1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam

78 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của vốn điều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thanh Tuấn
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Minh Hà
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 876,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (10)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (10)
    • 1.2 Vấn đề nghiên cứu (12)
    • 1.3 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu (12)
      • 1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu (12)
      • 1.3.2 Mục tiêu nghiên cứu (12)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (13)
    • 1.5 Ý nghĩa nghiên cứu (13)
    • 1.6 Kết cấu đề tài (13)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN . 6 (15)
    • 2.1 Cơ sở lý thuyết (15)
      • 2.1.1 Tổng quan về vốn điều lệ ở Việt Nam và các nước khác (15)
      • 2.1.2 Ngân hàng và các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng (20)
      • 2.1.3 Rủi ro tín dụng (21)
    • 2.2 Mối quan hệ giữa vốn điều lệ và rủi ro tín dụng (31)
    • 2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu (35)
      • 2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước (35)
      • 2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài (36)
  • CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (39)
    • 3.1 Quy trình nghiên cứu (39)
    • 3.2 Phương pháp nghiên cứu (39)
      • 3.2.1 Phương pháp nghiên cứu (39)
      • 3.2.2 Dữ liệu nghiên cứu (41)
    • 3.3 Mô hình nghiên cứu và mô tả biến (42)
      • 3.3.1 Mô hình nghiên cứu (42)
      • 3.3.2 Mô hình nghiên cứu mở rộng (44)
      • 3.3.3 Giả thuyết nghiên cứu (46)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 4.1. Thống kê mô tả và ma trận tương quan (47)
    • 4.2. Kết quả thực nghiệm (49)
      • 4.2.1 Phân tích mối quan hệ giữa NPL và các biến (49)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (59)
    • 5.1 Kết quả nghiên cứu (59)
    • 5.2 Một số kiến nghị (60)
      • 5.2.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan quản lý (60)
      • 5.2.2 Đối với các NHTMCP (62)
    • 5.3 Hạn chế của bài nghiên cứu (65)
  • PHỤ LỤC (67)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (73)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Lý do chọn đề tài

Sự phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hóa đã dẫn đến sự hoàn thiện của hệ thống NHTMCP, cung cấp nhiều nghiệp vụ như huy động vốn, trung gian thanh toán và ngân hàng điện tử Trong đó, nghiệp vụ tín dụng là nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng Tuy nhiên, NHTMCP cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, có thể gây tổn thất tài chính và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại của ngân hàng Tình hình tăng trưởng tín dụng cao tại Việt Nam hiện nay khiến rủi ro tín dụng trở thành vấn đề đáng quan tâm, được cảnh báo bởi các tổ chức uy tín như Standard & Poor’s, Fitch, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế, cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế không tương xứng với tăng trưởng tín dụng.

Theo báo cáo của Standard và Poor’s về triển vọng khu vực ngân hàng Việt Nam năm 2014, các ngân hàng đang phải đối mặt với thách thức về chất lượng tài sản, lợi nhuận thấp và năng lực vốn yếu Nếu không khắc phục được những vấn đề này, mức tín nhiệm của các ngân hàng có thể bị giảm Do đó, việc tăng vốn điều lệ là điều cần thiết để đảm bảo sự ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng.

Vấn đề quan trọng đối với ngân hàng là chủ sở hữu và quản trị rủi ro Nếu chỉ tập trung vào việc tăng vốn điều lệ mà không cải thiện năng lực quản trị và trình độ nguồn nhân lực, ngân hàng sẽ khó có thể đạt được sự vững mạnh tài chính, dù có nguồn vốn dồi dào.

Nghiên cứu của Ngân hàng Standard Chartered chỉ ra rằng 51%-53% rủi ro tín dụng xuất phát từ sự chủ quan của cán bộ trong hệ thống Nhân sự là giá trị cốt lõi của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), và việc hoạt động theo tính hệ thống sẽ giúp chuẩn hóa và nâng cao độ chính xác trong công việc Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, cần thiết lập một mặt bằng chung để chuẩn hóa các quy định và rủi ro liên quan đến tín dụng.

Nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng đối với sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) còn hạn chế Một trong những nghiên cứu đáng chú ý là của Beck và các cộng sự.

