liệu pháp điều trị theo hướng tự nhiên được cho rằng ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới Đề tài “Thái độ và xu hướng sử dụng thuốc đông dược của người tiêu dùng” được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm phân tích các nhân tố tác động và mức độ tác động của chúng đến thái độ tích cực hướng đến sử dụng thuốc đông dược, cũng như mức độ ảnh hưởng của thái độ tích cực đến xu hướng sử dụng thuốc đông dược của người tiêu dùng Từ đó có thể đưa ra các đề xuất, kiến nghị liên quan đến việc phát triển sản phẩm và thị trường thuốc đông dược tại Việt Nam
Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Kết quả nghiên cứu định lượng có 276 phiếu khảo sát được đưa vào sử dụng phân tích nghiên cứu bằng phần mềm SPSS phiên bản 20 Sử dụng kiểm định Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm định độ tin cậy và phù hợp của thang đo Kết quả phù hợp với mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu Nghiên cứu thực hiện hai quy trình hồi quy tuyến tính Kết quả hồi quy thứ nhất cho thấy các yếu tố có tác động cùng chiều theo mức độ giảm dần đến thái độ tích cực hướng tới
sử dụng thuốc đông dược của người tiêu dùng bao gồm: (1) Nhận thức về lợi ích, (2) Kiến thức về thuốc đông dược, (3) nhận thức tính dễ sử dụng, (4) Ảnh hưởng của xã hội; riêng yếu tố nhận thức rủi ro có tác động nghịch chiều đến thái độ tích cực Kết quả hồi quy thứ hai cho thấy yếu tố thái độ tích cực có tác động mạnh cùng chiều đến
xu hướng sử dụng thuốc đông dược Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về thái độ tích cực và xu hướng sử dụng thuốc đông dược giữa các nhóm độ tuổi, trình độ học vấn và không có sự khác biệt theo đặc điểm giới tính
Nghiên cứu cũng đã nêu được các đề xuất kiến nghị làm tham khảo, áp dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đông dược trong nước cũng như các tham khảo dành cho người tiêu dùng; nêu được những mặt còn hạn chế cùng các định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 6world in general and Eastern medicine in particular have made positive contributions
to the field of human health care Especially when natural therapies are thought to become increasingly popular in many parts of the world The topic "Attitudes and trends in using traditional medicines of consumers" are implemented by quantitative research methods to analyze the impact factors and their impact on positive attitude towards use of traditional medicines, the influence of positive attitude to the trend of using traditional medicines of consumers From there, it is possible to make suggestions and recommendations related to product development and the traditional medicine market in Vietnam
The research is conducted through two phases: preliminary research and official research Results of quantitative research consist of 276 questionnaires included in the analysis using SPSS software version 20 Using Cronbach's alpha test and Exploratory Factor Analysis (EFA) to test the reliability and conformity of the scale The research carried out two linear regression procedures According to the first regression results, factors that influence a positive attitude towards consumers' traditional drug use in a gradual decline include: (1) Perceive of benefits, ( 2) Knowledge of traditional medicines; (3) Perceive of ease of use; (4) Social influence; risk factors have a negative impact on positive attitudes The second regression results showed that the positive attitude factor had a strong impact on the trend of using traditional medicines The research also showed the difference in positive attitudes and trends in using traditional medicines among age groups, education levels and no difference by sex characteristics
The research also raise recommendations and suggestions for reference, applicable to domestic traditional medicine production and trading enterprises as well
as references for consumers; point out the limitations and the directions for further research
Trang 7MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
Chương 1 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Sự cấp thiết và tính thời sự của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 5
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Kết cấu luận văn 7
Chương 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Một số lý thuyết về hành vi người tiêu dùng 8
2.2 Các nghiên cứu liên quan 9
2.3 Phát biểu các giả thuyết và mô hình nghiên cứu 15
2.4 Các khái niệm và phát triển giả thuyết nghiên cứu 16
2.4.1 Các khái niệm chính 16
2.4.2 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu 18
2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 24
2.6 Tóm tắt chương 2 24
Chương 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Quy trình nghiên cứu 25
3.2 Thiết kế nghiên cứu 26
3.2.1 Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ 26
3.2.2 Nghiên cứu chính thức 27
3.2.3 Thiết kế mẫu nghiên cứu 27
3.3 Thiết kế thang đo 28
Trang 83.4 Các bước xử lý dữ liệu định lượng 35
3.5 Tóm tắt chương 3 37
Chương 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu định tính 38
4.1.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 38
4.1.2 Thống kê mô tả dữ liệu định tính 38
4.2 Thống kê đơn giản các biến quan sát 42
4.3 Kiểm định độ tin cậy và phù hợp của thang đo bằng Cronbach’s Alpha 44
4.4 Phân tích nhân tố EFA(Exploratory Factor Analysis) 46
4.4.1 Phân tích nhân tố EFA cho các biến độc lập 46
4.4.2 Phân tích nhân tố EFA cho biến trung gian 47
4.4.3 Phân tích nhân tố EFA cho biến phụ thuộc 48
4.5 Kết luận hiệu chỉnh mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 48
4.6 Phân tích tương quan 49
4.7 Phân tích hồi quy 49
4.7.1 Hồi quy đa biến 49
4.7.2 Hồi quy đơn biến 53
4.8 Kiểm định sự khác biệt theo đặc điểm cá nhân 55
4.8.1 Khác biệt theo độ tuổi 55
4.8.2 Kiểm định khác biệt theo giới tính 57
4.8.3 Kiểm định khác biệt theo trình độ học vấn 58
4.8.4 Các đặc điểm mua/sử dụng thuốc đông dược 60
4.9 Thảo luận kết quả nghiên cứu 61
4.9.1 Nhận thức sự hữu ích của thuốc đông dược 61
4.9.2 Kiến thức về thuốc đông dược 62
4.9.3 Nhận thức tính dễ sử dụng 62
4.9.4 Ảnh hưởng của xã hội 63
4.9.5 Nhận thức về rủi ro 63
4.9.6 Thái độ tích cực hướng tới sử dụng thuốc đông dược 64
4.9.7 Xu hướng sử dụng thuốc đông dược của người tiêu dùng 65
4.9.8 Các yếu tố dân số học 65
4.10 Tóm tắt chương 4 67
Trang 9Chương 5 KẾT LUẬN VÀ CÁC KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Hàm ý quản trị của nghiên cứu: 69
