1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006 2016

87 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) với Việt Nam giai đoạn 2006 – 2016
Tác giả Đặng Duy Khiêm
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thuấn
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Giới thiệu (15)
    • 1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu (15)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (16)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (16)
    • 1.4 Đối tượng , phạm vi và phương pháp nghiên cứu (16)
      • 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (17)
    • 1.6 Kết cấu dự kiến của luận văn nghiên cứu (17)
  • Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (19)
    • 2.1 Tổng quan về Hiệp định thương mại tự do (FTA) (19)
      • 2.1.1 Khái niệm (19)
      • 2.1.2 Phân loại (21)
      • 2.1.3 Nội dung cơ bản của hiệp định tự do (23)
        • 2.1.3.1 Tự do hoá thương mại hàng hoá (23)
        • 2.1.3.2 Tự do hoá thương mại dịch vụ (25)
        • 2.1.3.3 Tự do hoá đầu tư (25)
        • 2.1.3.5 Một số cam kết khác (25)
      • 2.1.4 Các FTA của Việt Nam (26)
    • 2.2 Lý thuyết về xuất khẩu và lợi thế so sánh (27)
      • 2.2.1 Khái niệm xuất khẩu (27)
      • 2.2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với phát triển kinh tế của một quốc gia (28)
    • 2.3 Lý thuyết về thương mại (31)
      • 2.3.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong thương mại (31)
      • 2.3.2 Lý thuyết về mô hình Hecscher-Ohlin (H-O) (32)
      • 2.3.3 Lý thuyết về thương mại dựa trên hiệu quả kinh tế theo quy mô 19 (33)
      • 2.3.4 Lý thuyết về mô hình lực hấp dẫn (Gravity) (33)
    • 2.4 Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng tới luồng thương mại quốc tế (36)
      • 2.4.1 Thu nhập của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu (36)
        • 2.4.1.1 GDP của nước xuất khẩu (36)
        • 2.4.1.2 GDP của nước nhập khẩu (36)
      • 2.4.2 Dân số (37)
        • 2.4.2.1 Dân số của nước xuất khẩu (37)
        • 2.4.2.2 Dân số của nước nhập khẩu (38)
      • 2.4.3 Nhóm các yếu tố cản trở hoặc hỗ trợ thương mại quốc tế (38)
        • 2.4.3.1 Khoảng cách giữa các quốc gia (38)
        • 2.4.3.2 Các yếu tố hỗ trợ (39)
    • 2.5 Các nghiên cứu trước (41)
      • 2.5.1 Nghiên cứu ở nước ngoài (41)
      • 2.5.2 Các nghiên cứu ở trong nước (43)
    • 2.6 Tóm tắt chương 2 (47)
  • Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (48)
    • 3.1 Mô hình nghiên cứu (48)
    • 3.2 Nguồn thu nhập dữ liệu (49)
    • 3.3 Xử lý số liệu (50)
      • 3.3.1 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng (50)
        • 3.3.1.1 Mô hình hồi quy gộp (pooled OLS) (50)
        • 3.3.1.2 Mô hình các hiệu ứng cố định (FEM) (51)
        • 3.3.1.3 Mô hình các hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) (52)
      • 3.3.2 Sự lựa chọn giữa mô hình OLS thuần túy, mô hình yếu tố cố định và mô hình yếu tố ngẫu nhiên (54)
    • 3.4 Các kiểm định để lựa chọn mô hình (54)
      • 3.4.1 Kiểm định nhân tử Lagrange của Breusch-Pagan cho việc lựa chọn giữa OLS và REM (54)
      • 3.4.2 Kiểm định Hausman test cho việc lựa chon giữa REM và FEM 411 (55)
      • 3.4.3 Kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy đã lựa chọn (55)
    • 3.5 Trình tự thực hiện nghiên cứu định lượng (56)
    • 3.6 Tóm tắt chương 3 (57)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (58)
    • 4.2 Phân tích kết quả (61)
      • 4.2.1 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình (61)
      • 4.2.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến (63)
      • 4.2.3 Kiểm tra đa cộng tuyến theo hệ số VIF (63)
      • 4.2.4 Kiểm định lựa chọn phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu (66)
      • 4.2.5 Giải thích các kiểm định của mô hình nghiên cứu (66)
    • 4.3 Tóm tắt chương 4 (71)
  • Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (72)
    • 5.1 Kết luận (72)
    • 5.2 Kiến nghị (73)
      • 5.2.1 Giải pháp về chính sách tỷ giá (73)
      • 5.2.2 Giải pháp dựa trên nhân tố địa lý (74)
      • 5.2.3 Thúc đẩy ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương (74)
    • 5.3 Hạn chế của nghiên cứu (75)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (77)
  • PHỤ LỤC (79)

Nội dung

Giới thiệu

Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu

Để phát triển kinh tế, một quốc gia cần hai hoạt động quan trọng là nhập khẩu và xuất khẩu Trong những năm qua, Việt Nam đã tăng cường hợp tác quốc tế và mở rộng giao thương, đặc biệt với các nước đã ký hiệp định thương mại Mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào xuất khẩu, với mức đóng góp vào GDP luôn trên 60%, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao Nhận thức rõ tầm quan trọng của xuất khẩu đối với phát triển kinh tế xã hội, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2011-2020 qua quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2011.

Đến năm 2030, Việt Nam cần tập trung khai thác cơ hội từ việc mở cửa thị trường quốc tế và lộ trình cắt giảm thuế quan để nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là sang các thị trường đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn, cần có các biện pháp cụ thể và khả thi, đồng thời xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu và đánh giá mức độ tác động của chúng Việc này sẽ giúp nhận diện các yếu tố thúc đẩy và cản trở kim ngạch xuất khẩu, từ đó hỗ trợ nhà sản xuất và nhà nước có những điều chỉnh kịp thời, tận dụng tối đa cơ hội để nâng cao xuất khẩu Đề tài “Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước FTA giai đoạn 2006 – 2016” là rất quan trọng và cần được nghiên cứu một cách khách quan nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, trong đó xuất khẩu đóng vai trò chủ chốt.

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định các yếu tố và mức độ tác động của những yếu tố này đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) trong giai đoạn 2006 – 2016 là rất quan trọng Việc phân tích các yếu tố này giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển thương mại của Việt Nam và tối ưu hóa các chiến lược xuất khẩu Các hiệp định FTA đã tạo ra cơ hội mới cho Việt Nam, thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu và tăng cường vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) giai đoạn 2006 – 2016, cần triển khai các chính sách và giải pháp hiệu quả Trước tiên, cần tăng cường xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng yêu cầu của các đối tác Bên cạnh đó, việc cải thiện hạ tầng logistics và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận thông tin thị trường cũng là rất quan trọng Cuối cùng, khuyến khích đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ giúp Việt Nam tận dụng tốt hơn các cơ hội từ các FTA đã ký kết.