(2009) đánh giá độ bất ổn tài chính của các ngân hàng tại Đức giai đoạn 1995 -

Nghiên cứu của Buston (2013) về quản trị rủi ro và sự ổn định tài chính của các ngân hàng Mỹ trong giai đoạn 2005 đến 2010 cho thấy rằng sự gia tăng rủi ro tín dụng dẫn đến bất ổn định trong hệ thống ngân hàng Ngoài ra, các biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả có thể giảm thiểu khả năng phá sản của các ngân hàng, ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng từ 2007 đến 2009.

Gần đây, các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam đã đối mặt với tình trạng gia tăng rủi ro tín dụng do nhiều khoản vay không thu hồi được, dẫn đến tổn thất lớn về vốn Điều này đã thúc đẩy các NHTMCP chú trọng hơn đến quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh Đáp ứng yêu cầu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các NHTMCP đã dần áp dụng các chuẩn mực quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel, qua đó đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc quản lý rủi ro tín dụng.

Vốn điều lệ của ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) ngày càng tăng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Mặc dù vậy, rủi ro tín dụng vẫn luôn là mối đe dọa tiềm ẩn đối với ngân hàng Những ngân hàng có vốn điều lệ lớn, như các ngân hàng hàng đầu, thường có khả năng quản lý rủi ro tốt hơn.

Vietcombank, Vietinbank và BIDV là những ngân hàng có mức vay vốn tín dụng cao nhất, nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc họ phải đối mặt với nhiều rủi ro Vậy vốn tự có ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro tín dụng? Đây chính là lý do cho việc nghiên cứu đề tài “Tác động của vốn điều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam.”

Vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào tình hình vốn điều lệ của ngân hàng Thương Mại Cổ Phần tại Việt Nam và phân tích ảnh hưởng của vốn điều lệ đến rủi ro tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa vốn điều lệ và rủi ro tín dụng sẽ giúp cải thiện quản lý rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Thương Mại Cổ Phần.

Nghiên cứu này đánh giá tác động của vốn điều lệ ngân hàng Thương Mại Cổ Phần đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam Mục tiêu là đề xuất các giải pháp phù hợp để giảm thiểu tác động tiêu cực và tối ưu hóa tác động tích cực của vốn điều lệ ngân hàng đối với rủi ro tín dụng trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu

1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu: Đề tài trả lời câu hỏi nghiên cứu sau: Vốn điều lệ ngân hàng Thương Mại

Cố Phần tác động như thế nào đến rủi ro tín dụng ngân hàng tại Việt Nam?

Nghiên cứu về tác động của vốn điều lệ đến rủi ro tín dụng ngân hàng tại Việt Nam cho thấy có khả năng tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa hai yếu tố này Điều này gợi ý rằng sự thay đổi trong vốn điều lệ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng mà còn có thể tạo ra những tác động phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các yếu tố kinh tế và quản lý ngân hàng Việc hiểu rõ mối quan hệ phi tuyến này là cần thiết để xây dựng các chính sách tài chính hiệu quả và giảm thiểu rủi ro trong hệ thống ngân hàng.

1.3.2 Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu với mục tiêu đánh giá sự tác động của vốn điều lệ ngân hàng Thương Mại Cố Phần đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam

Để khắc phục những hạn chế và phát huy tác động tích cực của vốn điều lệ ngân hàng Thương Mại, cần đưa ra các giải pháp phù hợp Những giải pháp này sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực đến hoạt động ngân hàng.

Cố Phần đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: vốn điều lệ của ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu trong phạm vi các ngân hàng Thương Mại

Cố Phần tại Việt Nam và rủi ro tín dụng tại Việt Nam từ năm 2008 đến năm

Ý nghĩa nghiên cứu

Luận văn này hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn điều lệ và rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng TMCP tại Việt Nam, đồng thời so sánh với kinh nghiệm quốc tế Nó củng cố các lý thuyết và quan điểm về mối quan hệ giữa vốn điều lệ và rủi ro tín dụng Bài viết cung cấp cái nhìn cụ thể về mối quan hệ này, giúp các nhà quản trị và nhà làm chính sách thực hiện các quyết định nhằm duy trì hệ thống ngân hàng Việt Nam khỏe mạnh và bền vững.