5.3 Một số kiến nghị 69
5.3.1 Nâng cao sự hữu ích của thuốc đông dược 69
5.3.2 Nâng cao kiến thức về thuốc đông dược 70
5.3.3 Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng kênh phân phối 70
5.3.4 Công tác truyền thông 71
5.3.5 Giảm thiểu rủi ro sử dụng thuốc đông dược 71
5.3.6 Các yếu tố dân số học 72
5.3.7 Vai trò của cơ quan quản lý 72
5.4 Hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo 73
5.4.1 Hạn chế của nghiên cứu 73
5.4.2 Định hướng nghiên cứu tiếp theo 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Phụ lục 1: Bảng khảo sát định tính 76
Phụ lục 2: Kết quả nghiên cứu sơ bộ 81
Phụ lục 3: Thang đo chính thức 87
Phụ lục 4: Kết quả nghiên cứu 92
Phụ lục 5: Các tiêu chuẩn kiểm định cơ bản 119
Phụ lục 6: Một số khái niệm liên quan 120
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tăng trưởng ngành dược Việt Nam 2
Hình 1.2 Độ tuổi bình quân của người dân Việt Nam qua các năm 3
Hình 1.3 Top 5 mối quan tâm hàng đầu của người dân Việt Nam 4
Hình 2.1 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA 9
Hình 2.2 Mô hình lý thuyết hành vi dự kiến TPB 9
Hình 2.3 Mô hình niềm tin sức khỏe HBM 10
Hình 2.4 Mô hình các nhân tố tác động đến sự chấp nhận thảo dược 14
Hình 2.5 Mô hình yếu tố văn hóa tác động ý định mua thuốc không toa 15
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất 24
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 25
Hình 3.2: Các bước xử lý dữ liệu định lượng 36
Hình 4.1: Tỉ lệ trường hợp theo hướng dẫn mua/sử dụng 40
Hình 4.2: Tỉ lệ trường hợp theo đối tượng sử dụng 40
Hình 4.3: Tỉ lệ trường hợp theo nơi mua 41
Hình 4.4: Tỉ lệ theo thời gian mua 41
Hình 4.5: Liên hệ tuyến tính trong hồi quy đa biến 50
Hình 4.6: phân phối chuẩn phần dư trong hồi quy đa biến 51
Hình 5.1: Mô hình kiểm soát chất lượng đông dược 71
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Hành vi sức khỏe và thái độ sử dụng thuốc thảo dược 15
Bảng 2.2: Các khái niệm nghiên cứu 17
Bảng 3.1: Phân nhóm đặc điểm xã hội – nhân khẩu học 27
Bảng 3.2: Thang đo lý thuyết 28
Bảng 3.3: Thang đo chính thức “Nhận thức lợi ích của thuốc đông dược” 31
Bảng 3.4: Thang đo chính thức của “Kiến thức về thuốc đông dược” 32
Bảng 3.5: Thang đo chính thức của “Nhận thức tính dễ sử dụng” 33
Bảng 3.6: Thang đo chính thức của “Ảnh hưởng của Xã hội” 33
Bảng 3.7: Thang đo chính thức của “Nhận thức về rủi ro” 34
Bảng 3.8: Thang đo chính thức của “Thái độ tích cực hướng tới sử dụng thuốc đông dược” 34
Bảng 3.9: Thang đo chính thức “Xu hướng sử dụng thuốc đông dược” 35
Bảng 4.1: Thống kê mô tả định tính mẫu nghiên cứu 39
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến quan sát 42
Bảng 4.3: Kiểm định Cronbach’s Alpha 44
Bảng 4.4: Hiệu chỉnh thang đo 45
Bảng 4.5: Kết quả phân tích EFA các biến độc lập 46
Bảng 4.6: Kết quả phân tích nhân tố biến trung gian 47
Bảng 4.7: Kết quả phân tích nhân tố biến phụ thuộc 48
Bảng 4.8: Kết quả phân tích tương quan các biến 49
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy đa biến 50
Bảng 4.10: Tương quan hạng giữa biến độc lập và phần dư 51
Bảng 4.11: Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 53
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy đơn biến 54
Bảng 4.13: Kiểm định thái độ tích cực theo độ tuổi 55
Bảng 4.14: Kiểm định Xu hướng sử dụng theo độ tuổi 56
Bảng 4.15: Thái độ tích cực theo giới tính 57
Bảng 4.16: Xu hướng sử dụng theo giới tính 57
Trang 12Bảng 4.17: thái độ tích cực theo trình độ học vấn 58
Bảng 4.18: Xu hướng sử dụng theo trình độ học vấn 59
Bảng 4.19: Thống kê đặc điểm mua/sử dụng thuốc đông dược 60
Bảng 4.20: Thống kê mô tả biến TD02 và TD03 65
Trang 13DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 ANOVA Analysis Of Variance Phương pháp phân tích
phương sai
2 EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
3 ETC Ethical drugs Kênh phân phối vào hệ thống bệnh viên, thông qua
đấu thầu
4 GACP Good Agricultural and Collection Practices Tiêu chuẩn “Thực hành tốt trồng trọt và thu hái”
5 GDP Good Distribution Practices Thực hành tốt phân phối (thuốc)
6 GLP Good Laboratory Practice Thực hành tốt phòng thí
nghiệm
7 GMP Good Manufacturing Pratice Thực hành tốt sản xuất (thuốc)
8 GPP Good Pharmacy Practices Thực hành tốt quản lý nhà
thuốc
9 GSL Good Storage Practices Thực hành tốt lưu trữ
10 HBM Health belief model Mô hình niềm tin sức khỏe
11 KMO Kaiser - Mayer - Olkin Hệ số kiểm định sự phù hợp
của mô hình EFA
12 Pharmerging
A group of countries having low position on the pharmaceutical market, but having a speed pace of growth
Nhóm quốc gia đang phát triển trong ngành dược
13 PR Public Relations Hoạt động quan hệ cộng
đồng
14 R&D Research & Development Nghiên cứu và phát triển
15 Sig Significance Level Mức ý nghĩa
16 SPSS Statistical Package for the Social
Trang 1420 TRA Theory of Reasoned Action Mô hình lý thuyết hành động hợp lý
21 TTM/SoC Trans-Theoretical Model/ Stages of
Change
mô hình xuyên lý thuyết/các bước thay đổi hành vi
22 TVM Traditional Vietnamese medicine Y học Cổ truyền Việt Nam
23 VIF Variance Inflation Factor Nhân tử phóng đại phương
sai
24 WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này trình bày tổng quan về đề tài, nội dung bao gồm: tính thời
sự của đề tài và sự cấp thiết của nghiên cứu, lý do, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu cần được giải đáp, đối tượng và phạm vi của nghiên cứu và giới thiệu qua kết cấu của luận văn
1.1 Sự cấp thiết và tính thời sự của đề tài
Hiện nay trong khoảng gần 200 đơn vị sản xuất thuốc tại Việt Nam thì đông dược chiếm khoảng 40%, đa phần cũng chỉ ở quy mô vừa và nhỏ, song song đó là các cơ sở nhỏ lẻ còn đang chiếm một số lượng lớn (khoảng trên 300) Mặc dù tiềm năng tăng trưởng ngành đông dược được dự báo là rất lớn (theo bộ Y tế trong vòng 5 năm tới, mức tăng trưởng đạt khảng 30%) và đang trở thành xu thế đáng quan tâm, chi tiêu thuốc trên đầu người liên tục tăng cao qua các năm, tuy nhiên thị phần đông dược trong nước hiện nay vẫn chỉ chiếm khoảng 1 -1,5%, thể hiện vai trò và tầm vóc của các công ty Đông Dược nói riêng, vị thế ngành đông dược nói chung chưa tạo được một tâm lý tích cực đối với người tiêu dùng
Đông y học dựa trên lý luận y học và những bài thuốc cổ xưa từ phương Đông được lưu truyền trong dân gian, gọi chung là nền Y học cổ truyền (YHCT) phương Đông Cùng với Tây y, YHCT phương đông đã góp phần quan trọng cho nền y học quốc gia và thế giới Nền YHCT Việt Nam từ những nhận thức ban đầu, tiếp thu các
