1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam

120 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Tác giả Hà Thị Tường Vi
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Bích Ngọc
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU (13)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC (17)
    • 2.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ (17)
    • 2.1.2 Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam (18)
    • 2.1.3 Khái niệm về Thuê ngoài – outsourcing (20)
    • 2.1.4 Khái niệm về năng suất (22)
    • 2.2.1 Lý thuyết về chi phí giao dịch (25)
    • 2.2.2 Lý thuyết năng lực cốt lõi (Core Competency Theory) (27)
    • 2.2.3 Hàm sản xuất Cobb - Douglas (28)
    • 2.5.1 Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa thuê ngoài và năng suất (35)
    • 2.5.2 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất (37)
  • CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (42)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (42)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (42)
    • 3.3. Mô hình nghiên cứu (43)
    • 3.4. Phương pháp định lượng (48)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (51)
    • 4.1. Thu nhập và xử lý dữ liệu (51)
    • 4.2. Thống kê mô tả (51)
    • 4.3. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến (59)
    • 4.4. Kiểm tra đa cộng tuyến theo hệ số VIF (60)
    • 4.5. Phân tích kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu (61)
      • 4.5.1. Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled OLS, FEM, REM (61)
      • 4.5.2. Mô hình FGLS (66)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (71)
    • 5.1. Kết luận (71)
    • 5.2. Hàm ý chính sách (73)
    • 5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (74)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (76)
  • PHỤ LỤC (92)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hiện nay, khái niệm về Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) vẫn chưa có sự thống nhất Tại Việt Nam, DNVVN được định nghĩa trong Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009, theo đó DNVVN bao gồm các cơ sở kinh doanh đã đăng ký theo quy định pháp luật, được phân loại thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa Phân loại này dựa trên quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm, trong đó tổng nguồn vốn được coi là tiêu chí ưu tiên.

Bảng 2.1: Tiêu thức xác định DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ – CP

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

I Nông, lân nghiệp và thủy sản

II Công nghiệp và xây dựng

III Thương mại và dịch vụ

Nhà nước áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) tùy thuộc vào tính chất, mục tiêu và giai đoạn phát triển Ví dụ, theo thông tư số 16/2013/TT-BTC ngày 08/02/2013, có hướng dẫn về việc gia hạn và giảm các tiêu chuẩn này.

Theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/1/2013 của Chính phủ, một số khoản thu ngân sách Nhà nước được quy định nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và giải quyết nợ xấu Trong bối cảnh này, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được nhận dạng với vai trò quan trọng trong nền kinh tế.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm chi nhánh và đơn vị trực thuộc hạch toán độc lập, hợp tác xã, có dưới 200 lao động toàn thời gian và doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng, không bao gồm các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, xổ số, trò chơi có thưởng, và sản xuất hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

Theo tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) để gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế GTGT năm 2013 theo Thông tư 16/2013/TT-BTC, doanh nghiệp được xem là vừa và nhỏ nếu sử dụng dưới 200 lao động toàn thời gian và có doanh thu hàng năm không vượt quá 20 tỷ đồng.

Định nghĩa Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa (DNNVV) theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP hiện vẫn còn hiệu lực và được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu khoa học về doanh nghiệp tại Việt Nam.

Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam

Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, chiếm khoảng 90% tổng số doanh nghiệp trên toàn cầu và đang gia tăng nhanh chóng Tại Việt Nam, mặc dù chưa có số liệu thống kê chính thức, nhưng các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng dao động từ 80-90% Sự phát triển của các doanh nghiệp này diễn ra nhanh hơn so với doanh nghiệp lớn, khẳng định vị thế của chúng trong hệ thống sản xuất kinh doanh.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu, góp phần vào sự gia tăng thu nhập quốc dân Trung bình, các doanh nghiệp này chiếm khoảng 50% GDP của mỗi quốc gia, thể hiện tầm ảnh hưởng lớn của họ đối với nền kinh tế.

7 nước, Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý TW, thì hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếp khoảng 24% GDP

Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nhiều chỗ làm việc cho người lao động, từ đó tăng thu nhập và góp phần xoá đói giảm nghèo Khu vực này cung cấp việc làm cho khoảng 50-80% lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, vượt trội hơn so với các khu vực khác Trong những thời kỳ khó khăn, khi các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thu hút nhiều lao động hơn Tại Việt Nam, theo Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế TW, có khoảng 7,8 triệu lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 72,9% tổng số lao động phi nông nghiệp và khoảng 22,5% lực lượng lao động toàn quốc.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế thị trường nhờ vào sự năng động, linh hoạt và sáng tạo trong kinh doanh Với quy mô vừa và nhỏ, các doanh nghiệp này có khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh một cách chuyên môn hóa và đa dạng hóa, giúp họ nhanh chóng thích ứng với những yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.

Vào thứ năm, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thu hút một lượng lớn vốn từ dân cư nhờ vào tính chất nhỏ lẻ và yêu cầu vốn đầu tư ban đầu không cao Các doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong việc kêu gọi các nguồn vốn nhỏ lẻ từ các tầng lớp dân cư, khuyến khích họ đầu tư vào sản xuất kinh doanh Qua đó, chúng không chỉ hình thành thói quen đầu tư mà còn tạo ra các khu vực hiệu quả để huy động vốn theo luật khuyến khích đầu tư trong nước.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt tại khu vực nông thôn Sự phát triển của các doanh nghiệp này đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch, góp phần vào sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp.

Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời thu hẹp tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế Các doanh nghiệp này không chỉ thúc đẩy sự phát triển của thương mại - dịch vụ mà còn góp phần đa dạng hóa cơ cấu công nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội và động lực cho nền kinh tế quốc dân.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình đô thị hóa phi tập trung và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương” Sự phát triển của các doanh nghiệp này không chỉ thu hút lao động thiếu việc làm mà còn tạo cơ hội cho lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn, giúp chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ mà vẫn giữ lại quê hương Đồng thời, điều này góp phần hình thành các khu vực công nghiệp và dịch vụ tại nông thôn, tạo ra các thị tứ, thị trấn, và hình thành các đô thị nhỏ xen kẽ với làng quê.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong việc ươm mầm tài năng kinh doanh và đào tạo các nhà doanh nghiệp tương lai Những doanh nghiệp quy mô nhỏ không chỉ là nơi khởi đầu mà còn là môi trường rèn luyện cho các nhà doanh nghiệp, giúp họ làm quen với thực tế kinh doanh Từ những trải nghiệm tại các doanh nghiệp này, nhiều nhà doanh nghiệp sẽ phát triển thành những doanh nhân lớn, có khả năng đưa doanh nghiệp của mình phát triển nhanh chóng Chính vì vậy, việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất cần thiết để nuôi dưỡng các tài năng kinh doanh.

(Báo cáo hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành chính phát triển DNVVN ở Việt Nam- Trong khuôn khổ dự ánUNIDO-MPI-US/VIE/95/004)

Khái niệm về Thuê ngoài – outsourcing

Khi xem xét phương thức thâm nhập thị trường toàn cầu, Outsourcing, hay sản xuất theo hợp đồng, đề cập đến việc hợp tác hoặc chế tạo sản phẩm tại thị trường nước ngoài Mặc dù nhiều người thường liên tưởng đến gia công phần mềm và lập trình, nhưng thực tế, thuật ngữ này còn xuất hiện trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau.