Câu hỏi nghiên cứu

- Các yếu tố nào tác động đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước đã ký FTA?

Để nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA), nhà nước cần triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường Đồng thời, việc tăng cường xúc tiến thương mại và đào tạo nguồn nhân lực cũng rất quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh Bên cạnh đó, cần chú trọng vào việc nghiên cứu và phát triển công nghệ, từ đó tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.

Đối tượng , phạm vi và phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) với Việt Nam giai đoạn 2006 – 2016

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang 21 nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) với Việt Nam Mô hình sẽ ước lượng trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 2016 với giá trị đại diện là giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang 21 nước bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand, Chi Lê, Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore và Thái Lan.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sẽ thu thập dữ liệu từ 21 quốc gia đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) với Việt Nam trong giai đoạn từ 2006 đến 2016, tổng cộng có 231 quan sát Để ước lượng tác động của các yếu tố, luận văn áp dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với ba mô hình: Pooled OLS (hồi quy tuyến tính gộp), FEM (hồi quy tác động cố định) và REM (hồi quy tác động ngẫu nhiên) Nghiên cứu cũng thực hiện kiểm định F (F-test) và Hausman (Hausman-test) nhằm lựa chọn giữa các mô hình Pooled OLS, REM và FEM.

Kết cấu dự kiến của luận văn nghiên cứu

Gồm 5 chương và được trình bày theo thứ tự như sau:

Chương này trình bày lý do và mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu, phương pháp được áp dụng, ý nghĩa và những hạn chế của nghiên cứu, cùng với kết cấu tổng quát của nghiên cứu.

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

Chương này giới thiệu các khái niệm và lý thuyết cơ bản liên quan đến nghiên cứu, đồng thời phân tích và thống kê các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài.

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu

- Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu

Chương này tập trung vào việc trình bày và phân tích dữ liệu nghiên cứu, bao gồm thống kê mô tả và kiểm định các mô hình kinh tế lượng Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ giải thích và so sánh các kết quả thu được với những nghiên cứu trước đây đã được khảo sát.

- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tổng quan về Hiệp định thương mại tự do (FTA)

Tư tưởng về Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) lần đầu tiên được đề cập trong GATT (1947) tại Điều XXIV, Khoản 5, với khái niệm "Khu vực thương mại tự do" nhằm cắt giảm thuế và hạn chế thương mại giữa các nước thành viên Mặc dù GATT chưa định nghĩa rõ ràng về FTA, nhưng đã đặt nền tảng cho các nguyên tắc cơ bản của FTA đến nay Đến WTO (1995), tổ chức này cũng chưa đưa ra khái niệm FTA nhưng đã xác định các nguyên tắc pháp lý cho nội dung đàm phán FTA, yêu cầu loại bỏ thuế quan và các hạn chế đối với hầu hết hàng hóa buôn bán, cũng như giảm thiểu phân biệt đối xử đối với nhà cung cấp dịch vụ từ các nước thành viên.

Theo tư tưởng của GATT (1947), FTA (Hiệp định Thương mại Tự do) được coi là một thỏa thuận ưu đãi nhằm loại bỏ hàng rào thương mại giữa các quốc gia thành viên, trong khi vẫn duy trì chế độ thuế quan độc lập với các nước ngoài FTA Các quan điểm về FTA có sự đồng thuận về việc cắt giảm thuế quan, với Krueger (1995) định nghĩa FTA là thỏa thuận mà thuế quan giữa các nước thành viên bằng 0 Plummer và cộng sự (2010) cũng nhấn mạnh việc cắt giảm thuế quan nhưng không yêu cầu phải bằng 0% Hill (2008) mở rộng khái niệm FTA bằng cách nhấn mạnh rằng các nước tham gia cần loại bỏ không chỉ thuế quan mà còn cả các hạn chế về số lượng và rào cản thủ tục hành chính Dominick (2007) cho rằng FTA nên dỡ bỏ tất cả các hàng rào thương mại giữa các nước thành viên Theo Bộ Ngoại Giao và Thương mại Úc (2011), FTA là hiệp ước quốc tế nhằm loại bỏ rào cản thương mại, tạo điều kiện cho mối quan hệ thương mại chặt chẽ hơn và thúc đẩy hội nhập kinh tế giữa các nước thành viên.

Trong bối cảnh phát triển các FTA thế hệ mới, khái niệm FTA đã có sự thay đổi đáng kể, không chỉ dừng lại ở việc loại bỏ thuế quan mà còn mở rộng sang các cam kết về dịch vụ, hợp tác hải quan, sở hữu trí tuệ, đầu tư nước ngoài và nhiều vấn đề hỗ trợ thương mại khác Theo Bộ Ngoại Giao và Thương mại Úc (2013) và các chuyên gia như Matsushita (2010) và VCCI (2012), FTA hiện đại bao gồm các lĩnh vực như thuận lợi hóa thương mại, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, lao động, môi trường và còn liên quan đến các vấn đề như dân chủ, nhân quyền và chống khủng bố Như vậy, FTA không còn chỉ là những thỏa thuận hội nhập hạn hẹp mà đã trở thành các thỏa thuận kinh tế với phạm vi rộng hơn và mức độ tự do hóa sâu hơn.

Các FTA hiện đại không chỉ tập trung vào thương mại mà còn mở rộng hợp tác qua nhiều lĩnh vực khác, dẫn đến việc hình thành các hình thức hội nhập kinh tế cao hơn như Liên minh thuế quan và Thị trường chung Tuy nhiên, nền tảng chính của các FTA vẫn là tự do hóa thương mại, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Do đó, khi phân tích tác động của các FTA, cần ưu tiên xem xét những ảnh hưởng về thương mại trước khi đánh giá các lợi ích kinh tế khác.

Căn cứ vào số lượng các thành viên tham gia FTA:

FTA song phương là hiệp định thương mại tự do giữa hai quốc gia, mang lại giá trị ràng buộc chỉ cho hai bên tham gia Với chỉ hai thành viên, quá trình đàm phán và đạt được thỏa thuận diễn ra dễ dàng và nhanh chóng hơn so với các loại FTA khác.

FTA là hiệp định thương mại tự do giữa ba nước thành viên trở lên, thường có vị trí địa lý gần nhau Mục tiêu của FTA là tận dụng lợi thế vị trí địa lý để tăng cường trao đổi thương mại, thắt chặt mối quan hệ láng giềng và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Một số hiệp định thương mại tự do (FTA) khu vực điển hình bao gồm EU, NAFTA và AFTA FTA liên khu vực là những hiệp định có sự tham gia của các quốc gia từ các khu vực địa lý khác nhau, tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu, FTA liên khu vực thường được phân loại vào nhóm FTA khu vực.