lý luận y học phương Đông đến khi phát triển thành những tác phẩm y học đồ sộ và đặt nền móng cho Đông y hiện đại, đã minh chứng cho vai trò trong nền y học thông qua bề dày lịch sử phát triển Cùng với việc ứng dụng khoa công nghệ ngày nay vào các khâu từ nghiên cứu, kiểm nghiệm… đến bào chế, phân phối đã đưa thuốc đông y Việt Nam lên một một bước tiến mới
Theo các nghiên cứu gần đây, xu hướng đối với các sản phẩm tự nhiên đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe và Y tế đang có sự gia tăng Có tới 80% dân số tại Châu Phi sử dụng một số loại thuốc thảo dược truyền thống và thị trường thảo dược trên toàn thế giới đạt được trung bình 60 tỷ đô la Mỹ mỗi năm (theo thống kê của WHO,
Trang 162003) Tại một số nước đang phát triển, YHCT và thảo dược được xem như là một liệu pháp chăm sóc y tế bổ sung cần thiết (Bodeker và cộng sự, 2005; Bandaranayake, 2006) Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria, Mỹ và WHO đều đã đầu tư cho những nghiên cứu về các loại thuốc thảo dược truyền thống Theo Ủy ban Hội đồng Y tế Công cộng Hoa Kỳ (2005), Không chỉ ở các quốc gia đang phát triển, vấn đề này cũng trở nên phổ biến tại Châu Âu, Bắc Mỹ và Australia Theo đó, lý do của sự theo đuổi việc sử dụng thảo dược chính là niềm tin về sự an toàn và chất lượng cuộc sống, vì thế các loại thuốc thảo dược như đang bùng nổ trong thị trường thuốc toàn cầu (Bandaranayake, 2006)
Việt Nam trong nhóm 22 quốc gia đang phát triển trong ngành dược (pharmerging), là nhóm tạo động lực chính cho sự tăng trưởng hiện nay của ngành dược toàn cầu (ngược lại là sự giảm tốc ở các nước như Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản…), với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 17-20% trong giai đoạn 2010-2015, đứng
13 thế giới (năm 2005 là 9,85USD/người, năm 2010 là 22,25 USD/người, 2015 là 44 USD/người) Giá trị ngành dược trong năm 2018 đạt lên tới 5,7 tỷ USD (xem hình1.1) Theo báo cáo thống kê và dự báo ngành dược (2014) của Công ty CP chứng khoán FPT(FPTS), giai đoạn 2015-2020 mức tăng trưởng ngành dược khoảng 9-10%
Hình 1.1: Tăng trưởng Ngành dược Việt Nam
(Nguồn: vibiz.vn, 2018)
Trang 17Tốc độc tăng trưởng về dân số Việt Nam cũng là nguyên nhân khiến tổng nhu cầu sử dụng thuốc ngày càng tăng (xem hình 1.1) Theo thống kê dân số Việt Nam (https://danso.org/viet-nam/), đến tháng 4/2019 Việt nam xếp thứ 14 về dân số trên thế giới với 97,24 triệu người (1,27% dân số toàn cầu) Độ tuổi bình quân tại Việt Nam đang có xu hướng tăng lên (xem Hình 1.2), nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi do đó cũng sẽ tăng lên, ít nhất 30 năm tới
Hình 1.2: Xu hướng độ tuổi bình quân của Việt Nam
(Nguồn: danso.org, 2017) Theo nghiên cứu của Neilsen đối với chỉ số niềm tin về mức độ lạc quan, Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới (đến quý 2/2018), sức khỏe cũng là mối quan tâm thứ
2 của người Việt (xem Hình 1.3) Khi thu nhập càng ngày được cải thiện, sức khỏe càng được đề cao không chỉ ở nhu cầu chữa bệnh mà còn ở các nhu cầu như tăng cường về sức khỏe, sắc đẹp, chống lão hóa, lối sống lành mạnh…
Trang 18Hình 1.3: Các mối quan tâm của người Việt (Nguồn: Niềm tin Người tiêu dùng Quý 2/2018, Neilsen) Theo nghiên cứu của Neilsen (2018), thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên chiếm
tỉ lệ cao trong xu hướng tiêu dùng tại Việt Nam (77%) Bệnh mãn tính được xem là vấn nạn đang gia tăng theo thời đại Người tiêu dùng thường e ngại với những tác dụng phụ khi phải sử dụng các điều trị bằng tân dược Do vậy mà thuốc có nguồn gốc thiên nhiên, thảo dược (dược liệu) có thể trở thành liệu pháp thay thế, bởi nhiều lý do
mà chủ yếu phải kể đến như: tính an toàn, hiệu quả, công nghệ cũng đã được ứng dụng trong sản xuất như tân dược, đặc biệt nó được xem là rất ít hoặc không có những phản ứng phụ Tuy nhiên, thuốc luôn được kiểm soát nghiêm ngặt vì lý do an toàn sức khỏe
Từ những lý do và yêu cầu nêu trên, cần có nghiên cứu để xác định những yếu
tố chính và mức độ tác động của chúng đến thái độ và xu hướng sử dụng thuốc Đông với hàm ý quản trị: Các công ty sản xuất kinh doanh đông dược và sản xuất kinh doanh thuốc nói chung tại Việt Nam có thể nắm bắt được tâm lý tiêu dùng của khách hàng để từ đó định hướng chiến lược sản phẩm, định hướng trong công tác truyền thông nhằm gia tăng tiêu dùng, phát triển kinh doanh Mặt khác thực hiện những điều chỉnh phù hợp các giải pháp về kỹ thuật lẫn phương thức, quy trình… xuyên suốt qua các khâu của sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường Góp phần nâng cao vị thế ngành đông dược
Trang 191.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận dạng, xác định các nhân tố và đo lường mức độ tác động của chúng ảnh hưởng đến thái độ tích cực đối với thuốc đông dược của người tiêu dùng
- Đo lường tác động của thái độ tích cực đến xu hướng sử dụng thuốc đông dược
- Đánh giá khác biệt về thái độ và xu hướng dùng thuốc đông dược của các nhóm người khác nhau theo dân số học (độ tuổi, giới tính, trình độ…)
- Đề xuất các kiến nghị trong định hướng phát triển sản phẩm đông dược theo thái độ và xu hướng sử dụng
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu trên, cần phải trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu quan trọng sau:
- Các nhân tố chính nào ảnh hướng đến thái độ tích cực đối với thuốc đông dược
và mức độ tác động của từng nhân tố như thế nào?
- Mối quan hệ giữa thái độ tích cực và xu hướng dùng thuốc đông dược của người tiêu dùng như thế nào?
- Sự khác biệt về thái độ tích cực và xu hướng dùng thuốc đông dược đối với các nhóm khác nhau về nhân khẩu học như thế nào?
1.4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến thái độ tích cực đối với thuốc đông dược và mối quan
hệ của thái độ tích cực với xu hướng dùng thuốc đông dược của người tiêu dùng
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng đã/đang sử dụng hoặc mua cho người khác sử dụng sản phẩm thuốc đông dược Phạm vi khảo sát là khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Trang 20- Thời gian nghiên cứu: đối với dữ liệu thứ cấp được thực hiện trong 3 tháng (12/2018 – 03/2019) Dữ liệu sơ cấp thực hiện trong 6 tháng (03/2019 – 09-2019)
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thực hiện qua các bước chính như sau:
- Tổng hợp các lý thuyết về hành vi người tiêu dùng, các nghiên cứu trước có liên quan và các khái niệm nghiên cứu làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu Trên cơ sở đó, xây dựng thang đo lý thuyết
- Thực hiện nghiên cứu qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu sơ bộ tiến hành bằng phương pháp định tính, xây dựng dàn bài thảo luận và sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm với các đối tượng là các chuyên gia trong lĩnh vực Y dược và người đã từng sử dụng thuốc đông dược nhằm hiệu chỉnh và xây dựng thang đo chính thức
Nghiên cứu định lượng: Xác định cỡ mẫu và các yêu cầu theo cơ cấu dân số
- xã hội học Thực hiện phương pháp lấy mẫu khảo sát theo phương pháp phi xác suất thuận tiện Tiến hành thu thập mẫu và thực hiện các bước phân tích
số liệu bằng phần mềm SPSS cơ bản các bước như sau: Thống kê mô tả, sử dụng kiểm định Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm định độ tin cậy và phù hợp của thang đo, phân tích tương quan các biến, phân tích hồi quy và các kiểm định cần thiết, kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm người theo đặc điểm dân số - xã hội học
- Báo cáo kết quả và biện luận
Trang 211.6 Kết cấu luận văn
Toàn bộ nội dung chính của luận văn được thực hiện trong 5 chương, bao gồm:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Nội dung của chương này trình bày về: lý do, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi
và ý nghĩa của nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Nội dung chương này gồm: các lý thuyết về hành vi người tiêu dùng, cơ sở lý thuyết cho mô hình Xây dựng mô hình đề xuất để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ tích cực và tác động của tích cực đến xu hướng dùng thuốc Đông dược tại Tp.Hồ Chí Minh
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo và các bước phân tích dữ liệu Phần thiết kế nghiên cứu trình bày các giai đoạn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu Quá trình tạo lập thang đo chính thức sử dụng cho khảo sát
- Chương 4: Kết quả và bàn luận
Nội dung chương trình bày thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu, kiểm định thang
đo, phân tích nhân tố, hồi quy, kiểm định các giả thuyết, trình bày kết quả nghiên cứu
và đưa ra các thảo luận tương ứng
- Chương 5: Kết luận và các đề xuất
Chương này trình bày về các kết luận, một số đề xuất tham khảo, đồng thời nêu lên các đóng góp và hạn chế của đề tài, cùng định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 22Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung chương bao gồm cơ sở lý thuyết, các khái niệm chính, xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết Đánh giá các yếu tố tác động đến thái độ tích cực
và tác động của thái độ tích cực đến xu hướng dùng thuốc Đông dược theo mô hình
đề xuất
2.1 Một số lý thuyết về hành vi người tiêu dùng
Một trong những động lực cho sự lựa chọn sản phẩm thuốc thảo dược là niềm tin vào sự an toàn và sự lành mạnh (Bandaranayake, 2006) Đôi khi niềm tin vào sự
an toàn, không có tác dụng phụ có vai trò tích cực trong việc dẫn tới xu hướng dùng thuốc đông dược hơn là bản chất thực của nó Không chỉ xét riêng về hiệu quả điều trị thì thái độ có thể bị ảnh hưởng theo văn hóa, tôn giáo, niềm tin Do yếu tố văn hóa
và mức độ ý thức tâm linh, nhiều cá nhân có khuynh hướng ngày càng chấp nhận giá trị trị liệu của một điều trị dựa trên đức tin hoặc trực giác hơn là lý luận khoa học (Astin, 1998; Zeil, 1999) Theo Shepherd (1999), thái độ có mối quan hệ nhân quả với xu hướng Do vậy xu hướng dùng thuốc Đông dược có thể được thực hiện qua đo lường thái độ Một ví dụ của mô hình thái độ là Lý thuyết về hành vi hợp lý (TRA) của Ajzen và Fishbein năm 1980, và mô hình mở rộng là lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) cũng của Ajzen năm 1988 Các mô hình này đã được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý, xã hội, thực phẩm và y tế
2.2.1 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA)
Mô hình TRA thể hiện mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hoạt động của con người, dựa vào thái độ và ý định hành vi trước đó để dự đoán hành vi cuối cùng (Hình 2.1) Lý thuyết giả định rằng việc đưa ra những quyết định hợp lí được dựa trên những thông tin biết được và “ý định” là dự đoán cao nhất cho hành vi cuối cùng được xác định bởi thái độ và chuẩn chủ quan
Trang 232.2.2 Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (The theory of planned
behavior – TPB)
So với mô hình TRA, Mô hình TPB thêm vào biến nhận thức kiểm soát hành vi
Căn cứ nguồn lực sẵn có và các cơ hội để xác định khả năng dễ hay khó khi thực hiện
hành vi Theo lý thuyết này, thái độ về hành vi, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm
soát hành vi đến đến ý định và hành vi (xem Hình 2.2)
Hình 2.2 Mô hình lý thuyết hành vi dự kiến TPB
(Nguồn: Ajzen, 1988) Đối với cùng một nội dung nghiên cứu, nếu như các điều kiện hoàn cảnh giống
nhau, TPB được xem là hiệu quả hơn TRA trong việc dự đoán hành vi cũng như khả
năng giải thích
2.2 Các nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu của Taylor và cộng sự (2006) phân tích hiệu quả việc ứng dụng các
mô hình TRA, TPB, HBM (Health belief model) và mô hình TTM/SoC
(Trans-Theoretical Model/ Stages of Change) trong việc dự báo và thay đổi hành vi sức
Trang 24khoẻ Nhiều bằng chứng khoa học đã được tác giả dẫn chứng để đánh giá việc sử dụng các mô hình trên bao gồm các yếu tố về hành vi tâm lý cùng các yếu tố dân số học để đánh giá mức độ tác động của chúng đến hành vi về sức khỏe thông qua: phạm
vi có thể ứng dụng ( trong lĩnh vực sức khỏe), hiệu quả trong dự đoán và thay đổi hành vi, kết quả tác động đến sức khỏe Phần dẫn chứng này chỉ đề cập đến kết quả của mô hình HBM, TRA và TBP bởi những kết luận liên quan có thể ứng dụng trong
đề tài
Mô hình HBM sau đây (xem Hình 2.3) là phiên bản đã được Rosenstock cập nhật
từ mô hình gốc HBM là một mô hình nhận thức xã hội cụ thể về sức khỏe, có các thành phần và cấu trúc tương đối phức tạp
Hình 2.3: Mô hình HBM (Nguồn: Rosenstock và cộng sự, 1994) Tuy nhiên các minh chứng cho thấy, xã hội- dân số học trong mô hình HBM lại
là các yếu tố có mức tác động ý nghĩa tương đương hoặc lớn hơn các yếu tố trong phần nhận thức Các nhà khoa học kết luận mô hình này giải thích được khoảng 24%
Trang 25phương sai và có sức dự báo thấp chỉ khoảng 27% Mặc dù mô hình này đã có ý nghĩa tiên phong vào những năm 1950, tuy nhiên yếu tố “nhận thức mối đe dọa” là yếu tố cốt lõi của động lực hành vi trong HBM đã bị đặt ra các nghi vấn Mặc dù yếu tố