Kết cấu đề tài

Luận văn có 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương này trình bày tổng quan nghiên cứu, bao gồm: lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, kết cấu của nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày tổng quan về các lý thuyết về ngân hàng, các nghiệp vụ ngân hàng, tổng quan về vốn điều lệ, rủi ro tín dụng đồng thời tổng quan về những nghiên cứu trước liên quan đến đề tài nghiên cứu này

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày có tính hệ thống các cở sở lý luận về các vấn đề nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu, số liệu, dữ liệu nghiên cứu và đưa ra các biến, mô hình nghiên cứu từ đó đưa ra được giả thuyết nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Ở chương này tác giả sẽ lần lượt trình bày các bảng thống kê mô tả và tương quan các biến của các mô hình được sử dụng trong các phương trình hồi quy Bên cạnh đó tác giả sẽ trình bày các kiểm định cần thiết để từ đó đưa ra kết quả phân tích hồi quy chuẩn xác nhất để từ đó áp dụng phân tích tác động của vốn điều lệ các ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách Chương này rút ra những kết luận liên quan đến kết quả nghiên cứu ở chương 4 Các kết luận hương vào các vấn đề đưa ra nghiên cứu Dựa trên kết luận đó đưa ra các kiến nghị phù hợp với tình hình thực tế nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 6

Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Tổng quan về vốn điều lệ ở Việt Nam và các nước khác Định nghĩa về vốn điều lệ

Vốn điều lệ của ngân hàng thương mại được quy định trong điều lệ và phải tối thiểu bằng vốn pháp định Theo Khoản 29 Điều 4 Luật Doanh Nghiệp 2014, vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản mà các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh, cũng như tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.

Vốn điều lệ là điều kiện pháp lý thiết yếu để thành lập ngân hàng, với nguồn hình thành phụ thuộc vào loại hình sở hữu Ngân hàng thương mại Nhà nước có vốn điều lệ 100% do Nhà nước cấp, trong khi ngân hàng thương mại ngoài Nhà nước (NHTMCP) được hình thành từ sự đóng góp của cổ đông qua việc mua cổ phần hoặc từ các bên liên doanh Mức vốn điều lệ của ngân hàng được xác định dựa trên quy mô và phạm vi hoạt động, và có thể được bổ sung qua việc huy động vốn từ cổ đông, ngân sách Nhà nước hoặc lợi nhuận tích lũy.

Ngân hàng thương mại không chỉ dựa vào vốn điều lệ mà còn có nhiều nguồn vốn khác như quỹ dự trữ ngân hàng, quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bảo toàn vốn và quỹ phúc lợi.

Các quy định về vốn điều lệ đối với các Tổ Chức Tín Dụng (TCTD) tại Việt Nam

Sau 20 năm kể từ ngày hệ thống ngân hàng Việt Nam chính thức chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hai cấp, hệ thống các TCTD Việt Nam đã có những thay đổi lớn Ngày 26/3/1988, Nghị định 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ra đời đánh dấu bước chuyển biến đầu tiên của ngành Ngân hàng Theo Nghị định này, NHNN Việt Nam là ngân hàng hai cấp và cho phép tất cả các tổ chức kinh tế, bao gồm cả các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh, đều có thể kinh doanh tiền tệ và không quy định về vốn tối thiểu 7.180 quỹ tín dụng và hợp tác xã tín dụng được thành lập và hoạt động sau khi Nghị định 53/HĐBT ra đời nhưng đến năm 1990 hệ thống các quỹ tín dụng đổ bể và chỉ còn lại 160 quỹ và hợp tác xã tín dụng hoạt động

Sau khi rút ra bài học từ sự đổ vỡ của hệ thống quỹ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thiết lập các quy định nhằm tăng cường an toàn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) Một trong những quy định quan trọng là yêu cầu về vốn điều lệ, trong đó các TCTD phải có biện pháp đảm bảo số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương với mức vốn pháp định Quá trình hình thành các quy định liên quan đến vốn pháp định cho các TCTD tại Việt Nam có thể được tóm tắt qua bảng sau:

Bảng 2.1 Các quy định liên quan đến vốn pháp định đối với các TCTD ở

1988 Nghị định 53/HĐBT: Không quy định vốn pháp định

1990 Pháp lệnh NH, HTXTD, cty tài chính: Vốn pháp định được công bố vào đầu mỗi năm tài chính

1996 Quyết định 67/QĐ-NH5: Vốn pháp định từ 50-150 tỷ đồng

1998 Nghị định 82/1998/N Đ-CP: Vốn pháp định từ 50- 70 tỷ đồng

2008 Nghị định 141/2006/ NĐ-CP: NHTMCP - Vốn pháp định 1.000 tỷ đồng

2010 Nghị định 141/2006/ NĐ-CP: NHTMCP - Vốn pháp định 3.000 tỷ đồng

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Quy định về vốn điều lệ tại một số nước