FTA hỗn hợp là hiệp định thương mại tự do được ký kết giữa một liên kết kinh tế quốc tế và một hoặc nhiều quốc gia khác Mặc dù quá trình đàm phán có thể phức tạp, loại FTA này đang gia tăng nhanh chóng về số lượng Một số ví dụ tiêu biểu của FTA hỗn hợp trong ASEAN bao gồm ACFTA, AKFTA và AJCEP Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng FTA hỗn hợp thực chất là một dạng FTA song phương đặc biệt, vì các quốc gia trong cùng một liên kết thường đàm phán như một khối thay vì từng quốc gia riêng lẻ.

FTA đa phương là hiệp định thương mại tự do giữa nhiều quốc gia, thường bao gồm tất cả các thành viên của WTO Các hiệp định như GATT và GATS của WTO là những ví dụ điển hình cho các FTA đa phương, thể hiện sự hợp tác thương mại quốc tế.

Các FTA song phương, khu vực hay hỗn hợp có nhiều ưu điểm so với FTA đa phương, bao gồm quy trình đàm phán nhanh chóng và linh hoạt hơn, cho phép các quốc gia lựa chọn lĩnh vực đàm phán phù hợp với nhu cầu cụ thể Các ưu đãi trong FTA thường cao hơn và rộng hơn về phạm vi áp dụng, đồng thời các quốc gia có quyền chọn đối tác để đàm phán và hưởng quy chế miễn trừ theo quy định của WTO Mặc dù sự tham gia vào các FTA có thể chuẩn bị cho các quốc gia tiến tới FTA đa phương, nhưng cũng có lo ngại rằng điều này có thể dẫn đến việc các quốc gia xa rời các vòng đàm phán của WTO, gây cản trở cho quá trình hội nhập toàn cầu và làm gia tăng sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia, đi ngược lại nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO Do đó, mỗi loại FTA đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng mà các quốc gia cần cân nhắc khi tham gia.

Căn cứ vào trình độ phát triển của các thành viên tham gia FTA

Các hiệp định thương mại tự do (FTA) được phân loại theo mức độ phát triển của các quốc gia thành viên, bao gồm FTA Bắc - Bắc, FTA Bắc - Nam và FTA Nam - Nam.

"Bắc" chỉ các nước phát triển và "Nam" chỉ các nước đang phát triển

FTA Nam - Nam chủ yếu tập trung vào việc tự do hóa di chuyển hàng hóa, dịch vụ và nguồn lực giữa các nước có trình độ phát triển tương tự Lợi ích chính của FTA này là tạo ra sự bình đẳng trong quá trình đàm phán và thực hiện cam kết, đồng thời giảm áp lực cạnh tranh so với FTA Bắc - Nam và Bắc - Bắc Tuy nhiên, do các nước đang phát triển có quy mô nền kinh tế nhỏ và nguồn lực tương tự, khả năng khai thác lợi thế so sánh và tính kinh tế của quy mô trong FTA Nam - Nam bị hạn chế (Behar & Crivillé, 2010).

Các FTA Bắc - Nam và Bắc - Bắc tập trung vào việc xây dựng liên kết sâu rộng, bao gồm nhiều vấn đề liên quan đến tự do hoá thương mại và hài hòa thể chế FTA Bắc - Nam thường mang lại lợi ích cho các nước đang phát triển thông qua việc điều chỉnh thể chế và tăng cường khai thác lợi thế thương mại, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề Đầu tiên, chúng có thể gây ra tác động chệch hướng thương mại Thứ hai, các nước đang phát triển thường có vị thế đàm phán yếu hơn, buộc phải chấp nhận yêu cầu từ các nước phát triển để duy trì thị trường Thứ ba, nguyên tắc tương hỗ trong đàm phán có thể dẫn đến kết quả không công bằng giữa các bên Cuối cùng, các FTA hiện đại thường đề cập đến các vấn đề phức tạp như thu mua chính phủ và tiêu chuẩn lao động, điều này đặt ra thách thức cho các nước đang phát triển trong quá trình đàm phán và thực hiện.

2.1.3 Nội dung cơ bản của hiệp định tự do

2.1.3.1 Tự do hoá thương mại hàng hoá

Trong các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) hiện nay, tự do thương mại hàng hóa thường được quy định thông qua các yếu tố như thuế quan, hạn ngạch thuế quan, hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS), biện pháp phòng vệ thương mại, và quy tắc xuất xứ (ROO).

Trong các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), cam kết gỡ bỏ rào cản thuế quan và phi thuế quan là nội dung quan trọng Các bên tham gia FTA đồng ý xóa bỏ thuế quan đối với phần lớn hàng hóa, tuân theo quy định về danh mục hàng hóa dựa trên mức độ và lộ trình giảm thuế Danh mục này thường được phân loại thành bốn nhóm: hàng hóa được miễn thuế ngay, hàng hóa giảm thuế theo lộ trình, hàng nhạy cảm và hàng hóa loại trừ không được cắt giảm.

Lý thuyết về xuất khẩu và lợi thế so sánh

Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh quốc tế, bao gồm việc bán hàng hóa ra nước ngoài thông qua một hệ thống tổ chức bán hàng có quy mô Mục tiêu của xuất khẩu không chỉ là tạo ra lợi nhuận mà còn thúc đẩy sản xuất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và nâng cao mức sống của người dân.

Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại hiệu quả đột biến

Mở rộng xuất khẩu là một chiến lược quan trọng nhằm tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu và thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển theo hướng xuất khẩu Việc khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu không chỉ giúp giải quyết vấn đề việc làm mà còn góp phần tăng cường thu ngoại tệ cho nền kinh tế.

Theo Lê Ngọc Hải (2013), xuất khẩu hàng hóa là quá trình bán hàng hóa và dịch vụ cho quốc gia khác, sử dụng tiền tệ làm phương tiện thanh toán nhằm mục tiêu lợi nhuận Tiền tệ có thể là ngoại tệ của một hoặc cả hai quốc gia Hoạt động này nhằm khai thác lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế, và khi việc trao đổi hàng hóa mang lại lợi ích cho tất cả các bên, các quốc gia sẽ tích cực tham gia mở rộng hoạt động xuất khẩu.

Hoạt động xuất khẩu là một phần thiết yếu của ngoại thương, đã có từ rất sớm trong lịch sử xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ Ban đầu, xuất khẩu chỉ đơn thuần là trao đổi hàng hóa, nhưng hiện nay nó đã tiến hóa và đa dạng hóa dưới nhiều hình thức khác nhau.

Hoạt động xuất khẩu diễn ra rộng rãi trên nhiều lĩnh vực và trong mọi điều kiện kinh tế, từ hàng tiêu dùng đến tư liệu sản xuất và thiết bị công nghệ cao Mục tiêu chính của các hoạt động này là mang lại lợi ích cho quốc gia và các doanh nghiệp tham gia.

