Chương 2 của Luận văn, tác giả chủ yếu nghiên cứu về các quy định trong văn bản hiện hành về Trọng tài thương mại là Luật Trọng tài thương mại 2010, bên cạnh đó cũng đó dẫn chiếu, đối ch
Trang 1VÕ THÀNH LONG
HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - THỰC TRẠNG
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Tai Lieu Chat Luong
Trang 2VÕ THÀNH LONG
HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - THỰC TRẠNG
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số chuyên ngành: 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Vân Long
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn được viết trên cơ sở những hiểu biết của cá nhân, đồng thời cũng là kết quả của quá trình nghiên cứu, tham khảo các nguồn tài liệu như sách báo, ấn phẩm, tư liệu, công trình nghiên cứu có liên quan của các tổ chức, chuyên gia, các nhà nghiên cứu
ở trong và ngoài nước cùng với sự định hướng và hỗ trợ của Tiến sĩ Trần Vân Long Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Các kết quả nêu trong luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Võ Thành Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và được sự hướng dẫn, giảng dạy của Thầy, Cô và sự quan tâm giúp đỡ của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luật văn thạc sĩ Luật kinh tế Qua đây tôi xin chân thành gửi lời cảm cảm ơn đến:
Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học và thư viện Trường Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm Luận văn
Các Thầy, Cô giảng viên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những tri thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện Luận văn này Đặc biệt, tôi xin dành sự kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Vân Long, người đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn này
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 5TÓM TẮT
Thỏa thuận trọng tài là là yếu tố cốt lõi và có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động tố tụng Trọng tài kể từ lúc bắt đầu Trọng tài cho đến khi công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về thỏa thuận trọng tài trong Luật Trọng tài thương mại 2010 vẫn tồn tại những hạn chế và bất cập nhất định nên đã gây nhiều cản trở cho hoạt động đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài thương mại và làm giảm tính hấp dẫn của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại Qua một thời gian nghiên cứu lý luận
và được sự hướng dẫn Tiến sĩ Trần Vân Long, trong phạm vi Luận văn “Hiệu lực
của thỏa thuận trọng tài theo pháp luật Việt Nam - Thực trạng pháp luật và thực tiễn”, tác giả đã làm sáng tỏ các vấn đề sau:
Chương 1 của Luận văn, tác giả đã nêu được những vấn đề lý luận về Trọng tài thương mại và thỏa thuận trọng tài Trong phần lý luận về Trọng tài thương mại, tác giả trình bày sơ lược lịch sử ra đời và phát triển của chế định Trọng tài thương mại trên thế giới cũng như tại Việt Nam, nêu một số đặc điểm nổi bật của Trọng tài thương mại Sau đó, tác giả tìm hiểu những vấn đề lý luận về thỏa thuận trọng tài bao gồm: khái niệm và đặc điểm của thỏa thuận trọng tài, ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài Qua đó, có thể khẳng định, nếu không tồn tại thỏa thuận trọng tài thì sẽ không có việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài
Chương 2 của Luận văn, tác giả chủ yếu nghiên cứu về các quy định trong văn bản hiện hành về Trọng tài thương mại là Luật Trọng tài thương mại 2010, bên cạnh đó cũng đó dẫn chiếu, đối chiếu sang các văn bản pháp luật có liên quan như Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, Bộ Luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014… Sau khi tìm hiểu về các quy định trong văn bản luật hiện hành của Việt Nam, tác giả tiếp tục nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hiệu lực của thỏa thuận Trọng tài tại Việt Nam thông qua một số vụ việc cụ thể và đưa ra bình luận trong mỗi vụ việc Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm hiểu thực trạng hiệu lực của thỏa thuận trọng tài của một số quốc gia tiêu biểu trên
Trang 6thế giới như Anh, Mỹ và Luật Mẫu của UNCITRAL để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Từ đó, tác giải đề xuất một giải pháp đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài như: đề xuất sửa đổi, bổ sung những điều khoản quy định về tính hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, về tính độc lập của thỏa thuận trọng tài; bổ sung các điều khoản quy định về nội dung của thỏa thuận trọng tài, về thời hiệu yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép cũng như thời hiệu bắt đầu có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài khi thỏa thuận này là một thỏa thuận riêng biệt không nằm trong hợp đồng chính Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về Trọng tài nói chung và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài nói riêng, bao gồm: các nhóm giải pháp đối với các cơ quan quản lý nhà nước, nhóm giải pháp đối với các Trung tâm Trọng tài và Trọng tài viên, nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp
Sau khi nghiên cứu đề tài này, tác giả rút ra được kết luận sau: Luật Trọng tài thương mại 2010 dù đã có những quy phạm pháp luật về vấn đề hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, nhưng vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, tình trạng thỏa thuận trọng tài vô hiệu vẫn còn diễn ra dẫn đến phán quyết Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy hoặc quá trình tố tụng Trọng tài bị đình chỉ; vấn đề hiệu lực của thỏa thuận trọng tài chưa thực sự phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện nay và chưa bám sát thực tế hoạt động thương mại
Trang 7Arbitration agreement is a core element and plays an important role in all arbitration proceedings from the commencement of the arbitration until the recognition and enforcement of arbitral awards However, the current legal provisions on arbitration agreements in the 2010 Commercial Arbitration Law still have certain limitations and shortcomings, which have caused many obstacles to the activities of referring dispute to the commercial arbitration and reduced the attractiveness of the method of dispute resolution by Commercial Arbitration After
a period of theoretical research and the guidance of Ph.D Tran Van Long, within the
scope of the thesis “The validity of arbitration agreement under the law of
Vietnam - The reality regarding law and practice”, the author has clarify the
following aspects:
In Chapter 1 of the thesis, the author has raised the theoretical issues of commercial arbitration and arbitration agreement In the theoretical part on Commercial Arbitration, the author presents in brief the history of the establishment and development of the Commercial Arbitration institution in the world as well as
in Vietnam, highlighting some outstanding features of the Commercial Arbitration After that, the author explores the theoretical issues about the arbitration agreement, including: the concept and characteristics of the arbitration agreement, the significance of the arbitration agreement Thereby, it can be confirmed that, if no arbitration agreement exists, there will be no dispute resolution by arbitration
In Chapter 2 of the thesis, the author mainly studies the provisions in the current documents of the Commercial Arbitration, which is the Commercial Arbitration Law 2010 In addition, the author also makes reference and comparison
to relevant legal documents, such as the Ordinance on Commercial Arbitration
2003, Civil Code 2015, Commercial Law 2005, Enterprise Law 2014 After learning about the provisions of Vietnam's current legal documents, the author further studies on the practice of applying the law on the validity of the Arbitration
Trang 8agreement in Vietnam through a number of specific cases and gives comments on each case In addition, the author also explores the validity reality of arbitration agreements of some typical countries in the world such as the United Kingdom, the United States and the Model Law of UNCITRAL to draw lessons for Vietnam From that, the author proposes a solution for the completion of the legal provisions
on the validity of the arbitration agreement such as: proposing amendments and supplements to the provisions on the validity of the arbitration agreement, the independence of the arbitration agreement; supplements provisions on the content
of the arbitration agreement, the prescription for requesting the declaration of arbitration agreement to be invalid when one of the parties is deceived, threatened, coerced, as well as the prescription for validity commencement of an arbitration agreement when this agreement is a separate one not included in a main contract Besides, the author also proposes a number of solutions to improve the efficiency of applying the law on arbitration in general and the validity of the arbitration agreement in particular, including: group of solutions for state management agencies, group of solutions for Arbitration Centers and Arbitrators, group of solutions for businesses
After doing this thesis, the author draws the following conclusions: Although the Commercial Arbitration Law 2010 has legal provisions on the validity of an arbitration agreement, but for many subjective and objective reasons, the situation
of invalidated arbitration agreement still exists, resulting to the Arbitration award being annulled by the Court or the arbitral proceeding process is suspended; The validity of the arbitration agreement is not really consistent with the requirements of the current market economy and has not closely followed the actual commercial activities
Trang 9MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục vii
Danh mục từ viết tắt ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5.1 Đối tượng nghiên cứu 5
5.2 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
7.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 7
7.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7
8 Kết cấu của Luận văn 7
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI 8
1.1 Khái quát chung về Trọng tài thương mại 8
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Trọng tài thương mại 8
1.1.2 Khái niệm Trọng tài thương mại 10
1.1.3 Một số đặc điểm của Trọng tài thương mại 12
1.2 Khái quát chung về thỏa thuận trọng tài 13
1.2.1 Khái niệm về thỏa thuận trọng tài 13
1.2.2 Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài 14
1.2.3 Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài khi tiến hành giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại 18
1.3 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong mối tương quan với hợp đồng chính và các chủ thể có liên quan 19
1.3.1 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài với hợp đồng chính 19
1.3.2 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài với các chủ thể có liên quan 20
1.3.3 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài khi có sự thay đổi của một bên 23
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 26
2.1 Các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo pháp luật Việt Nam 26
2.1.1 Chủ thể xác lập thỏa thuận trọng tài 27
2.1.2 Đối tượng của thỏa thuận trọng tài 29
Trang 102.1.3 Thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài 34
2.1.4 Hình thức của thỏa thuận trọng tài 36
2.1.5 Ý chí tự nguyện của chủ thể 37
2.1.6 Vi phạm điều cấm của pháp luật 39
2.2 Một số vụ việc cụ thể liên quan đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài 41
2.3 Pháp luật về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài của một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam 47
2.3.1 Hình thức của thỏa thuận trọng tài 47
2.3.2 Chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài 48
2.3.3 Nội dung của thỏa thuận trọng tài 52
2.4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam 53
2.4.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận trọng tài và hiệu lực của nó 53
2.4.2 Những yêu cầu hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam hiện nay 55
2.4.3 Hoàn thiện quy định về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài 56
2.5 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam 59
2.5.1 Giải pháp về mặt cơ chế, chính sách và pháp luật 59
2.5.2 Giải pháp đối với các Trung tâm trọng tài và Trọng tài viên 61
2.5.3 Giải pháp đối với doanh nghiệp 63
Tiểu kết chương 2 65
KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Nam
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay, tại hầu hết các quốc gia trên thế giới đặc biệt là tại những quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Singapore, Hàn Quốc…thì phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại (TTTM) ngày càng trở nên phổ biến và thường được các doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại của mình
Tại Việt Nam, pháp luật về TTTM ngày càng khẳng định được vị trí và vai trò trong hệ thống pháp luật, là một trong những bộ phận nền tảng cấu thành thể chế pháp lý của nền kinh tế thị trường hiện đại Luật TTTM 2010 đã tiếp thu được những nguyên tắc cơ bản nhất của Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài (Công ước New York 1958), Luật Mẫu về TTTM quốc tế của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (Luật Mẫu của UNCITRAL) và pháp luật trọng tài của các nước trên thế giới Không giống như phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án, trọng tài chỉ có thể giải quyết tranh chấp giữa các bên nếu giữa họ có tồn tại một thỏa thuận trọng tài (TTTT) Hay nói cách khác, nếu không có TTTT thì tranh chấp giữa các bên không thể nào được giải quyết bằng phương thức trọng tài Chính vì như thế mà TTTT là yếu tố cốt lõi
và có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động tố tụng trọng tài kể từ lúc bắt đầu trọng tài cho đến khi công nhận và thi hành phán quyết trọng tài Tuy nhiên, không phải giữa các bên tồn tại một TTTT thì sẽ đương nhiên dẫn đến quá trình tố tụng trọng tài mà chỉ khi TTTT đó đúng theo quy định của pháp luật, thể hiện đúng ý chí
tự nguyện, sự thỏa thuận của các bên thì quá trình tố tụng trọng tài mới tiến hành được Bởi lẽ thế mà hiện nay, pháp luật trọng tài của các nước trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đang ngày càng quan tâm đến các quy định về TTTT, để đảm bảo cơ sở pháp lý cho các bên thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình nhằm đạt đến việc ký kết TTTT có hiệu lực theo đúng quy định pháp luật Thực tiễn áp dụng pháp luật về TTTM ở Việt Nam hiện nay cho thấy, vẫn còn nhiều
Trang 13doanh nghiệp chưa đánh giá đúng vai trò của TTTT cũng như chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về pháp luật trọng tài nên trong quá trình soạn thảo, ký kết TTTT còn nhiều thiếu sót dẫn đến TTTT vô hiệu, TTTT không thực hiện được hoặc những tranh chấp không đáng có về TTTT, khiến việc giải quyết tranh chấp bị kéo dài hơn
và trong nhiều trường hợp dẫn tới những thiệt hại về kinh tế cho các bên Điển hình như trong năm 2010, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) đã phải giải quyết một vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng thương mại dịch vụ, nguyên đơn là một công ty của Nhật Bản, bị đơn là một công ty của Việt Nam trong đó TTTT được quy định trong bản hợp đồng bằng tiếng Anh thì chọn VIAC là cơ quan giải quyết tranh chấp, còn bản hợp đồng bằng tiếng Việt thì lựa chọn tòa án kinh tế của Việt Nam là cơ quan giải quyết tranh chấp Điều đáng tiếc là trong hợp đồng này đều công nhận giá trị pháp lý của 2 bản tiếng Anh và tiếng Việt là ngang nhau VIAC đã phải tiến hành phiên họp và cuối cùng ra quyết định là vụ việc tranh chấp trên VIAC không có thẩm quyền giải quyết vì giữa hai bên không thống nhất được với nhau về thẩm quyền của trọng tài
Mặt khác, các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề hiệu lực của TTTT vẫn còn có những hạn chế và bất cập nhất định nên đã gây khó khăn, cản trở cho các bên khi lựa chọn trọng tài thương mại làm phương thức giải quyết tranh chấp cũng như làm giảm tính hấp dẫn của phương thức này Đó là, khi xuất hiện việc xung đột pháp luật trong việc xác định luật áp dụng cho TTTT khi mà các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng khi ký kết TTTT, hay khi một bên khiếu nại về thẩm quyền của chủ thể ký kết TTTT thì hiện chưa có một quy định thống nhất trong xét xử TTTM quốc tế tại Việt Nam vì thế dẫn đến việc trong mỗi vụ việc, Trọng tài viên sẽ có các cách áp dụng khác nhau trong xét xử
Từ những phân tích trên nên tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Hiệu lực
của thỏa thuận trọng tài theo pháp luật Việt Nam - Thực trạng pháp luật và thực tiễn” làm đề tài Luận văn thạc sĩ của mình, với mong muốn nghiên cứu các vấn đề
lý luận về trọng tài cũng như vấn đề hiệu lực của TTTT Đồng thời, đánh giá hiện trạng pháp luật thực định cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về hiệu lực của
Trang 14TTTT, so sánh với pháp luật trọng tài của một số quốc gia trên thế giới và trong Luật Mẫu của UNCITRAL để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hiệu lực của TTTT cũng như một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về hiệu lực của TTTT
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, các vấn đề pháp lý có liên quan TTTT là đề tài đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau và công bố những tác phẩm có giá trị Có thể kể đến những công trình nghiên cứu như: Luận văn Thạc sĩ Luật
“Pháp luật Việt Nam về TTTT thương mại” của tác giả Tống Thị Lan Hương năm
2011, Luận văn Thạc sĩ Luật “Một số vấn đề pháp lý về TTTT thương mại quốc tế
theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Phượng năm 2016 Công trình
của tác giả Tống Thị Lan Hương nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn về TTTT thương mại Trước tiên, tác giả nghiên cứu khái quát TTTM và TTTT thương mại, thực trạng pháp luật về TTTT thương mại Sau đó, tác giả tập trung nghiên cứu đưa
ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật TTTT thương mại Công trình của tác giả Nguyễn Thanh Phượng nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về TTTT thương mại quốc tế, làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của TTTT thương mại quốc tế Sau đó, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về TTTT thương mại quốc
tế bao gồm các vấn đề liên quan đến hiệu lực của TTTT thương mại quốc tế, luật áp dụng đối với TTTT thương mại quốc tế, phân định thẩm quyền giữa tòa án và trọng tài, TTTT vô hiệu… trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu các quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới và trong khu vực Châu Á so sánh với pháp luật Việt Nam để thấy được những ưu điểm, bất cập và tồn tại trong các quy định của pháp luật Việt Nam về TTTT thương mại quốc tế Sau cùng, tác giả đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trọng tài Việt Nam về TTTT thương mại quốc
tế
Ngoài ra, một số sách, giáo trình, tạp chí chuyên ngành như “Giải quyết
tranh chấp bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Văn Đại,
Trang 15“Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài của TTTM tại Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Trung Tín, “Bình luận Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật TTTM và thực tiễn
xét xử” của tác giả Tưởng Duy Lượng và các bài viết nghiên cứu của các học giả
đăng trên tạp chí nghiên cứu pháp luật như: “TTTT nền tảng của phương thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài” của tác giả Hoàng An, “Về điều khoản TTTT trong hợp đồng thương mại quốc tế” của tác giả Nông Quốc Bình…và còn nhiều
công trình nghiên cứu của các tác giả khác cũng có ít nhiều liên quan đến những vấn đề mà đề tài của tác giả đã lựa chọn Những công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích và quý giá đối với tác giả trong quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tài Các công trình trên, đã có những đóng góp đáng kể vào việc nhìn nhận và đánh giá được vai trò, tính chất, đặc điểm của trọng tài, hoạt động tố tụng trọng tài, cũng như vấn đề liên quan đến TTTT trong hoạt động thương mại song vấn đề hiệu lực của TTTT chỉ được các tác giả đề cập ở mức độ khái quát và
chỉ chiếm một phần trong những công trình nghiên Vì vậy, đề tài “Hiệu lực của
TTTT theo pháp luật Việt Nam - Thực trạng pháp luật và thực tiễn” mà tác giả chọn
để viết Luận văn thạc sĩ vào thời điểm này vẫn bảo đảm tính mới của đề tài nghiên cứu Trong đề tài này tác giả sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu các quy định của pháp luật trọng tài có liên quan đến hiệu lực của TTTT nhưng chưa được các tác giả khai thác một cách toàn diện, hệ thống qua các công trình nghiên cứu trước đó Những giải pháp của Luận văn hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về trọng tài đặc biệt là tính hiệu lực của TTTT
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu trên hai phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hiện điều chỉnh hiệu lực của TTTT
Thứ nhất, tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về TTTM và TTTT,
làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm, đặc điểm của TTTM và TTTT
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về
hiệu lực về của TTTT; nghiên cứu pháp luật về hiệu lực của TTTT của một số quốc
Trang 16gia tiêu biểu trên thế giới và Luật Mẫu của UNCITRAL nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp mang tính tham khảo nhằm hoàn thiện các
quy định pháp luật về hiệu lực của TTTT và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến hiệu lực của TTTT tại Việt Nam
4 Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, TTTM và TTTT được xây dựng trên nền tảng lý luận như thế nào ?
Thứ hai, Quy định pháp luật TTTM của Việt Nam liên quan đến TTTM và
TTTT hiện nay ra sao ? Mức độ tương thích với Luật Mẫu của UNCITRAL ? Cũng như tương thích với pháp luật của một số nước có hoạt động trọng tài phát triển ?
Thứ ba, Thực tiễn áp dụng các quy định về TTTT hiện nay như thế nào ? Có
những gì bất cập ? vướng mắc ? Cần có những giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật thực định ?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là (i) các quan điểm, các học thuyết pháp lý về TTTM, TTTT, (ii) các quy định về hiệu lực của TTTT theo pháp luật TTTM của Việt Nam hiện nay và thực tiễn áp dụng pháp luật về hiệu lực của TTTT, quy định về hiệu lực của TTTT theo pháp luật trọng tài của một quốc gia tiêu biểu trên thế giới và trong Luật Mẫu của UNCITRAL để tham khảo, đối chiếu, so sánh
và rút ra bài học kinh nghiệm cho pháp luật trọng tài Việt Nam Đặc biệt là vấn đề hiêu lực của TTTT
5.2 Phạm vi nghiên cứu
TTTM là một lĩnh vực tương đối rộng, bao gồm rất nhiều vấn đề như: hình thức của trọng tài, Trọng tài viên, TTTT vô hiệu, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài…Trong phạm vi Luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định về hiệu lực của TTTT trong Luật TTTM 2010 và một số quy định pháp luật có liên quan như pháp luật về thương mại, dân sự, tố tụng dân sự …Ngoài ra, tác giả cũng tập trung nghiên cứu
Trang 17các quy định về hiệu lực của TTTT theo pháp luật trọng tài của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới và trong Luật Mẫu của UNCITRAL Những vấn đề này sẽ tác giả được trình bày, phân tích lồng ghép trong các nội dung nghiên cứu tương ứng
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Một là, phương pháp phân tích (bao gồm phân tích lý thuyết, phân tích luật thành văn, phân tích các tình huống thực tiễn áp dụng pháp luật): phân tích các lý
thuyết liên quan qua đó góp phần làm sáng tỏ được bản chất và nội dung vấn đề cần nghiên cứu, thấy được nội dung cốt lõi bên trong những thuật ngữ pháp lý được trình bày trong các văn bản pháp luật Luận văn chủ yếu là phân tích nội dung của một hoặc nhiều quy phạm pháp luật hoặc một chế định luật có liên quan đến nội dung cần nghiên cứu, bao gồm pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước tiêu biểu trên thế giới cũng như phân tích một số tình huống thực tế để minh họa cho lý luận đã được trình bày Từ đó, đưa ra đánh giá quy định pháp luật hiện hành làm cơ sở đề xuất hoàn thiện trong quá trình nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 2
Thứ hai, phương pháp tổng hợp: để đảm bảo tính logic, tính hệ thống trong
quá trình nghiên cứu, Luận văn cũng sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm đánh giá một cách tổng quan những vấn đề lý luận chưa được làm rõ, những bất cập khi áp dụng trong thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị cho phù hợp với điều kiện Việt Nam Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để viết các tiểu kết chương, phần kết luận và chương 2 khi đưa ra đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của TTTT ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, phương pháp so sánh luật: so sánh, đối chiếu giữa pháp luật trọng
tài Việt Nam với pháp luật trọng tài của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới và trong Luật Mẫu của UNCITRAL để thấy được sự tương đồng và sự khác biệt; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm đề xuất hoàn thiện pháp luật về hiệu
Trang 18lực của TTTT Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong các chương của Luận văn
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về TTTM, TTTT, trong đó giải quyết được những vấn đề lý luận cốt lõi như: lịch sử hình thành, khái niệm, đặc điểm của TTTM; khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của TTTT trong việc giải quyết tranh chấp thương mại
Luận văn phân tích, làm rõ thực trạng pháp luật về hiệu lực của TTTT, chỉ ra những bất cập và những hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật về vấn đề hiệu lực của TTTT ở Việt Nam hiện nay
Luận văn nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật về hiệu lực của TTTT ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới và trong Luật Mẫu của UNCITRAL để đề xuất một
số nhằm giải quyết những bất cập của pháp luật về hiệu lực của TTTT ở Việt Nam cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hiệu lực của TTTT, phù hợp với thông lệ quốc tế
7.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ cung cấp những nội dung, thông tin quan trọng, tin cậy, có giá trị về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện
quy định pháp luật về vấn đề hiệu lực của TTTT ở Việt Nam hiện nay
Luận văn có giá trị tham khảo, phục vụ cho công việc nghiên cứu, giảng dạy
và học tập pháp luật về hiệu lực của TTTT
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 2 chương với kết cấu như sau:
+ Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về Trọng tài thương mại và hiệu
lực của thỏa thuận trọng tài
+ Chương 2: Pháp luật điều chỉnh về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và giải
pháp hoàn thiện
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
1.1 Khái quát chung về Trọng tài thương mại
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Trọng tài thương mại
Trên thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh bằng hòa giải và bằng trọng tài ra đời và phát triển từ rất sớm Lịch sử hình thành và phát triển của phương thức tố tụng trọng tài ra đời cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hóa Hình thái đầu tiên về trọng tài rất có thể bắt nguồn từ các quốc gia thành bang cổ Hy Lạp, cổ La Mã và thời Xuân Thu Chiến Quốc của Trung Quốc1 Trong lịch sử của mình, người Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết khi xảy ra tranh chấp Tại thời kỳ này, trọng tài chủ yếu dùng giải quyết các đôi co giữa chủ nợ và khách nợ Việc dùng trọng tài để phân xử được quy định sơ khai trong Luật Mua bán hàng hóa, theo đó cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình mà không cần đến sự hỗ trợ và can thiệp của Nhà nước Tiếp sau đó, Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở cả những nước La Mã có trao đổi hàng hóa cũng cho phép các lái buôn tự phân xử những tranh chấp của mình Điều này có nghĩa là quy định này được áp dụng trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu
Ở Việt Nam, chế định TTTM du nhập vào hệ thống pháp luật từ cuối thế kỷ XIX, tuy nhiên trong giai đoạn này, pháp luật trọng tài không có mấy ảnh hưởng trong thực tế Đến giữa thế kỷ XX, nền tảng pháp luật nước ta có nhiều thay đổi đáng kể, cùng với sự phát triển của các chế định pháp luật thì các tổ chức trọng tài kinh tế cũng được hình thành Ngoài ra, vào giai đoạn này ở Việt Nam xuất hiện hai
tổ chức trọng tài phi chính phủ, đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương2 cùng với Hội
1 Nguyễn Hữu Quỳnh (Chủ biên) (1998), Đại Từ điển kinh tế thị trường, Nxb Viện nghiên cứu và phổ biến
tri thức bách khoa, 1989
2 Theo Nghị định số 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng Chính phủ
3 Theo Nghị định số 153/CP ngày 05/10/1964 của Hội đồng Chính phủ
Trang 20Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp
ước New York 1958, nhưng vẫn chưa có một đạo luật về TTTM nhằm điều chỉnh
có hiệu quả hoạt động của trọng tài trong nước và quốc tế Ngoài ra, chưa có cơ chế pháp lý nhằm đảm bảo thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Ngày 25/02/2003, Pháp lệnh TTTM được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Việc ra đời của Pháp lệnh TTTM đã thể hiện sự cố gắng, nỗ lực rất lớn của Việt Nam trong tiến trình hội nhập, xây dựng thể chế thị trường, cũng như đánh dấu giai đoạn hoàn thiện và phát triển chế định trọng tài ở nước ta Pháp lệnh TTTM
2003 đã xác định phạm vi tài phán của trọng tài thông qua việc liệt kê các loại tranh chấp cho phép giải quyết bằng trọng tài; cơ chế xác định hiệu lực pháp lý của TTTT; quy trình tố tụng trọng tài; vai trò hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài; việc xác định hiệu lực phán quyết trọng tài Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, Pháp lệnh TTTM 2003 đã phát sinh một số điểm bất cập, hạn chế như: cách tính thời hiệu khởi kiện chưa được quy định rõ ràng; phạm vi giải quyết tranh chấp không được xác định rõ những chủ thể nào có thể tham gia giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; chế định về TTTT chưa chặt chẽ; vai trò của tòa án trong việc
hỗ trợ trọng tài còn mờ nhạt; các căn cứ để tuyên hủy phán quyết trọng tài quá
về “Khuyến việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải,
Ngày 17/6/2010, Luật TTTM được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, bao gồm có tất cả 13 Chương với 82 Điều Việc ra đời của Luật TTTM 2010 thể hiện sự đột phá của pháp luật TTTM Việt Nam; đã cơ bản khắc phục được những hạn chế, khiếm khuyết của Pháp lệnh TTTM 2003 và ngày càng phù hợp hơn với các tiêu chuẩn quốc tế về TTTM Đồng thời, bổ sung điều khoản
4 Theo Quyết định số 204/TTg ngày 28/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ
5 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương (2013), “TTTM và pháp luật TTTM”, Đặc san
tuyên tuyên truyền pháp luật, Hà Nội, 37
6 Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Trang 21bảo vệ người tiêu dùng trong lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp7, cho phép Trọng tài viên nước ngoài được hoạt động tại Việt Nam cũng như luật hóa các cam kết quốc tế về dịch vụ trọng tài
1.1.2 Khái niệm Trọng tài thương mại
Khái niệm về “TTTM” đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống thương mại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Để hiểu rõ khái niệm “TTTM”, cần phải tìm hiểu tính “thương mại” trong
khái niệm này, Luật Mẫu của UNCITRAL quy định: “Thuật ngữ thương mại cần
được giải thích theo nghĩa rộng liên quan đến tất cả các vấn đề phát sinh từ các quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng hoặc không phải là quan
hệ hợp đồng Những quan hệ có bản chất thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn bởi các giao dịch sau: giao dịch thương mại để cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại; hoa hồng; thuê mua; xây dựng công trình; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận thăm dò hoặc khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh khác; vận tải hàng hóa hoặc hành khách
niệm này không được ghi nhận tại một điều khoản chính thức trong Luật Mẫu của UNCITRAL mà nó nằm ở phần ghi chú nhưng có thể xem đây là một gợi ý tham khảo cho các quốc gia khi quy định phạm vi khái niệm “thương mại” trong Luật TTTM của nước mình
Đối với khái niệm “Trọng tài” thì có các cách hiểu như sau:
+ Luật Mẫu của UNCITRAL quy định: “Trọng tài là mọi hình thức trọng tài
mà việc tổ chức được giao hoặc không được giao cho một thiết chế trọng tài thường trực”9
+ Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA) quy định: “Trọng tài là cách thức giải
quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan
7 Điều 17, Luật TTTM 2010
8 Ghi chú số 2, Điều 1, Luật Mẫu của UNCITRAL 1985
9 Điều 2, Luật Mẫu của UNCITRAL 1985
Trang 22xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên
+ Tại Việt Nam, theo Luật TTTM 2010 quy định: “TTTM là phương thức
giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của
+ Theo VIAC thì: “TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên
thỏa thuận, có thể được sử dụng thay thế cho phương thức giải quyết tranh chấp
Mặc dù có khá nhiều những cách hiểu và những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “TTTM”, nhưng tóm lại hiện nay khái niệm này được nhìn nhận dưới 02 góc độ:
(i) TTTM là cách thức xử lý tranh chấp có tính chất tài phán tư (phi nhà nước) do các bên tự nguyện lựa chọn nhằm tìm kiếm giải pháp để giải quyết những mâu thuẫn phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại của mình Trọng tài với vai trò của một bên thứ ba do các bên tranh chấp lựa chọn ra rồi ủy quyền để giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ dựa trên quyền tự định đoạt giữa các bên
và do đó để trọng tài có thẩm quyền giải quyết thì bắt buộc các bên phải có TTTT (ii) TTTM là một cơ quan để giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh ngoài tòa án, theo đó giữa các bên thỏa thuận sẽ đưa xung đột, bất đồng của mình đến một Hội đồng trọng tài hoặc một Trọng tài viên duy nhất để giải quyết theo quy định của pháp luật về TTTM và phán quyết trọng tài có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên Hiện nay, trọng tài đã trở thành một trong những phương thức được doanh nghiệp lưu ý khi nảy sinh các tranh chấp từ các hợp đồng thương mại quốc tế, nhất là hợp đồng mua bán ngoại thương13
10 Ngô Mai Quý (2017), Thực trạng pháp luật về TTTM và các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật
về TTTM ở Việt Nam, Luật văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 7
11 Khoản 1, Điều 3, Luật TTTM 2010
12 Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (2017), TTTM là gì Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2018 tại địa chỉ
http://viac.vn/trong-tai-thuong-mai-a712.html
13 Trần Thị Lan Hương (2014), Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thực tiễn tại Việt Nam Truy
cập ngày 05 tháng 4 năm 2019, tại địa chỉ doanh/giai-quyet-tranh-chap-thuong-mai-bang-trong-tai-thuc-tien-tai-viet-nam-49610.html
Trang 23http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/phap-luat-kinh-1.1.3 Một số đặc điểm của Trọng tài thương mại
Thứ nhất, Trọng tài là một cơ quan tài phán tư và có phán quyết chung thẩm
Trọng tài là tổ chức phi chính phủ (tổ chức xã hội - nghề nghiệp), hoạt động theo quy định của pháp luật và quy chế trọng tài; là một cơ quan tài phán tư (không mang quyền lực nhà nước) có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại và được pháp luật trọng tài các nước cũng như
của Việt Nam quy định
Pháp luật trọng tài của phần lớn các quốc gia trên thế giới cũng như của Việt
trọng tài sẽ không bị kháng cáo, kháng nghị như trong tố tụng dân sự, chỉ trừ trường hợp một bên trong tranh chấp yêu cầu hoặc chỉ bị hủy bởi quyết định của tòa án khi rơi vào các trường hợp bị hủy theo quy định của pháp luật Đặc điểm này sẽ tạo
thuận lợi cho trọng tài giải quyết nhanh chóng các tranh chấp thương mại
Thứ hai, Trọng tài có thủ tục giải quyết đơn giản, thuận tiện cho các bên
Trên thực tế hiện nay, quá trình tố tụng trọng tài từ giai đoạn khởi kiện cho đến khi có phán quyết có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn tùy theo thỏa thuận và yêu cầu của các bên Điều này sẽ rất khó thực hiện được trong trường hợp là tòa án Với tố tụng tòa án, các bên sẽ phải tuân thủ đúng quy trình, trình tự tố tụng theo luật định, từ việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp bằng chứng, chứng cứ, hòa giải, xét xử,
đó là chưa kể đến việc bản án của tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xem xét, xét xử lại theo các thủ tục phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm
Thứ ba, Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp đảm bảo tính bí mật
Trong quá trình giải quyết, nếu không được sự cho phép của các bên thì phiên họp giải quyết được tiến hành trong phòng mà ở đó ngoài Trọng tài viên và
tài viên phải có trách nhiệm đảm bảo bí mật mọi vấn đề liên quan đến các bên mà mình biết được do tiến hành giải quyết vụ việc và không tiết lộ cho người khác biết
14 Khoản 5, Điều 4, Luật TTTM 2010
15 Khoản 1, Điều 55, Luật TTTM 2010
Trang 24trừ khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền16 Phán quyết trọng tài cũng như các căn cứ để trọng tài ra phán quyết sẽ không công khai nếu các bên
xử công khai của tòa án
Thứ tư, Hoạt động của trọng tài được sự hỗ trợ từ tòa án
Pháp luật về TTTM của Việt Nam cũng như các quốc gia đều quy định cơ chế
hỗ trợ từ phía tòa án đối với tổ chức và hoạt động của trọng tài Phương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM chủ yếu dựa trên sự thỏa thuận và ý chí tự nguyện giữa các bên, vì vậy tòa án cần có sự hỗ trợ trong các trường hợp vượt tầm kiểm soát của trọng tài như: chỉ định, thay đổi Trọng tài viên khi các bên chưa thống nhất được với nhau việc lựa chọn Trọng tài viên; xem xét vấn đề hiệu lực của TTTT; xem xét vấn
đề thẩm quyền của trọng tài; giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài; ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu các một trong các bên không tự nguyện thực hiện phán quyết trọng tài; triệu tập nhân chứng hay thu thập chứng cứ…
1.2 Khái quát chung về thỏa thuận trọng tài
1.2.1 Khái niệm về thỏa thuận trọng tài
Khi có tranh chấp xảy ra giữa các bên thì vấn đề đầu tiên là phải xác định xem phương thức nào sẽ được áp dụng để giải quyết bất đồng Thông thường, trong tranh chấp hợp đồng liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại thì giữa các bên thường sử dụng các phương thức giải quyết theo thứ tự: thương lượng, hòa giải
và xét xử (trong đó có xét xử bởi tòa án hoặc xét xử bởi trọng tài) Việc xác định phương thức nào sẽ do các bên thỏa thuận lựa chọn Xuất phát từ những ưu điểm so với tòa án, trên thực tế phương thức xét xử bằng TTTM thường được các bên lựa chọn, đặt biệt là đối với tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế
TTTT có một vai trò đặt biệt quan trọng trong phương thức trọng tài Bởi nếu giữa các bên không tồn tại sự thỏa thuận thì đương nhiên trọng tài sẽ không có thẩm quyền thụ lý và giải quyết các tranh chấp phát sinh Chính vì thế mà pháp luật trọng tài của Việt Nam cũng như của các nước thế giới đều dành cho TTTT một chương
16 Khoản 5, Điều 21, Luật TTTM 2010
17 Khoản 4, Điều 4, Luật TTTM 2010
Trang 25riêng trong đạo luật quy định về TTTM18 Cũng giống như khái niệm về TTTM thì
mỗi quốc gia lại có những cách định nghĩa khác nhau về TTTT Cụ thể:
Luật Trọng tài Hàn Quốc 1999 quy định: “TTTT là thỏa thuận giữa các bên
về việc đệ trình lên trọng tài các tranh chấp đã phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên đối với các quan hệ pháp lý đã được xác định, dù theo hợp đồng hay không
Luật Mẫu của UNCITRAL quy định: “TTTT là thỏa thuận theo đó các bên
quyết định sẽ đưa mọi tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa các bên về một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng TTTT có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài nằm trong một hợp đồng hoặc
Ở nước ta, Luật TTTM 2010 quy định: “TTTT là thỏa thuận giữa các bên về
“Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có TTTT TTTT có thể
Từ những định nghĩa trên có thể đưa ra cách hiểu chung nhất về TTTT như sau: TTTT là sự thống nhất về mặt ý chí giữa các bên để đưa một số tranh chấp hoặc tất cả tranh chấp đã xảy ra hoặc có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh thương mại mà được pháp luật cho phép giải quyết bằng phương thức trọng tài Các tranh chấp dù trong hay ngoài quan hệ hợp đồng vẫn sẽ được xét xử bởi trọng tài khi và chỉ khi các bên có TTTT hợp lệ được xác lập
1.2.2 Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài
Với bản chất là nền tảng pháp lý cho tố tụng trọng tài, TTTT có những đặc trưng sau:
Một là, TTTT được hình thành dựa trên sự thống nhất về mặt ý chí giữa các chủ thể có năng lực
18 Luật TTTM 2010 của Việt Nam dành chương II để nói về TTTT
19 Khoản 2, Điều 3, Luật Trọng tài Hàn Quốc 1999
20 Khoản 1, Điều 7, Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 sửa đổi 2006
21 Khoản 2, Điều 3, Luật TTTM 2010
22 Khoản 1, Điều 5, Luật TTTM 2010
Trang 26Năng lực chủ thể là một trong những yếu tố để hình thành nên TTTT Nếu các chủ thể tiến hành ký kết TTTT nhưng không đảm bảo về năng lực chủ thể thì thỏa thuận này sẽ vô hiệu Những chủ thể có đủ năng lực để ký kết hợp đồng thì cũng có năng lực ký kết TTTT Năng lực chủ thể tham gia ký kết hợp đồng được pháp luật quy định khác nhau Chủ thể gồm ba loại: cá nhân, pháp nhân, quốc gia (hoặc cơ quan nhà nước) Nếu chủ thể là cá nhân thì phụ thuộc vào nơi thường trú hoặc quốc tịch Nếu chủ thể là doanh nghiệp thì phụ thuộc nơi thành lập hoặc nơi hoạt động kinh doanh
TTTT mang bản chất là một loại hợp đồng Hiện nay, quan điểm đã được
nhiều học giả thừa nhận BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa
Tuy, TTTT về hình thức có thể chưa phải hoàn chỉnh như là một hợp đồng nhưng xét về bản chất thì TTTT cơ bản đã đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành hợp đồng, đó là văn bản do các bên chủ thể thỏa thuận với nhau về cách thức giải quyết tranh chấp, Trung tâm trọng tài giải quyết, quy tắc tố tụng, ngôn ngữ, địa điểm… và khi xảy ra tranh chấp thì một bên có quyền gửi đơn kiện tại trọng tài và bên còn lại
có nghĩa vụ phải tham gia quá trình tố tụng Trọng tài nếu như TTTT không bị vô hiệu Vì TTTT cũng là một loại hợp đồng nên ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa các bên chủ thể đóng vai trò quyết định trong quá trình xác lập TTTT Trong trường hợp, một trong các bên chứng minh được TTTT không hình thành trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận của mình thì có thể yêu cầu tòa án tuyên bố hủy TTTT
Hai là, TTTT phải được lập thành dưới dạng văn bản
Do tính chất quan trọng của TTTT nên pháp luật trọng tài của Việt Nam cũng như hầu hết quốc gia trên thế giới đều quy định hình thức bắt buộc của TTTT phải là văn bản Cụ thể:
Công ước New York 1958 quy định: “Mỗi quốc gia thành viên phải công
nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác
23 Điều 385, BLDS 2015
Trang 27định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng
Luật Mẫu của UNCITRAL cũng có quy định tương tự: “TTTT phải được lập
Luật Trọng tài Ai Cập về vấn đề dân sự và thương mại ban hành kèm theo
Luật số 27/1994 quy định: “TTTT phải thể hiện dưới hình thức văn bản, nếu không
sẽ bị mất hiệu lực Một thỏa thuận được coi là bằng văn bản nếu nó được quy định trong một tài liệu được các bên ký kết hoặc chứa đựng trong dữ liệu trao đổi bằng
Ở nước ta, Luật TTTM 2010 quy định: “TTTT phải được xác lập dưới dạng
Liên quan đến thuộc tính văn bản của TTTT thì pháp luật trọng tài của Việt Nam có quy định khá tương đồng với pháp luật trọng tài của các nước: TTTT có thể được lập thông qua các hình thức trao đổi thư từ, công văn, qua các phương tiện
TTTT:
(i) TTTT là một điều khoản nằm trong hợp đồng
Các bên thỏa thuận áp dụng phương thức trọng tài để giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai ngay từ khi xác lập hợp đồng TTTT được các bên thể hiện trong hợp đồng kinh doanh thương mại bằng một điều khoản cụ thể và điều khoản này thường được nằm ở cuối hợp đồng sau khi đã các bên đã đàm phán xong phần lớn các điều khoản chủ yếu khác Như vậy, điều khoản TTTT này thường mang tính chất dự liệu cho tình huống phát sinh tranh chấp nếu có về sau, nên thường ngắn gọn, không thỏa thuận chi tiết về nội dung và ít được các bên quan tâm chú ý
(ii) TTTT là một văn bản thỏa thuận riêng biệt
24 Điều 2, Công ước New York 1958
25 Khoản 2, Điều 7, Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 sửa đổi 2006
26 Điều 12, Luật Trọng tài Ai Cập 1994
27 Khoản 2, Điều 16, Luật TTTM 2010
28 Nội dung này sẽ được phân tích chi tiết trong chương 2 của Luận văn
Trang 28Các bên xảy ra tranh chấp (có thể trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) và tiến hành thỏa thuận với nhau để đưa tranh chấp này ra giải quyết bằng phương thức trọng tài TTTT này được thể hiện dưới dạng một thỏa thuận riêng biệt Do tranh chấp đã xảy ra, nên các bên biết rõ về loại tranh chấp, tính chất của tranh chấp nên TTTT này thường được các bên soạn thảo một cách chi tiết, cụ thể và nội dung văn bản này thường dài hơn hình thức thứ nhất
Ba là, TTTT chỉ có hiệu lực khi đáp ứng những yêu cầu của pháp luật về mặt nội dung
Nội dung cơ bản của TTTT là các bên sẽ phải thỏa thuận đưa tranh chấp của mình ra trọng tài giải quyết Tuy được hình thành trên ý chí tự nguyện và sự thỏa thuận giữa các bên nhưng không phải vì thế mà mọi tranh chấp đều sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài, bởi để tranh chấp được giải quyết bằng phương thức trọng tài thì còn phải phụ thuộc vào quy định của pháp luật Pháp luật các nước có quy định khác nhau về thẩm quyền (jurisdiction) này Thông thường các quốc gia xác định phạm vi tài phán trọng tài theo những cách như sau:
(i) phương pháp loại trừ, tức là quy định những quan hệ pháp luật dù có phát sinh tranh chấp thì cũng không thể giải quyết bằng phương thức trọng tài (chẳng hạn như các vụ việc hình sự, hôn nhân gia đình);
(ii) quy định nguyên tắc cho phép giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài dựa trên đặc điểm của các quan hệ pháp luật mà tranh chấp phát sinh từ đó;
(iii) vừa quy định cho phép vừa quy định loại trừ các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài
Ngoài ra, TTTT còn phải đảm bảo chứa đựng những nội dung cơ bản sau: hình thức trọng tài (trọng tài vụ việc hay trọng tài quy chế); ngôn ngữ trọng tài; luật điều chỉnh TTTT; địa điểm tiến hành trọng tài; chi phí trọng tài Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận thêm các nội dung khác nhằm giúp cho hoạt động tố tụng trọng tài đạt được hiệu quả cao nhất
Bốn là, TTTT có giá trị độc lập với giá trị của hợp đồng thương mại
Trang 29Đây được coi là đặc điểm cơ bản nhất của TTTT, vì thế mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định về tính độc lập giữa TTTT và hợp đồng Cụ thể:
Luật Mẫu của UNCITRAL quy định: “…một điều khoản trọng tài nằm trong
một hợp đồng được coi như một thỏa thuận độc lập với các điều khoản còn lại của hợp đồng Việc Hội đồng trọng tài thừa nhận hợp đồng vô hiệu không đương nhiên
Luật Trọng tài Anh 1996 quy định: “Tính chất độc lập của TTTT: Trừ khi
các bên có thỏa thuận khác, một TTTT tạo thành hoặc được dự định tạo thành của một phần thỏa thuận khác (thành văn hay không thành văn) sẽ không bị coi là không có giá trị pháp lý, không tồn tại hoặc không có hiệu lực khi thỏa thuận kia bị mất giá trị pháp lý, không tồn tại hay không có hiệu lực và vì mục đích này nó sẽ
Điều này có nghĩa là dù cho TTTT tồn tại dưới dạng là một điều khoản nằm trong hợp đồng chính hay tồn tại dưới dạng một văn bản riêng biệt thì nó vẫn có giá trị độc lập hoàn toàn với nội dung các điều khoản của hợp đồng chính Do đó, TTTT vẫn không bị vô hiệu ngay cả khi hợp đồng bị thay đổi, hủy bỏ hoặc hết hiệu lực Quy định này nhằm đảm bảo khi hợp đồng chính bị vô hiệu thì các bên vẫn có quyền tiếp tục kiện ra trọng tài giải quyết những vấn đề liên quan đến hợp đồng đó, chẳng hạn như việc giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên
1.2.3 Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài khi tiến hành giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại
Với những đặc điểm nêu trên, có thể khẳng định rằng: TTTT là một yếu tố đặc biệt quan trọng và không thể nào thiếu được trong quá trình tố tụng trọng tài Vai trò quan trọng của TTTT được thể hiện như sau:
Thứ nhất, TTTT là cơ sở pháp lý nhằm xác lập thẩm quyền của trọng tài
trong giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại, đồng thời nó sẽ loại trừ quyền tài phán tòa án quốc gia Không giống như phương thức tòa án (có thẩm quyền đương nhiên), trọng tài chỉ có thẩm quyền
29 Khoản 1, Điều 16, Luật Mẫu của UNCITRAL 1985
30 Điều 7, Luật Trọng tài Anh 1996
Trang 30khi giữa các bên tồn tại một TTTT Tuy nhiên, không phải tất cả mọi TTTT đều sẽ phát sinh hiệu lực Để trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì TTTT đó phải đảm bảo các giá trị pháp lý (không bị vô hiệu), tức là đảm bảo về năng lực của chủ thể ký kết, hình thức, nội dung và sự thống nhất về mặt ý chí giữa chủ thể
Mặc dù TTTT khi có hiệu lực sẽ loại trừ quyền tài phán tòa án quốc gia nhưng không vì thế mà sẽ loại trừ sự hỗ trợ của tòa án trong suốt quá trình tiến hành hoạt động tố tụng trọng tài như chỉ định, thay đổi Trọng tài viên (trong trường hợp trọng tài vụ việc); thu thập chứng cứ; triệu tập người làm chứng; đăng ký phán
quyết trọng tài; hủy phán quyết trọng tài…
Thứ hai, TTTT tạo ra sự ràng buộc trách nhiệm cho các bên Bởi vì, TTTT
được xác lập dựa trên sự thỏa thuận và ý chí tự nguyện giữa các bên do đó khi đã ký kết TTTT thì không bên nào được cố tình tránh né việc giải quyết bởi trọng tài Qua
đó, sẽ giúp cho các bên nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện đúng những nghĩa vụ đã thỏa thuận
Thứ ba, TTTT giúp cho hoạt động tố tụng trọng tài được diễn ra một cách
thuận tiện và nhanh chóng Bởi vì, khi xác lập TTTT thì các bên đã có thể thống nhất về địa điểm, ngôn ngữ, luật áp dụng trong hoạt động trọng tài
1.3 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong mối tương quan với hợp đồng chính và các chủ thể có liên quan
1.3.1 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài với hợp đồng chính
Luật Mẫu của UNICITRAL đã khẳng định: “… Vì mục đích này, điều khoản
trọng tài là một phần của hợp đồng sẽ được coi là thỏa thuận độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng Quyết định của Hội đồng trọng tài về hợp đồng vô hiệu
Quy tắc Trọng tài UNCITRAL ghi nhận tính độc lập của TTTT như sau:
“Ủy ban Trọng tài sẽ có quyền quyết định về sự tồn tại hoặc giá trị pháp lý của hợp đồng mà trong đó điều khoản trọng tài hợp thành như là một phần của nó Vì mục đích của Ðiều 21 này, một điều khoản trọng tài sẽ được xem như là một thỏa thuận
31 Khoản 1, Điều 16, Luật Mẫu của UNCITRAL 1985
Trang 31độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng Một quyết định bởi Ủy ban Trọng tài cho rằng hợp đồng là vô hiệu và không có giá trị sẽ không kéo theo làm mất hiệu
Luật TTTM 2010 quy định:“TTTT hoàn toàn độc lập với hợp đồng Việc
thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện
nguyên tắc rất quan trọng, một quy định đặc thù về giải quyết tranh chấp phát sinh bằng phương thức trọng tài, cho dù TTTT chứa đựng trong một văn bản riêng hay tồn tại trong một điều khoản của hợp đồng chính34 thì nó vẫn có giá trị độc lập hoàn toàn với nội dung các điều khoản của hợp đồng chính Bởi vì đối tượng của TTTT
là xác định phương thức giải quyết tranh chấp sẽ phát sinh hoặc đang phát sinh; trong khi đó đối tượng của hợp đồng chính là quyền và nghĩa vụ của các bên Do
đó, phần lớn các trường hợp khi hợp đồng chính vô hiệu hay hết hiệu lực thì không đương nhiên làm cho TTTT bị vô hiệu hoặc hết hiệu lực hay nói cách khác, khi hợp đồng chính bị vô hiệu thì quá trình tố tụng bằng trọng tài vẫn được diễn ra bình thường nếu như TTTT nằm trong trường hợp này Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp, căn cứ làm cho hợp đồng chính và TTTT vô hiệu trùng nhau thì sự vô hiệu của hợp đồng chính sẽ làm cho TTTT cũng vô hiệu theo Chẳng hạn như trong trường hợp chủ thể ký hợp đồng chính không đủ năng lực chủ thể để ký hợp đồng
thương mại thì cũng không đủ năng lực ký kết TTTT
1.3.2 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài với các chủ thể có liên quan
1.3.2.1 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đối với tòa án
Công ước New York 1958 quy định như sau: “Tòa án của một quốc gia
thành viên, khi nhận được đơn kiện về một vấn đề mà các bên đã có thỏa thuận theo nội dung của Điều này theo yêu cầu của một bên, phải hướng dẫn các bên tới trọng
32 Khoản 2, Điều 21, Quy tắc Trọng tài UNCITRAL 1976
33 Điều 19, Luật TTTM 2010
34 Khoản 1, Điều 16, Luật TTTM 2010 quy định: “TTTT có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản
trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng”
Trang 32tài, trừ khi tòa án thấy rằng thỏa thuận nói trên vô hiệu không thể thực hiện được
Luật Mẫu của UNCITRAL quy định: “Tòa án tiếp nhận đơn kiện yêu cầu
giải quyết tranh chấp về một vấn đề đã có TTTT sẽ phải trả lại đơn kiện cho các bên để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết nếu có yêu cầu của một trong các bên được đưa ra chậm nhất vào ngày bên đó nộp bản luận cứ bảo vệ đầu tiên về nội dung tranh chấp, trừ trường hợp tòa án thấy rằng TTTT đó vô hiệu hoặc không thể
Luật TTTM 2010 cũng có quy định tương tự: “Trong trường hợp các bên
tranh chấp đã có TTTT mà một bên khởi kiện tại tòa án thì tòa án phải từ chối thụ
Việc quy định này sẽ tránh được tình trạng xung đột về thẩm quyền giữa trọng tài và tòa án, đồng thời đảm bảo nguyên tắc khi các bên đã có TTTT thì khi xảy ra tranh chấp phải được giải quyết bằng phương thức trọng tài và lúc này tòa án
sẽ không được thụ lý vụ việc, ngoại lệ được quy định trong trường hợp này là TTTT
bị vô hiệu hoặc TTTT không thể thực hiện được Quy định này đã cho thấy được sự tiến bộ của Luật TTTM 2010 so với Pháp lệnh TTTM 2003, đó là Pháp lệnh TTTM
2003 chỉ quy định duy nhất một trường hợp ngoại lệ là “TTTT vô hiệu”, chính vì thế đã gây cản trở và khó khăn cho hoạt động tố tụng trọng tài tại Việt Nam Quy định này của Luật TTTM 2010 là hài hòa với pháp luật TTTM của các nước cũng như Luật Mẫu của UNCITRAL
1.3.2.2 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đối với cơ quan trọng tài
Hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận lựa chọn có thẩm quyền xem xét thẩm quyền giải quyết của chính mình, đây là nguyên tắc “thẩm quyền của thẩm
35 Khoản 3, Điều 2, Công ước New York 1958
36 Khoản 1, Điều 8, Luật Mẫu của UNCITRAL 1985
37 Điều 6, Luật TTTM 2010
38 Tống Thị Lan Hương (2011), Pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 43
Trang 33Luật Mẫu của UNICITRAL cũng đã khẳng định: “Hội đồng trọng tài có thể
quyết định về thẩm quyền xét xử của chính mình, bao gồm việc xem xét bất kỳ phản
Luật TTTM 2010 quy định: “Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội
đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của TTTT; TTTT thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, TTTT vô hiệu hoặc xác định rõ TTTT không thể thực hiện được thì Hội đồng trọng tài quyết
Quy định này có thể hiểu là: trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét về tính hiệu lực của TTTT; TTTT có thuộc trường hợp không thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền giải quyết của mình
mà không phải đợi đến khi các bên có đơn khiếu nại thì mới tiến hành xem xét Việc quy định này nhằm đảm bảo cho tranh chấp sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí của các bên tranh chấp
1.3.2.3 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài ràng buộc các bên tranh chấp
TTTT là cơ sở ràng buộc trách nhiệm đối với các bên tranh chấp vì thỏa thuận này do chính các bên tự nguyện xác lập bằng chính ý chí của mình, với mong muốn chọn lựa cách giải quyết khi tranh chấp xảy ra bằng phương thức trọng tài TTTT không chỉ là bằng chứng của sự đồng ý mà còn thể hiện quyền tự do kinh doanh, quyền tự định đoạt của các bên trong quan hệ thương mại và dân sự
Luật TTTM 2010 quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu
Ngoài ra, việc thỏa thuận này sẽ là căn cứ buộc các bên tranh chấp phải thực hiện đúng nghĩa vụ trọng tài của mình, không bên nào được tự ý từ bỏ, thay đổi thỏa thuận hay vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ TTTT này Hơn nữa, quy định này còn
39 Khoản 1, Điều 16, Luật Mẫu của UNCITRAL 1985
40 Khoản 1, Điều 43, Luật TTTM 2010
41 Khoản 1, Điều 5, Luật TTTM 2010
Trang 34là giải pháp tích cực để tránh xảy ra những tranh chấp nếu các bên tham gia TTTT không tự nguyện thực hiện đúng thỏa thuận của mình Bởi nếu một bên vi phạm, bên còn lại có quyền yêu cầu tòa án can thiệp buộc bên vi phạm phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình hoặc nếu không, tòa án sẽ sử dụng các biện pháp cần thiết để cho TTTT được thực hiện
1.3.3 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài khi có sự thay đổi của một bên
Ngay sau khi các bên thiết lập TTTT thì có thể xảy ra những thay đổi lớn liên quan đến một trong các bên tham gia thỏa thuận Vì vậy, vấn đề hiệu lực của TTTT trong các trường hợp này cần phải được xem xét Khắc phục hạn chế của Pháp lệnh TTTM 2003 khi không có điều luật nào quy định về vấn đề hiệu lực của TTTT trong trường hợp có sự thay đổi của một trong các bên tham gia ký kết TTTT
Luật TTTM 2010 đã bổ sung quy định về vấn đề TTTT vẫn tiếp tục có hiệu lực trong trường hợp một trong các bên có sự thay đổi Quy định này đã tạo ra căn
cứ pháp lý cụ thể để bảo đảm nâng cao tính hiệu lực của TTTT, tránh trường hợp một trong các bên kế thừa TTTT trốn tránh trách nhiệm Cụ thể:
(i) Quy định về sự thay đổi của một trong các bên tham gia ký kết TTTT là
cá nhân như sau:“Trường hợp một bên tham gia TTTT là cá nhân chết hoặc mất
năng lực hành vi, TTTT vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện
Theo quy định trên đây, cần được hiểu là khi tiến hành đàm phán ký kết TTTT thì người tham gia đàm phán ký kết TTTT là người có thẩm quyền ký kết, có năng lực hành vi nhưng sau đó xảy ra trường hợp người đó chết hay mất năng lực hành vi thì người thừa kế của người đã chết hoặc người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi có trách nhiệm tiếp tục thực hiện những nội dung đã thỏa thuận trong TTTT mà người chết, người mất năng lực hành vi đã ký kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên còn lại thì hai bên sẽ thực hiện theo thỏa thuận mới này
42 Khoản 2, Điều 5, Luật TTTM 2010
Trang 35(ii) Quy định về sự thay đổi của một trong các bên tham gia ký kết TTTT là
tổ chức như sau: “Trường hợp một bên tham gia TTTT là tổ chức phải chấm dứt
hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, TTTT vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của
Theo quy định trên đây, cần được hiểu là sau khi tiến hành đàm phán ký kết TTTT thì xảy ra trường hợp một tổ chức bị chấm dứt hoạt động, phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức thì tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức này phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nội dung TTTT đã được ký kết trước đây Tuy nhiên, nếu tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức trước đây có thỏa thuận khác với bên còn lại thì hai bên sẽ thực hiện theo thỏa thuận mới này
Điều này quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn đó là khi gặp trường hợp này, người yêu cầu hay phản đối phải cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hay cho sự phản đối của mình là có cơ sở, có căn cứ là cơ quan,
tổ chức nào đã tiếp nhận quyền, nghĩa vụ hoặc cơ quan, tổ chức nào từ chối tiếp nhận quyền và nghĩa vụ đối với tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể….; còn Hội đồng trọng tài phải thu nhập tài liệu, chứng cứ làm rõ tổ chức nào là
tổ chức đã tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của các tổ chức đó để xác minh chủ thể thừa
43 Khoản 3, Điều 5, Luật TTTM 2010
44 Tưởng Duy Lượng (2016), Bình luận Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật TTTM và thực tiễn xét xử, NXB Tư
pháp, Hà Nội, 179
Trang 36Tiểu kết chương 1
Chương 1 của Luận văn đã nêu được những vấn đề lý luận chung về TTTM
và TTTT Trong phần lý luận về TTTM, tác giả trình bày sơ lược lịch sử hình thành
và phát triển của chế định TTTM trên thế giới cũng như tại Việt Nam, nêu một số đặc điểm nổi bật của TTTM Tiếp nối những vấn đề lý luận về TTTM, tác giả cũng tìm hiểu những vấn đề lý luận về TTTT bao gồm: khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của TTTT Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu vấn đề hiệu lực của TTTT trong mối tương quan với hợp đồng chính và các chủ thể có liên quan Có thể nói, nếu không tồn tại TTTT thì sẽ không có việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài Nhưng vấn đề hiện nay, TTTT vẫn chưa thể hiện được tầm quan trọng của nó, vẫn còn nhiều những tồn tại, bất cập liên quan tới TTTT làm cản trở việc xét xử của các Trọng tài viên Những vấn đề lý luận được trình bày trong chương 1 là cơ sở, tiền
đề để tác giả tiếp tục nghiên cứu thực trạng pháp luật về hiệu lực của TTTT cũng
như thực tiễn áp dụng tại Việt Nam trong chương 2
Trang 37Chương 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
2.1 Các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo pháp luật Việt Nam
Như đã trình bày ở chương 1, TTTT có một vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ
sở làm phát sinh thẩm quyền của trọng tài Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào giữa các bên có tồn tại TTTT thì cũng sẽ dẫn đến quá trình tố tụng bằng trọng tài, TTTT chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó có hiệu lực pháp luật Hiệu lực của TTTT mang tính quyết định trong việc thực hiện các nội dung của TTTT Mặc dù, TTTT được xác lập dựa trên sự tự do thỏa thuận và ý chí tự nguyện giữa các bên chủ thể Thế nhưng, sự tự do ở đây cần phải hiểu là sự tự do trong khuôn khổ các quy định của pháp luật Nhà nước tôn trọng sự tự do thỏa thuận giữa các bên, nhưng nếu sự tự do thỏa thuận đó xâm phạm quyền, lợi ích của xã hội, ảnh hưởng đến trật tự công thì Nhà nước bắt buộc phải có biện pháp can thiệp Pháp luật về TTTM của Việt Nam cũng tương tự như các nước khi tiếp cận vấn đề này bằng cách liệt kê những trường hợp TTTT vô hiệu:
“Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài theo quy định tại Điều 2 của Luật này;
Người xác lập TTTT không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Người xác lập TTTT không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của BLDS;
Hình thức của TTTT không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này; Một trong các bên bị lừa dối, bị đe doạ, bị cưỡng ép trong quá trình xác lập TTTT và có yêu cầu tuyên bố TTTT đó là vô hiệu;
45 Điều 18, Luật TTTM 2010
Trang 38Xét về bản chất thì TTTT cũng là một giao dịch dân sự46 (TTTT không phải
cũng phải bảo đảm đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự và căn cứ vào các quy định về TTTT vô hiệu, để đưa ra các điều kiện đảm bảo TTTT
có hiệu lực Cụ thể:
2.1.1 Chủ thể xác lập thỏa thuận trọng tài
Theo quy định của Luật TTTM 2010: “Người xác lập TTTT không có năng
hiệu, điều này có nghĩa là để một TTTT không bị vô hiệu thì các chủ thể tham gia đàm phán ký kết hợp đồng (có chứa điều khoản TTTT) hoặc ký kết TTTT dưới dạng văn bản riêng biệt phải có năng lực hành vi dân sự
Chủ thể ở đây bao gồm: cá nhân, pháp nhân và quốc gia (hoặc các cơ quan nhà nước), đối với mỗi loại chủ thể thì pháp luật các nước có những quy định cụ thể
về cách xác định luật áp dụng sao cho phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng loại chủ thể Cụ thể:
(i) Đối với cá nhân tham gia ký kết TTTT thì phải là người có năng lực hành
vi dân sự Năng lực của cá nhân bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực
hành vi dân sự “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân
là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ
Hai năng lực này không phát sinh song song cùng thời điểm, đối với năng
lực pháp luật dân sự thì mọi cá nhân đều có như nhau và “có từ khi người đó sinh
cá nhân đều có cho nên BLDS 2015 có quy định những trường hợp như người chưa
46 Điều 116, BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
47 Xem thêm tiểu mục 1.2.2 của Luận văn
48 Khoản 3, Điều 18, Luật TTTM 2010
49 Khoản 1, Điều 16, BLDS 2015
50 Điều 19, BLDS 2015
51 Khoản 3, Điều 16, BLDS 2015
Trang 39thành niên52, người mất năng lực hành vi dân sự53, người hạn chế năng lực hành vi
xác lập sẽ không có hiệu lực Tuy nhiên, “…để chứng minh người xác lập TTTT
không có năng lực hành vi dân sự thì phải có giấy tờ tài liệu chứng minh ngày tháng năm sinh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết định của tòa
án xác định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực
(ii) Đối với pháp nhân thì “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả
năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy
Pháp nhân khi tham gia vào các quan hệ pháp luật như một chủ thể bình đẳng, độc lập với các chủ thể khác, cho nên pháp nhân cũng cần phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Nhưng khác với năng lực pháp luật
dân sự của chủ thể cá nhân, “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ
thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp
của pháp nhân khi muốn tham gia vào quan hệ pháp luật phải thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền nên khi xem xét năng lực của chủ thể là pháp nhân thì phải căn cứ vào năng lực của chính pháp nhân và của cả cá nhân trực tiếp ký kết TTTT Nếu người đại diện hợp
Trang 40pháp của pháp nhân hoặc người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân không có năng lực hành vi dân sự thì TTTT do người này xác lập cũng sẽ bị vô hiệu
2.1.2 Đối tượng của thỏa thuận trọng tài
Trọng tài là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, không phải là cơ quan xét xử mang tính quyền lực Nhà nước, vì vậy trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tất
cả các loại tranh chấp phát sinh mà chỉ có thể giải quyết những vụ việc tranh chấp được pháp luật cho phép và giữa các bên có TTTT
Hay nói cách khác, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp phát sinh khi và chỉ khi các bên có TTTT và tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền của trọng tài do pháp luật quy định Vì thế, đối tượng của TTTT cũng mang một ý nghĩa quan trọng trong TTTT, là một trong những điều kiện để TTTT không bị vô
hiệu Luật TTTM 2010 đã quy định rõ: “Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực
TTTT sẽ vô hiệu Để xác định những loại tranh chấp trọng tài sẽ có thẩm quyền giải quyết, Luật TTTM 2010 đã sử dụng phương pháp liệt kê và đưa ra ba nhóm vụ việc có thể thỏa thuận để đưa ra giải quyết bằng trọng tài60, cụ thể:
thích theo nghĩa rộng liên quan đến tất cả các vấn đề phát sinh từ các quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng hoặc không phải là quan hệ hợp đồng Những quan hệ có bản chất thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn bởi các giao dịch sau: giao dịch thương mại để cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại; hoa hồng; thuê mua; xây dựng công trình; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận thăm dò hoặc khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác
59 Khoản 1, Điều 18, Luật TTTM 2010
60 Điều 2, Luật TTTM 2010 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài: “1 Tranh chấp
giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; 2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; 3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài”.
61 Khoản 1, Điều 2, Luật TTTM 2010