Quy định về vốn điều lệ cho các tổ chức kinh doanh đã được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu, với hai chức năng chính là xác định mức vốn tối thiểu để thành lập doanh nghiệp và bảo đảm trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các bên liên quan Tuy nhiên, một số quốc gia gần đây đã bãi bỏ quy định này do chi phí xã hội mà nó gây ra, hạn chế sự gia nhập của doanh nghiệp mới vào nền kinh tế Cụ thể, Anh và Hoa Kỳ đã loại bỏ quy định về vốn điều lệ đối với các doanh nghiệp tư nhân.

Quy định về vốn điều lệ đang dần được loại bỏ cho các doanh nghiệp, nhưng đối với các tổ chức tín dụng (TCTD), việc duy trì quy định này vẫn rất quan trọng vì vai trò của chúng đối với nền kinh tế.

Nhiều quốc gia hiện vẫn duy trì quy định về vốn điều lệ ngân hàng như một tiêu chuẩn quan trọng để đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính Trong trường hợp ngân hàng gặp rủi ro và thua lỗ, vốn điều lệ sẽ được sử dụng để chi trả cho các tổ chức và cá nhân liên quan.

Vốn điều lệ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nguồn lực tài chính của ngân hàng, bởi vì nó là một phần cấu thành vốn tự có Vốn tự có được sử dụng để đầu tư vào tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn, ngắn hạn nhằm sinh lời, đồng thời là nguồn vốn ổn định và tăng trưởng trong suốt quá trình hoạt động Quy mô vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, ảnh hưởng đến các giới hạn huy động vốn, cho vay và bảo lãnh, do các ngân hàng thương mại phải tuân thủ các quy định pháp luật dựa trên quy mô vốn tự có.

Tại Trung Quốc, Luật ngân hàng thương mại quy định vốn tối thiểu để thành lập ngân hàng thương mại là 1 tỷ Yuan, tương đương khoảng 2.627,45 tỷ VND Ở Malaysia, vốn tối thiểu của ngân hàng thương mại là 2 tỷ Ringgit, tương đương 10.446,54 tỷ VND Philippines yêu cầu theo Luật ngân hàng chung năm 2000, vốn của ngân hàng thương mại phải ít nhất 2,8 tỷ Pesos, tương đương 1.103,16 tỷ VND.

Yêu cầu về vốn điều lệ đối với ngân hàng thương mại (NHTM) tại Malaysia và Philippines được đưa ra nhằm củng cố hệ thống ngân hàng sau cuộc khủng hoảng Đông Á năm 1997 Cả hai quốc gia này đã trải qua khủng hoảng tiền tệ và ngân hàng, dẫn đến suy thoái kinh tế nghiêm trọng do thiếu giám sát và hệ thống ngân hàng yếu kém Để ổn định khu vực ngân hàng, Malaysia đã triển khai nhiều biện pháp vào năm 1998, bao gồm việc sáp nhập các ngân hàng và yêu cầu vốn tối thiểu 2 tỷ Ringgit cho các ngân hàng nội địa Những ngân hàng không đạt yêu cầu vốn tối thiểu buộc phải sáp nhập vào 10 ngân hàng do chính phủ chỉ định, hoàn tất vào năm 2001 Đến cuối năm 2008, Malaysia có 9 NHTM nội địa và 13 ngân hàng nước ngoài, với tổng tài sản trung bình 91,6 tỷ Ringgit, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản đạt 6,7%, và ROA, ROE lần lượt là 0,96% và 13,26%.

Ngành ngân hàng Philippines đã chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính 1997, dẫn đến nhiều ngân hàng phải đóng cửa và gia tăng nợ xấu Để cải thiện tình hình, chính phủ đã yêu cầu vốn tối thiểu của các ngân hàng thương mại đạt 2,8 tỷ Pesos (khoảng 1.103,16 tỷ VND), nhằm nâng cao năng lực tài chính và đảm bảo hoạt động an toàn hơn Đến cuối năm 2008, tổng tài sản trung bình của các ngân hàng thương mại tại Philippines đạt khoảng 774,39 tỷ Pesos (khoảng 305.099,04 tỷ VND), với tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là 14,66%, cùng với ROA và ROE lần lượt là 0,95% và 6,61% (theo Ngân hàng trung ương Philippines, 2010).