“nhận thức rào cản” và các nhận thức trong thành phần “sự mong đợi” được áp dụng
mô hình này có thể được mặc nhiên là tác nhân hợp lý, được thúc đẩy bởi nhận thức
có ý thức của con người Tác giả nhận định, các hành vi sức khỏe vốn luôn có thể được hiểu là được kiểm soát tốt nhất theo ý chí nhận thức chủ quan, thay vào đó sai lầm là phần lớn được xác định bởi sự kết hợp giữa thực tế hoàn cảnh cá nhân và các phản ứng theo thói quen, và thậm chí là phản ứng vô thức của cá nhân đối với thế giới bên ngoài
Taylor đã dẫn chứng các nghiên cứu của Zimmerman và Vernberg (1994) trong việc phân tích và so sánh các mô hình hành vi sức khỏe dự phòng Kết quả được đánh giá dựa trên tổng cộng 60 nghiên cứu khác nhau Trong đó, có 30 nghiên cứu (chiếm 50%) sử dụng HBM Họ thấy rằng mô hình TRA dự đoán tốt hơn về hành vi sức khỏe
so với HBM TRA đã có thể giải thích hơn 34 phần trăm phương sai hành vi sức khỏe quan sát được, so với 24 phần trăm trong trường hợp của HBM Giống như HBM, TRA và TPB đều là các mô hình dựa trên lý thuyết giá trị kỳ vọng Ajzen (1998) đã chỉ ra rằng TRA và TPB đều được chỉ định tốt hơn về mặt toán học và cấu trúc ở mức
độ khái quát hóa cao hơn so với HBM Mặc dù TRA và TBP đều được dùng trong nhiều nghiên cứu về hành vi can thiệp về y tế, tuy nhiên cả hai đều không được thiết
Trang 26ít thời gian hơn, tính sẵn có, dễ tiếp cận), kiến thức về thuốc thảo dược, thái độ của bệnh nhân về thuốc thảo dược Kết quả có 97,6% trong số người được điều tra cho biết có sử dụng thuốc thảo dược với các lý do: thuốc thảo dược hiệu quả hơn thuốc thông thường (83%), thuốc thảo dược rất ít hoặc không có tác dụng phụ (27,5%), thuốc thảo dược rẻ hơn tất cả các loại thuốc thông thường (15,6%), thuốc thảo dược sẵn có và dễ dàng tiếp cận (26,9%); 37,7% người cho biết họ có thông tin về thuốc thảo dược từ người thân, nguồn thông tin khác của người được hỏi về thuốc thảo dược bao gồm quảng cáo / truyền thông (24,0%), áp phích (13,8%), hàng xóm và bạn bè (13,8%), cán bộ y tế cộng đồng (4,6%), tài liệu tham khảo (3,6%) và lãnh đạo tôn giáo (1,8%) Đối với thái độ sử dụng thuốc thảo dược, người bệnh tin rằng thuốc thảo dược quan trọng đối với sức khỏe, 14,9% tin rằng thuốc thảo dược sẽ được cộng đồng chấp nhận, 30% tin vào hiệu quả trong điều trị của bản thân, 15,7% tin tưởng tích cực vào khả năng điều trị của thuốc thảo dược vì họ đã sử dụng nhiều lần, 5,9% cho rằng thuốc thảo dược có tác dụng điều trị nhanh hơn và 2,4% cho biết lựa chọn thuốc thảo dược vì không chấp nhận phương pháp y tế thông thường Tuy nhiên, không có khác biệt đáng kể về giới tính, tuổi tác, trình độ, tôn giáo
Theo Bandaranayake (2006), Về cơ bản, thuốc thảo dược bao gồm một phần của thực vật hoặc chiết xuất một số thành phần từ thực vật và thường được phối hợp với nhau Nghiên cứu của Bandaranayake cho rằng, lợi ích của các loại thảo dược được nâng cao bởi các nguyên do chính sau đây: (1) các công bố về hiệu quả của thuốc thảo dược, liên quan đến yếu tố thông tin và sự hiểu biết về thảo dược; (2) sự quan tâm đến các liệu pháp thay thế tự nhiên; (3) niềm tin vào thuốc thảo dược bởi yếu tố
tự nhiên; (4) niềm tin vào công hiệu đối với một số bệnh mà thuốc thông thường đã chưa chứng minh được hiệu quả; (5) các thuốc thông thường có chi phí cao và nhiều tác dụng phụ; (6) KH-CN ngày nay đã mang lại chất lượng, sự an toàn và tỉnh hữu hiệu của thuốc thảo dược; (7) Bác sĩ có thể chẩn đoán sai và sử dụng thảo dược là một sự thay thế; (8) phong trào tự điều trị
Theo Taylor và Francis (2011),những lý do sử dụng thảo dược liên quan đến: giá
cả phải chăng, lo lắng về các phản ứng bất lợi của thuốc hóa học, đáp ứng việc cá
Trang 27nhân hoá và cho phép tự chủ tiếp cận thông tin y tế, thuốc thông thường chưa có hiệu quả rõ ràng đối với một số bệnh như ung thư và đối mặt với các bệnh truyền nhiễm mới Ngoài ra, việc gia tăng thuốc thảo dược vì cho rằng các loại thuốc thảo dược là
tự nhiên và an toàn nghĩa là không độc, điều đó không nhất thiết là đúng, đặc biệt khi các loại thảo dược được dùng với các loại thuốc theo toa; thuốc mua tự do, hoặc các loại thảo dược khác (Canter và Ernst, 2004)
Theo Studdert (1998), việc sử dụng các loại thảo dược ngày càng tăng cho việc
tự dùng thuốc của bệnh nhân hoặc cá nhân cũng bởi một số nguyên do khác như (1) Người bệnh không thoải mái khi cho biết thông tin y tế của họ, dẫn đến họ tự dùng các biện pháp tự nhiên để tự điều trị; (2) Bệnh nhân cho rằng Bác sĩ có thể chẩn đoán sai bởi các triệu chứng không đặc hiệu hoặc chứng khó chịu chung, và (3) thiếu thời gian để gặp bác sĩ, khiến cho các lần thăm khám trước đây không mang lại lợi ích đáng kể
Quyền tự do lựa chọn cũng là lý do khuyến khích việc thay thế trong điều trị như
là thuốc thảo dược, mặc dù sự tiếp cận cũng chỉ dựa trên thông tin giai thoại, nghĩa
là "nó đã làm tốt cho bạn tôi hoặc người thân" (Parle và Bansal, 2006) Vì vậy, do ảnh hưởng của văn hóa và mức độ ý thức tâm linh cao hơn, nhiều cá nhân có khuynh hướng ngày càng chấp nhận giá trị trị liệu của một điều trị dựa trên đức tin hoặc trực giác hơn là lý luận khoa học (Astin, 1998; Zeil, 1999) Do đó các loại thuốc thảo dược trở nên đặc biệt thu hút khi cơ thể “tự nhiên tự sửa chữa” với điều kiện thích hợp (Parle và Bansal, 2006)
Thông qua truyền thông, người tiêu dùng đã tăng đáng kể nhận thức về thuốc thảo dược và trong việc phân biệt các sản phẩm tin cậy hoặc không đáng tin cậy (Parle
và Bansal, 2006) Hơn nữa, sai lầm phổ biến là việc quan niệm các sản phẩm tự nhiên không độc và không có các phản ứng phụ thường khiến việc sử dụng trở nên tùy tiện
và dẫn đến những ngộ độc cấp tính Điều này xảy ra ở cả các nước phát triển lẫn đang phát triển, đặc biệt đối với sử dụng quá mức hoặc điều trị mãn tính (UNESCO, 2013) Nghiên cứu về sự chấp nhận các loại thảo mộc, dược phẩm tại thành phố Rasht, Iran của KhatunJokar (2017), mối quan hệ giữa các yếu tố trong Hình 2.4
Trang 28Hình 2.4 Mô hình sự chấp nhận thảo dược (Nguồn: KhatunJokar, 2017)
Kết quả cho thấy sự tích cực của việc chấp nhận việc sử dụng dược thảo với nhận thức sự quan trọng, hữu ích và kinh nghiệm sử dụng dược liệu đưa tới sự chấp nhận cao hơn đối với các dược liệu Hầu hết người trả lời cho rằng dược liệu có hiệu quả trong chữa bệnh và họ cho thấy sự hài lòng cao cá nhân với hiệu quả của chúng
và sẵn sàng sử dụng các loại thảo mộc dược liệu người ta tin rằng người dùng sẽ được thuyết phục sử dụng các loại thảo mộc dược nếu thông tin về lợi ích được cung cấp Cũng theo đó, đối tượng học vấn cao sử dụng dược liệu nhiều hơn