Hoạt động xuất khẩu có phạm vi rộng lớn về không gian và thời gian, có thể diễn ra nhanh chóng trong thời gian ngắn hoặc kéo dài trong nhiều năm, và có thể thực hiện trong một quốc gia hoặc trên nhiều quốc gia khác nhau.

2.2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với phát triển kinh tế của một quốc gia

Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, theo Lê Ngọc Hải (2013) Cụ thể, xuất khẩu tạo đà cho nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất trong nước, tăng cường nguồn thu ngân sách và nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, hỗ trợ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Đối với các quốc gia đang phát triển, việc công nghiệp hóa và hiện đại hóa là bước đi cần thiết để khắc phục tình trạng nghèo nàn và lạc hậu Tuy nhiên, để thực hiện công nghiệp hóa, cần có một lượng vốn lớn nhằm nhập khẩu công nghệ và thiết bị tiên tiến.

Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩu một nước có thể sử dụng nguồn vốn huy động chính như sau:

+ Đầu tư nước ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ

+ Thu từ các hoạt động du lịch dịch vụ thu ngoại tệ trong nước

+ Thu từ hoạt động xuất khẩu

Vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, nhưng việc huy động nguồn vốn này không hề đơn giản Các quốc gia vay vốn thường phải chấp nhận những điều kiện khắt khe và chịu thiệt thòi, đồng thời sẽ phải hoàn trả sau này.

Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn vốn cho nền kinh tế Nó không chỉ là tiền đề cho hoạt động nhập khẩu mà còn quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu Nhiều quốc gia kém phát triển gặp khó khăn do thiếu tiềm năng vốn, buộc họ phải phụ thuộc vào nguồn vốn từ bên ngoài Tuy nhiên, các cơ hội đầu tư, vay nợ và viện trợ từ nước ngoài chỉ khả thi khi nhà đầu tư và người cho vay nhận thấy tiềm năng sản xuất và xuất khẩu, vì đây là nguồn vốn duy nhất để trả nợ.

Hai là, Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển

Xuất khẩu đang tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu sản xuất và tiêu dùng toàn cầu, dẫn đến việc chuyển dịch kinh tế của các quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chỉ nên xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa Trong bối cảnh nền kinh tế còn lạc hậu và sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu, việc chỉ chờ đợi sự dư thừa từ sản xuất sẽ dẫn đến xuất khẩu hạn chế và tăng trưởng chậm Điều này làm cho các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển.

Thứ hai, việc theo dõi thị trường thế giới là cần thiết để tổ chức sản xuất và xuất khẩu hiệu quả Quan điểm này không chỉ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà còn gia tăng hoạt động xuất khẩu, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế.

Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cơ hội phát triển cho các ngành liên quan Chẳng hạn, sự phát triển của ngành dệt may xuất khẩu không chỉ thúc đẩy ngành này mà còn tạo điều kiện cho các lĩnh vực khác như bông, kéo sợi, nhuộm và tẩy phát triển song song.

+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sản xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô

Xuất khẩu không chỉ giúp mở rộng khả năng cung cấp nguyên liệu cho sản xuất mà còn gia tăng thị trường tiêu thụ cho một quốc gia Điều này cho phép quốc gia đó tiêu thụ một lượng hàng hóa lớn hơn nhiều so với khả năng sản xuất nội địa, bao gồm cả những mặt hàng mà họ không thể sản xuất được.

Lý thuyết về thương mại

2.3.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong thương mại

Adam Smith là người đầu tiên phát triển lý thuyết về lợi thế tuyệt đối trong hoạt động ngoại thương Trong tác phẩm "Sự giàu có của các quốc gia" (1776), ông so sánh các quốc gia với các hộ gia đình, cho rằng mỗi hộ gia đình nên chỉ sản xuất một số mặt hàng nhất định để đáp ứng nhu cầu và mua sắm hàng hóa từ những hộ khác Những người chủ gia đình thông minh sẽ không tự sản xuất những mặt hàng có chi phí cao hơn giá thị trường Ví dụ, một thợ may có thể may một chiếc áo và sau đó trao đổi để nhận một đôi giày từ cửa hàng giày.

Lợi thế tuyệt đối là khái niệm liên quan đến việc so sánh chi phí sản xuất để tạo ra cùng một loại sản phẩm Khi một quốc gia có chi phí sản xuất cao hơn, họ có thể nhập khẩu sản phẩm từ quốc gia có chi phí thấp hơn Do đó, các quốc gia thường chuyên môn hóa vào sản xuất những mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối, từ đó trao đổi với các quốc gia khác Kết quả là tất cả các bên đều hưởng lợi từ thương mại quốc tế.

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A Smith đã phản bác quan điểm của Chủ nghĩa trọng thương, cho rằng thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, không phải là trò chơi có tổng bằng không Tuy nhiên, lý thuyết này chỉ áp dụng cho các quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một loại hàng hóa, mà không giải thích được lý do các quốc gia không có lợi thế tuyệt đối vẫn tham gia vào thương mại quốc tế Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo sẽ giải đáp vấn đề này.

Lý thuyết lợi thế so sánh của D Ricardo chỉ ra rằng các quốc gia, giống như các cá nhân, có thể hưởng lợi từ thương mại bằng cách xuất khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ sản xuất hiệu quả nhất và nhập khẩu những hàng hóa mà họ sản xuất kém hiệu quả hơn Ricardo (1817) đã chứng minh rằng ngay cả khi một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối, nó vẫn có thể thu được lợi ích từ thương mại thông qua việc tập trung vào sản xuất các mặt hàng mà họ có lợi thế so sánh cao hơn.

Lý thuyết lợi thế so sánh là một khái niệm quan trọng trong thương mại quốc tế, được nhấn mạnh bởi nhà kinh tế học Paul Samuelson, người đoạt giải Nobel năm 1970 Ông cho rằng, mặc dù có những hạn chế, lý thuyết này vẫn là một trong những chân lý sâu sắc nhất trong kinh tế học Các quốc gia không chú trọng đến lợi thế so sánh sẽ phải trả giá đắt cho mức sống và sự tăng trưởng kinh tế của mình.

2.3.2 Lý thuyết về mô hình Hecscher-Ohlin (H-O)

Lý thuyết Heckscher-Ohlin, một trong những lý thuyết hàng đầu về các yếu tố quyết định mô hình thương mại của quốc gia, được phát triển bởi nhà kinh tế người Thụy Điển Eli Heckcher từ một bài báo xuất bản năm trước đó.