Sau khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, Trung Quốc đã nỗ lực tái cấu trúc hệ thống ngân hàng để nâng cao năng lực tài chính và chuẩn bị cho quá trình tự do hóa ngành ngân hàng theo cam kết với WTO Đến năm 2007, tổng tài sản trung bình của các ngân hàng thương mại Trung Quốc đạt 28,68 tỷ Yuan (khoảng 75.355,27 tỷ VND), với ROA là 1,02% và ROE đạt 16,34% (Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc).

Tại Hoa Kỳ và Anh Quốc, yêu cầu về vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại không còn nghiêm ngặt như ở nhiều quốc gia khác, mà chủ yếu mang tính hình thức Thay vào đó, để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, các quốc gia này đã sớm áp dụng quy định theo hiệp ước Basel.

Quản trị rủi ro trong ngành ngân hàng thương mại phụ thuộc vào yêu cầu về vốn điều lệ, với quy định cụ thể từ bang Maryland và Delaware Tại Maryland, vốn tối thiểu được yêu cầu là 750 ngàn USD (13,85 tỷ VND) cho các ngân hàng hoạt động ở khu vực có dân số dưới 50 ngàn người, và 1,5 triệu USD (27,7 tỷ VND) cho khu vực có dân số trên 50 ngàn người Trong khi đó, Delaware yêu cầu vốn tối thiểu chỉ 250 ngàn USD (4,62 tỷ VND) cho ngân hàng ở khu vực dưới 50 ngàn người, 350 ngàn USD (6,46 tỷ VND) cho khu vực 50 ngàn người và 500 ngàn USD (9,23 tỷ VND) cho khu vực trên 50 ngàn người.

11 ngàn người Còn tại Anh, yêu cầu về vốn tối thiểu của một ngân hàng phải bằng 5 triệu Euro (Tương đương 128,62 tỷ VND) (United Kingdom, European Commonwealth Members)

Mối quan hệ giữa vốn điều lệ và rủi ro tín dụng

Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã được thực hiện để khảo sát mối quan hệ giữa vốn và rủi ro tín dụng trong ngân hàng Một số nghiên cứu chỉ ra rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa vốn và rủi ro tín dụng.

23 dụng, tuy nhiên cũng có một số nghiên cứu cho thấy tác động nghịch chiều, cụ thể:

Vốn điều lệ có tác động nghịch chiều đến rủi ro tín dụng

Theo nghiên cứu của Kunt và Kane (2002), vốn điều lệ có ảnh hưởng tiêu cực do rủi ro đạo đức, dẫn đến việc các ngân hàng có khả năng lợi dụng hệ thống bảo hiểm tiền gửi.

Theo nghiên cứu của Bouheni và Rachdi (2015) về việc đo lường yêu cầu an toàn vốn tại các ngân hàng thương mại Tunisia, có hai kết luận quan trọng Thứ nhất, vốn và mức độ rủi ro có mối quan hệ ngược chiều, tức là việc tăng vốn sẽ dẫn đến giảm mức độ rủi ro cho ngân hàng Thứ hai, các ngân hàng lớn hơn thường quản lý rủi ro hiệu quả hơn nhờ vào kinh nghiệm và khả năng đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh và Lê Phan Thị Diệu Thảo (2015), sử dụng phương pháp Moment tổng quát (GMM) trên dữ liệu của 30 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007–2014, kết quả cho thấy vốn ngân hàng có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sinh lời và rủi ro tín dụng Cụ thể, vốn ngân hàng tác động khác nhau đến các biến lợi nhuận của ngân hàng và có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro tín dụng Theo lý thuyết rủi ro đạo đức của Keeton và Morris (1987), các ngân hàng có mức vốn hóa thấp dễ dàng khuyến khích rủi ro đạo đức, dẫn đến nợ xấu cao hơn trong tương lai Nghiên cứu của Keeton và Morris trên các NHTM Mỹ giai đoạn 1979–1985 cũng xác nhận rằng rủi ro tín dụng gia tăng ở các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản thấp.

Nghiên cứu của Theo Haq và Heaney (2012) đã chỉ ra rằng nguồn vốn chủ sở hữu và vốn điều lệ của ngân hàng có mối quan hệ phi tuyến tính với rủi ro tín dụng Dựa trên dữ liệu từ 117 tổ chức tín dụng ở 15 quốc gia châu Âu từ 1996 đến 2010, nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu, tác động ngược chiều của hai yếu tố này đối với rủi ro tín dụng càng trở nên rõ ràng hơn.