9 doanh: kế toán, luật, nhân sự, công nghệ thông tin, dọn dẹp văn phòng/nhà ở (cleaning), logistic/vận tải…

Thuê ngoài đã trở thành một xu hướng phát triển trong nhiều năm, nhưng vẫn thiếu bằng chứng thực nghiệm về quyết định thuê ngoài và ảnh hưởng của nó đến các công ty Mặc dù có nhiều nghiên cứu phân tích các hình thức thuê ngoài khác nhau, vẫn chưa có định nghĩa chính xác nào về khái niệm này Thuật ngữ gia công phần mềm thường được sử dụng để chỉ các mối quan hệ hợp đồng giữa các công ty và việc thuê lao động cho các công việc phi truyền thống (Heshmati, 2003).

Thuê ngoài là một yếu tố quan trọng trong quá trình chuyên môn hóa sản xuất, liên quan đến việc mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ bên thứ ba (Gửrg et al., 2008) Krugman (1995) mô tả quá trình này là "cắt đứt chuỗi giá trị" Ngoài thuê ngoài quốc tế, việc sản xuất hàng hóa trung gian cũng ngày càng trở nên phổ biến cùng với sự phát triển của các dịch vụ thuê ngoài quốc tế.

Thuê ngoài quốc tế có thể gây ra tác động tiêu cực, đặc biệt là trong các nước phát triển, nơi mà hầu hết hoạt động kinh tế phụ thuộc vào lĩnh vực dịch vụ Sự gia tăng dịch vụ thuê ngoài quốc tế có thể dẫn đến tình trạng mất việc làm Mặc dù lý thuyết thương mại kinh tế cho rằng các quốc gia không mất việc làm ngay cả khi một quốc gia khác có lợi thế tuyệt đối (Ricardo, 1817), nhưng thực tế cho thấy thuê ngoài vẫn gây ra hiệu ứng phân phối tiêu cực và thất nghiệp tạm thời.

Trong bài viết của Stephanie Overby trên tạp chí CIO Asia và MIS Financial Review, thuê ngoài được định nghĩa là việc chuyển giao một phần dịch vụ cho bên thứ ba, tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau Về bản chất, outsourcing là một giao dịch mà qua đó, một công ty mua các dịch vụ từ một công ty khác.

10 khác trong khi vẫn giữ quyền sở hữu và chịu trách nhiệm cơ bản đối với các hoạt động đó

Các loại hình thuê ngoài:

Có thể phân loại các loại hình thuê ngoài theo 3 tiêu chí: ranh giới địa lý, nội dung hoạt động và hình thức hợp tác

Xét về ranh giới địa lý:

Thuê ngoài nội địa (Iprohore outsourcing)

Thuê ngoài cận biên (Nearshore outsourcing)

Thuê ngoài ngoại biên (Offshore outsourcing)

Thuê ngoài quy trình kinh doanh (BPO: Business Process outsourcing)

Thuê ngoài hoạt động nghiên cứu, thiết kế (KPO: Knowlegde Process Outsourcing) Thuê ngoài Công nghệ thông tin (ITO: Information Technology Outsourcing)

Outsourcing services such as Application Development and Maintenance, Disaster Recovery, Finance and Accounting, and Human Resources can significantly enhance operational efficiency and reduce costs for businesses By leveraging expert external teams, companies can focus on their core competencies while ensuring critical functions are managed effectively.

Về hình thức hợp tác:

Thuê ngoài giao dịch (Traproactional Outsourcing) Đồng thuê ngoài (Co-outsourcing alliances)

Hợp tác chiến lược (strategic partnership).

Khái niệm về năng suất

2.1.4.1 Khái niệm về năng suất

Nhà kinh tế học Smith (1776) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "năng suất" (productivity) trong một bài viết về hiệu quả sản xuất, nhấn mạnh rằng năng suất phụ thuộc vào số lượng lao động và khả năng sản xuất Ông định nghĩa năng suất là thước đo đầu ra trong quá trình sản xuất.

Năng suất được xác định bởi 11 yếu tố đầu vào, dựa trên nguyên tắc tối đa hóa đầu ra và tối thiểu hóa đầu vào Nó cũng có thể được hiểu là tỷ lệ giữa số lượng sản phẩm đầu ra và thời gian cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm.

Năng suất không chỉ đơn thuần là năng suất lao động mà còn mang ý nghĩa toàn diện hơn, liên quan đến thị trường và cạnh tranh Thay vì chỉ đo lường sản lượng sản phẩm trong một khoảng thời gian, năng suất còn phải gắn liền với yếu tố chất lượng, phản ánh sự phát triển bền vững trong kinh doanh.

Theo Starbuck (1992), năng suất là yếu tố quyết định cho sự thành công của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh, do đó, doanh nghiệp cần tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm Để đo lường năng suất, người ta so sánh số lượng sản phẩm dịch vụ đầu ra với các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất Năng suất lao động được tính bằng cách chia số lượng sản phẩm sản xuất cho số giờ làm việc, từ đó có thể đánh giá mức độ năng suất và so sánh giữa các nhà máy khác nhau trong các khoảng thời gian khác nhau.

Kendrick (1993) định nghĩa năng suất là tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào của nguồn lực lao động, bao gồm vốn và lao động Để tăng năng suất, sản lượng đầu ra cần phải tăng nhanh hơn so với lượng đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất.

Năng suất, theo định nghĩa của Hill (1993), là tỷ lệ giữa sản phẩm được sản xuất và nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất Nó đo lường mối quan hệ giữa đầu ra, bao gồm sản phẩm và dịch vụ, với các đầu vào như lao động, vốn, nguyên vật liệu và các yếu tố khác.

Theo OECD (2001), năng suất được định nghĩa là tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào Các chỉ tiêu năng suất sẽ khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố đầu ra và đầu vào được xem xét.

Năng suất, theo định nghĩa của Theo Coelli và cộng sự (2005), là sản lượng sản xuất đạt được từ các đầu vào nhất định Khi đo lường sản lượng trên một đơn vị đầu vào như vốn hoặc lao động, ta có chỉ tiêu năng suất lao động hoặc năng suất vốn Nếu kết hợp tất cả các đầu vào để tính toán sản lượng sản xuất, ta sẽ có chỉ tiêu tổng năng suất (Total Factor Productivity - TFP).

Năng suất là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả khai thác các yếu tố đầu vào trong doanh nghiệp, phản ánh tính lợi nhuận, hiệu quả, sự đổi mới và chất lượng hoạt động Nó cho thấy trình độ quản trị sản xuất và là cơ sở để xác định mức trả công cho người lao động Do đó, việc tính toán năng suất đóng vai trò then chốt trong quản trị sản xuất của doanh nghiệp.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và hội nhập kinh tế hiện nay, năng suất đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của quốc gia, ngành và doanh nghiệp Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển, năng suất lao động được xem là yếu tố quan trọng nhất Việc đo lường năng suất là công cụ thiết yếu để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Có nhiều phương pháp để đo lường năng suất, tùy thuộc vào quan điểm của từng nhà nghiên cứu Theo Easton và Jarrell (1998), năng suất có thể được đo lường dựa vào các chỉ số tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu khác, như Kaplan, lại đưa ra những quan điểm khác về cách thức đo lường này.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, các công ty cần không chỉ dựa vào các tỷ số tài chính để đo lường năng suất mà còn phải xem xét sự thỏa mãn của khách hàng và nội bộ doanh nghiệp, như đã chỉ ra bởi Norton (1992), Raaum (1992) và Gao (1990) Nghiên cứu của Gao được coi là toàn diện nhất trong số các nghiên cứu này, ông phân loại việc đo lường năng suất trong các doanh nghiệp sản xuất thành ba nhóm, trong đó nhóm đầu tiên liên quan đến các vấn đề tài chính như thị phần, doanh thu trên mỗi nhân viên và lợi nhuận trên tài sản.

Đo lường năng suất trong doanh nghiệp cần bao gồm các chỉ số như lợi nhuận trên doanh thu, mức độ phục vụ khách hàng (thỏa mãn, khiếu nại, duy trì khách hàng, thời gian thực hiện đơn hàng, độ tin cậy) và sự thỏa mãn nội bộ (nhân viên, thu nhập, an toàn sức khỏe, đề xuất của nhân viên) Nanni và cộng sự (1990) nhấn mạnh rằng việc đo lường năng suất phải hỗ trợ cho chiến lược toàn cầu của công ty, do đó, các chỉ số này cần được liên kết với chiến lược dài hạn Vitale & Mavrinac (1995) cũng khẳng định rằng nếu không có sự liên kết này, các nỗ lực đo lường năng suất sẽ trở nên lãng phí.

Theo Han và Leong (1996), việc đo lường năng suất cho phép các doanh nghiệp theo dõi mọi hoạt động và xác định các lĩnh vực cần cải tiến Điều này giúp năng suất trở thành tiêu chuẩn so sánh hiệu quả giữa các doanh nghiệp khác nhau, từ đó nhận diện được những điểm mạnh và điểm yếu thông qua các chỉ số cụ thể.

(1) Tổng doanh thu/ Tổng chi phí

(2) Tổng doanh thu/ Số lượng lao động

(3) Tổng sản lượng/ Số lượng lao động

(4) Giá trị gia tăng (lợi nhuận)/ Số giờ công hay Giá trị gia tăng/ Số lượng lao động

(5) Giá trị gia tăng (lợi nhuận)/ Chi phí lao động

Trong bài viết này, tác giả trình bày định nghĩa năng suất phổ biến nhất, dựa trên các chỉ số do Han và Leong (1996) đề xuất, bao gồm Giá trị gia tăng chia cho Số lượng lao động và Tổng doanh thu chia cho Số lượng lao động.

Lý thuyết về chi phí giao dịch

Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics - TCE) được Ronald Coase giới thiệu lần đầu vào năm 1937, nhằm phân tích chi phí giao dịch bằng cách so sánh chi phí trên thị trường với chi phí nội bộ của doanh nghiệp.

Trong một nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất và trao đổi được tổ chức theo hệ thống giá, yêu cầu cá nhân phải đầu tư chi phí để nghiên cứu điều kiện giao dịch và tìm kiếm đối tác Quá trình này phát sinh chi phí thương lượng hợp đồng cho mỗi giao dịch, trong khi chi phí sản xuất lại tách biệt với chi phí giao dịch.

Trong bối cảnh chi phí giao dịch cao, việc nội bộ hóa sản xuất trong doanh nghiệp mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân Doanh nghiệp giúp giảm chi phí sản xuất nhờ vào lợi ích kinh tế theo quy mô và tiết kiệm chi phí giao dịch Lợi ích này thể hiện rõ qua việc giảm thiểu chi phí nghiên cứu thông tin giá cả, cũng như chi phí thương lượng và ký kết hợp đồng Đặc biệt, lợi ích về chi phí càng trở nên quan trọng khi hoạt động sản xuất yêu cầu một chuỗi các thao tác liên kết với nhau.

Lý thuyết chi phí giao dịch nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiết kiệm chi phí trong cạnh tranh và tồn tại của doanh nghiệp Ronald (1937) cho rằng, để đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp cần tận dụng nguồn lực từ các tổ chức bên ngoài Điều này giải thích lý do tại sao doanh nghiệp lại sử dụng dịch vụ thuê ngoài, dựa trên việc so sánh chi phí giữa thuê ngoài và thực hiện nội bộ Khi chi phí giao dịch nội bộ cao hơn chi phí giao dịch bên ngoài, doanh nghiệp có xu hướng chọn thuê dịch vụ bên ngoài và ngược lại.

Theo lý thuyết TCE của Ronald (1937), quyết định thuê ngoài phụ thuộc vào lợi ích tiết kiệm chi phí Williamson (1975) đã nhấn mạnh rằng lý thuyết TCE được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về thuê ngoài, vì nó cung cấp công cụ quan trọng hỗ trợ doanh nghiệp trong việc ra quyết định sử dụng dịch vụ thuê ngoài.

15 dụng nguồn lực bên ngoài của doanh nghiệp chủ yếu dựa trên lợi ích từ hoạt động này mang lại

Sử dụng nguồn lực bên ngoài có thể dẫn đến rủi ro về chi phí giao dịch gia tăng, do các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện Điều này ảnh hưởng đến động cơ sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp (Williamson, 1975).

Lý thuyết năng lực cốt lõi (Core Competency Theory)

Lý thuyết năng lực cốt lõi của Prahalad và Hamel (1990) cùng Barney (1991) nhấn mạnh rằng mọi tổ chức đều sở hữu những nguồn lực nội bộ mạnh mẽ cần được phát huy để tối đa hóa lợi ích và nắm bắt cơ hội kinh doanh Theo lý thuyết này, quyết định thuê ngoài của doanh nghiệp phụ thuộc vào bản chất công việc, thường chỉ thực hiện đối với các hoạt động không cốt lõi Gewald và cộng sự (2006) đã làm rõ rằng quyết định thuê ngoài là sự lựa chọn của nhà quản trị trong việc chuyển giao chức năng hoạt động cho các nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài Họ cũng khẳng định rằng mức độ thuê ngoài là tiêu chí quan trọng để đánh giá quyết định sử dụng nguồn lực bên ngoài của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ có thể đối mặt với rủi ro mất kiểm soát hoạt động do phụ thuộc vào bên cho thuê Chi phí thuê ngoài có thể không giảm như mong đợi và thậm chí còn cao hơn so với hợp đồng ban đầu, dẫn đến giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Percin (2009) chỉ ra rằng việc sử dụng nguồn lực bên ngoài giúp tiết kiệm chi phí hoạt động và cho phép các nhà quản trị tập trung vào các hoạt động quan trọng của tổ chức, từ đó tạo ra ảnh hưởng tích cực đến thái độ thuê ngoài của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc áp dụng dịch vụ thuê ngoài cần phải được xem xét như một chiến lược quan trọng, vì nếu không thực hiện hiệu quả, doanh nghiệp có thể gặp phải những bất lợi, bao gồm rủi ro chi phí gia tăng và nguy cơ gián đoạn hoạt động.

Hàm sản xuất Cobb - Douglas

Hàm sản xuất Cobb-Douglas, được đề xuất bởi Knut Wicksell và thử nghiệm bởi Charles Cobb và Paul Douglas vào năm 1928, là một công cụ quan trọng trong phân tích tăng trưởng và năng suất trong kinh tế học Trong kinh tế học vi mô, hàm này thể hiện lượng sản phẩm mà nhà sản xuất tạo ra, trong khi trong kinh tế học vĩ mô, nó phản ánh giá trị tổng sản phẩm nội địa của một nền kinh tế, ngành hoặc khu vực.

Hàm sản xuất Cobb Douglas có dạng theo công thức:

Y: Tổng sản lượng được tính bằng giá trị bằng tiền của tất cả các hàng hóa sản xuất trong một năm

L: đầu vào lao động được tính bằng tổng số lao động làm việc trong một năm

K: vốn đầu vào được tính bằng giá trị bằng tiền của tất cả máy móc, thiết bị,…

A: Hệ số tăng trưởng tự định, còn gọi là năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP), có thể là khoa học công nghệ (yếu tố chất lượng tăng tăng trưởng)

17 α, β: là độ co giãn của sản lượng theo lao động và vốn (0 < α < 1; 0 < β < 1)

Trong hàm sản xuất Cobb-Douglas, khi lao động L được cố định, sản lượng biên của vốn tại một mức K nhất định thể hiện lượng đầu ra tăng thêm khi tăng thêm một đơn vị vốn Sự thay đổi này luôn âm vì (α-1) < 0, điều này cho thấy sản lượng biên của vốn giảm dần theo mức K.

K Tương tự, sản lượng biên của lao động là lượng đầu ra tăng thêm khi sử dụng thêm một đơn vị lao động Do đó, sự thay đổi sản lượng biên của lao động theo L luôn luôn âm vì (β -1) < 0, và sản lượng biên của lao động cũng luôn giảm dần theo

L Tổng các hệ số α và β có thể cho chúng ta biết hiệu suất theo quy mô của doanh nghiệp như sau: α + β = 1: hiệu suất không đổi theo quy mô α + β < 1: hiệu suất giảm theo quy mô α + β > 1: hiệu suất tăng đổi theo quy mô

Sản phẩm biên của một yếu tố sản xuất có xu hướng giảm dần do khi tăng số lượng của yếu tố đó, các yếu tố sản xuất khác được giữ nguyên, dẫn đến mỗi đơn vị yếu tố sản xuất có ít hơn các yếu tố khác để phối hợp Khi tăng thêm L trong trường hợp cố định K, tổng sản lượng có thể tăng nhưng mức độ gia tăng sẽ chậm dần; nếu tiếp tục tăng L, tổng sản lượng sẽ giảm do số lượng lao động quá nhiều gây ra sự ngáng trở trong quá trình sản xuất Tương tự, sản phẩm biên của vốn cũng chịu ảnh hưởng tương tự khi L được giữ cố định.

Hàm sản xuất Cobb-Douglas được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa tổng sản phẩm của ngành và các yếu tố đầu vào như lao động (L) và vốn (K) Hàm này giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến năng suất lao động của doanh nghiệp Cấu trúc hàm hồi quy được thể hiện dưới dạng Y = f(X), trong đó Y đại diện cho năng suất (biến phụ thuộc) và X là các biến độc lập.

Mối liên hệ giữa thuê ngoài và năng suất

Thuê ngoài đã trở thành một chiến lược phổ biến cho các nhà quản lý nhằm nâng cao năng suất trong doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng hình thức này có thể mang lại lợi ích đáng kể cho các công ty.

Mối liên hệ giữa thuê ngoài và năng suất đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên toàn cầu Mửhlmann và Henri (2013) chỉ ra rằng thuê ngoài có thể làm tăng năng suất doanh nghiệp thông qua sự chuyên môn hóa của bên thực hiện gia công Tuy nhiên, có một sự đánh đổi giữa chi phí sản xuất và chi phí giao dịch; thuê ngoài giảm chi phí sản xuất nhưng có thể làm tăng chi phí giao dịch với bên thứ ba Việc thuê ngoài trở nên hấp dẫn hơn khi chi phí tự sản xuất tăng hoặc khi nhà cung cấp dịch vụ có công nghệ tiên tiến hơn Đổi mới công nghệ không chỉ giúp tăng năng suất mà còn giảm chi phí giao dịch, từ đó làm cho thuê ngoài trở nên hấp dẫn hơn Den Butter và cộng sự (2008) cũng cho thấy rằng thuê ngoài có thể giải thích năng suất ở cấp quốc gia.

Abraham và Taylor (1996) đưa ra ba lý do chính giải thích tại sao thuê ngoài có thể giúp giảm chi phí sản xuất Thứ nhất, bên thứ ba có khả năng sản xuất với chi phí thấp hơn, đặc biệt là trong gia công quốc tế do sự chênh lệch về mức lương giữa các quốc gia Thứ hai, trong trường hợp sản xuất theo chu kỳ, công ty có thể không đủ nhân công trong giai đoạn cao điểm, do đó thuê ngoài một phần quy trình sản xuất sẽ giúp tối ưu hóa năng suất Cuối cùng, kinh tế quy mô cho phép giảm chi phí nếu một phần của quy trình sản xuất được giao cho bên thứ ba có chuyên môn và phát triển.

Việc thuê ngoài công tác quản lý tiền lương từ các công ty kế toán chuyên ngành giúp các doanh nghiệp nhỏ đạt được hiệu quả cao hơn.

Nghiên cứu của Wagner (2011) chỉ ra rằng các công ty thuê ngoài quốc tế không chỉ đạt được hiệu quả chi phí lớn hơn mà còn nâng cao năng suất Bên cạnh đó, ông cũng nhấn mạnh rằng các công ty này đã hoạt động hiệu quả hơn so với thời điểm trước khi áp dụng chiến lược thuê ngoài, cho thấy rõ ràng lợi ích của việc lựa chọn hình thức này.

Nghiên cứu của Van Gorp (2010) về thuê ngoài quốc tế của 700 công ty Hà Lan vào năm 2009 cho thấy rằng các công ty này đã thành công trong việc đạt được mục tiêu tiết kiệm chi phí thông qua việc áp dụng chiến lược thuê ngoài.

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc thuê ngoài có mối liên hệ tích cực với năng suất của doanh nghiệp.

Các yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất

Theo Luật Doanh Nghiệp Việt Nam năm 2005, đầu tư nước ngoài được định nghĩa là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn và tài sản hợp pháp vào Việt Nam để thực hiện hoạt động đầu tư Nguồn vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII), ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia FDI thúc đẩy sản xuất, trong khi FII kích thích sự phát triển của thị trường tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động và tính minh bạch Điều này giúp doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận nguồn vốn mới, cải thiện quản lý nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế.

Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa thuê ngoài và năng suất

Nghiên cứu của Ohnemus (2009) phân tích tác động của việc thuê ngoài đến năng suất của các công ty Đức trong cả ngành sản xuất và dịch vụ Các công ty này lựa chọn mua toàn bộ hoặc một phần dịch vụ thuê ngoài cần thiết từ các nhà cung cấp dịch vụ.

Mối liên quan giữa thuê ngoài và năng suất doanh nghiệp đặc biệt quan trọng trong bối cảnh công nghệ thông tin và truyền thông Các công ty gia công có thể tập trung vào năng lực cốt lõi của mình và tận dụng chuyên môn từ nhà cung cấp dịch vụ thuê ngoài Hơn nữa, các nhà cung cấp bên ngoài thường cung cấp dịch vụ với chi phí thấp hơn nhờ vào hiệu ứng quy mô Nghiên cứu sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas cho thấy rằng BPO có tác động tích cực và đáng kể đến năng suất doanh nghiệp, với kết quả mạnh mẽ qua nhiều kỹ thuật ước tính khác nhau.

Mô hình nghiên cứu của Ohnemus (2009):

Ait: đại diện cho các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất

Nghiên cứu của McCann (2009) chỉ ra mối liên hệ giữa việc thuê ngoài quy trình sản xuất và năng suất công ty tại Ailen Kết quả cho thấy, việc thuê ngoài giúp tăng năng suất qua hai kênh: ngắn hạn với đầu vào chất lượng cao hơn hoặc giá rẻ hơn, và trung hạn khi công ty tái phân bổ nguồn lực cho các hoạt động giá trị gia tăng Gia công quốc tế mang lại lợi ích bổ sung từ chất lượng và đa dạng đầu vào, cũng như tiếp xúc với công nghệ và kiến thức mới Tác giả đã sử dụng công cụ ước tính GMM để kiểm tra giả thuyết này qua dữ liệu bảng cho hàm sản xuất Cobb-Douglas.

Mô hình nghiên cứu của McCann (2009): yit = F(li, tkit, mit, FOSit, DOSit, SOSit) Trong đó: yit: Năng suất l: Lao động k: Vốn

DOS: là thuê ngoài trong nước

FOS là thuê ngoài nước ngoài

SOS là thuê ngoài dịch vụ

Nghiên cứu của López, A (2014) đã chỉ ra mối liên hệ giữa thuê ngoài và năng suất doanh nghiệp trong các công ty sản xuất tại Tây Ban Nha Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích cách thức thuê ngoài ảnh hưởng đến năng suất, đặc biệt là ở cấp độ công ty và thông qua các hoạt động sản xuất Kết quả nghiên cứu cung cấp những hiểu biết mới về thuê ngoài và làm nổi bật sự khác biệt giữa các ngành.

Nghiên cứu về 25 công ty sản xuất Tây Ban Nha cho thấy rằng năng suất sản xuất phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào truyền thống như lao động, vốn và nguyên liệu, cũng như việc thuê ngoài Kết quả cho thấy thuê ngoài có ảnh hưởng tích cực đến năng suất, với độ co giãn của đầu ra đối với gia công khoảng 0,15 Phân tích theo cấp ngành cũng khẳng định rằng thuê ngoài góp phần nâng cao năng suất trong sản xuất.

Nghiên cứu của JanMohimann (2013) phân tích ảnh hưởng của thuê ngoài đến năng suất công ty tại Hà Lan, dựa trên dữ liệu vi mô từ một cuộc khảo sát độc đáo năm 2001 Nghiên cứu phân biệt giữa thuê ngoài trong nước và quốc tế, cũng như giữa gia công các hoạt động cốt lõi và hỗ trợ Kết quả cho thấy, với phương pháp ước lượng hồi quy FEM, các công ty có năng suất cao hơn có xu hướng thuê ngoài nhiều hơn Ngược lại, phương pháp ước lượng hồi quy REM cho thấy, thuê ngoài các chức năng cốt lõi quốc tế làm giảm năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), trong khi thuê ngoài các chức năng hỗ trợ trong nước lại làm tăng TFP.

Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất

Nghiên cứu của Crépon và cộng sự (1998) chỉ ra mối liên hệ giữa năng suất và đổi mới, trong đó tác giả áp dụng một mô hình cấu trúc để giải thích đầu ra đổi mới dựa trên đầu vào từ đầu tư nghiên cứu Các công ty sản xuất đổi mới được đánh giá thông qua số lượng bằng sáng chế châu Âu và tỷ lệ phần trăm doanh thu, cùng với các chỉ số thúc đẩy nhu cầu ở cấp độ công ty và công nghệ Kết quả thực nghiệm cho thấy việc thực hiện nghiên cứu và phát triển (R&D) có tác động tích cực đến việc tăng năng suất công ty theo quy mô.

Arnold và Javorcik (2009) đã tiến hành phân tích mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài và năng suất nhà máy, sử dụng dữ liệu vi mô từ Tổng cục điều tra về lĩnh vực sản xuất tại Indonesia Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quyền sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến năng suất của các nhà máy.

Sự cải thiện năng suất trong các nhà máy đã đạt được những bước tiến đáng kể, nhờ vào quá trình tái cơ cấu, điều này không chỉ gia tăng việc làm mà còn nâng cao mức lương cho người lao động Hơn nữa, việc sở hữu nước ngoài đã thúc đẩy sự hội nhập của các nhà máy vào nền kinh tế toàn cầu, thể hiện qua sự gia tăng xuất khẩu và nhập khẩu.

Kuo và các cộng sự (2010) nghiên cứu tác động của FDI đến khu vực sản xuất ở Trung Quốc, đặc biệt chú trọng vào sự khác biệt trong hiệu suất tiềm năng của FDI đối với năng suất nền kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ, hai quốc gia có khoảng cách công nghệ tương đối cao Nghiên cứu dựa trên dữ liệu hỗn hợp từ 24 tỉnh ở Trung Quốc trong giai đoạn 1996-2006.

Nghiên cứu năm 2005 chỉ ra rằng FDI có tác động tích cực đáng kể đến năng suất kinh tế khu vực Tuy nhiên, sự khác biệt về công nghệ giữa nước đầu tư và nước chủ nhà có thể dẫn đến những ảnh hưởng khác nhau của luồng vốn FDI Do đó, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài với khoảng cách công nghệ phù hợp được xem là một chiến lược quan trọng nhằm thúc đẩy năng suất và tăng trưởng kinh tế cho nước nhận đầu tư.

Alvarez, Bravo-Ortega, và Navarro (2010) đã phân tích tác động của đổi mới sản phẩm đến năng suất doanh nghiệp tại Chile trong thập kỷ qua bằng hai nguồn thông tin và phương pháp khác nhau Mô hình nghiên cứu bao gồm bốn phương trình liên quan đến quyết định đầu tư vào R&D, cường độ R&D, hàm sản xuất tri thức và hàm đầu ra sản xuất, trong đó năng suất được xác định bởi kết quả đổi mới Tác giả đã sử dụng hồi quy Tobit để ước tính quyết định đầu tư vào R&D và số tiền đầu tư Kết quả cho thấy không có tác động đồng thời của đổi mới sản phẩm đối với năng suất, nhưng có tác động tích cực đến quá trình đổi mới, với ảnh hưởng tích cực đến năng suất diễn ra hai năm sau khi đổi mới Các yếu tố khác cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.

Để tăng năng suất của doanh nghiệp, có 27 yếu tố quan trọng cần xem xét, bao gồm quy mô doanh nghiệp, hình thức sở hữu, trình độ chuyên môn của chủ doanh nghiệp, khả năng xuất khẩu và tỷ lệ lao động có kỹ năng Những yếu tố này đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Nghiên cứu của Sun và Hong (2011) phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu, hình thức sở hữu và năng suất doanh nghiệp, dựa trên dữ liệu của hơn 70.000 doanh nghiệp Trung Quốc trong giai đoạn 2001-2005 Mô hình nghiên cứu tập trung kiểm tra các liên kết giữa xuất khẩu, quyền sở hữu và năng suất.

Năng suất lao động của doanh nghiệp được đo lường qua biến Yit, trong khi cường độ xuất khẩu được biểu thị bởi EXPINTit Các doanh nghiệp có vốn sở hữu của nhà nước được ký hiệu là Stateit, và những doanh nghiệp có vốn đầu tư từ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan được ký hiệu là Fhmtit Các biến khác như Capitalit (vốn), Laborit (lao động) và Ind_exp intt (cường độ xuất khẩu của các ngành công nghiệp) cũng được xem xét Biến dummy năm được sử dụng để nắm bắt các yếu tố thời gian cụ thể như thay đổi chính sách và tỷ giá hối đoái Kết quả nghiên cứu cho thấy cường độ xuất khẩu có hệ số tích cực và có ý nghĩa thống kê, cho thấy các công ty tham gia xuất khẩu có năng suất cao hơn so với những công ty không tham gia Điều này cho thấy hiệu ứng tích cực của việc tham gia thị trường xuất khẩu đối với năng suất Ngoài ra, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài cũng có năng suất cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước, trong khi doanh nghiệp nhà nước tham gia xuất khẩu chỉ có sự tăng trưởng năng suất không đáng kể.

Bảng 2.2 Tóm tắt kết quả các nghiên cứu trước

Nội dung nghiên cứu Các yếu tố tác động Tác giả tự tổng hợp

Phân tích tác động thuê ngoài đến năng suất của các công ty thuộc các ngành sản xuất và dịch vụ tại

Lao động, Vốn, Thuê ngoài

28 Đức từ năm 2000 đến 2007 (4400 công ty )

Nghiên cứu này xác định mối liên hệ nhân quả giữa việc thuê ngoài các bộ phận trong quy trình sản xuất và năng suất của các công ty sản xuất tại Ireland trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2005, với mẫu nghiên cứu gồm 1564 công ty mỗi năm Kết quả cho thấy việc thuê ngoài có ảnh hưởng tích cực đến năng suất, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp.

Chi phí, Thuê ngoài, Lao động, Vốn

Phân tích mối liên hệ thuê ngoài và năng suất doanh nghiệp tại các công ty sản xuất Tây Ban Nha từ năm 1990 đến 2005 ( 2411 công ty)

Lao động, vốn và nguyên liệu, thuê ngoài

López, A (2014) Ảnh hưởng của thuê ngoài đối với năng suất của công ty từ dữ liệu vi mô ở Hà Lan năm 2007 ( 1503 công ty)

Lao động, vốn và nguyên liệu, thuê ngoài

Mohlmann, J.L & Henri LF De Groot

Bài viết phân tích hiệu quả của việc thuê ngoài quốc tế đối với năng suất tại Ailen từ năm 1983 đến 1998, dựa trên dữ liệu từ 1.099 doanh nghiệp, trong đó có 459 doanh nghiệp sở hữu nước ngoài, 534 doanh nghiệp xuất khẩu và 106 doanh nghiệp trong nước Nghiên cứu này nhằm làm rõ tác động của thuê ngoài đến sự phát triển và năng suất của các doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Lao động, vốn, Thuê ngoài, Xuất khẩu

Gorg, Holger , Aoife Hanley,Eric strobl

(2008) Ảnh hưởng của Thuê Ngoài đến năng suất của các Công ty ở Tây

Thuê ngoài, lao động, tuổi công ty, chi phí, đổi

Ban Nha từ nàm 1990 đến 2002 (

1462 doanh nghiệp mỗi năm) mới (2010)

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) đã được khảo sát bởi Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương (CIEM) phối hợp cùng Đại học Copenhagen (Đan Mạch).

Phạm vi nghiên cứu trên cả nước, gồm 10 tỉnh:

 Miền Bắc: Hà Nội; Phú Thọ; Hà Tây; Hải Phòng;

 Miền Trung: Nghệ An; Quảng Nam; Khánh Hòa; Lâm Đồng;

 Miền Nam: Tp Hồ Chí Minh; Long An

Các Loại hình chủ sở hữu chủ yếu là DN có 1 chủ và DN có nhiều thành phần góp vốn:

 DN một chủ: Hộ gia đình, DN tư nhân;

Doanh nghiệp có nhiều thành phần góp vốn bao gồm tổ hợp, hợp tác xã, trách nhiệm hữu hạn, cổ phần có vốn nhà nước, cổ phần không có vốn nhà nước, liên doanh có vốn nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước thuộc địa phương.

Ngành nghề hoạt động của các doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm 19 lĩnh vực sản xuất theo mã VSIC 2007, trong đó có lương thực và ăn uống, thuốc lá, dệt may, quần áo, da, gỗ, giấy, xuất bản và in ấn, tinh chế dầu mỏ, hóa chất, cao su, khoáng sản phi kim loại, kim loại cơ bản, sản phẩm từ kim loại, thiết bị điện tử, sản xuất xe cơ giới, thiết bị vận tải, đồ gỗ, trang sức và đồ tái chế.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) được thu thập từ 5 lần khảo sát, mỗi lần khảo sát tương ứng với 2 năm liền kề trước đó, ví dụ như khảo sát năm 2005 dựa trên dữ liệu của năm 2003 và 2004 Bộ dữ liệu này bao gồm tổng cộng 10 năm với 21.868 mẫu quan sát.

Phân tích định lượng sử dụng phương pháp hồi quy để chọn lựa mô hình phù hợp như OLS, FEM hoặc REM Mô hình FGLS được áp dụng để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan trong dữ liệu.

Mô hình nghiên cứu

Mục tiêu của mô hình này là giải thích tác động của thuê ngoài và các yếu tố khác đến năng suất của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam Dựa trên các nghiên cứu trước đây của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả kế thừa mô hình từ Ohnemus (2009), McCann (2009), Arnold và Javorcik (2009), Kuo và các cộng sự (2010) Năng suất được đánh giá qua các yếu tố như dịch vụ thuê ngoài, sở hữu nước ngoài, đổi mới, xuất khẩu, vốn tư liệu sản xuất, lao động có kỹ năng và chuyên môn, cũng như tuổi của công ty Mô hình kiểm định nhân tố sẽ được áp dụng để phân tích.

PROit = β0 + β1*Outsit + β2*Ownersit + β3*Innovateit + + β4*Exportit + β5*Capitalproit + β6*Labit + β7*Ageit + e

PRO: Năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam và giá trị được tính theo công thức của Han và Leong (1996):

PRO1= Giá trị gia tăng (lợi nhuận)/ Số lượng lao động

PRO2 = Tổng doanh thu/ Số lượng lao động

 Các biến số độc lập

(1) Dịch vụ thuê ngoài (Outs)

Dịch vụ thuê ngoài (Outsourcing) là quá trình mà các doanh nghiệp chuyển giao một phần dịch vụ cho bên thứ ba Nghiên cứu này sẽ khám phá các khía cạnh liên quan đến dịch vụ thuê ngoài và tác động của nó đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Outs1 = logarit (Chi phí thuê ngoài)

Outs2 = logarit (Chi phí TN/Tổng chi phí)

Theo Mửhlmann và de Groot (2013), sự chuyên môn hóa trong quy trình gia công có thể dẫn đến việc tăng năng suất cho doanh nghiệp.

Thuê ngoài trở nên hấp dẫn hơn khi chi phí tự sản xuất tăng hoặc khi nhà cung cấp dịch vụ có công nghệ tiên tiến Đổi mới công nghệ không chỉ tăng năng suất mà còn giảm chi phí giao dịch, khiến việc thuê ngoài trở nên hấp dẫn hơn Nghiên cứu của Van Gorp (2010) và Wagner (2011) chỉ ra rằng các công ty thuê ngoài đạt hiệu quả chi phí và năng suất cao hơn Từ đó, có thể khẳng định mối liên hệ tích cực giữa thuê ngoài và năng suất của doanh nghiệp.

(2) Sở hữu vốn nước ngoài (Owners):

Sở hữu nước ngoài (Owners) đại diện cho tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Và giá trị được tính bằng:

Sở hữu nước ngoài = Log (1+ % số cổ phần được sở hữu bởi các nhà đầu tư nước ngoài)

Nghiên cứu của Dahlquist và cộng sự (2003) chỉ ra rằng sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến quản trị doanh nghiệp thông qua việc chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm, từ đó nâng cao năng suất công ty Tương tự, Patibandla (2006) cho thấy cổ đông nước ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ đến lợi nhuận hơn so với các tổ chức tài chính địa phương Các tác giả như Hymer (1976), Buckley và Casson (1976), Dunning (1993), và Caves (1996) cũng khẳng định vai trò quan trọng của sở hữu nước ngoài trong việc chuyển giao công nghệ và phổ biến kiến thức, cũng như ảnh hưởng của nó đến năng suất doanh nghiệp.

Đổi mới (Innovate) là khái niệm phản ánh hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Trong nghiên cứu này, Innovate được coi là biến giả; cụ thể, Innovate = 1 nếu doanh nghiệp thực hiện ít nhất một trong các hoạt động đổi mới như giới thiệu sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm hiện có hoặc áp dụng quy trình sản xuất mới Ngược lại, Innovate = 0 nếu doanh nghiệp không tiến hành bất kỳ hoạt động đổi mới nào.

Theo Geroski (1994), hoạt động đổi mới giúp doanh nghiệp củng cố vị thế cạnh tranh bằng cách tạo ra nguồn cầu mới cho sản phẩm, từ đó gia tăng tính kinh tế theo quy mô và cải thiện năng suất sản xuất Smolny (1998) nhấn mạnh rằng đổi mới quy trình có thể tiết kiệm chi phí đầu vào, thường là lao động, góp phần nâng cao năng suất Ericson và Pakes (1992) ủng hộ mối quan hệ giữa đổi mới quy trình và tăng trưởng năng suất thông qua mô hình học hỏi chủ động Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, đổi mới sáng tạo còn có tác động gián tiếp khi cải thiện năng suất ban đầu dẫn đến giảm giá, tăng nhu cầu và doanh số bán hàng, qua đó tạo ra tính kinh tế theo quy mô.

Xuất khẩu (Export) là hoạt động đại diện cho việc xuất khẩu của doanh nghiệp Trong nghiên cứu này, biến giả Export được xác định là Export=1 nếu doanh nghiệp tham gia xuất khẩu và Export=0 nếu doanh nghiệp không có hoạt động xuất khẩu.

Khi doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, họ có cơ hội tiếp thu kiến thức từ các đối tác quốc tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất (Bernard và Jensen, 1999; Wagner, 2007) Tham gia vào thị trường nước ngoài cũng giúp doanh nghiệp phát triển công nghệ (Hejazi và cộng sự, 1999), dẫn đến hiệu quả kinh doanh cao hơn Hơn nữa, việc cải thiện năng suất phản ánh sự thành công trong việc áp dụng kiến thức mới vào quy trình sản xuất.

(5) Vốn tư liệu sản xuất (Capitalpro)

Vốn tư liệu sản xuất được đo lường bằng logarit (vốn/lao động)

Theo nghiên cứu của Theo Li và cộng sự (2009), doanh nghiệp đầu tư mạnh vào cơ sở vật chất sẽ có lợi thế cạnh tranh rõ rệt Việc áp dụng công nghệ sản xuất mới không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ mà còn giúp giảm thời gian lao động và chi phí sản xuất Sự đổi mới trong khoa học công nghệ và trang thiết bị hiện đại sẽ tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, từ đó tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường và nâng cao năng suất công ty Hơn nữa, việc cơ cấu lại vốn sẽ giúp doanh nghiệp hoạch định tốt hơn, nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh.

(6) Lao động có kỹ năng, chuyên môn (Lab)

Lao động có kỹ năng, chuyên môn (Lab) được tính bằng tỷ lệ lao động có kỹ năng/tổng lao động của DN

Nghiên cứu của Romer (1990) chỉ ra rằng tỷ lệ lao động có kỹ năng và chuyên môn cao làm tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp Vai trò của vốn nhân lực và khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến năng suất Doanh nghiệp sở hữu lực lượng lao động chất lượng cao sẽ có lợi thế kinh tế vượt trội nhờ tính linh hoạt, khả năng đổi mới và tiết kiệm chi phí sản xuất, từ đó dễ dàng thích ứng với biến đổi của thị trường và nhu cầu khách hàng Các nghiên cứu của Li, Lu và Ng (2009) cùng Palangkaraya, Stierwald, Yong (2007) cũng khẳng định rằng tỷ lệ lao động có kỹ năng càng cao thì năng suất doanh nghiệp càng tăng.

Tuổi công ty, hay còn gọi là tuổi doanh nghiệp, là số năm kể từ khi thành lập, phản ánh kinh nghiệm hoạt động của doanh nghiệp đó Biến TCT được đo lường bằng logarit của số năm điều tra trừ đi năm thành lập.

Nghiên cứu của Ohnemus (2009) và McCann (2009) cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa tuổi đời của doanh nghiệp và năng suất làm việc Do đó, nghiên cứu này dự kiến rằng doanh nghiệp có tuổi đời cao sẽ đạt được năng suất cao hơn.

Tuổi công ty (TCT) có ảnh hưởng tích cực đến năng suất doanh nghiệp, với 35% doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất Sự tăng trưởng của TCT dẫn đến hiệu quả cao hơn trong các quy trình sản xuất, góp phần nâng cao năng suất tổng thể của doanh nghiệp.

Bảng 3.1: Tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình

Ký hiệu Tên biến Cách đo lường Dấu kỳ vọng

PRO Năng suất PRO1 = Logarit(Giá trị gia tăng

(lợi nhuận)/ Số lượng lao động)

PRO2 = Logarit(Tổng doanh thu/ Số lượng lao động)

Outs Dịch vụ thuê ngoài

Outs1 = logarit (Chi phí thuê ngoài)

Outs2 = logarit (Chi phí thuê ngoài/Tổng chi phí)

Owners Sở hữu nước ngoài

Logarit (1+ % số cổ phần được sở hữu bởi các nhà đầu tư nước ngoài)

Innovate Đổi mới doanh nghiệp

Innovate =1 nếu DN có 1 trong các hoạt động đổi mới

Innovate =0: nếu không tiến hành hoạt động đổi mới

Export Xuất khẩu Export=1 nếu DN có tham gia xuất khẩu

Export =0 nếu Dn không có hoạt động xuất khẩu

Capitalpro Vốn đầu tư Logarit (vốn/lao động) +

Lab Lao động có kỹ năng,

Tỷ lệ lao động có kỹ năng/tổng lao động của DN

Age Tuổi công ty Logarit (Số năm thành lập - đi năm thành lập)

Phương pháp định lượng

Nghiên cứu áp dụng phần mềm Excel nhằm xử lý dữ liệu cơ bản, tính toán và tạo ra giá trị cho các biến số trong mô hình Qua đó, xây dựng bảng dữ liệu bằng cách kết hợp các chuỗi dữ liệu theo thời gian từ năm 2009.

2015) của các quan sát theo không gian (các DN)

Những ưu điểm của việc sử dụng dữ liệu bảng trong ước lượng, theo Gujarati

Dữ liệu bảng liên kết các đối tượng cá thể như công ty và quốc gia theo thời gian, dẫn đến sự không đồng nhất giữa các cá thể Kỹ thuật ước lượng dữ liệu bảng có khả năng xem xét sự không đồng nhất này bằng cách tích hợp các biến số đặc trưng riêng của từng cá thể nghiên cứu.

Bằng cách kết hợp các chuỗi quan sát theo thời gian và không gian, dữ liệu bảng giúp hạn chế hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập, từ đó tăng bậc tự do và nâng cao hiệu quả phân tích.

Dữ liệu bảng giúp phát hiện và đo lường hiệu quả hơn các tác động không quan sát được, vượt qua những hạn chế của dữ liệu chỉ dựa vào thời gian hoặc không gian, từ đó giảm thiểu việc bỏ sót các biến số quan trọng trong mô hình.

Dữ liệu bảng có thể tối thiểu hóa độ chệch (bias) có thể phát sinh nếu chúng ta kết hợp các cá thể thành nhóm

Phương pháp thống kê mô tả là công cụ quan trọng trong việc phân tích dữ liệu nghiên cứu, giúp hiểu rõ đặc điểm của các biến trong mô hình và các đặc trưng của doanh nghiệp tham gia xuất khẩu Thống kê mô tả cung cấp cái nhìn tổng quan về thông tin, từ đó hỗ trợ việc ra quyết định và định hướng chiến lược cho các doanh nghiệp.

DN không tham gia xuất khẩu

Phương pháp ước lượng dữ liệu bảng:

Hồi quy Pool (OLS) là phương pháp hồi quy đơn giản và dễ sử dụng, nhưng nếu các biến độc lập có tác động quá khác biệt giữa các công ty, ước lượng sẽ bị chệch Mô hình này yêu cầu hàm hồi quy chung cho tất cả các công ty phải có độ dốc trung bình giống như độ dốc của hàm hồi quy riêng từng công ty Để đạt được kết quả tốt với ước lượng vững và hiệu quả, các giả thuyết của phương pháp ước lượng OLS cần được đảm bảo thông qua các kiểm định, như chỉ ra bởi Gujarati (2004).

Mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) là hai phương pháp phổ biến trong phân tích dữ liệu Để xác định mô hình phù hợp nhất, nghiên cứu sử dụng kiểm định Hausman nhằm so sánh và lựa chọn giữa hai mô hình này.

Mô hình các tác động cố định (FEM) giả định rằng mỗi thực thể có những đặc điểm riêng biệt ảnh hưởng đến các biến giải thích FEM phân tích mối tương quan giữa phần dư của từng thực thể và các biến giải thích, từ đó kiểm soát và tách biệt ảnh hưởng của những đặc điểm không thay đổi theo thời gian Điều này cho phép ước lượng chính xác tác động thực sự của các biến giải thích lên biến phụ thuộc.

Mô hình các tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM) khác biệt so với mô hình các tác động cố định (Fixed Effects Model) ở chỗ nó xem xét sự biến động giữa các thực thể Trong khi mô hình tác động cố định tập trung vào mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến giải thích, mô hình tác động ngẫu nhiên cho phép đánh giá ảnh hưởng của những yếu tố ngẫu nhiên có thể tác động đến kết quả nghiên cứu.

Trong mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên, biến động giữa các thực thể được giả định là ngẫu nhiên và không có sự tương quan với các biến giải thích.

Nếu sự khác biệt giữa các thực thể ảnh hưởng đến biến phụ thuộc, mô hình REM sẽ phù hợp hơn so với FEM Trong đó, phần dư của mỗi thực thể không tương quan với biến giải thích được coi là biến giải thích mới Mô hình FEM hay REM được lựa chọn dựa trên giả định về sự tương quan giữa sai số và các biến giải thích Nếu giả định không có tương quan, REM sẽ là lựa chọn tốt hơn và ngược lại Kiểm định Hausman được sử dụng để xác định mô hình thích hợp giữa FEM và REM Ngoài ra, các kiểm định của Breusch-Pagan (1980) và Hausman (1978) cũng hỗ trợ trong việc lựa chọn mô hình phù hợp cho hồi quy dữ liệu bảng, dựa trên giả định H0 không có sự tương quan giữa biến giải thích và sai số ngẫu nhiên, điều này chính là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa FEM và REM.

H 0 : Không có tương quan giữa biến giải thích và các sai số ngẫu nhiên (chọn REM)

Khi Pvalue nhỏ hơn 0,05, chúng ta bác bỏ giả thuyết H0 và chọn mô hình FEM, trong khi nếu Pvalue lớn hơn hoặc bằng 0,05, mô hình REM sẽ được lựa chọn Điều này cho thấy mối liên hệ giữa biến giải thích và các sai số ngẫu nhiên.

Phương pháp FGLS là phương pháp OLS áp dụng cho các biến số đã được biến đổi để đáp ứng các giả thuyết về bình phương tối thiểu và tiêu chuẩn, từ đó cho ra các ước lượng được gọi là ước lượng FGLS với tính chất Blue Phương pháp này được sử dụng để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi do sự tương quan trong mô hình nghiên cứu Tuy nhiên, phương pháp FGLS không thể khắc phục hiện tượng biến bị nội sinh (endogeneity).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
386-405. Reprinted in Readings in Price Theory, edited by George J. Stigler and Kenneth E. Boulding. Homewood, Ill.: Irwin (for American Econ. Assoc.), 1952 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Readings in Price Theory
Nhà XB: Irwin
Năm: 1952
General Accounting Office (GAO) 1990. Communities in Fiscal Distress: State Grant Targeting Provides Limited Help. Washington, DC, GAO/HRD-90- 69, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Communities in Fiscal Distress: State Grant Targeting Provides Limited Help
Tác giả: General Accounting Office (GAO)
Nhà XB: GAO/HRD
Năm: 1990
Van Welsum, D. &amp; Rejf, X. (2005) Potential offshoring: Evidence from selected OECD countries, Brookings Trade Forum, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Potential offshoring: Evidence from selected OECD countries
Tác giả: Van Welsum, D., Rejf, X
Nhà XB: Brookings Trade Forum
Năm: 2005
Technology Outsourcing and Business Process Outsourcing," 11th Americas Conference on Information Systems, Omaha, NE, USA, 2005 Khác
Gewald, H. and K. Helbig; "A Governance Model for Managing Outsourcing Partnerships - A View from Practice," 39th Hawaiian Conference on System Sciences,Kauai,HI,USA,2006 Khác
Gewald, H. and D. Hinz; "A Framework for Classifying the Operational Risks of Outsourcing," 8th Pacific AsiaConference on Information Systems, Shanghai, PR China, 2004 Khác
McMillan, Margaret, and Dani Rodrik, ‘‘Globalization, Structural Change, and Productivity Growth,’’ NBER Working Paper No. 17143, 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tiêu thức xác định DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ – CP - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 2.1 Tiêu thức xác định DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ – CP (Trang 17)
Bảng 3.1: Tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 3.1 Tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình (Trang 47)
Bảng 4.1 Thống kê DN được khảo sát theo vùng miền: - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 4.1 Thống kê DN được khảo sát theo vùng miền: (Trang 52)
Hình 4.1 Đặc điểm sở hữu - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Hình 4.1 Đặc điểm sở hữu (Trang 53)
Bảng 4.2 Thống kê DN được khảo sát theo số lượng lao động: - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 4.2 Thống kê DN được khảo sát theo số lượng lao động: (Trang 53)
Bảng 4.4. Thống kê nhóm dịch vụ thuê ngoài: - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 4.4. Thống kê nhóm dịch vụ thuê ngoài: (Trang 54)
Bảng 4.3 Thống kê DN được khảo sát theo ngành: - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 4.3 Thống kê DN được khảo sát theo ngành: (Trang 54)
Bảng 4.5 Thống kê mô tả các biến trong mô hình - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 4.5 Thống kê mô tả các biến trong mô hình (Trang 55)
Bảng 4.6 Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 4.6 Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu (Trang 60)
Bảng 4.7: Hệ số phân tích phóng đại phương sai. - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 4.7 Hệ số phân tích phóng đại phương sai (Trang 61)
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy các biến độc lập Mô hình nghiên cứu: - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy các biến độc lập Mô hình nghiên cứu: (Trang 66)
2: Bảng ma trận tương quan - Tác động của thuê ngoài đến năng suất tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
2 Bảng ma trận tương quan (Trang 93)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w