1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam

89 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả Hồ Đăng Huy
Người hướng dẫn TS. Phạm Phú Quốc
Trường học Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (0)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (11)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (12)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (12)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
      • 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu (12)
      • 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu (13)
    • 1.5 Dữ liệu nghiên cứu (13)
    • 1.6 Kết cấu dự kiến của luận văn nghiên cứu (13)
  • Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1 Các lý thuyết về hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán 5 (15)
      • 2.1.1 Lý thuyết tài chính hành vi (15)
      • 2.1.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (17)
    • 2.2 Tổng quan về nhà đầu tư cá nhân (18)
      • 2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân (18)
      • 2.2.2 Các nhân tố tác động đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân (19)
    • 2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam (20)
      • 2.3.1 Lược khảo các nghiên cứu liên quan (20)
      • 2.3.2 Các hạn chế của những nghiên cứu trước (23)
      • 2.3.3 Các phương pháp đã được nghiên cứu (24)
    • 2.4 Các giả thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam (24)
      • 2.4.1 Yếu tố nội tại của công ty niêm yết (24)
      • 2.4.2 Thông tin từ nền kinh tế (25)
      • 2.4.3 Ý kiến của các nhà tư vấn (26)
      • 2.4.4 Thông tin phi chính thức (27)
      • 2.4.5 Tâm lý đám đông (28)
      • 2.4.6 Quyết định đầu tư (29)
    • 2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất (29)
  • Chương 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1 Phương pháp phân tích dữ liệu (31)
    • 3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu (33)
    • 3.3 Quy trình xử lý dữ liệu (34)
    • 3.4 Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi (34)
      • 3.4.1 Thiết kế thang đo (34)
      • 3.4.2 Xây dựng bảng câu hỏi (35)
  • Chương 4 KIỂM ĐỊNH MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ DẪN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁC NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (0)
    • 4.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu (40)
    • 4.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo (phân tích Cronbach’s Alpha) (43)
      • 4.2.1 Yếu tố nội tại của công ty niêm yết (43)
      • 4.2.2 Thông tin từ nền kinh tế (43)
      • 4.2.3 Ý kiến của các nhà tư vấn (45)
      • 4.2.4 Thông tin phi chính thức (45)
      • 4.2.5 Tâm lý đám đông (46)
      • 4.2.6 Quyết định đầu tư (47)
    • 4.3 Phân tích nhân tố EFA (47)
      • 4.3.1 Phân tích nhân tố khám phá cho các biến độc lập (47)
      • 4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá cho biến phụ thuộc (49)
    • 4.4 Phân tích hồi quy bội (50)
      • 4.4.1 Phân tích tương quan (50)
      • 4.4.2 Phân tích hồi quy và kiểm định mô hình (52)
      • 4.4.3 Kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu (55)
    • 4.5 Kiểm định sự khác biệt trong quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân theo một số đặc điểm của nhà đầu tư (57)
      • 4.5.1 Sự khác nhau trong quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân theo giới tính (57)
      • 4.5.2 Sự khác nhau trong quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân theo độ tuổi (58)
      • 4.5.3 Sự khác nhau trong quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân theo trình độ (59)
      • 4.5.5 Sự khác nhau trong quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân theo lĩnh vực hoạt động (60)
  • Chương 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý GIẢI PHÁP (0)
    • 5.1 Hàm ý của nghiên cứu (63)
    • 5.2 Hàm ý giải pháp (63)
      • 5.2.1 Đối với doanh nghiệp niêm yết chứng khoán (63)
      • 5.2.2 Đối với bản thân nhà đầu tư (64)
      • 5.2.3 Đối với Ủy ban chứng khoán nhà nước (65)
    • 5.3 Đóng góp của nghiên cứu (66)
    • 5.4 Hạn chế và định hướng tiếp theo của nghiên cứu (66)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Lý do chọn đề tài

Sau 19 năm hoạt động với nhiều thăng trầm, thị trường chứng khoán đã chứng minh là một kênh huy động vốn hiệu quả cho doanh nghiệp và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư Việc nghiên cứu các lý do quyết định đầu tư của nhà đầu tư là rất cần thiết trong quá trình này.

Quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, bao gồm biến động kinh tế vĩ mô, yếu tố chính trị, hoạt động và triển vọng tương lai của doanh nghiệp Bên cạnh đó, tâm lý của nhà đầu tư cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định có nên đầu tư hay không.

Theo thống kê của VSD, tính đến cuối năm 2018, thị trường chứng khoán Việt Nam ghi nhận hơn 2,1 triệu tài khoản nhà đầu tư, trong đó hơn 99% thuộc về nhà đầu tư cá nhân Mặc dù số lượng tài khoản tăng lên, nhưng chất lượng quyết định đầu tư chưa chắc đã cải thiện tương ứng trong 5 tháng đầu năm.

Năm 2018, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chuyển mình từ một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất thế giới thành thị trường giảm sâu nhất, theo thống kê của Bloomberg Giá cổ phiếu đã trải qua những đợt tăng mạnh mẽ, tiếp đó là sự sụt giảm liên tục mà không ai có thể dự đoán hay lý giải Điều này đặt ra câu hỏi về nguyên nhân dẫn đến quyết định mua bán chứng khoán và các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động của thị trường.

Chứng khoán chủ yếu bao gồm hai loại: cổ phiếu và trái phiếu Trong khi đầu tư vào trái phiếu ít phổ biến và có ít biến động hơn so với cổ phiếu, thì 99% nhà đầu tư trên thị trường là cá nhân Do đó, tác giả quyết định nghiên cứu đề tài: “Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên Thị trường chứng khoán Việt Nam.”

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu “Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên Thị trường chứng khoán Việt Nam” nhằm tìm hiểu các yếu tố quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân và mức độ ảnh hưởng của chúng trong quyết định đầu tư Nghiên cứu hướng đến việc xác định các yếu tố quan trọng và mong muốn đạt được những mục tiêu nghiên cứu cụ thể liên quan đến hành vi đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

 Xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên Thị trường chứng khoán Việt Nam

 Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này dẫn đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân

Khám phá sự khác biệt giữa các nhà đầu tư cá nhân trong quyết định đầu tư cổ phiếu dựa trên các yếu tố như giới tính, lĩnh vực hoạt động, trình độ học vấn, độ tuổi và kinh nghiệm đầu tư Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến cách mà các nhà đầu tư đánh giá và lựa chọn cổ phiếu, từ đó hình thành nên những chiến lược đầu tư khác nhau Việc hiểu rõ những điểm khác biệt này giúp tối ưu hóa quyết định đầu tư và tăng cường hiệu quả tài chính cho từng cá nhân.

Câu hỏi nghiên cứu

Trong luận văn này sẽ đưa ra các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này như thế nào?

- Có hay không sự khác biệt trong quyết định đầu tư giữa các nhóm nhà đầu tư

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này chính là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, đối tượng khảo sát chính là các nhà đầu tư cá nhân đầu tư vào cổ phiếu của các công ty niêm yết trên sàn HOSE và sàn HNX Các nhà đầu tư có đến các công ty chứng khoán thì phỏng vấn trực tiếp qua bảng câu hỏi, ngoài ra tác giả còn sẽ gửi email đến các nhà đầu tư

Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện việc nghiên cứu đối với các nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi thời gian: Lấy dữ liệu thông qua bảng câu hỏi sẽ được thu thập trong năm 2019.

Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các phiếu trả lời của nhà đầu tư tại tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh Việc khảo sát này dự kiến sẽ được thực hiện để thu thập thông tin chi tiết về thị trường đầu tư trong khu vực.

Trong giai đoạn 1, chúng tôi sẽ thiết kế bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát thông qua phỏng vấn trực tiếp với khoảng 10 – 20 nhà đầu tư Mục tiêu là phát hiện những sai sót trong bảng câu hỏi và bổ sung các yếu tố còn thiếu Thời gian thực hiện dự kiến sẽ được xác định cụ thể.