Vốn điều lệ có tác động cùng chiều đến rủi ro tín dụng

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa vốn và rủi ro tín dụng, cho thấy rằng việc khuyến khích các ngân hàng tăng vốn có thể giúp giảm thiểu tình trạng mất thanh khoản khi rủi ro tín dụng gia tăng Khi rủi ro tín dụng tăng, các nhà quản lý thường điều chỉnh vốn tăng để kiểm soát hiệu quả tình hình mất thanh khoản.

Theo Shirives và Dahl (1992) cũng thông qua dữ liệu của Mỹ và đạt được kết quả giữa 2 yếu tố là cùng chiều

Theo nghiên cứu của Jacques và Nigro (1997), mối quan hệ giữa vốn và rủi ro tín dụng là tương đồng, tức là khi rủi ro tín dụng tăng lên, vốn của ngân hàng cũng cần phải tăng cường Điều này phản ánh sự giám sát hiệu quả từ thị trường.

Vốn điều lệ không có tác động đến rủi ro tín dụng

Rime (2001) cho rằng không có mối liên hệ giữa rủi ro tín dụng và vốn trong ngân hàng Ông đã thực hiện nghiên cứu này bằng cách phân tích các mối quan hệ giữa rủi ro và vốn tại các ngân hàng thương mại trong một giai đoạn nhất định.

Từ năm 1989 đến 1995, ông đã áp dụng một mô hình hệ phương trình để nghiên cứu việc điều chỉnh vốn và rủi ro trong ngân hàng Thụy Sĩ Gần đây, các nhà quản lý đã chú trọng hơn đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng nhằm tăng cường sự ổn định cho hệ thống tài chính Rime (2001) đã phân tích phản ứng của các ngân hàng Thụy Sĩ đối với các quy định này.

Ông đã sử dụng số liệu và mô hình kinh tế lượng để phân tích mối quan hệ giữa việc điều chỉnh vốn và rủi ro tại các ngân hàng Thụy Sĩ, trong bối cảnh họ phải tuân thủ mức vốn quy định tối thiểu Kết quả cho thấy rằng áp lực điều tiết và các quy định của chính phủ buộc các ngân hàng phải tăng vốn, nhưng điều này không làm giảm mức độ rủi ro của họ.

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn và rủi ro tín dụng đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới, tuy nhiên kết quả còn chưa thống nhất do sự khác biệt về không gian và thời gian Vốn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Tại Việt Nam, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tác động của vốn đến rủi ro tín dụng, nhưng nghiên cứu về vốn điều lệ vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang trải qua nhiều biến động Hiện nay, toàn bộ hệ thống NHTM trong nước đang nỗ lực đạt tiêu chuẩn theo Basel II.

Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu tác động của vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam Các giả thuyết được đưa ra nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa vốn điều lệ và rủi ro tín dụng trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam.