Theo nghiên cứu việc sử dụng thảo dược ở thành phố Qom của Iran (Heidarifar , 2013), ít tác dụng phụ được đề cập đến là một lý do quan trọng Còn trong nghiên cứu điều tra về cung và cầu trên thị trường cây thuốc tổ chức tại Hội sở nghiên cứu tài nguyên và nông nghiệp Tehran, Iran (Sajedipoor và Mashayekhi, 2015), sự khác biệt xảy ra giữa các tỉnh về cung và cầu thuốc, đàn ông sử dụng nhiều hơn phụ nữ
Nghiên cứa của Samojlik (2013) về sử dụng và an toàn của thuốc thảo dược được thực hiện tại Serbia, có 88,9% đối tượng không quan tâm đến việc thông tin về việc dùng thuốc cho nhân viên y tế; 73,3% trả lời việc sử dụng thuốc thảo dược vô hại (9,4% trung lập đối với vấn đề này), trong khi có 40,3% cho rằng việc kết hợp thuốc thảo dược và thuốc thông thường thường xuyên là không an toàn
Đối với ý định mua thuốc không kê toa, Nguyễn Văn Phúc (2015) đã thực hiện nghiên cứu về hành vi này của người dùng tại Việt Nam, đây cũng là một hành vi tâm
Trang 29lý về sức khỏe Khi nhận thức được rủi ro, người tiêu dùng giảm bớt ý định mua thuốc không kê toa
Hình 2.5 Mô hình ý định mua thuốc không toa (Nguồn: Nguyễn Văn Phúc và cộng sự, 2015) 2.3 Phát biểu các giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Tổng hợp về thái độ và hành vi sức khỏe và thuốc thảo dược từ cơ sở lý thuyết nền và các nghiên cứu liên quan như sau:
Bảng 2.1: Hành vi sức khỏe và thái độ sử dụng thuốc thảo dược
STT Các yếu tố Yếu tố bị Tác động Nguồn
02 Kiến thức về thảo dược,
nhận thức hiệu quả, không
tác dụng phụ, giá cả rẻ hơn,
an toàn vì không tác dụng
phụ, công nghệ phát triển
Thái độ về sử dụng thuốc thảo dược
Bandaranayake, 2006; Heidarifar, 2013; Ondicho , 2015
03 E ngại tác hại của thuốc hóa
dược, nhận thức an toàn khi
dùng thuốc thảo dược
Thái độ về sử dụng thuốc thảo dược
Taylor và Francis, 2011;
Rashidi và cộng sự,
2012
Trang 30STT Các yếu tố Yếu tố bị Tác động Nguồn
04 Xu hướng tự điều trị bằng
liệu pháp tự nhiên
Sử dụng thuốc thảo dược
Studdert , 1998; Parle và Bansal, 2006
05 Chuẩn chủ quan Xu hướng dùng thuốc
thảo dược
Astin, 1998; Zeil, 1999; Ondicho , 2015
06 Thông tin truyền thông Xu hướng sử dụng
thuốc thảo dược
Parle và Bansal, 2006; Ondicho , 2015
KhatunJokar và cộng
sự, 2017
09 Chấp nhận rủi ro Thái độ mua thuốc
không kê toa Nguyễn Văn Phúc, 2015 Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn (2019)
Mô hình nghiên cứu bao gồm các biến: (1) Nhận thức về lợi ích, (2) Kiến thức
về thuốc đông dược, (3) Nhận thức dễ sử dụng, (4) Ảnh hưởng của xã hội, (5) Nhận thức rủi ro và (6) thái độ tích cực về thuốc đông dược Ngoài ra, các yếu tố dân số học tại Việt Nam đưu vào mô hình gồm các biến: độ tuổi, trình độ và giới tính Các biến không đưa vào mô hình: (1) Các rào cản, là nhận thức các khía cạnh tiêu cực khi thực hiện hành vi hoặc vượt qua các rào cản để thực (Taylor, 2007); (2) tầm quan trọng, là nhận thức sự cần thiết của các loại dược liệu cụ thể (tên của dược liệu, nguyên liệu cụ thể) được nhận biết trong nghiên cứu sự chấp nhận đối với các loại dược liệu đã được nhận biết (KhatunJokar , 2017)
2.4 Các khái niệm và phát triển giả thuyết nghiên cứu
2.4.1 Các khái niệm chính
Từ cơ sở lý thuyết nền và các nghiên cứu liên quan, các khái niệm nghiên cứu chính được hình thành dựa vào các khái niệm gốc: Nhận thức lợi ích, Kiến thức, nhận thức tính dễ sử dụng, ảnh hưởng của xã hội, nhận thức rủi ro, thái độ về hành vi, và
xu hướng hành vi, được cụ thể hóa vào lĩnh vực nghiên cứu là thuốc đông dược điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Nội dung được tổng hợp trong Bảng 2.2
Trang 31Bảng 2.2: Các khái niệm nghiên cứu Tên biến Định nghĩa, giải thích Ký hiệu Nguồn liên quan Nhận thức lợi ích
của thuốc đông
dược
Nhận thức lợi ích của thuốc đông dược đối với sức khỏe, cung cấp một liệu pháp điều trị tự nhiên giảm thiểu tác dụng phụ
HI Taylor , 2007;
Ondicho , 2015
Kiến thức về
thuốc đông dược
Kiến thức của người tiêu dùng về thuốc đông dược, nhận biết đặc điểm
về nguồn gốc, thành phần; nhận thức được ảnh hưởng đối với nhu cầu thể trạng
KT Bandaranayake,
2006;
Heidarifar , 2013; Ondicho , 2015 Nhận thức tính dễ
sử dụng của thuốc
đông dược
Nhận thức của người tiêu dùng về khả năng/tính thuận tiện trong sử dụng thuốc đông dược, thông qua khả năng nhận biết thuốc (thông tin thuốc), khả năng có được sản phẩm (tìm kiếm, mua…) và khả năng sử dụng sản phẩm (dạng bào chế, liều dùng, đối tượng bệnh nhân…)
RR Zhou , 2013;
Nguyễn Văn Phúc , 2015
Trang 322.4.2 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu
2.5.2.1 Nhận thức lợi ích của thuốc đông dược và thái độ tích cực
Yếu tố lợi ích về sức khỏe quan trọng để xác định sự chấp nhận về một liệu pháp điều trị (Kraus, 2015) người ta tin rằng người dùng sẽ được thuyết phục sử dụng các loại thảo mộc dược nếu thông tin về lợi ích sức khoẻ được cung cấp rõ ràng (KhatunJokar và cộng sự, 2017) Nghiên cứu việc dùng thuốc thảo dược tại thành phố Gucha-Kenya (Ondicho, 2015) cũng cho thấy tỉ lệ 83% có sử dụng thảo dược đồng ý
về tính hiệu quả Thuốc thường được sử dụng chỉ khi có yêu cầu về sức khỏe, do vậy
mà tính hiệu quả điều trị trở thành lý do được lựa chọn
Từ cơ sở trên, giả thuyết đưa ra là:
H1: Nhận thức về lợi ích của thuốc Đông dược làm tăng thái độ tích cực đối với thuốc đông dược của người tiêu dùng
2.5.2.2 Kiến thức về thuốc đông dược và thái độ tích cực
Nghiên cứa của Samojlik (2013) về thái độ với thuốc thảo dược của người dân được thực hiện tại Serbia, phần lớn đáp viên có trình độ học vấn cao, độ tuổi từ 41-
60 Có 88,9% không để ý đến việc dùng thuốc thảo dược và chế độ bổ sung từ thảo dược phải được thông tin cho Bác sĩ hoặc Dược sĩ; 73,3% cho rằng việc sử dụng thuốc thảo dược vô hại, trong khi 40,3% người tham gia cho rằng việc kết hợp thuốc thảo dược và thuốc thông thường thường xuyên không an toàn Phương pháp điều trị này tăng lên khi thuốc thông thường chưa thể hiệu quả trong điều trị những bệnh nan
y chẳng hạn như ung thư và đối mặt với các bệnh truyền nhiễm mới Hơn nữa, các loại thuốc truyền thống được nhận biết rộng rãi là tự nhiên và an toàn, nghĩa là không độc, quan điểm này chưa hẳn là đúng với thực tế, do vậy mà sự hiểu biết đầy đủ là cần thiết trong sử dụng Nghiên cứu của Ondicho (2015) liên về thuốc thảo dược tại thành phố Gucha-Kenya cũng cho thấy mức độ nhận biết tác động tích cực đến thái
độ đối với thuốc thảo dược