Năm 1919, Bertil Ohlin, một sinh viên của Heckscher, đã chứng minh và phổ biến lý thuyết này vào những năm 30 của thế kỷ XX Lý thuyết của Ohlin, cùng với bằng chứng thuyết phục, đã được củng cố bởi Paul Samuelson, người đã nêu ra các điều kiện toán học kiểm chứng cho mô hình Heckscher-Ohlin, khẳng định tính chính xác của nó.

Học thuyết Heckscher-Ohlin cho rằng các quốc gia sẽ xuất khẩu những hàng hóa cần nhiều yếu tố sản xuất dư thừa và ít yếu tố khan hiếm, đồng thời nhập khẩu hàng hóa cần các yếu tố sản xuất theo tỷ lệ ngược lại Điều này có nghĩa là các yếu tố sản xuất dư thừa sẽ được xuất khẩu, trong khi các yếu tố khan hiếm sẽ được nhập khẩu.

Học thuyết Heckscher-Ohlin cho rằng các quốc gia sẽ xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố sản xuất dư thừa và nhập khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố sản xuất khan hiếm.

Mô hình Heckcher-Ohlin khẳng định rằng thương mại quốc tế chủ yếu được thúc đẩy bởi sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia, đồng thời nhấn mạnh tác động lẫn nhau giữa tỷ lệ các yếu tố sản xuất trong nước và tỷ lệ các yếu tố được sử dụng để sản xuất hàng hóa khác nhau Một quốc gia có yếu tố lao động dư thừa khi tỷ lệ lao động so với các yếu tố khác cao hơn so với các quốc gia khác Sản phẩm được xem là thâm dụng lao động khi tỷ lệ chi phí lao động so với giá trị sản phẩm lớn hơn so với các sản phẩm khác Mô hình này được phát triển từ mô hình thương mại đơn giản của D Ricardo, bổ sung thêm vốn và đất đai bên cạnh lao động, yếu tố cơ bản trong sản xuất.

2.3.3 Lý thuyết về thương mại dựa trên hiệu quả kinh tế theo quy mô

Hiệu quả kinh tế theo quy mô là yếu tố quan trọng thúc đẩy trao đổi thương mại giữa các quốc gia, với đặc điểm là khi sản xuất tăng, chi phí bình quân giảm Sự chuyên môn hóa và thương mại trong ngành này không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn mang lại lợi nhuận cho tất cả các bên Theo lý thuyết thương mại, sự khác biệt giữa các quốc gia không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến trao đổi, điều này giải thích cho sự giao thương lớn giữa các nước như Nhật Bản và Hàn Quốc, Pháp và Đức, Mỹ và Canada, mặc dù nguồn lực và năng suất lao động của họ không khác biệt nhiều.

2.3.4 Lý thuyết về mô hình lực hấp dẫn (Gravity)

Lý thuyết lực hấp dẫn đã trở thành công cụ quan trọng trong việc giải thích hoạt động trao đổi thương mại giữa các quốc gia, điều mà các lý thuyết kinh tế khác không thể làm Theo "Định luật vạn vật hấp dẫn" của Isaac Newton, lực hấp dẫn giữa hai vật thể tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

Fij: lực hút hấp dẫn

G là hằng số hấp dẫn

Mi, Mj là khối lượng của hai đối tượng

Dij là khoảng cách giữa hai đối tượng

Trong thương mại quốc tế, mô hình Gravity chỉ ra rằng quy mô luồng thương mại giữa hai quốc gia phụ thuộc vào khả năng cung cấp của nước xuất khẩu, nhu cầu của nước nhập khẩu và khoảng cách giữa hai nước Phương trình Gravity cơ bản mô tả mối quan hệ giữa kim ngạch xuất khẩu từ nước i (xuất khẩu) đến nước j (nhập khẩu) với thu nhập của các nước đó, Yi (Yj), và khoảng cách giữa chúng, Dij.

Trong đó chỉ số i, j lần lượt là hàm ý nước xuất khẩu và nước nhập khẩu

Mô hình Gravity, được giới thiệu bởi Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963), nhằm giải thích trao đổi thương mại giữa các nước Châu Âu Theo mô hình này, xuất khẩu từ nước i đến nước j phụ thuộc vào quy mô kinh tế của cả hai nước, được đo bằng GNP hoặc GDP Quy mô kinh tế của nước xuất khẩu quyết định số lượng hàng hóa sản xuất, trong khi quy mô thị trường của nước nhập khẩu xác định nhu cầu hàng hóa Hơn nữa, luồng hàng hóa được giả định tỷ lệ nghịch với chi phí vận chuyển giữa hai nước, có thể được ước tính thông qua khoảng cách địa lý giữa các trung tâm kinh tế.

Mô hình Gravity đã trở thành công cụ phổ biến và ngày càng hoàn thiện trong nghiên cứu thương mại quốc tế Nghiên cứu của Linnermann (1966) lần đầu tiên bổ sung biến dân số, chỉ ra tác động âm của nó đối với luồng thương mại, điều này được xác nhận trong các nghiên cứu của Oguledo & Macphee (1994) và Endoh (1999, 2000) Biến dân số giúp giải thích quy mô kinh tế và hiệu quả kinh tế theo quy mô, đồng thời ảnh hưởng đến thương mại nội bộ ngành Mặc dù hầu hết các nghiên cứu chỉ ra tác động âm của dân số đến luồng thương mại, một số nghiên cứu như của Brada và Mendez (1985) lại cho thấy tác động dương, khi dân số lớn hơn ở nước nhập khẩu có thể tạo ra nhu cầu nhập khẩu tiềm năng cao hơn Ngoài ra, nhiều biến giả đã được bổ sung vào mô hình Gravity để giải thích các yếu tố riêng biệt ảnh hưởng đến luồng hàng hóa song phương, bao gồm yếu tố địa lý, văn hóa và thể chế.

Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng tới luồng thương mại quốc tế

2.4.1 Thu nhập của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu

2.4.1.1 GDP của nước xuất khẩu

Theo lý thuyết kinh tế, khi tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong một quốc gia tăng, lượng cung hàng và cơ hội xuất khẩu cũng tăng theo Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của yếu tố này đến kim ngạch xuất khẩu (KNXK) khác nhau giữa các quốc gia và mặt hàng Đối với nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu và GDP có mối quan hệ chặt chẽ Ngược lại, với nền kinh tế không chú trọng xuất khẩu, sản phẩm sản xuất trong nước có thể không phục vụ cho xuất khẩu, dẫn đến mối liên hệ yếu giữa kim ngạch xuất khẩu và GDP Khi khả năng sản xuất tăng nhưng giá trị sản xuất giảm, GDP có thể tác động ngược đến kim ngạch xuất khẩu Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hai yếu tố này thường có mối quan hệ tích cực và gắn bó với nhau Nghiên cứu của các tác giả như Thai Tri Do (2006) và Đào Ngọc Tiến (2009) cũng xác nhận tác động tích cực của GDP đến kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam.