Vốn điều lệ các NHTMCP có tác động đến rủi ro tín dụng

Vốn điều lệ các NHTMCP có mối quan hệ đồng biến với rủi ro tín dụng

Việc các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tăng vốn điều lệ giúp cải thiện khả năng hấp thụ rủi ro tín dụng Khi khả năng chịu rủi ro gia tăng, các ngân hàng có thể chấp nhận rủi ro để mở rộng cho vay, từ đó mang lại lợi nhuận cao hơn Tuy nhiên, việc mở rộng cho vay cũng tiềm ẩn nguy cơ gia tăng nợ xấu do có thể phát sinh nhiều khoản vay không thu hồi được Ngược lại, các ngân hàng có nguồn vốn thấp thường hạn chế cho vay và có mức độ chịu rủi ro thấp hơn, giúp họ giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Tác động của vốn điều lệ đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu, cho thấy mối quan hệ giữa hai biến này không chỉ đơn thuần là tuyến tính Nghiên cứu này kỳ vọng tìm ra tác động phi tuyến của vốn điều lệ đến rủi ro tín dụng, trong đó khi vốn điều lệ gia tăng, rủi ro tín dụng cũng tăng theo Tuy nhiên, khi tỷ lệ vốn vượt qua một ngưỡng nhất định, rủi ro tín dụng sẽ bắt đầu giảm Điều này xảy ra vì khi các ngân hàng có nguồn vốn lớn, họ có khả năng đầu tư vào cải tổ tổ chức, tối ưu hóa quy trình làm việc và đào tạo lại nhân viên Tác giả dự đoán rằng mối quan hệ phi tuyến giữa vốn điều lệ và rủi ro tín dụng sẽ có hình chữ U ngược.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Lê Thanh Ngọc và cộng sự (2015) về "Mối quan hệ giữa tỷ lệ vốn tự có và rủi ro ngân hàng thương mại: Bằng chứng từ Việt Nam" chỉ ra rằng áp lực tăng hệ số CAR ảnh hưởng đến vốn chủ sở hữu của ngân hàng Dữ liệu từ 15 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2009 – 2014 cho thấy các ngân hàng có hệ số CAR thấp hơn 9% có xu hướng giảm tài sản có rủi ro cao thay vì gia tăng vốn chủ sở hữu Ngoài ra, sự gia tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng còn bị ảnh hưởng bởi quy mô tài sản, tỷ suất sinh lợi của tài sản và mức độ thay đổi vốn chủ sở hữu của kỳ trước.

Lê Thị Hạnh (2017) đã nghiên cứu về kiểm soát rủi ro tín dụng theo Basel II tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, cho thấy những kết quả tích cực khi áp dụng Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng Nghiên cứu nhấn mạnh rằng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng diễn ra hiệu quả hơn tại các ngân hàng thương mại nhờ vào việc tuân thủ các quy định của Basel II.

Khi ngân hàng có năng lực tài chính lớn và tăng quy mô vốn điều lệ, cần xác định tỉ lệ lợi nhuận ròng được giữ lại hàng năm một cách hợp lý Tuy nhiên, nghiên cứu hiện tại chưa làm rõ mối quan hệ giữa vốn điều lệ và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại.

Nguyễn Thị Hồng Vinh và Lê Phan Thị Diệu Thảo (2015) đã nghiên cứu tác động của vốn ngân hàng đến khả năng sinh lời và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích ảnh hưởng của vốn ngân hàng đối với khả năng sinh lời và rủi ro tín dụng của các ngân hàng này Tác giả áp dụng phương pháp Moment tổng quát dạng hệ thống với dữ liệu từ 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014 để kiểm định giả thuyết về mối quan hệ giữa vốn ngân hàng, khả năng sinh lời và rủi ro tín dụng Kết quả cho thấy vốn ngân hàng có ảnh hưởng rõ ràng đến khả năng sinh lời và rủi ro tín dụng, với tác động khác nhau đến các biến lợi nhuận và tác động ngược chiều với rủi ro tín dụng.

2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Antão và Lacerda (2009) về rủi ro tín dụng và vốn điều lệ trong hệ thống ngân hàng Bồ Đào Nha đã chỉ ra sự thay đổi đáng kể trong yêu cầu về vốn qua hai năm Hai yếu tố chính được phân tích là danh mục tín dụng và xác suất vỡ nợ, trong đó khoảng 85% yêu cầu về vốn là do gia tăng khả năng vỡ nợ Nghiên cứu cũng xem xét tác động của Hiệp ước Basel II đối với yêu cầu vốn cho rủi ro tín dụng của doanh nghiệp, kết luận rằng các yêu cầu này đối với các rủi ro được phân loại như tổ chức cao thấp hơn so với Basel I.

Noss và Toffano (2014) đã tiến hành nghiên cứu nhằm ước tính tác động của sự thay đổi trong nhu cầu vốn ngân hàng tổng hợp trong thời gian tăng trưởng Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của những biến động trong nhu cầu vốn đối với các ngân hàng.

Nghiên cứu về hoạt động cho vay của các ngân hàng Anh cho thấy rằng sự gia tăng yêu cầu vốn pháp định trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng có liên quan đến việc giảm hoạt động cho vay, đặc biệt là cho doanh nghiệp hơn là cho hộ gia đình Tuy nhiên, tác động của việc này đối với tăng trưởng GDP là không đáng kể về mặt thống kê.