Có rất nhiều hệ thống y học cổ truyền khác nhau, lý luận và thực tiễn khác nhau theo khu vực địa lý mà nó đã phát triển Do sự đa dạng từ tên gọi cho đến cách định nghĩa về đông dược nói chung cũng gây khó khăn trong việc nhận biết về Đông dược
Trang 33Sản phẩm Đông dược ngày nay không chỉ đơn thuần theo phương pháp cổ truyền mà
đã và đang có những bước tiến về công nghệ để cho ra các dòng sản phẩm tinh chế chất lượng hơn Với sự tiến bộ của y học và các tiêu chuẩn của thế giới từ kiểm tra
và đảm bảo chất lượng (GLP: Good Laboratory Practice) đến sản xuất (GMP: Good Manufacturing Pratice), bảo quản (GSP: Good Storage Practices) chất lượng và tính hiệu quả của thuốc đông dược ngày càng được nâng cao, đồng đều, tiện dụng Việc
sử dụng thuốc không còn là hình thức tự tìm hiểu, hoặc truyền miệng mà đã qua một
hệ thống kiểm soát chất lượng, được cấp phép lưu hành hợp lệ Do vậy, việc nhận diện đúng, và nhận thức đúng về thuốc đông dược sẽ tránh đi những quan điểm sai lầm như “thuốc sơn đông mãi võ” cũng như việc tin tưởng thái quá về sự tuyệt đối của Đông dược về an toàn Từ cơ sở trên, giả thuyết được đưa ra là:
H2: Kiến thức về thuốc đông dược làm tăng thái độ tích cực đối với thuốc đông dược của người tiêu dùng
2.5.2.3 Nhận thức tính dễ sử dụng và thái độ tích cực
Tính dễ sử dụng là niềm tin về sử dụng một ứng dụng mà không cần nhiều sự
cố gắng (Davis, 1989) Ngày nay, công nghệ đã giúp việc bào chế thuốc thảo dược trở nên đơn giản hóa trong sử dụng, giảm thiểu liều dùng nhờ vào công nghệ tinh chế
và chiết xuất thảo dược Việc sử dụng thuốc đông dược không chỉ còn đơn thuần là việc pha trộn rất nhiều loại dược liệu sơ chế (còn gọi là thuốc thang, vốn rất khó nhận biết và phân biệt) với nhau theo phương thức “sắc thuốc” thủ công Thông qua công nghệ tinh chế và sản xuất hiện đại, dạng bảo chế của thuốc đông dược ngày nay đã tương tự hoặc gần như thuốc tân dược kể cả giảm thiểu về liều dùng với thông tin thành phần rõ ràng Nghiên cứu của Rashidi (2012) cũng chỉ ra rằng sự thuận tiện trong tiếp cận các sản phẩm có thể làm tăng tiêu dùng Còn đối với nghiên cứu của Ondicho (2015), thái độ sử dụng thuốc thảo dược cũng chịu ảnh hưởng bởi tính sẵn
có và dễ sử dụng Trên cơ sở đó, giả thuyết được đưa ra là:
H3: Nhận thức tính dễ sử dụng làm tăng thái độ tích cực đối với thuốc đông dược của người tiêu dùng
Trang 342.5.2.4 Ảnh hưởng của xã hội và thái độ tích cực
Ảnh hưởng của xã hội thể hiện mức độ chi phối hành vi của các tác động về mặt
xã hội Sự ủng hộ hay không đồng tình của người khác có thể liên quan đến văn hóa, tác động đến niềm tin, nhận thức về thực hiện hành Niềm tin về việc thực hiện một hành vi càng được cũng cố khi những cá nhân tác động gần gủi với bản thân, hoặc số lượng người cùng đồng tình lớn cũng mang đến tác động lớn về hành vi
Theo đánh giá nền văn hóa tại Việt Nam (Hofstede, 2012), yếu tố tập thể được đề cao, yêu cầu về sự hòa nhập với tập thể khiến cho các yếu tố cá nhân bị giảm đi Nhận thức, lý luận chung của tập thể luôn có ảnh hưởng lớn đến nhận thức mỗi cá nhân Điều
đó cũng thể hiện qua khái niệm về một “hiệu ứng bầy đàn” khi đặt niềm tin vào tập thể thay vì các quyết định cá nhân, xu hướng cá nhân phụ thuộc vào xu hướng chung của cộng đồng (Vũ Huy Thông, 2010)
Theo nghiên cứu liên quan đến sự chấp nhận các loại thảo mộc dược phẩm tại thành phố Rasht, Iran của Nargesh KhatunJokar (2017), có một phần đáng kể (46%)
sử dụng dược liệu là thông qua giới thiệu và kinh nghiêm từ người thân Sản phẩm Đông dược thường có yếu tố mang tính lưu truyền và kế thừa trong dân gian Quyền
tự do lựa chọn cũng khuyến khích thay thế các phương pháp trị liệu và thuốc thảo dược được chọn từ một cách tiếp cận suy luận dựa trên những thông tin giai thoại, nghĩa là
"nó đã làm tốt cho bạn tôi hoặc người thân" (Parle và Bansal, 2006)
Từ cơ sở trên, giả thuyết được đưa ra là:
H4: Ảnh hưởng của xã hội tác động đến thái độ tích cực đối với thuốc đông dược của người tiêu dùng
2.5.2.5 Nhận thức rủi ro và thái độ tích cực
Theo nghiên cứu của Taylor (2007), tổng của mức độ nghiêm trọng và tính nhạy cảm dẫn đến động lực điều chỉnh về hành vi mà cá nhân phải thực hiện trong việc chăm sóc sức khỏe Tổ chức WHO cũng có nhiều khuyến cáo đến việc sử dụng thuốc thảo dược cần thiết phải xác định những rủi ro Sự gia tăng của các trường hợp ngộ độc đòi hỏi phải đảm bảo đánh giá độc tính toàn diện cùng với sự thận trọng của dược phẩm
Trang 35để bảo vệ an toàn y tế cộng đồng (Zhou , 2013) Các vấn đề gây tranh cãi vì quan niệm trước đây về việc mặc nhiên các sản phẩm thảo dược là "an toàn" vì chúng được lấy từ nguồn "tự nhiên" phần nào được giải tỏa và nhận thức đầy đủ hơn, thực tế là "an toàn"
và "tự nhiên" không đồng nghĩa (Martins Ekor, 2013) Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc (2015), rủi ro có tác dụng nghịch lên ý định mua thuốc không kê toa Tương
tự, thuốc đông dược tại Việt Nam chiếm tỉ lệ lớn nằm ngoài danh mục thuốc kê toa của
Bộ y tế Ngoài vấn đề an toàn, hiệu quả điều trị cũng là rủi ro đối với sức khỏe khi việc lựa chọn điều trị theo một liệu pháp không mang lại hiệu quả, đặc biệt với liệu trình điều trị lâu dài Từ đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H5: Nhận thức về rủi ro tác động ngược chiều đến thái độ tích cực đối với thuốc đông dược
2.5.2.6 Thái độ tích cực hướng tới xu hướng sử dụng
Thái độ thể hiện sự cảm nhận tích cực hoặc tiêu cực về một hành vi và có thể được quyết định bởi sự dự báo về kết quả của hành vi Thái độ được xác định bởi niềm tin và sự đánh giá Theo đó, niềm tin của người tiêu dùng về dược liệu thì nhận thức lợi ích về sức khỏe, ít tác dụng phụ và giá cả phải chăng hơn ảnh hưởng lớn nhất đến nhu cầu về dược liệu (Sajedipoor và Mashayekhi, 2015) Lý do việc sử dụng dược thảo ở thành phố Qom - Iran chủ yếu là ở quan điểm ít tác dụng phụ (Heidarifar , 2013) Sự an toàn của dược liệu và thuận tiện tiếp cận với các sản phẩm này có thể làm tăng tiêu dùng (Rashidi , 2012) Do ảnh hưởng của tôn giáo và mức độ ý thức tâm linh, nhiều cá nhân có khuynh hướng ngày càng chấp nhận giá trị trị liệu của một điều trị dựa trên đức tin hoặc trực giác hơn là lý luận khoa học (Astin, 1998; Zeil, 1999) Do đó các loại thuốc thảo mộc trở nên đặc biệt quyến rũ khi cơ thể tự nhiên
“tự sửa chữa” với điều kiện thích hợp (Parle và Bansal, 2006) Niềm tin về sự an toàn
và cuộc sống lành mạnh được cho là nguyên nhân cho sự bùng nổ của thị trường thuốc thảo dược (Bandaranayake, 2006) Trên cơ sở đó, giả thuyết đưa ra là:
H6: Thái độ tích cực với thuốc đông dược tác động cùng chiều đến xu hướng sử dụng thuốc Đông dược
Trang 362.5.2.7 Các yếu tố xã hội – dân số học với thái độ tích cực và xu hướng dùng thuốc đông dược
a Độ tuổi:
Ở mỗi độ tuổi khác nhau, cơ thể con người có những thay đổi khác nhau khá
đa dạng và toàn diện về mặt xã hội, điều kiện môi trường sống, thói quen sống, cường
độ sinh hoạt và các thay đổi liên quan đến tâm sinh lý con người, điều này dẫn đến nhu cầu cũng như đòi buộc chế độ về mặt y tế cũng khác nhau ở mỗi giai đoạn Ở giai đoạn chưa hoàn chỉnh đầy đủ, trẻ em cần được quan tâm ở chế độ chăm sóc đặc biệt; người trưởng thành lại thường có nguy cơ tiếp cận với nhiều tác nhân của bệnh
do cuộc sống lao động và các quan hệ xã hội phong phú; có sự suy giảm dần chức năng sinh lý và tăng nguy cơ thay đổi bệnh lý dẫn tới ung thư, bệnh tim mạch, chứng mất trí, tiểu đường, loãng xương, khi độ tuổi tăng cao Chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt là cần thiết trong việc xác định chất lượng cuộc sống lành mạnh và trong điều trị bệnh mãn tính (Bozzetti, 2003; Benzie và Wachtel-Galor, 2010) Người cao tuổi thường phải chống chọi một lúc nhiều thứ bệnh khác nhau mà thường gọi chung
là “bệnh tuổi già” và các ảnh hưởng qua lại khi điều trị cùng lúc nhiều bệnh khác nhau Điều này dẫn đến tâm lý càng lo ngại những phản ứng phụ và liệu pháp điều trị theo hướng tự nhiên, an toàn thường được lựa chọn Trên cơ sở đó, giả thuyết được đưa ra là:
H7a1: Có sự khác biệt về độ tuổi đến thái độ hướng tới sử dụng thuốc đông dược
H7a2: Có sự khác biệt về độ tuổi đến xu hướng sử dụng thuốc đông dược
b Giới tính
Giới tính là yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng tương tác của thuốc trong
cơ thể con người, dẫn đến sực bắt buộc hoặc tâm lý trong lựa chọn khác nhau trong
sử dụng thuốc So với nam giới, các thời kỳ đặc hữu ở phụ nữ như các thời kỳ kinh nguyệt, mang thai đều tác động đến tâm sinh lý và nhu cầu sức khỏe khác nhau Đặc biệt việc sử dụng thuốc cần sự cân nhắc và hết sức thận trọng trong giai đoạn thai kỳ Ở nam giới, giai đoạn dậy thì bắt đầu cho nhu cầu về một cơ thể khỏe mạnh
Trang 37cường tráng Ngoài các yếu tố sinh lý tự nhiên, thói quen sinh hoạt giữa giới tính khác nhau dẫn đến tâm lý cũng như mô hình bệnh tật khác nhau dẫn đến xu hướng sử dụng thuốc cũng khác nhau Các chất kích thích (rượu, thuốc lá…) thường nhiều hơn ở nam giới, cũng như tiếp xúc công việc nặng nhiều hơn Việc quan tâm đến sắc đẹp, nội trợ hay chăm trẻ sơ sinh lại thường diễn ra ở nữ giới v.v… Với các yếu tố khác biệt về giới tính cho thấy phụ nữ đòi hỏi sự chấp nhận rủi ro ít Trên cơ sở đó, giả thuyết được đưa ra là:
H7b1: Có sự khác biệt theo giới tính về thái độ hướng tới sử dụng thuốc đông dược
H7b2: Có sự khác biệt theo giới tính về xu hướng dùng thuốc đông dược
c Trình độ học vấn
Khi có yêu cầu điều chỉnh về yếu tố sức khỏe, việc tìm hiểu những phương pháp hữu hiệu và ưu tiên sử dụng những phương pháp an toàn là cần thiết Nghiên cứu của Nargesh KhatunJokar (2017) cũng cho thấy mức độ chấp nhận dược liệu tăng theo trình độ Dù vậy, vẫn có thể lập luận ngược lại rằng, thuốc thảo dược và YHCT nói chung, điển hình tại Việt Nam và Trung Quốc, ra đời từ rất lâu đúng với tên gọi
“cổ truyền” của nó Nó được chấp nhận và minh chứng về lý do cho sự tồn tại và phát triển đến ngày nay kể cả trong giới khoa học, y học lẫn người tiêu dùng Người bệnh trước đây thường không hiểu biết về các loại thuốc đang sử dụng bởi nó được chỉ định từ người có chuyên môn, kinh nghiệm hoặc thông qua các kinh nghiệm được lưu truyền trong xã hội, yếu tố trình độ kiến thức ít được thể hiện trong đặc điểm này Tính chất lưu truyền dân gian hay kinh nghiệm cá nhân vẫn là đặc điểm của lĩnh vực này, mặc dù ngày nay đã có sự tham gia của KHCN Trên cơ sở đó, giả thuyết được đưa ra là:
H7c1: Có sự khác biệt theo trình độ đối với thái độ hướng tới sử dụng thuốc Đông dược
H7c2: Có sự khác biệt theo trình độ đối với xu hướng dùng thuốc đông dược
Trang 382.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ các giả thuyết được hình thành, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau:
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu đề xuất 2.6 Tóm tắt chương 2
Chương 2 giới thiệu lý thuyết khung và tổng hợp các nghiên cứu trước đây có liên
quan để xây dựng các giả thuyết và mô hình nghiên cứu Từ đó, xây dựng 07 khái
niệm chính bao gồm: (1) Nhận thức lợi ích, (2) Kiến thức về thuốc đông dược, (3)
Nhận thức tính dễ sử dụng, (4) Ảnh hưởng của xã hội, (5) Nhận thức rủi ro, (6) Thái
độ tích cực hướng tới sử dụng thuốc đông dược và (7) Xu hướng dùng thuốc đông
dược Có 06 giả thuyết chính (H1 – H6) được đặt ra về sự tác động giữa các nhân tố
nghiên cứu và các giả thuyết về liên quan đến các yếu tố xã hội – nhân khẩu học
(H7a1,a2 – H7c1,c2)
Trang 39Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương này trình bày trình tự các bước nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu (liên quan đến các giai đoạn thực hiện và mẫu nghiên cứu), xây dựng thang đo cùng với quá trình tạo dựng thang đo chính thức để sử dụng cho khảo sát, các bước phân tích
dữ liệu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được thực hiện theo các bước trong mô hình sau:
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Trang 403.2 Thiết kế nghiên cứu
3.2.1 Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ
Tổ chức thảo luận trực tiếp với các chuyên gia trong chuyên ngành liên quan, đối tượng làm trong các lĩnh vực khác nhau, có thể liên quan về chuyên môn và/hoặc đã từng sử dụng/mua cho người khác sử dụng thuốc đông dược Mục đích để khám phá,
bổ sung sửa đổi hoặc khẳng định các nội dung lý thuyết, xây dựng thang đo chính thức Nội dung được đưa vào buổi thảo luận cụ thể tại Phụ lục 1 và kết quả thực hiện trong Phụ lục 2 Việc tổ chức thảo luận được thực hiện cơ bản như sau:
- Thời gian: ngày 09/03/2019
- Địa điểm: 1017 Hồng Bàng, Phường 12, Quận 6, TP Hồ Chí Minh
- Danh sách tham gia thảo luận: gồm 10 người đều đã từng sử dụng thuốc đông dược, thuộc các lĩnh vực:
Chuyên viên trong ngành dược: 06 người
Hoạt động kinh doanh: 02 người
Làm việc kỹ thuật: 02 người
- Y kiến xây dựng mô hình:
STT Yếu tố (tác động đến thái độ tích cực và xu
hướng sử dụng thuốc Đông dược)
Đồng ý Tỉ lệ
01 Nhận thức về lợi ích của thuốc đông dược 10 100%
02 Kiến thức về thuốc đông dược 8 80%