2.4.1.2 GDP của nước nhập khẩu

Quy mô nền kinh tế của nước nhập khẩu ảnh hưởng lớn đến kim ngạch thương mại giữa hai quốc gia, với GDP cao cho thấy nhu cầu nhập khẩu hàng hóa tăng Tuy nhiên, sự gia tăng GDP cũng đồng nghĩa với khả năng sản xuất tăng, làm gia tăng cạnh tranh giữa sản phẩm nội địa và hàng ngoại Mức cầu hàng hóa phụ thuộc vào tính thiết yếu của từng loại hàng hóa; hàng hóa thứ cấp có nhu cầu giảm khi mức sống tăng, trong khi hàng hóa thông thường và hàng hóa xa xỉ có mối quan hệ tỷ lệ thuận với thu nhập Việc xác định loại hàng hóa còn phụ thuộc vào việc quốc gia đó là xuất khẩu hay nhập khẩu Thực tế, tác động của quy mô nền kinh tế nước nhập khẩu đến kim ngạch xuất khẩu (KNXK) không dễ xác định rõ ràng Tuy nhiên, nông sản, là hàng hóa thiết yếu, thường được các quốc gia chú trọng Khi GDP nước nhập khẩu tăng, sản xuất nông sản trong nước cải thiện, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu giảm, cho thấy tác động ngược chiều giữa quy mô nền kinh tế và KNXK.

2.4.2.1 Dân số của nước xuất khẩu

Dân số đóng vai trò quan trọng trong khả năng sản xuất của một quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực xuất khẩu hàng hóa Nhiều nghiên cứu thực nghiệm, như của Blomqvist (2004) tại Singapore và Montanari, đã chỉ ra mức độ tác động này.

Nghiên cứu của Céline Carrer (2003) và Đào Ngọc Tiến (2009) cho thấy khoảng cách địa lý có ảnh hưởng lớn đến luồng thương mại giữa các quốc gia, tác động đến cước phí vận chuyển, rủi ro và phương thức vận chuyển Nguyễn Thanh Thủy và Jean-Louis Arcand (2009) cũng chỉ ra rằng khoảng cách có tác động tiêu cực đến xuất khẩu hàng hóa đồng nhất Mô hình lực hấp dẫn mở rộng của Jacob Bikker (2009) cho thấy mối liên hệ giữa giá cả và lượng cung, từ đó ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của các nước.

2.4.2.2 Dân số của nước nhập khẩu

Tăng trưởng dân số tại các quốc gia xuất khẩu dẫn đến sự gia tăng nhu cầu hàng hóa, đặc biệt là các sản phẩm thiết yếu, ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đối tác Tuy nhiên, mức độ tác động này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể và chất lượng nguồn lao động của từng quốc gia Cụ thể, khi dân số tăng, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa cũng tăng, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu của đối tác tăng Ngược lại, sự gia tăng dân số cũng làm tăng quy mô lao động trong nước, từ đó nâng cao khả năng sản xuất và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa, dẫn đến giảm kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và giảm kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đối tác.

2.4.3 Nhóm các yếu tố cản trở hoặc hỗ trợ thương mại quốc tế

2.4.3.1 Khoảng cách giữa các quốc gia

Khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia ảnh hưởng trực tiếp đến cước phí vận chuyển và rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là nông sản tươi sống Khi khoảng cách tăng, chi phí vận chuyển cũng tăng, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nông sản Thêm vào đó, khoảng cách địa lý tác động đến thời gian thực hiện hợp đồng và lựa chọn nguồn hàng, thị trường, cũng như mặt hàng xuất khẩu Do đó, các quốc gia thường ưu tiên giao lưu thương mại với các nước có biên giới chung hoặc trong cùng khu vực để giảm thiểu chi phí và rủi ro.

Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế:

Sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế giữa hai quốc gia đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu Khi hai nước có trình độ phát triển tương đương, nhu cầu tiêu dùng và yêu cầu về chất lượng hàng hóa sẽ tương thích, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu Ngược lại, sự khác biệt lớn về trình độ phát triển có thể khiến hàng hóa của một quốc gia không đáp ứng được yêu cầu của quốc gia nhập khẩu, từ đó hạn chế khả năng xuất khẩu.

Sự chênh lệch kinh tế giữa các quốc gia phản ánh sự khác biệt trong các yếu tố sản xuất Theo lý thuyết Heckscher-Ohlin, những khác biệt này góp phần làm tăng kim ngạch thương mại thông qua việc trao đổi các mặt hàng có mức độ sử dụng các yếu tố đầu vào khác nhau Do đó, trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có thể vừa là yếu tố thu hút vừa là rào cản đối với hoạt động xuất nhập khẩu, tùy thuộc vào từng điều kiện nghiên cứu cụ thể.

2.4.3.2 Các yếu tố hỗ trợ

Chính sách tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái là giá trị của một đồng tiền so với đồng tiền khác, và trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung vào việc nghiên cứu sức mua của đồng tiền đối với hàng hóa nông sản Cụ thể, tỷ giá được đề cập là tỷ giá thực của đồng tiền ngoại tệ so với đồng tiền nội tệ (ER).

Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến kim ngạch xuất khẩu (KNXK) chủ yếu xuất phát từ sự thay đổi của mức tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng trực tiếp đến giá hàng xuất khẩu và cầu thị trường Khi đồng nội tệ giảm giá, giá hàng hóa xuất khẩu tính theo ngoại tệ giảm, dẫn đến tăng cầu và sản lượng xuất khẩu Ngược lại, nếu đồng nội tệ tăng giá, sản lượng xuất khẩu sẽ giảm Độ co giãn của cầu hàng xuất khẩu theo giá cũng quyết định mức độ ảnh hưởng của tỷ giá; nếu cầu co giãn, tỷ giá tăng sẽ làm kim ngạch xuất khẩu tăng Tuy nhiên, với các nhóm hàng khác nhau, mức độ co giãn không đồng nhất dẫn đến tác động từ tỷ giá cũng khác nhau Bên cạnh cầu tại nước nhập khẩu, tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng đến cung hàng xuất khẩu; khi doanh thu tăng và chi phí giảm, sản xuất sẽ được mở rộng Biến động tỷ giá có thể yêu cầu doanh nghiệp thực hiện biện pháp phòng ngừa rủi ro, làm tăng chi phí và giảm động lực xuất khẩu Nếu doanh nghiệp ngừng xuất khẩu do rủi ro tỷ giá, họ sẽ phải chịu chi phí rút lui khỏi thị trường Do đó, biến động tỷ giá gây ra những tác động phức tạp đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa, yêu cầu doanh nghiệp tối ưu hóa lợi nhuận và điều chỉnh chiến lược xuất khẩu.

Chính sách liên quan đến điều chỉnh những rào cản thương mại:

Chính sách điều chỉnh rào cản thương mại, bao gồm thuế quan và phi thuế quan, có ảnh hưởng lớn đến xuất nhập khẩu Khi thuế nhập khẩu tăng hoặc tiêu chuẩn hàng hóa cao hơn, điều này làm giảm khả năng xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia Ngược lại, việc giảm rào cản thương mại, thông qua việc tham gia vào các khu vực mậu dịch tự do và ký kết hiệp định hợp tác kinh tế, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu và thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.

Các nghiên cứu trước

Nghiên cứu của Céline Carrere (2003) chỉ ra rằng hiệp định thương mại giữa các vùng lãnh thổ ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại theo mô hình trọng lực Kết quả cho thấy thu nhập (GDP) của nước xuất khẩu và nhập khẩu có tác động tích cực đến tổng giá trị xuất khẩu, trong khi khoảng cách địa lý lại có tác động ngược chiều Giá trị trao đổi thương mại giữa hai quốc gia có thể bị ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực khi tham gia vào cùng một khối kinh tế Cụ thể, các khối kinh tế như NAFTA, ASEAN và CACM thúc đẩy xuất khẩu, trong khi MECOSUR lại có xu hướng hạn chế xuất khẩu.

Nghiên cứu của H Mikael Sandberg (2004) đã phân tích tác động của các mối liên kết lịch sử và khu vực đối với xuất khẩu trong khu vực thương mại tự do Châu Mỹ (FTAA) trong giai đoạn 1992 – 2000.

Mikael's model is structured as follows: lnXijt = β0 + β1ln(Yit/Nit) + β2lnNit + β3ln(Yit/Njt) + β4lnNjt + β5lnDij + β6lnRemotenessit + β7lnRemotenessjt + β8Borderij + β9Languageij + β10UKColony + β11SpainColony + β12PortugalColony + β13NAFTA + β14Caricomij + β15Mercosur + β16Andean Pact + β17Cacm + β18EU Importer + uijt.

Xijt: giá trị xuất khẩu trong năm t

Yt: GDP tại thời điểm năm t

Nt: Dân số tại thời điểm năm t

Dij: khoảng cách địa lý tại thời điểm năm t

Remotenessit: khoảng cách kinh tế giữa 2 quốc gia

Borderij: là biến giả, nhận giá trị =1 nếu hai quốc gia cùng chung biên giới và ngược lại = 0

Languageij: là biến giả, nhận giá trị = 1 nếu hai quốc gia cùng chung ngôn ngữ và ngược lại = 0

UKColony; SpainColony; PortugalColony: là các biến giả, nhận giá trị bằng

1 nếu quốc gia xuất khẩu là thuộc địa của các nước UK, Spain, Portugal và ngược lại = 0

NAFTA Caricomij Mercosur β0 Andean Pact Cacm: là biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu hai quốc gia cùng thuộc các tổ chức thương mai và ngược lại = 0

EU Importer: là biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu quốc gia nhập khẩu là thành viên của EU và ngược lại = 0

Nghiên cứu chỉ ra rằng các mối liên kết lịch sử và khu vực ảnh hưởng đáng kể đến xuất khẩu Những quốc gia có quy mô nhỏ thường chịu tác động ít hơn so với các quốc gia có quy mô lớn.

Idsardi (2010) đã áp dụng mô hình trọng lực để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dòng xuất khẩu sản phẩm tại Nam Phi Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều yếu tố có tác động đáng kể đến thương mại ở Nam Phi, bao gồm dân số, GDP của đối tác thương mại, GDP của Nam Phi, sự hiện diện của biên giới chung giữa các đối tác thương mại, GNI bình quân đầu người của cả hai bên và tỷ giá hối đoái.

Gulhot (2010) đã áp dụng mô hình trọng lực để nghiên cứu tác động của các FTA trong khu vực Đông Á Mô hình này bao gồm các biến như GDP, thu nhập bình quân đầu người, khoảng cách địa lý, và một số biến giả khác nhằm đánh giá mức độ tạo lập và chệch hướng thương mại do các FTA gây ra, cũng như phân tích tác động của các yếu tố riêng lẻ đến dòng thương mại giữa các nền kinh tế trong khu vực.

Yang và Martínez-Zarzoso (2014) đã áp dụng mô hình trọng lực để phân tích các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của các quốc gia trong khu vực thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) từ năm 1995 đến 2010 Nghiên cứu không chỉ xem xét các yếu tố quen thuộc như GDP và dân số, mà còn bổ sung hai yếu tố mới là đường biên giới chung và hiệp định thương mại tự do AFTA Kết quả cho thấy các yếu tố này phù hợp với mô hình, đồng thời khẳng định rằng việc tham gia vào hiệp định thương mại tự do có ảnh hưởng đáng kể đến kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của các quốc gia.

2.5.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà Trang và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2011) về các yếu tố tác động đến xuất khẩu các nhóm hàng của Việt Nam

Nghiên cứu chỉ ra rằng tăng trưởng GDP của nước nhập khẩu và dân số của nước xuất khẩu không ảnh hưởng mạnh đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam Tuy nhiên, các yếu tố như tăng trưởng GDP của Việt Nam, dân số nước nhập khẩu, khoảng cách kinh tế, tỷ giá hối đoái, việc ký kết các hiệp định thương mại và chung đường biên giới đất liền đều có tác động tích cực đến xuất khẩu, với mức độ ảnh hưởng khác nhau cho từng nhóm hàng Đặc biệt, khoảng cách địa lý lại có ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến xuất khẩu của tất cả các nhóm hàng.

Nghiên cứu của Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) phân tích các yếu tố tác động đến mức độ tập trung thương mại của Việt Nam đối với các nước ASEAN+3 Sử dụng mô hình hấp dẫn (gravity model), nghiên cứu dựa trên dữ liệu thống kê thương mại từ Tổng Cục Hải Quan trong giai đoạn 1998-2005 để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự tập trung này.

Nghiên cứu cho thấy rằng mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với ASEAN+3 chủ yếu do sự tăng trưởng kinh tế của cả nước xuất khẩu và nhập khẩu Khoảng cách địa lý chỉ ảnh hưởng đến xuất khẩu và không tác động đến thương mại song phương với ASEAN+3 Tham gia khối ASEAN+3 và khu mậu dịch tự do AFTA có tác động tiêu cực đến trao đổi thương mại của Việt Nam với các nước trong khối này.

Nghiên cứu của Mai Thị Cẩm Tú (2015) về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Nhật

Mô hình nghiên cứu như sau: lnQvjt = a0 + a1lnINCjt + a2lnQjt + a3lnPt + a4lnREXt + a5lnQVt + a6lnPVt + a7lnCSHTt + a8VJEPA + €t

Qvjt: khối lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Nhật

INCjt: mức thu nhập bình quân đầu người tại thời điểm t

Qjt: khối lượng sản xuất thủy sản tại Nhật Bản năm t

Pt: giá xuất khẩu thủy sản

REXt: tỷ giá hối đoái thực JPN/VND tại thời điểm năm t

QVt: khối lượng sản xuất thủy sản tại Việt Nam năm t

PVt: giá bán thủy sản trong nước tại Việt Nam năm t

CSHTt: mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng cho xuất khẩu của Việt Nam tại thời điểm t

VJEPA: là biến giả hiệp định đối tác thương mại Việt – Nhật

Nghiên cứu chỉ ra rằng khối lượng đánh bắt, đầu tư vào cơ sở hạ tầng và thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản đều có tác động tích cực đến khối lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Nhật Ngược lại, giá bán trong nước, tỷ giá hối đoái thực và hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật lại ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu thủy sản.

Nghiên cứu của Nguyễn Anh Thư và cộng sự (2015) chỉ ra rằng các hoạt động hội nhập thương mại trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã có tác động tích cực đến xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa cũng như dịch vụ của Việt Nam Đặc biệt, hội nhập thương mại với Hàn Quốc mang lại hiệu quả tích cực, trong khi các hiệp định mới như Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia - New Zealand và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản vẫn chưa thể hiện rõ ràng ảnh hưởng đối với thương mại của Việt Nam.

Bảng 2.1 Tóm tắt kết quả các nghiên cứu trước

Các biến số độc lập Tác động Tác giả nghiên cứu trước Phương pháp ước lượng Biến phụ thuộc: Kim ngạch xuất khẩu

1 GDP nước xuất khẩu + Céline Carrere (2003); Idsardi, E

(2010); Yang và Martínez - Zarzoso (2014); Nguyễn Thị Hà Trang và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2011); Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008)

2 GDP nước nhập khẩu + Idsardi, E (2010); Yang và

3 GDP bình quân/người nước nhập khẩu

+ Mai Thị Cẩm Tú (2015) POOL;

4 GNI nước xuất khẩu/ nước nhập khẩu + Idsardi, E (2010) POOL;

5 GNI bình quân/người nước xuất khẩu/ nước nhập khẩu

6 Dân số nước xuất khẩu - Yang và Martínez -Zarzoso

(2014); Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008)

7 Dân số nước nhập khẩu + Yang và Martínez -Zarzoso

(2014); Nguyễn Thị Hà Trang và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2011); Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008)

8 Tỷ giá hối đoái - Idsardi, E (2010); Nguyễn Thị

Hà Trang và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2011); Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008)

9 Khoảng cách địa lý giữa 2 quốc gia + Từ Thúy Anh và Đào Nguyên

Thị Hà Trang và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2011);

10.Khoảng cách kinh tế + Nguyễn Thị Hà Trang và Nguyễn

11 Đường biên giới chung + Idsardi, E (2010); Nguyễn Thị

Hà Trang và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2011)

12 Tham gia các khu mậu dịch tự do, khối hợp tác kinh tế

Sandberg (2004); Yang và Martínez -Zarzoso (2014); Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008); Nguyễn Anh Thư và cộng sự (2015)

13 Giá xuất khẩu - Mai Thị Cẩm Tú (2015); POOL;

14 Sản lượng + Mai Thị Cẩm Tú (2015) POOL;

15 Mức độ đầu tư vốn vào cơ sở hạ tầng cho sản xuất và xuất khẩu

+ Mai Thị Cẩm Tú (2015) POOL;

Ghi chú: Chỉ thống kê các biến số chính trong mô hình

Dấu + : tác động cùng chiều; Dấu - : tác động nghịch chiều

Tóm tắt chương 2

Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ký FTA Nó cũng lược khảo các phương pháp và kết quả nghiên cứu trước đây để làm rõ vấn đề nghiên cứu, từ đó xây dựng mô hình đo lường mức độ tác động của các yếu tố này.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Tổng hợp các FTA của Việt Nam tính đến tháng 07/2019 - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Bảng 2.1 Tổng hợp các FTA của Việt Nam tính đến tháng 07/2019 (Trang 26)
Bảng 2.1 Tóm tắt kết quả các nghiên cứu trước - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Bảng 2.1 Tóm tắt kết quả các nghiên cứu trước (Trang 45)
Bảng 3.1: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Bảng 3.1 Mô tả các biến sử dụng trong mô hình (Trang 49)
Bảng 4.1 Tình hình xuất khẩu Việt Nam đến các nước đã ký kết hiệp định  thương mại tự do (FTA) trong giai đoạn 2006 – 2016 - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Bảng 4.1 Tình hình xuất khẩu Việt Nam đến các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) trong giai đoạn 2006 – 2016 (Trang 58)
Hình 4.2: Thị trường xuất khẩu Việt Nam đến các nước đã ký kết hiệp định thương - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Hình 4.2 Thị trường xuất khẩu Việt Nam đến các nước đã ký kết hiệp định thương (Trang 60)
Hình 4.1: Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam đến các nước đã ký kết hiệp định  thương mại tự do (FTA) trong giai đoạn 2006 – 2016 - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Hình 4.1 Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam đến các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) trong giai đoạn 2006 – 2016 (Trang 60)
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu  Biến   Số quan  Trung bình  Độ lệch    Giá trị   Giá trị - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu Biến Số quan Trung bình Độ lệch Giá trị Giá trị (Trang 62)
Bảng 4.2 Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu          lnGDPjt     lnPOPjt    lnEDISvjt        lnEXRvjt       lnDISTvjt       WTOjt         AFTAjt  lnGDPjt        1.0000 - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Bảng 4.2 Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu lnGDPjt lnPOPjt lnEDISvjt lnEXRvjt lnDISTvjt WTOjt AFTAjt lnGDPjt 1.0000 (Trang 63)
Bảng 4.3:  Kiểm tra đa cộng tuyến lần 2 cho mô hình nghiên cứu: - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Bảng 4.3 Kiểm tra đa cộng tuyến lần 2 cho mô hình nghiên cứu: (Trang 64)
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy theo OLS, REM và FEM - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy theo OLS, REM và FEM (Trang 65)
Bảng  4.6  Kết  quả  kiểm  định  lựa  chọn  phương  pháp  ước  lượng  mô  hình  nghiên cứu: - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
ng 4.6 Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu: (Trang 66)
Bảng 4.7  Kết quả hồi quy các biến độc lập Mô hình nghiên cứu: - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy các biến độc lập Mô hình nghiên cứu: (Trang 68)
2: Bảng ma trận tương quan - Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang các nước đã ký kết hiệp định thương mại tự do (fta) với việt nam giai đoạn 2006   2016
2 Bảng ma trận tương quan (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w