Nghiên cứu của Bridges và cộng sự (2014) chỉ ra rằng yêu cầu về vốn pháp định có tác động đáng kể đến hoạt động cho vay của ngân hàng Từ dữ liệu về vốn pháp định của các ngân hàng Anh trong giai đoạn 1990-2011, nghiên cứu cho thấy sau khi tăng nhu cầu vốn, các ngân hàng đã điều chỉnh tỷ lệ vốn của mình, vượt qua mức tối thiểu quy định Hơn nữa, yêu cầu này cũng ảnh hưởng không đồng đều đến các lĩnh vực cho vay trong nền kinh tế, với sự gia tăng tín dụng cho bất động sản, thương mại, doanh nghiệp và hộ gia đình một năm sau khi yêu cầu vốn pháp định được nâng cao.

Nghiên cứu của Rime (2001) về "Nhu cầu về vốn và hành vi của ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm tại Thụy Sĩ" cho thấy rằng trong bối cảnh gia tăng tập trung vào vốn an toàn, tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy để phân tích mối quan hệ giữa sự tăng vốn pháp định và rủi ro tại các ngân hàng Thụy Sĩ Kết quả chỉ ra rằng áp lực tăng vốn không làm tăng mức độ rủi ro của các ngân hàng khi đạt đến mức vốn quy định tối thiểu.

Nghiên cứu của Brun và cộng sự (2013) tập trung vào "Những ảnh hưởng thực sự về vốn điều lệ của ngân hàng", nhằm đo lường tác động của vốn điều lệ đối với hoạt động cho vay và mở rộng Tác giả đã sử dụng dữ liệu về mức vay tại Pháp để phân tích và khai thác sự thay đổi trong lĩnh vực này.

Chuyển từ Basel I sang Basel II đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong cách tính chi phí vốn cho doanh nghiệp, khi Basel I coi chi phí này là như nhau, trong khi Basel II lại phụ thuộc vào mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp và ngân hàng Tác giả đã sử dụng biến thể hai chiều để ước lượng độ nhạy của vay vốn ngân hàng đối với yêu cầu về vốn, đồng thời nhận ra ảnh hưởng lớn của vốn điều lệ lên khả năng vay vốn của ngân hàng.

Nghiên cứu hiện tại đi sâu vào tác động của vốn điều lệ ngân hàng thương mại đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam, điều mà các nghiên cứu trước đây chưa chú trọng Bên cạnh việc phân tích vốn điều lệ, nghiên cứu cũng xem xét cả những tác động tích cực và tiêu cực của nó đối với rủi ro tín dụng, nhằm đề xuất các biện pháp phù hợp Tác giả cũng kỳ vọng phát hiện ra mối quan hệ phi tuyến giữa vốn điều lệ của ngân hàng thương mại cổ phần và rủi ro tín dụng.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong phương trình 3.1 - Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam
Bảng 3.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong phương trình 3.1 (Trang 43)
Bảng 3.2 Mô tả và định nghĩa các biến - Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam
Bảng 3.2 Mô tả và định nghĩa các biến (Trang 45)
Bảng 4.2 Ma trận tương quan toàn bộ mẫu - Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam
Bảng 4.2 Ma trận tương quan toàn bộ mẫu (Trang 49)
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy phương trình 3.1 của các phương pháp hồi quy - Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy phương trình 3.1 của các phương pháp hồi quy (Trang 50)
Bảng 4.7 Bảng Kết quả kiểm định tự tương  quan bậc nhất (Wooldridge test) và  phương sai thay đổi (Wald test) - Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam
Bảng 4.7 Bảng Kết quả kiểm định tự tương quan bậc nhất (Wooldridge test) và phương sai thay đổi (Wald test) (Trang 53)
Bảng  4.8  Kết  quả  tác  động  của  vốn  điều  lệ  các  ngân  hàng  thương  mại  cổ  phần  đến rủi ro tín dụng tại Việt  Nam trong  mẫu  nghiên cứu bằng phương pháp hồi  quy FGLS - Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam
ng 4.8 Kết quả tác động của vốn điều lệ các ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam trong mẫu nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy FGLS (Trang 54)
Bảng 5.1 Phân nhóm ngân hàng áp dụng Basel II - Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam
Bảng 5.1 Phân nhóm ngân hàng áp dụng Basel II (Trang 62)
Bảng thống kê mô tả toàn bộ dữ liệu - Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam
Bảng th ống kê mô tả toàn bộ dữ liệu (Trang 67)
Bảng kết quả kết quả của kiểm tra wald - Tác động của vốn đều lệ ngân hàng thương mại cổ phần đến rủi ro tín dụng tại việt nam
Bảng k ết quả kết quả của kiểm tra wald (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm