1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh thực trạng và hướng hoàn thiện

95 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương – tiền công của cá nhân cư trú
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn TS. Lê Xuân Quang
Trường học Trường Đại học Mở TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế Luật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là công trình nghiên cứu khoa học làm rõ các vấn đề lý luận, cơ sở bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú, luận văn so sánh quy định của pháp luật thuế TNCN của V

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng luận văn “Pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương – tiền công của cá nhân cư trú” là bài nghiên cứu của chính tôi Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2018

Nguyễn Thị Thùy Trang

Tai Lieu Chat Luong

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, em đã nhận được nhiều sự hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ của các cá nhân và tập thể Em xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới:

Trường Đại học Mở TP.HCM, Khoa Kinh tế Luật đã tạo điều kiện cho em được có thêm thời gian để tập trung nghiên cứu nhiều hơn cho đề tài đã chọn sau hai năm được học hỏi, được truyền dạy kiến thức từ sách vở, từ trên giảng đường Giảng viên TS Lê Xuân Quang đã kịp thời hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp

đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Kính chúc quý thầy cô, anh chị có nhiều sức khỏe, đạt được nhiều thành công trong công việc và cuộc sống!

Em xin chân thành cảm ơn!

Học viên thực hiện luận văn

Nguyễn Thị Thùy Trang

Trang 3

TÓM TẮT

Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển nhanh dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng thuế như là một công cụ để làm giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội Song việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý và góp phần hạ nhiệt cho nền kinh tế đang rất cần sự điều chỉnh trên

Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh

tế, đến việc điều tiết nền kinh tế thị trường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định Một trong những sắc thuế có khả năng điều tiết đến nền Kinh tế được giới thiệu sau đây

Thuế thu nhập là sắc thuế trực thu được ban hành nhằm phân phối một phần thu nhập của các cá nhân, doanh nghiệp cho nhà nước Thuế thu nhập thường được phân chia thành hai loại là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập doanh nghiệp có đối tượng chịu thuế là thu nhập từ hoạt động kinh doanh, mà chủ yếu là các loại hình doanh nghiệp Trong khi đó, thuế TNCN là loại thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập của các cá nhân Cá biệt có một số quốc gia, thuế TNCN được xác định như là một loại thuế mà chủ thể nộp thuế là hộ gia đình, hoặc nhà nước ban hành thuế thu nhập áp dụng chung cho cả doanh nghiệp và cá nhân Thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay được quy định trong Luật Thuế thu nhập cá nhân Ngoài những đặc trưng chung của một sắc thuế, thuế thu nhập đối với người

Trang 4

có thu nhập cao hiện hành có một số đặc trưng sau đây: Thuế TNCN hiện nay hướng đến những cá nhân có thu nhập cao, với mục đích kiến tạo sự công bằng hơn

là mục tiêu tăng thu ngân sách, “góp phần thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân có thu nhập cao cho ngân sách nhà nước” Có thể nhận thấy trong suốt thời gian qua, thuế TNCN mặc dù đã qua nhiều lần sửa đổi nhưng mục đích chỉ thu thuế đối với những người có thu nhập vượt hơn hẳn mức thu nhập bình quân của một cá nhân vẫn được duy trì

Chính vì những vấn đề nêu trên tác giả muốn nghiên cứu, đi sâu vào nội Luật đề tìm ra các bất cập hiện nay mà Luật Thuế thu nhập cá nhân gặp phải, bên cạnh đó so sánh với các Luật của các quốc gia khác để có cơ sở và giải pháp hoàn thiện tốt hơn Nhìn chung trong toàn luận văn tác giả muốn giải hướng đến mục đích chung nhất, tốt đẹp nhất là tạo sự công bằng hơn cho mọi người dân và đồng thời thu ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, qua đó Nhà nước có thêm ngân sách chăm lo tốt nguồn phúc lợi cho người dân và xã hội tạm đà cho nền kinh tế phát triển vững mạnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục v

Danh mục hình và đồ thị vii

Danh mục bảng viii

Danh mục các từ viết tắt ix

Lời nói đầu 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỒI VỚI THU NHẬP TỪ TIỀN CÔNG, TIỀN LƯƠNG CỦA CÁ NHÂN CƯ TRÚ 11

1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân, tiền công, tiền lương 11

1.1.1 Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân 11

1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 13

1.1.3 Vai trò của thuế đối với đối sống xã hội 14

1.1.4 Khái niệm tiền công và tiền lương: 16

1.2 Quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân 16

1.2.1 Đối tượng nộp thuế 16

1.2.2 Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công 20

1.2.3 Giảm thuế 23

1.2.4 Các khoản giảm trừ 23

1.2.5 Phương pháp tính thuế 25

1.2.6 Kỳ tính thuế 26

1.2.7 Kê khai quyết toán thuế 26

1.2.8 Hoàn thuế 28

1.2.9 Kiểm tra, thanh tra thuế và xử lý vi phạm 29

Kết luận Chương 1 31

Trang 6

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ TIỀN LƯƠNG, TIỀN CÔNG ĐỐI VỚI CÁ NHÂN CƯ TRÚ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH 32

2.1 Thực trạng về người phụ thuộc được tính giảm trừ 32

2.2 Thực trạng về quản lý nguồn thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân 41

2.3 Thực trạng về quy định về thuế suất thuế thu nhập cá nhân 46

2.4 Thực trạng về miễn, giảm trừ gia cảnh 53

2.5 Thực trạng về hoàn thuế thu nhập cá nhân 59

2.6 Thực trạng về công tác thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập cá nhân 62

Kết luận Chương 2 67

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ CỦA TỪ TIỀN LƯƠNG, TIỀN CÔNG CỦA CÁ NHÂN CƯ TRÚ 68

3.1 Hoàn thiện quy định về người phụ thuộc được tính giảm trừ 68

3.2 Hoàn thiện quy định về Quản lý nguồn thu nhập chịu thuế 70

3.3 Hoàn thiện quy định về thuế suất thuế Thu nhập cá nhân 72

3.4 Hoàn thiện quy định về miễn, giảm trừ gia cảnh 78

3.5 Hoàn thiện công tác hoàn thuế 77

3.6 Tăng cường việc kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm thuế TNCN 78

Kết luận Chương 3 80

Kết luận 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Hình 2.1.Tình hình quyết toán thuế TNCN tại Cục Thuế TP.HCM qua các năm 2014-2017 47 Hình 2.2 Số thuế Thu nhập cá nhân của cả nước năm 2014-2016 52

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 So sánh đối tượng nộp thuế của các quốc gia 18

Bảng 1.2 Thuế suất thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương 25

Bảng 1.3 Biểu thuế lũy tiến từng phần ở Hà Lan năm 2005 28

Bảng 2.1 Tình hình thu thuế qua các năm tại Cục thuế TP.HCM 44

Bảng 2.2 Tình hình thu thuế TNCN tại Cục thuế so với tổng thu thuế TNCN tại TP.HCM qua các năm 2014-2017 44

Bảng 2.3 Tình hình thu thuế TNCN tại Cục thuế TP.HCM so với tổng thu thuế TNCN trên cả nước qua các năm 2014-2017 45

Bảng 2.4 Tình hình quyết toán thuế TNCN tại TP.HCM qua các năm 2014-2017 47

Bảng 2.5 Phương án thuế xuất của Bộ Tài chính trình chính phủ trong năm 2017 52

Bảng 2.6 Tình hình quyết toán thuế TNCN tại Cục Thuế TP.HCM qua các năm 2014-2017 60

Bảng 3.1 Theo thống kê số liệu tại Cục thuế qua các năm 73

Trang 9

DANH MỤC VIẾT TẮT

UBND TP : Ủy ban nhân dân thành phố

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế trực thu ra đời sớm ở các nước phát triển và đang áp dụng rộng rãi ở các quốc gia trên thuế giới Tỷ trọng của thuế thu nhập cá nhân trong tổng ngân sách nhà nước chiếm rất cao từ 30 - 40% thậm chí trên 50% ở các nước như: Mỹ, Nhật, Canada, Autralia; ở các nước đang phát triển chiếm từ 15 - 30% ở các nước như: Thái Lan, Malaixia, Philipin

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã làm phát sinh sự phân hóa giàu nghèo trong tầng lớp dân cư Thuế được sử dụng như là một công cụ đắc lực và chủ yếu của nhà nước trong việc điều tiết thu nhập và góp phần tạo công bằng xã hội Trong hệ thống các sắc thuế tham gia vào quá trình điều tiết thu nhập của các cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế của nền kinh tế hàng hóa thì các sắc thuế trực thu là những sắc thuế thể hiện một cách rõ nét việc điều tiết thu nhập của nhà nước đối với các thu nhập của các cá nhân và tổ chức trong xã hội

Đó chính là một trong những lý do xuất hiện và tồn tại các sắc thuế trực thu như: thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân

Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, một trong những vấn đề đặt ra đối với Nhà nuớc chúng ta là cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế của nước nhà, thu hút được sức lao động, chất xám từ nước ngoài vào Việt Nam Việc nghiên cứu thực tiễn của hoạt động thu thuế thu nhập cá nhân nhằm thấy rõ thực trạng và tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo tính công bằng cho thuế thu nhập đối với người có thu nhập trong quá trình thu thuế cũng là một trong những nội dung hữu ích dưới góc độ thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật hiện nay ở nước ta

Trang 11

Để góp phần thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân có thu nhập cao cho NSNN, ngày 07/01/1991 Hội đồng NN đã ban hành Pháp lệnh số 50-LCT/HĐNN8, đây là pháp văn bản quy phạm pháp luật về Thuế TNCN

có gia trị pháp lý cao nhất được ban hành đến thời điểm trên được ban hành, Pháp lệnh có hiệu lực

Chính sách thuế TNCN đã bộc lộ những bất cập: cơ sở thuế hẹp, quá nhiều thuế suất, không bảo đảm tính đơn giản, minh bạch về nghiệp vụ, nhiều quy định khó thực hiện, dễ dẫn đến sự tùy tiện, không công bằng khi áp dụng, mức khởi điểm chịu thuế và giảm trừ gia cảnh chưa thuyết phục, chính sách, công tác quản lý, cơ chế quản lý chưa hiệu quả để giải quyết những hạn chế, bất cập nêu trên, vì thế

từ khi ban hành đến nay chính sách thuế này đã được chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần cho phù hợp nhằm phát huy tác dụng của nó trong đời sống kinh tế - xã hội Các lần sửa đổi như sau:

Pháp lệnh sửa đổi về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 19/05/1994

Pháp lệnh số 01/1997/PL-UBTVQH ngày 06/02/1997 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Pháp lệnh số 14/PL-UBTVQH ngày 30/06/1999 được ban hành với một số thay đổi so với Pháp lệnh năm 1997

Pháp lệnh số 35/PL-UBTVQH ngày 19/05/2001 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều số 14/PL-UBTVQH ngày 24/03/2004

Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/09/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

Hiện nay cơ sở pháp lý thực hiện chính sách thuế TNCN là Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/06/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu

Trang 12

nhập cá nhân (Thông tư hướng dẫn số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính)

Trước đòi hỏi của thực tiễn về chính sách mới để quản lý tốt, đồng bộ, việc nghiên cứu quá trình hoàn thiện về chính sách thuế TNCN trở thành nhu cầu cần thiết trong xã hội

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước nhằm trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công cộng đem lại lợi ích chung cho cộng đồng

Thuế là một trong các chính sách kinh tế xã hội hết sức quan trọng của Đảng

và Nhà nước ta, là công cụ điều tiết kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần tích lũy ngân sách Nhà nước Thuế không chỉ đơn thuần là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà có vai trò trong nền kinh tế thị trường mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội Vai trò không kém phần quan trọng bởi vì chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư

và đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế

Vấn đề đặt ra ở đây là: việc cụ thể hoá công tác pháp luật về TNCN trong các văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện như thế nào? Thực trạng của pháp luật

về thuế TNCN ra sau ? và đâu là giải pháp để khắc phục phần nào những thực trạng đó?

Xuất phát từ nhu cầu và tính cấp thiết việc thất thu thuế nói trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập

từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng và hướng hoàn thiện” để nghiên cứu với mong muốn đánh giá được hiệu quả quản lý thuế thu nhập cá nhân từ tiền công và tiền lương tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế thu nhập cá nhân cho Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và ngành thuế nói chung

Trang 13

1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua tìm hiểu về các quy định về thuế TNCN đã có một số công trình khoa học, bài viết, đặc biệt là các luận văn thạc, luận án tiến sĩ tìm hiểu về thuế TNCN trước đây:

“Pháp luật quản lý thuế TNCN qua thực tiễn thi hành tại Chi cục thuế quận Kiến An thành phố Hải Phòng”, luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế, trường Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Hường, 2015 Đề tài này là công trình nghiên cứu khoa học về những quy định của pháp luật về quản lý thuế TNCN và thực tiễn thực hiện tại địa phương cụ thể, qua đó đánh giá kết quả đạt được của quy định về quản lý thuế qua hoạt động thực tiễn, những phù hợp của pháp luật, rút ra những bất cập, khó khăn trong quá trình thực hiện quy định của pháp luật và đề xuất hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế TNCN

“Bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú theo pháp luật Việt Nam”, luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế của tác giả Trịnh Thu Thảo,

2015 Đây là công trình nghiên cứu khoa học làm rõ các vấn đề lý luận, cơ sở bảo

vệ quyền lợi của người nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú, luận văn so sánh quy định của pháp luật thuế TNCN của Việt Nam với một số quy định về thuế TNCN đối với cá nhân cư trú như cách xác định đối tượng cư trú, quy định về loại thu nhập chịu thuế, quy định các khoản giảm trừ đối với người nộp thuế của một số quốc gia tại Châu Âu và các bài học kinh nghiệm có thể áp dụng tại Việt Nam

“So sánh pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam với một số nước trên thế giới”, luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế, trường đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Chung Phương Anh, 2014 Đây là công trình nghiên cứu khái quát lý luận cơ bản và làm rõ các vấn đề về quản lý cũng như pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam Đề tài này so sánh, phân tích ưu điểm và kế thừa tính mới của các quy định quản lý thuế TNCN ở một số quốc gia trên thế giới và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý thuế TNCN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

“Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”, luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế, trường đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị An, 2014 Đây là công trình nghiên cứu khoa học cụ thể về những quy định của pháp luật về thuế TNCN và thực tiễn tại địa phương cụ thể, đánh giá sự phù hợp của pháp luật đối với hoạt động thực tiễn, qua đó rút ra những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng luật, qua đó đề ra những định hướng, giải pháp trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả của luật thuế TNCN trong thời gian tới, tạo lập công bằng xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế

“Căn cứ tính thuế TNCN theo pháp luật Việt Nam”, luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế, trường đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Hoàng Mai Lương, 2013 Đây

là công trình nghiên cứu khoa học đưa ra những nhận định, những quan điểm, cũng như phân tích đánh giá những quy định pháp luật cụ thể về căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân nói chung và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật Việt Nam nói riêng Từ thực trạng quy định pháp luật hiện hành, đưa ra những điểm tích cực và hạn chế từ đó đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về căn cứ tính thuế

“Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn thành phố cần thơ”, luận án tiến

sĩ Luật Kinh tế, Viện hàn lâm – Khoa xã hội Việt Nam – Học viện khoa học xã hội của tác giả Huỳnh Văn Diện, 2016 Đây là công trình nghiên cứu làm rõ các chủ thể nộp thuế, đối tượng nộp thuế, giảm trừ gia cảnh, thuế suất thuế thu nhập cá nhân, cách thức tổ chức thực hiện pháp luật bên cạnh đó còn đánh giá toàn diện, phân tích sâu thực trạng thực thực thi pháp luật tại thực tiễn, làm rõ những hạn chế, bất cập của thuế thu nhập cá nhân như đối tượng chịu thuế, các khoản thu nhập chịu thuế và đưa ra phương hướng phù hợp với thực tiễn

Trên cơ sở tập hợp, hệ thống ở mức độ đầy đủ nhất có thể các công trình liên quan pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam đã được công bố, luận văn sẽ kế thừa có chọn lọc trên cơ cơ sở phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu đó Từ đó đưa ra những quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu

Trang 15

Các công trình nghiên cứu trước đây chỉ xoay quanh phân tích, đánh giá ở khía cạnh tổng thể, quản lý chung về thuế TNCN và áp dụng tại thực tiễn nhưng chưa đi sâu nghiên cứu từng mảng, từng lĩnh vực của thuế TNCN

Bên cạnh phân tích những quy định của pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay, luận văn còn chỉ ra được những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập trong việc thực thi pháp luật thuế TNCN tại thành phố Hồ Chí Minh để làm tiền đề cho đề xuất, kiến nghị

Trên cơ sở quan điểm, phương hướng đề ra, luận văn đưa ra những đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế TNCN và cơ chế thực thi pháp luật thuế TNCN tại thành phố Hồ Chí Minh

Sự khác biệt của đề tài này là phân tích, so sánh việc rút ngắn bậc thuế suất (từ

7 bậc xuống còn 5 bậc) so với những quy định hiện hành và nêu ra những bất cập, hạn chế khi thực hiện trong thực tiễn và đề ra những phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện Pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú nhằm thu đúng, đủ cho ngân sách nhà nước và tạo sự công bằng cho các DN đang hoạt động Luận văn đưa ra những nhận xét cụ thể về ưu, nhược điểm của Pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú Kế thừa những quy định quản lý thuế TNCN ở các quốc gia trên thế giới Trên cơ sở đó, luận văn mạnh dạn đề xuất những giải pháp cụ thể để hoàn thiện hơn nữa pháp luật thuế về thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú, cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực thi Pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú trong giai đoạn hiện nay

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu

Mục tiêu chung

Nêu các cơ sở lý luận về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân

cư trú, nêu những thực trạng và phân tích những bất cập của pháp luật thuế quy định

về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú, từ đó đưa ra các giải

Trang 16

pháp, đề xuất chính sách nhằm tăng cường công tác quản lý tốt và tăng nguồn thu nhằm giảm thiếu hụt ngân sách, tạo sự công bằng cho mọi người, nâng cao hiệu quả

về hiệu lực của công tác quản lý thuế

Mục tiêu cụ thể

Làm rõ các vấn đề liên quan đến quy định về thuế TNCN, cá nhân cư trú, tiền công, tiền lương, nêu ra những bất cập của pháp luật quy định thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú nhằm quản lý tốt các nguồn thu, góp phần đẩy mạnh công tác quản lý và chống lại nạn thất thu thuế TNCN và tăng ngân sách nhà nước

Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nguồn thu về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương cá nhân cư trú và thực trạng tại thành phố

Hồ Chí Minh (giai đoạn 2014-2016) Trên cơ sở đó rút ta những thành tựu và nguyên nhân, hạn chế của công tác thu thuế TNCN

Để đạt được mục tiêu trên luận văn tập trung hướng đến các nhiệm vụ:

Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách thuế TNCN về thu nhập từ tiền công, tiền lương của nước ta và các thông lệ của quốc tế hiện hành quy định thuế TNCN trên thế giới về thu nhập từ tiền lương, tiền công và qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm để đề xuất hướng hoàn thiện chính sách thuế cho Việt Nam

Phân tích đánh giá thực trạng chính sách thuế tại Cục Thuế tại thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nêu bậc những vướng mắc, bất cập của thuế TNCN về thu nhập từ tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú và đưa ra một số giải pháp nhằm định hướng để hoàn thiện Luật Thuế TNCN từ tiền công, tiền lương với cá nhân cư trú trong giai đoạn hiện nay

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nội dung của luận văn tập trung đi vào trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

1 Đối với pháp luật về thuế TNCN thu nhập từ tiền công, tiền lương đối với

cá nhân cư trú và các văn bản hướng dẫn liên quan quy định vấn đề này ra sao?

Trang 17

2 Nêu rõ các vấn đề bất cập khi áp dụng quy định pháp luật thuế của Việt Nam về Thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú nhằm tránh thất thu NSNN từ nguồn này?

3 Với những bất cập khi áp dụng pháp luật thuế TNCN về thu nhập từ tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú và giải pháp, đề xuất nào nhằm hoàn thiện pháp luật thuế hiện hành về vấn đề đó?

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của thuế TNCN và những văn bản hướng dẫn thực hiện Bên cạnh đó luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn áp dụng Luật thuế TNCN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014 - 2016, đây là cơ sở

để đánh giá được những quy định của Luật thuế TNCN có hiệu quả, phù hợp với thực tiễn hay chưa? Và đề ra phương hướng, phương pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định về thuế TNCN cho phù hợp với hiện tại và theo xu hướng hội nhập quốc tế

Qua đó tác giả nghiên cứu của đề tài là Thuế TNCN về thu nhập từ tiền công, tiền lương đối với cá nhân tại Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh Nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công đối với cá nhân cư trú là nguồn thu nhập rất khó kiểm soát Thuế TNCN mà họ có thể đóng góp vào NSNN là rất nhiều nếu ta có chính sách hợp lý

về nguồn thu thuế này và đề ra các giải pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện thuế TNCN, chống thất thu cho ngân sách Nhà nước

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả dùng phương pháp phân tích Pháp luật thuế về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú và các quy định liên quan nhằm làm rõ hơn

về những quy định của Thuế TNCN về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với

cá nhân cư trú hiện nay Qua đó nêu bật những bất cập, khó khăn và đưa ra hướng

đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú, nêu được những mặt mạnh cần được phát huy và triển khai nhân rộng các điển hình, góp phần chống thất thu thuế và tạo môi trường công bằng cho các DN đang hoạt động

Trang 18

Bên cạnh đó tác giả dùng phường pháp tổng hợp các báo cáo, số liệu về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú tại Việt Nam và đặc biệt tại Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh qua các năm đạt được, qua đó cho ta có cái nhìn tổng quát và nêu ra được những khó khăn, bất cập trong thực tiễn khi áp dụng về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú và có định hướng đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chống thất thu thuế và tạo sự công bằng trong các DN đang hoạt động, qua đó tạo môi trường kinh tế ổn định để thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài

Để nổi bật những ý cần phân tích ngoài hai phương pháp trên tác giả còn dùng phương pháp so sách lồng ghép vào các nội dung của pháp luật quy định thuế TNCN của Việt Nam với các nước khác trên thế giới quy định về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú, tất cả các nguồn thu để tính thuế TNCN, bậc thuế suất, qua đó học hỏi những kinh nghiệm, rút ra bài học và đề xuất hướng hoàn thiện thuế về lĩnh vực này Đây cũng là xu hướng chung của các nước đang phát triển phát triển nhằm phù hợp với thông lệ quốc tế và hoàn thiện chính sách pháp luật thuế trong quá trình hội nhập quốc tế

1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, dựa trên các phương pháp nêu trên luận văn làm

rõ những vấn đề về lý luận về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân

cư trú và chỉ ra được những ưu và nhược điểm trong công tác quản lý, phân tích được thực trạng quản lý hiện nay của Cục thuế TP HCM nói riêng và cả nước nói chung

Những phân tích về lý luận và thực tiễn được trình bày trong luận văn nhằm góp phần tăng thêm tính cấp thiết của việc tăng cường hoàn thiện chính sách thuế nói chung và thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú ở Việt Nam Với yêu cầu như đã trình bày, tác giả luận văn đã đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế tốt hơn Tôi hy vọng đây sẽ là những đóng góp phù hợp

và thực tiễn của luận văn vào chương trình cải cách thuế của Việt Nam

Trang 19

Để lý luận không xa rời với thực tiễn vì vậy lý luận cần được áp dụng vào thực tiễn và từ thực tiễn soi rọi lại và rút ra được những kinh nghiệm cho lý luận và pháp luật được áp dụng trong thực tiễn tại thành phố HCM, đồng thời đánh giá những kết quả đã đạt được các quy định của chính sách thuế về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú qua hoạt động thực tiễn và nêu ra những bất cập nhằm đề xuất hướng hoàn thiện chính sách thuế về thuế TNCN về tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú hiện nay

1.8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nôi dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và quy định của pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú

Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương đối với cá nhân cư trú

Trang 20

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỒI VỚI THU NHẬP TỪ TIỀN CÔNG, TIỀN LƯƠNG

CỦA CÁ NHÂN CƯ TRÚ 1.1 Khái niệm thuế TNCN

1.1.1 Khái niệm về thuế TNCN

Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của cá nhân trong kỳ tính thuế nhất định (thường là một năm) không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập

Mục tiêu đặt ra của thuế TNCN là nhằm điều tiết thu nhập cá nhân, đảm bảo

sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội nên việc đánh thuế thường dựa trên nguyên tắc theo khả năng của đối tượng nộp thuế

Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Tuyến, Phó chủ nhiệm khoa sau Đại học, Đại học Luật Hà Nội tác giả về quyển sách “Bản chất của thuế - sự tiếp cận từ các học thuyết cổ điển và hiện đại”, đăng trên Tạp chí Luật học số 04/2009, theo ông tiếp cận bản chất về thuế theo suốt chiều dài thời gian của lịch sử mà đây là vấn đề gây tranh luận nhiều nhất, ảnh hướng đến mô hình xây dựng luật thuế ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam

Theo ông cho rằng các học giả thời cổ điển cho rằng bản chất của thuế gồm bốn vấn đề sau đây:

Thứ nhất là thuế là khoản trích nộp bằng tiền của tổ chức, cá nhân cho nhà nước;

Thứ hai là thuế là khoản đóng góp bắt buộc dựa trên quyền lực nhà nước; Thứ ba là thuế là khoản thu không có hoàn trả;

Thứ tư là thuế là khoản thu không có đối khoản trực tiếp

Trong bất kỳ một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể hiện quyền lực của Nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu

Ông đã nghiên cứu và phân tích bản chất của thuế mà thời cổ điển có các tư tưởng thời đó nhấn mạnh tính cưỡng chế và bắt buộc, tính không hoàn trả của thuế

mà coi nhẹ vai trò, vị trí của người nộp thuế trong thành phần kinh tế xã hội Học

Trang 21

thuyết này là tìm ra cách đơn giản hóa đến mức tối đa các loại thuế trong hệ thống thuế quốc gia nhằm làm giảm gánh nặng thuế khóa cho dân chúng là người nộp thuế nhiều nhất và phải chia sẻ gánh nặng chi tiêu cho quốc gia nhiều nhất Học thuyết

về bài thuế hoặc chống thuế, các trường phái trên phủ nhận vai trò của chính phủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, họ cho rằng mọi khó khăn của thị trường nên để thị trường tự giải quyết, không cần phải thu nhiều tiền thuế

Ông tiếp cận vấn đề bản chất của thuế từ các học tuyết hiện đại như học thuyết thuế - trao đổi và học thuyết thuế - đoàn kết

Học thuyết thuế - trao đổi, học giả thời bấy giờ cho rằng việc người nộp thuế phải trả để đổi lấy các dịch vụ và hàng hóa công cộng do nhà nước cung cấp, trường phái này họ cho rằng đây là thỏa thuận ngầm, nhưng có mặt hạn chế là người nộp thuế không có quyền chọn lựa các dịch vụ hàng hóa, cũng như giá cả nhận mà hoàn toàn do nhà nước quyết định, hoặc học thuyết này không lý giải được tại sao người hưởng thụ dịch vụ hàng hóa ít mà lại nộp thuế nhiều….v.v… mặc khác học thuyết góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội của mỗi người dân đối với nhà nước,

và tác giả cho rằng trong một phương diện nào đó thì học thuyết trên giải quyết được bối cảnh kinh tế của nền kinh tế hiện đại trong đó có sự phân hóa giữa người giàu và nghèo do nền kinh tế thị trường tác động

Học thuyết thuế - đoàn kết, học thuyết này phát triển mạnh vào cuối thế kỷ thứ XIX, các học giả cho rằng tính chất sòng phẳng, trao đổi ngang giá về lợi ích giữa người nộp thuế và nhà nước, đòi hỏi người nộp thuế phải hy sinh một phần lợi ích nộp thuế cho nhà nước vì lợi ích chung bằng cách người nộp thuế phải nộp thuế theo ấn định của nhà nước, đổi lại nhà nước phải ấn định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế sao cho phù hợp với khả năng tài chính của người nộp và không đẩy họ

1 Nguyễn Văn Tuyến (2009), Bản chất của thuế - sự tiếp cận từ các học thuyết cổ điển và hiện đại, đăng trên Tạp chí Luật học

số 04/2009.

Trang 22

Sự khác biệt giữa giữa cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập từ

tiền lương, tiền công là người đáp ứng các điều kiện sau đây:

Đối với cá nhân cư trú có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong

năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt

Nam Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật cư trú, hoặc có nơi ở

thường xuyên theo quy định này nhưng thực tế có mặt ở Việt Nam dưới 183 ngày

mà cá nhân không chứng minh được thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam Trước khi trả thu nhập cho cá nhân cư trú, tổ chức, cá nhân trả thu nhập khấu trừ tại

nguồn và tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần và cuối năm kê khai, quyết toán

thuế TNCN

Đối với cá nhân không cư trú thì không đáp ứng các điều kiện trên và khi tổ

chức, cá nhân trả thu nhập thì khấu trừ theo thuế xuất 20% và cuối năm không cần

kê khai, quyết toán thuế TNCN

1.1.2 Đặc điểm của thuế TNCN

- Thư nhất, là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập của cá nhân và luôn gắn

liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự

đồng nhất giữa người nộp thuế theo luật và người chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế,

người nộp thuế cũng là người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng

chuyển giao gánh nặng thuế sang người khác tại thời điểm đánh thuế

- Thứ hai, là thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho

người nộp thuế

- Thứ ba, là thuế thu nhập cá nhân luôn gắn bó với chính sách xã hội của một

quốc gia Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một chính sách

xã hội khác (như phúc lợi, công cộng, chăm sóc sức khỏe…)

- Thứ tư là, thuế TNCN là hình thức động viên mang tính bắt buộc trên

nguyên tắc theo luật định

- Thứ năm, là thuế TNCN có diện thu thuế rộng, tất cả các cá nhân có thu

nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay

không thường xuyên tại nước đó và hầu hết tất cả số thu nhập có được của các cá

Trang 23

nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài

1.1.3 Vai trò thuế thu nhập cá nhân :

Đóng góp Ngân sách Nhà nước: Thuế TNCN mang lại nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Thuế TNCN là một loại thuế có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên Chính phủ không phải thay đổi luật thuế thường xuyên nhằm huy động một mức thu mong muốn Tính ổn định trong luật thuế thể hiện bằng việc các quốc gia trên thế giới đưa ra biểu thuế TNCN bao gồm nhiều bậc chịu thuế như Trung Quốc (9 bậc), Singapore (10 bậc), Thailand (5 bậc), Hàn Quốc (4 bậc) … Tùy vào đặc điểm từng quốc gia và chính sách kinh tế của từng nước mà các nước đưa ra biểu thuế TNCN phù hơp Với biểu thuế này sẽ chỉ ra được đối tượng nào thuộc diện chịu thuế với mức thuế suất là bao nhiêu, nó thường thay đổi rất ít Từ sự ổn định trong mức huy động về thuế tạo ra một môi trường phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế dài hạn của quốc gia Phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, nguồn thu này có tính ổn định và tăng trưởng

Một trong những mặt trái của sự tăng trưởng kinh tế và thu nhập chính là sự phân hoá giàu - nghèo Thuế TNCN còn được sử dụng như là một công cụ hữu hiệu

để thực hiện mục tiêu bình đẳng, công bằng xã hội Thuế TNCN được xây dựng theo hình thức lũy tiến Người có thu nhập cao hơn phải chịu mức thuế suất cao hơn Cho nên, thuế TNCN đảm bảo tính chất bình đẳng hơn xét theo quan điểm phân phối thu nhập trong nền kinh tế Thông qua thuế TNCN, thu nhập mỗi người

sẽ được phân phối lại nhằm giảm bớt khoản cách chênh lệch giữa giàu - nghèo và giữa các tầng lớp dân cư Để đảm bảo cho các chính sách an sinh xã hội ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, Nhà nước chủ yếu lấy tiền từ những người có thu nhập cao, có khả năng nộp thuế cao để trợ cấp cho người nghèo, người

có hoàn cảnh khó khăn Vì vậy người nghèo không chỉ nhận được khoản chuyển nhượng tài chính trực tiếp dưới dạng thanh toán chuyển nhượng như là trợ cấp bổ sung mà còn được tiêu dùng hàng hóa công đã được trả bằng thuế thu nhập của

2 Trịnh Thu Hảo (2015), Bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú theo pháp luật Việt Nam

Trang 24

người giàu Mặc dù vậy, công bằng xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa, tức là đòi hỏi mọi người trong xã hội có thu nhập ngang nhau Bởi thế, người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế cao hơn người có thu nhập thấp nhưng mức huy động phải đảm bảo cho người làm việc có hiệu quả có được thu nhập cao, thậm chí cao hơn nhiều so với người làm việc lười biếng, kém hiệu quả

Thuế TNCN là công cụ thực hiện việc kiểm soát toàn bộ thu nhập của dân

cư Việc kiểm soát thu nhập của các cá nhân bằng cách kiểm tra tính đúng đắn của các tờ khai thuế là nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính thuế Thông qua việc kiểm tra thu nhập, cơ quan thuế sẽ phát hiện các khoản thu nhập không hợp pháp, từ

đó hạn chế bớt những tiêu cực xã hội và có những biện pháp xử lý thích hợp Đồng thời việc kiểm soát thu nhập của từng người dân sẽ cho Nhà nước cái nhìn cụ thể về thu nhập của người dân trong nước để từ đó đưa ra các chính sách phát triển kinh tế

Thuế TNCN là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế một cách rõ rệt Việc đánh thuế vào thu nhập của cá nhân sẽ tác động trực tiếp tới hành vi tiêu dùng và tích luỹ của mỗi cá nhân

Thuế TNCN giúp khắc phục tính lũy thoái trong thuế gián thu: Nhược điểm của thuế gián thu là tính lũy thoái (là loại thuế thu cùng một thuế suất đối với những khối lượng khác nhau của cùng một loại hàng hoá), thuế suất thuế gián thu không phân biệt người nghèo hay người giàu vì khi tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, mọi người đều phải chịu cùng một thuế suất như nhau Mức chênh lệch về thu nhập càng lớn thì tính luỹ thoái của thuế gián thu càng cao Thuế TNCN với thuế suất lũy tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được vấn đề này vì người có thu nhập càng cao sẽ bị đóng thuế càng nhiều do bị chi phối bởi khung thế suất biên quy định theo từng khung thu nhập

Thuế TNCN góp phần hạn chế sự thất thu thuế Thu nhập DN: giữa thuế thu nhập DN và thuế TNCN tồn tại một mối quan hệ gắn bó, khi thuế thu nhập DN bị

3 Huỳnh Văn Diện (2016), Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn thành phố Cần Thơ, Luận án tiến sĩ Luật kinh tế, Viện hàn lâm, Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội

Trang 25

giảm xuống do tăng các khoản trả cho người lao động thì lúc đó thu nhập của người lao động sẽ tăng lên, và lúc đó sẽ chịu thuế TNCN nhiều hơn, điều đó khắc phục

1.1.4 Khái niệm tiền công, tiền lương:

- Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng sức lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường

- Khái niệm tiền lương tại Pháp được hiểu là người sử dụng lao động trả cho người lao động về các khoản trả công hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật

Tại Nhật Bản tiền lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, kể cả tiền trả cho người lao động nghỉ lễ, nghĩ mát, khoản tiền người lao động nhận được khi nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động và tính đến khoản tiền mà người lao động nhận được đối với bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí và những chính sách phúc lợi khác

- Khái niệm tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lương Tiền công được sử dụng phổ biến trong những thỏa thuận thuê nhân công trên thị

1.2 Quy định của pháp luật về thuế TNCN

1.2.1 Đối tượng nộp thuế TNCN

Theo Điều 2 Luật thuế TNCN năm 2007, sửa đổi, bổ sung quy định đối tượng người nộp thuế là:

Người nộp thuế Thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập

Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh

4 Nguyễn Thị Hường (2015), Pháp luật quản lý thuế TNCN qua thực tiễn thi hành tại Chi cục thuế quận Kiến An thành phố Hải Phòng

5 Theo lý luận chính trị.vn (2014), “Quan điểm nhận thức về tiền lương, chính sách về tiền lương”, tạp chí Tài chính

Trang 26

trong lãnh thổ Việt Nam

Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn

Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2007

Ở Nhật Bản đối tượng nộp thuế TNCN được chia làm 3 loại: người không cư trú, người cư trú thường xuyên và người cư trú không thường xuyên Người không

cư trú chỉ nộp thuế trên phần thu nhập phát sinh tại Nhật Người không cư trú thường xuyên nộp thuế thu nhập cho phần thu nhập phát sinh tại Nhật và phần thu nhập được chi trả tại Nhật hoặc được chuyển đến Nhật, cá nhân cư trú thường xuyên phải nộp thuế cho phần thu nhập toàn cầu Người nước ngoài nộp thuế được xếp vào diện cư trú không thường xuyên, sau 60 tháng họ được xếp vào diện cư trú thường xuyên

Các tiêu chí xác lập các sắc thuế dựa trên nguồn hình thành thu nhập vì vậy ở Việt Nam trong thời gian qua đã tồn tại nhiều loại thuế khác nhau Vì thế một cá nhân có thể là đối tượng của nhiều sắc thuế thu nhập khác nhau, tùy thuộc vào thu nhập họ tạo ra

Luật thuế Thu nhập các nhân đã xác định thu nhập chịu thuế dựa trên nguồn gốc phát sinh thu nhập, đang được áp dụng phổ biến tại các quốc gia trên thế giới, cách thức này có ưu điểm tiêu chí phân loại rõ ràng, thuận lợi để cơ quan thuế dể quản lý, hạn chế mức thấp nhất tình trạng trốn thuế và được thể hiện qua bảng dưới đây: 6

6 Chung Phương Anh (2015), So sánh pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam với một số ước trên thế giới

Trang 27

Bảng 1.1 So sánh đối tượng nộp thuế của các quốc gia

Quốc

Đối tượng nộp thuế là: Cá nhân có chỗ ở hoặc không

có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc

đủ 1 năm, thì phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc Cá nhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới 1 năm, thì phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc

Đối tượng nộp thuế là: (1 )Cá nhân cư trú hoặc không

cư trú, chịu thuế đối với thu nhập phát sinh tại Malaysia (2)

Cá nhân không cư trú được miễn thuế đối với thu nhập nước ngoài được chuyển vào Malaysia Với hiệu lực từ năm tính thuế 2004, cá nhân là đối tượng cư trú cũng được miễn thuế đối với thu nhập có nguồn nước ngoài được chuyển vào Malaysia (3) Cá nhân cư trú thuế cho năm tính thuế nếu tổng số ngày đối tượng đó ở Malaysia trong năm trên 182 ngày Trên thực tế, cơ quan thuế sẽ tính số ngày thực tế mà đối tượng đó ở tại Malaysia bằng cách căn cứ hộ chiếu của đối tượng đó

Đối tượng nộp thuế là: cá nhân cư trú và không cư trú Công dân cư trú là đối tượng chịu thuế thu nhập trên thu nhập toàn cầu (bao gồm cả thu nhập có nguồn gốc tại Philippin và thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài) Công dân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc người nước ngoài không cư trú là đối tượng chịu thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại Philippin

Trang 28

STT Tên nước Đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế là: cá nhân cư trú và không cư trú Được gọi là cư trú nếu tổng thời gian cư trú ở Thái Lan lớn hơn 180 ngày trong năm tính thuế (năm dương lịch) Cá nhân có thời gian sinh sống và làm việc ở Thái Lan từ 180 ngày trở xuống tính theo năm dương lịch thì được gọi là cá nhân không cư trú Cá nhân cư trú phải chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập nhận được, không phân biệt ở trong nước hay ở nước ngoài Cá nhân không cư trú chỉ phải chịu thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập phát sinh ở Thái Lan

Đối tượng nộp thuế là: Cá nhân cư trú hay không cư trú, có thu nhập chịu thuế trong năm: Đối tượng cư trú được quy định là người có nhà ở hoặc có thời gian cư trú tại Hàn Quốc từ 1 năm trở lên Đối tượng không cư trú là người không có nhà ở tại Hàn Quốc hoặc có thời gian cư trú tại Hàn Quốc dưới một năm Đối tượng cư trú phải chịu thuế thu nhập đối với tất cả các khoản thu nhập nhận được phát sinh ở trong hay ngoài Hàn Quốc (kê khai thu nhập toàn cầu) Đối tượng không cư trú chỉ phải chịu thuế thu nhập đối với khoản thu nhập nhận được có nguồn gốc Hàn Quốc

Đối tượng nộp thuế là: những cá nhân cư trú và không

cư trú tại Nhật Bản: Cá nhân cư trú tại Nhật Bản là những người đã sống từ lâu hay đã và đang định cư tại Nhật trong một thời gian dài liên tục từ một năm trở lên Cá nhân không

cư trú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trú tại Nhật dưới một năm

Trang 29

2.2.2 Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công

Theo Khoản 2, Điều 3 Luật Thuế TNCN 2007, sửa đồi bổ sung và Khoản 2, Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhưng không phải tất cả nguồn thu nhập phát sinh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế Thu nhập cá nhân

Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm:

a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền

b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp

c) Tiền thù lao nhận được dưới các hình thức như: tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa, tiền hoa hồng môi giới; tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; tiền tham gia các dự án, đề án; tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền tham gia các hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao; tiền dịch vụ quảng cáo; tiền dịch vụ khác, thù lao khác

d) Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị DN, ban kiểm soát DN, ban quản lý dự án, hội đồng quản lý, các hiệp hội, hội nghề nghiệp và các tổ chức khác

đ) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức

e) Các khoản thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, kể

cả thưởng bằng chứng khoán

g) Không tính vào thu nhập chịu thuế đối với các khoản sau:

g.1) Khoản hỗ trợ của người sử dụng lao động cho việc khám chữa bệnh hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân của người lao động

Trang 30

g.2) Khoản tiền nhận được theo quy định về sử dụng phương tiện đi lại trong

cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức Đảng, đoàn thể

g.3) Khoản tiền nhận được theo chế độ nhà ở công vụ theo quy định của pháp luật

g.4) Các khoản nhận được ngoài tiền lương, tiền công do tham gia ý kiến, thẩm định, thẩm tra các văn bản pháp luật, Nghị quyết, các báo cáo chính trị; tham gia các đoàn kiểm tra giám sát; tiếp cử tri, tiếp công dân; trang phục và các công việc khác có liên quan đến phục vụ trực tiếp hoạt động của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội; Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; Văn phòng Thành ủy, Tỉnh ủy và các Ban của Thành uỷ, Tỉnh ủy

g.5) Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn

g.6) Khoản tiền mua vé máy bay khứ hồi do người sử dụng lao động trả hộ (hoặc thanh toán) cho người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, người lao động là người Việt Nam làm việc ở nước ngoài về phép mỗi năm một lần

g.7) Khoản tiền học phí cho con của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam học tại Việt Nam, con của người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài học tại nước ngoài theo bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông

do người sử dụng lao động trả hộ

g.8) Các khoản thu nhập cá nhân nhận được từ các Hội, tổ chức tài trợ không phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân nếu cá nhân nhận tài trợ là thành viên của Hội, của tổ chức; kinh phí tài trợ được sử dụng từ nguồn kinh phí Nhà nước hoặc được quản lý theo quy định của Nhà nước; việc sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật, công trình nghiên cứu khoa học thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà nước hay theo chương trình hoạt động phù hợp với Điều lệ của Hội, tổ chức đó

Trang 31

g.9) Các khoản thanh toán mà người sử dụng lao động trả để phục vụ việc điều động, luân chuyển người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định tại hợp đồng lao động, tuân thủ lịch lao động chuẩn theo thông lệ quốc tế của một số ngành như dầu khí, khai khoáng

Phần Lan là một trong những nước có chính sách thuế nghiêm ngặt nhất trên thể giới hiện nay Luật thuế quy định bất cứ người nào đi làm hợp pháp ở Phần Lan đều phải nộp thẻ thuế hàng năm của mình cho nơi mình làm việc thì mới được nơi

đó trả lương cho (trừ một số trường hợp làm chui thì người ta không dùng, song rất hiếm và nếu bị phát hiện thì cả người chủ sẽ bị phạt rất nặng, có khi bị truy tố) Lương được trả vào tài khoản và NLĐ về địa phương mình sinh sống lấy thẻ thuế

Dựa vào lương mà nơi làm việc sẽ trả cho NLĐ mỗi tháng, cơ quan thuế sẽ tính đại thể tổng thu nhập cả năm của người đó là bao nhiêu và tính tỷ lệ thuế thu nhập phải nộp hàng tháng dựa trên tỷ lệ phần trăm của địa phương đó Mức thuế ở mỗi địa phương khác nhau dựa trên điều kiện của từng địa phương nơi người chịu thuế cư trú

Ở Phần Lan mọi đối tượng có thu nhập nằm trong khoảng chịu thuế đều phải chịu thuế TNCN Trừ một số trường hợp sau đây chính phủ quy định được miễn giảm thuế TNCN như: Những người làm công việc trong các cơ quan ngoại giao của nước ngoài (Sứ quán, lãnh sự quán, cơ quan thương mại), nhân viên của Liên Hiệp Quốc (UN), các chuyên gia của cơ quan năng lượng hạt nhân quốc tế (1AEA), người nhà của họ cũng như người làm công của họ không phải là công dân Phần Lan đều được miễn thuế thu nhập

Tuy nhiên họ có nghĩa vụ đóng thuế các khoản thu nhập bất thường bắt nguồn từ tài sản có ở Phần Lan hoặc thu nhập từ việc cho thuê nhà ở Phần Lan hoặc bất cứ việc kinh doanh hay thu nhập gì từ việc làm không liên quan tới công việc chính của họ ở Phần Lan

Nhật bản thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập với tư cách người làm công: Lương, thù lao dịch vụ ngoài nước, trợ cấp sinh hoạt, khoản thuế hoàn và thu nhập

từ vốn hoặc đầu tư gồm thu nhập còn lại từ hoạt động bán tài sản sau khi đã trừ chi

Trang 32

phí cần thiết tối đa không quá 500.000 ¥ Thu nhập không chịu thuế gồm: trợ cấp đi lại của bản thân, của gia đình (vợ/chồng) do người chủ chịu; vé máy bay xa gia đình Thu nhập được chi trả về nhà ở được xác định thấp hơn tiền thuê nhà trên thị trường Tiền nhà ở trả cho Giám đốc được tính bằng 50% tiền thuê nhà trên thị

1.2.3 Về Giảm thuế:

Theo Điều 5 Luật thuế TNCN 2007 và Khoản 1, Điều Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN quy định việc xét giảm thuế được thực hiện theo năm tính thuế Người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo trong năm tính thuế nào thì được xét giảm số thuế phải nộp của năm tính thuế đó

1.2.4 Các khoản giảm trừ

Được pháp luật quy định cụ thể đối với cá nhân cư trú mức giảm trừ gia cảnh như sau: Đối với người nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng, 108 triệu đồng/năm Đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng được quy định tại Khoản 1, Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN

Theo Khoản 2, Điều 9 Thông tư Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN quy định giảm trừ đối với các khoản:

Đóng bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện: Các khoản đóng bảo hiểm bao gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc Các khoản đóng vào Quỹ hưu trí tự nguyện Mức đóng vào quỹ hưu trí tự nguyện được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế theo thực tế phát sinh nhưng tối đa không quá một (01) triệu đồng/tháng (12 triệu đồng/năm) đối với người lao động tham gia các sản phẩm hưu trí tự nguyện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, kể cả trường hợp tham gia nhiều quỹ Người nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam là cá

7 Huỳnh Văn Diện (2016), Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn thành phố Cần Thơ

Trang 33

nhân cư trú nhưng làm việc tại nước ngoài có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công ở nước ngoài đã tham gia đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia nơi cá nhân cư trú mang quốc tịch hoặc làm việc tương tự quy định của pháp luật Việt Nam như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc và các khoản bảo hiểm bắt buộc khác (nếu có) thì được trừ các khoản phí bảo hiểm đó vào thu nhập chịu thuế

từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công khi tính thuế thu nhập cá nhân

Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học:

Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học được trừ vào thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công trước khi tính thuế của người nộp thuế là cá nhân cư trú, bao gồm: Khoản chi đóng góp vào các tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người khuyết tật, người già không nơi nương tựa Các tổ chức cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật, phải được thành lập và hoạt động theo quy định và được quy định tại Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể

cơ sở bảo trợ xã hội; Nghị định số 81/2012/NĐ-CP ngày 08/10/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 68/2008/NĐ-CP và Nghị định số 109/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 195/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Khoản chi đóng góp vào các quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học được thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học, không nhằm mục đích lợi nhuận

và quy định tại các văn bản khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ

Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học phát sinh vào năm nào được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế của năm tính thuế đó, nếu giảm trừ không hết

Trang 34

không được trừ vào thu nhập chịu thuế của năm tính thuế tiếp theo Mức giảm trừ tối đa không vượt quá thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh của năm tính thuế phát sinh đóng góp từ thiện nhân đạo, khuyến học

1.2.5 Phương pháp tính thuế

Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập tính thuế và thuế suất, cụ thể như sau:

xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ (-) các khoản giảm trừ sau:

- Các khoản giảm trừ gia cảnh

- Các khoản đóng bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện

- Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học

111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN

Bảng 1.2 Thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập, từ tiền lương, tiền công được áp dụng theo Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định cụ thể như sau:

thuế/năm (triệu đồng)

Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)

Thuế suất (%)

Trang 35

Bảng 1.3 Biểu thuế lũy tiến từng phần ở Hà Lan năm 2005

(EUR/năm)

Thuế suất (%)

1.2.6 Kỳ tính thuế

Kỳ tính thuế được quy định tại Điều 7 Luật thuế TNCN năm 2007, sửa đổi

và bổ sung và tại Điều 6 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN về kỳ tính thuế theo năm: áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công

Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế được tính theo năm dương lịch

Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là

từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch

1.2.7 Khai thuế, Quyết toán thuế

Theo Điều 26, Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN quy định về khai thuế đối với tổ chức,

cá nhân trả thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân

Trang 36

- Tổ chức, cá nhân trả thu nhập khấu trừ thuế thu nhập cá nhân khai thuế theo tháng hoặc quý Trường hợp trong tháng hoặc quý, tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thì không phải khai thuế

- Việc khai thuế theo tháng hoặc quý được xác định một lần kể từ tháng đầu tiên có phát sinh khấu trừ thuế và áp dụng cho cả năm tính thuế, cụ thể như sau:

+ Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phát sinh số thuế khấu trừ trong tháng của ít nhất một loại tờ khai thuế thu nhập cá nhân từ 50 triệu đồng trở lên thì thực hiện khai thuế theo tháng, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện khai thuế giá trị gia tăng theo quý

+ Tổ chức, cá nhân trả thu nhập không thuộc diện khai thuế theo tháng theo hướng dẫn nêu trên thì thực hiện khai thuế theo quý

- Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có uỷ quyền

Khai thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công:

Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế bao gồm:

- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức quốc tế, Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam trả nhưng chưa thực hiện khấu trừ thuế thực hiện khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo quý

- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức, cá nhân trả từ nước ngoài thực hiện khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo quý

Nguyên tắc khai thuế, quyết toán thuế đối với một số trường hợp như sau:

- Trường hợp cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh tại nước ngoài đã tính và nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của nước ngoài thì được trừ số thuế đã nộp

ở nước ngoài Số thuế được trừ không vượt quá số thuế phải nộp tính theo biểu thuế của Việt Nam tính phân bổ cho phần thu nhập phát sinh tại nước ngoài Tỷ lệ phân

Trang 37

bổ được xác định bằng tỷ lệ giữa số thu nhập phát sinh tại nước ngoài và tổng thu nhập chịu thuế

- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công trong trường hợp số ngày có mặt tại Việt Nam tính trong năm dương lịch đầu tiên là dưới 183 ngày, nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên

- Năm tính thuế thứ nhất: khai và nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là ngày thứ 90 kể từ ngày tính đủ 12 tháng liên tục

- Từ năm tính thuế thứ hai: khai và nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là ngày thứ 90 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch Số thuế còn phải nộp trong năm tính thuế thứ 2 được xác định như sau:

- Việc hoàn thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với những cá nhân đã đăng ký

và có mã số thuế tại thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế

Trang 38

- Đối với cá nhân đã uỷ quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toán thay thì việc hoàn thuế của cá nhân được thực hiện thông qua tổ chức, cá nhân trả thu nhập Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu của các cá nhân Sau khi bù trừ, nếu còn số thuế nộp thừa thì được bù trừ vào kỳ sau hoặc hoàn thuế nếu có đề nghị hoàn trả

- Đối với cá nhân thuộc diện khai trực tiếp với cơ quan thuế có thể lựa chọn hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ sau tại cùng cơ quan thuế

- Trường hợp cá nhân có phát sinh hoàn thuế thu nhập cá nhân nhưng chậm nộp tờ khai quyết toán thuế theo quy định thì không áp dụng phạt đối với vi phạm hành chính khai quyết toán thuế quá thời hạn

1.2.9 Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm

Theo điều 75 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định về nguyên tắc thanh tra, kiểm thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế

Điều 3 Thông tư 130/2016/TT-BTC Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 và Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính) như sau:

“2 Xác định tiền chậm nộp tiền thuế

a) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh từ ngày 01/7/2016 thì tiền chậm nộp được tính theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp

b) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016 vẫn chưa nộp thì tính như sau: trước ngày 01/01/2015 tính phạt chậm nộp, tiền chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, từ ngày

Trang 39

01/01/2015 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13, từ ngày 01/7/2016 tính tiền chậm nộp theo mức 0,03%/ngày.”

Trước đây, hoạt động thanh tra, kiểm tra thường được tiến hành trước khi NNT thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, gọi là cơ “tiền kiểm” nay đã được chuyển sang

“hậu kiểm” vì vậy vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra hết sức quan trọng, nhằm tránh thất thu thuế

Trang 40

Kết luận Chương 1

Trên cơ sở lý luận và những quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú quy định về đối tượng nộp thuế, các nguồn thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công, các khoản giảm trừ gia cảnh, phương pháp tính thuế, thuế suất, quy định kỳ tính thuế, kê khai và quyết toán thuế, hoàn thuế, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm được quy định cụ thể trong các văn bản về thuế TNCN và để làm rõ nhưng quy định trên có phù hợp với thực tiễn hay không, hoặc những khó khăn gì khi áp dụng các quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân

cư trú ? Chúng ta cùng tiếp tục làm rõ những vấn đề trên tại Chương 2

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. So sánh đối tượng nộp thuế của các quốc gia - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 1.1. So sánh đối tượng nộp thuế của các quốc gia (Trang 27)
Bảng 1.2. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập, từ tiền lương,  tiền công được áp dụng theo Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định cụ thể như sau: - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 1.2. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập, từ tiền lương, tiền công được áp dụng theo Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định cụ thể như sau: (Trang 34)
Bảng 1.3. Biểu thuế lũy tiến từng phần ở Hà Lan năm 2005 - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 1.3. Biểu thuế lũy tiến từng phần ở Hà Lan năm 2005 (Trang 35)
Bảng 2.1  Tình hình thu thuế qua các năm tại Cục thuế TP. HCM - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 2.1 Tình hình thu thuế qua các năm tại Cục thuế TP. HCM (Trang 52)
Bảng 2.3  Tình hình thu thuế TNCN  tại Cục thuế TP. HCM so với tổng thu - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 2.3 Tình hình thu thuế TNCN tại Cục thuế TP. HCM so với tổng thu (Trang 53)
Bảng 2.2  Tình hình thu thuế TNCN  tại Cục thuế so với tổng thu thuế TNCN - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 2.2 Tình hình thu thuế TNCN tại Cục thuế so với tổng thu thuế TNCN (Trang 53)
Bảng 2.4. Tình hình quyết toán thuế TNCN tại TP. HCM qua các năm 2014 - 2017  Năm  Bậc 1  Bậc 2  Bậc 3  Bậc 4  Bậc 5  Bậc 6  Bậc 7 - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 2.4. Tình hình quyết toán thuế TNCN tại TP. HCM qua các năm 2014 - 2017 Năm Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5 Bậc 6 Bậc 7 (Trang 55)
Hình 2.1. Tình hình quyết toán thuế TNCN tại TP. HCM qua các năm 2014- - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Hình 2.1. Tình hình quyết toán thuế TNCN tại TP. HCM qua các năm 2014- (Trang 56)
Bảng 2.5. Phương án thuế xuất của Bộ Tài chính trình chính phủ trong năm 2017 - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 2.5. Phương án thuế xuất của Bộ Tài chính trình chính phủ trong năm 2017 (Trang 59)
Hình 2.2 Số thuế Thu nhập cá nhân của cả nước - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Hình 2.2 Số thuế Thu nhập cá nhân của cả nước (Trang 61)
Bảng 2.6. Trong các năm qua tại Cục thuế TP.HCM giải quyết hoàn thuế  cho người nộp thuế như sau: - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 2.6. Trong các năm qua tại Cục thuế TP.HCM giải quyết hoàn thuế cho người nộp thuế như sau: (Trang 69)
Bảng 3.1. Theo thống kê số liệu tại Cục thuế qua các năm như sau: - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương của cá nhân cư trú tại thành phố hồ chí minh   thực trạng và hướng hoàn thiện
Bảng 3.1. Theo thống kê số liệu tại Cục thuế qua các năm như sau: (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w