Giai đoạn 2 của nghiên cứu bao gồm việc hoàn thiện bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát chính thức với dự kiến 200 nhà đầu tư Các nhà đầu tư sẽ được chọn ngẫu nhiên để đảm bảo tính khách quan Phương pháp khảo sát sẽ được thực hiện qua hai hình thức: gặp trực tiếp để phát bảng khảo sát hoặc gửi qua email.

Kết cấu dự kiến của luận văn nghiên cứu

Kết cấu của luận văn gồm 5 chương:

- Chương 1: Tổng quan về đề tài

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

- Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Chương 4 tập trung vào việc kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu này phân tích các yếu tố như tâm lý thị trường, thông tin tài chính và kinh tế vĩ mô, nhằm hiểu rõ hơn về hành vi đầu tư của cá nhân Qua đó, bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định, từ đó giúp nhà đầu tư có chiến lược đầu tư hiệu quả hơn.

- Chương 5: Kết luận và hàm ý giải pháp

Chương 1 trình bày những nội dung cơ bản của đề tài như: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng, dữ liệu và phạm vi nghiên cứu hướng đến của đề tài cũng như những hạn chế và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Các lý thuyết về hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán 5

2.1.1 Lý thuyết tài chính hành vi

Lý thuyết tài chính hành vi, kết hợp giữa tâm lý học và tài chính, được nhà tâm lý học Gabriel Tarde nghiên cứu từ những năm 1880, nhằm áp dụng tâm lý học vào kinh tế học Tuy nhiên, đến thập kỷ 1980, lý thuyết này mới phát triển mạnh mẽ với các tác phẩm quan trọng của Amos Tversky và Daniel Kahneman (1979), Richard H Thaler (1985), cùng với nghiên cứu nổi bật của Jegadeesh và Titman (1993) Hiện nay, tài chính hành vi được coi là một đối trọng với lý thuyết tài chính chuẩn, đặc biệt là lý thuyết "thị trường hiệu quả".

Tài chính hành vi, mặc dù là một lĩnh vực mới, đang phát triển mạnh mẽ và chứng tỏ hiệu quả trong việc bổ sung những thiếu sót của tài chính chuẩn Lý thuyết này kết hợp tâm lý học với các lý thuyết thực tiễn về tài chính, giúp giải thích những vấn đề mà tài chính chuẩn không thể lý giải Dù còn gây tranh cãi, tài chính hành vi đang khẳng định vai trò quan trọng trong việc phân tích các xu hướng tài chính hiện nay Nhiều trường đại học đã đưa môn học Tài chính hành vi vào chương trình giảng dạy, coi đây là môn học thiết yếu cho sinh viên ngành kinh tế.

Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) là nền tảng của tài chính hành vi, được phát triển bởi Daniel Kahneman và Amos Tversky Năm 2002, Kahneman được trao giải Nobel Kinh tế nhờ nghiên cứu về lý thuyết này, tạo dựng cơ sở vững chắc cho lĩnh vực tài chính hành vi.

Năm 1979, lý thuyết triển vọng đã được giới thiệu, và sau đó vào năm 1992, Kahneman và Tversky đã phát triển lý thuyết triển vọng tích lũy (Cumulative Prospect Theory) như một phiên bản điều chỉnh Lý thuyết này được coi là một bổ sung quan trọng nhằm khắc phục những thiếu sót trong các giả định của lý thuyết độ thỏa dụng kỳ vọng (Expected Utility Theory).

- Các giả định của Lý thuyết triển vọng

Lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng giả định rằng con người hành xử một cách hợp lý, tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm của Simon và Kahneman cùng Tversky đã chỉ ra rằng lý thuyết tài chính truyền thống, đặc biệt là lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng, còn nhiều hạn chế Do đó, lý thuyết triển vọng cho rằng hành vi của cá nhân thường không hợp lý Thaler nhấn mạnh rằng hầu hết các hành vi kinh tế đều không hoàn toàn hợp lý, dẫn đến kết quả sai lệch so với giá trị cơ bản trên thị trường tài chính.

- Nội dung của lý thuyết triển vọng

Nội dung của lý thuyết triển vọng được Kahneman và Tversky (1979) khái quát như sau:

Lý thuyết độ thỏa dụng kỳ vọng không thể giải thích ba đặc điểm chính về hành vi con người: Thứ nhất, con người có xu hướng vừa ưa thích rủi ro vừa lẩn tránh rủi ro, và sự lựa chọn giữa hai thái cực này thường phụ thuộc vào lời lỗ Thứ hai, mỗi cá nhân thường thiết lập một mức tham khảo riêng để đánh giá các khoản lời lỗ Cuối cùng, con người thường cảm nhận sự mất mát mạnh mẽ hơn so với niềm vui từ lợi nhuận, dẫn đến nỗi sợ thua lỗ.

Lý thuyết triển vọng chỉ ra rằng hàm giá trị được xác định dựa trên lời và lỗ so với một điểm tham chiếu Hàm giá trị có đặc điểm lõm trong miền lời và lồi trong miền lỗ, với độ dốc lớn hơn ở phía lỗ, phản ánh tâm lý ngại thua lỗ của con người.

Hành vi của con người khi mua bảo hiểm và xổ số cho thấy sự mâu thuẫn trong cách tiếp cận rủi ro Mặc dù người chơi xổ số thường chấp nhận rủi ro với xác suất trúng giải rất thấp, họ cũng đồng thời mua bảo hiểm để bảo vệ bản thân khỏi những rủi ro không lường trước Điều này chứng tỏ rằng con người có xu hướng vừa tìm kiếm sự hồi hộp từ trò chơi, vừa muốn tránh né những rủi ro tiềm ẩn trong cuộc sống.

Lý thuyết triển vọng có thể giải thích hành vi của con người khi mua bảo hiểm và xổ số, cho thấy rằng họ thường đặt trọng số cao hơn cho những khả năng có xác suất xảy ra thấp.

Theo lý thuyết, nhà đầu tư thường coi trọng khả năng bù đắp khoản lỗ hơn là việc đạt được lợi nhuận cao Hành vi này thể hiện rõ khi nhà đầu tư giữ cổ phiếu thua lỗ với hy vọng rằng khoản lỗ chỉ là tạm thời, trong khi khi cổ phiếu tăng giá, họ lại có xu hướng bán sớm để đảm bảo lợi nhuận hiện tại mà không cân nhắc đến tiềm năng tăng giá trong tương lai.

2.1.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng giới thiệu lần đầu tiên bởi Akerlof vào năm

Vào năm 1970, Akerlof đã chứng minh rằng thông tin bất cân xứng dẫn đến sự lựa chọn trái ngược trên thị trường Năm 1973, Michael tiếp tục phát triển nghiên cứu của Akerlof, chỉ ra rằng để giảm thiểu rủi ro từ sự lựa chọn đối kháng, người bán thường sử dụng cơ chế phát tín hiệu, cho phép những người có thông tin tốt chia sẻ với những người thiếu thông tin, từ đó cải thiện kết quả thị trường Joseph, vào năm 1975, đã mở rộng các nghiên cứu này bằng cách giới thiệu cơ chế sàng lọc, nhằm cải thiện tình trạng của bản thân khi tự nhận mình là người có ít thông tin Lý thuyết về thông tin bất cân xứng ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong kinh tế học hiện đại, điều này được minh chứng khi cả ba nhà nghiên cứu Akerlof, Michael và Joseph đều được trao giải Nobel kinh tế năm 2001.

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít hoặc thông tin không chính xác so với bên còn lại, dẫn đến việc bên thiếu thông tin đưa ra quyết định sai lầm Điều này cho phép bên nắm giữ nhiều thông tin hơn có thể gây bất lợi cho bên kia trong các giao dịch Tại thị trường chứng khoán Việt Nam, hiện tượng thông tin bất cân xứng diễn ra phổ biến và có ảnh hưởng lớn đến các quyết định đầu tư Các biểu hiện điển hình của thông tin bất cân xứng ở Việt Nam cần được nhận diện và giải quyết để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.

- Doanh nghiệp không công bố thông tin một cách kịp thời, đầy đủ

- Rò rỉ những thông tin chưa hoặc không được phép công bố rộng rãi

- Có một số ít nhà đầu tư nhận được những thông tin nội bộ trước phần lớn nhà đầu tư còn lại

- Xuất hiện những tin đồn thất thiệt, vô căn cứ hoặc chưa được kiểm chứng

- Lừa đảo thông qua các giao dịch ảo

- Các cơ quan báo chí chưa đưa đúng hoặc không đầy đủ thông tin…

Tổng quan về nhà đầu tư cá nhân

2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân

Trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư được chia thành hai loại chính: cá nhân và tổ chức Nhà đầu tư cá nhân là những người sở hữu vốn nhàn rỗi và thực hiện đầu tư thông qua tài khoản của chính mình để đạt được các mục tiêu tài chính đã đề ra.

Các đặc điểm cơ bản của nhà đầu tư cá nhân:

Nhà đầu tư cá nhân thường sở hữu vốn đầu tư nhỏ, do đó yêu cầu về đa dạng hóa danh mục đầu tư không cao Hơn nữa, quy mô và khối lượng giao dịch của họ thường nhỏ hơn so với các nhà đầu tư tổ chức.

Nhà đầu tư cá nhân thường thiếu kế hoạch đầu tư dài hạn và các quy tắc cụ thể, dẫn đến việc dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài.

- Nhà đầu tư cá nhân thường đưa ra các quyết định đầu tư một cách nhanh chóng

2.2.2 Các nhân tố tác động đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân

Theo Nguyễn Thế Hiển (2012), hành vi của nhà đầu tư cá nhân bị ảnh hưởng bởi hai nhóm nhân tố chính: nhân tố bên trong và các nhóm nhân tố bên ngoài.

Nhóm nhân tố bên trong được nghiên cứu bao gồm khả năng nhận thức, giới tính và độ tuổi Luận văn này sẽ kiểm định sự khác biệt trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư giữa các nhóm nhà đầu tư cá nhân, tập trung vào những nhân tố bên trong này để xác định tác động của chúng.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng nhận thức có ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia thị trường chứng khoán Theo Benjamin, Brown và Shapiro (2006), những người thông minh thường có xu hướng đầu tư nhiều hơn vào thị trường chứng khoán Tương tự, Kezdi và Willis (2003) cũng phát hiện rằng các hộ gia đình có chỉ số nhận thức cao hơn có khả năng tham gia nhiều hơn vào thị trường chứng khoán.

Theo tâm lý học, người lớn tuổi thường phản ứng chậm với thông tin mới so với người trẻ tuổi, do khả năng xử lý và tổng hợp thông tin của họ kém hiệu quả hơn Các nghiên cứu cho thấy nhà đầu tư lớn tuổi thường ít phân bổ tài sản và nắm giữ danh mục đầu tư ít tập trung hơn so với nhà đầu tư trẻ tuổi Họ cũng có mức độ tự tin thấp hơn và ít tham gia vào các hoạt động đầu tư mạo hiểm.

Nghiên cứu của Odean (2001) và Pulford (1997) chỉ ra rằng nam giới thường có mức độ tự tin cao hơn nữ giới Tuy nhiên, sự tự tin thái quá có thể khiến nhà đầu tư thực hiện nhiều giao dịch hơn, nhưng không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả tốt hơn (Odean, 1998).

Nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm các yếu tố kinh tế vĩ mô và vi mô, cùng với các yếu tố chính trị, văn hóa và xã hội.

Nhân tố thuộc về nền kinh tế bao gồm các yếu tố kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ, tài khóa và thương mại, cũng như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát Ngoài ra, các yếu tố vi mô liên quan đến ngành và công ty niêm yết như triển vọng, khó khăn, rủi ro ngành, mức độ cạnh tranh và tỷ suất lợi nhuận cũng rất quan trọng Các tỷ số phân tích tài chính và rủi ro doanh nghiệp cũng cần được xem xét Cuối cùng, các yếu tố liên quan đến thị trường tài chính và chứng khoán như tính minh bạch, hệ thống pháp luật và tính thanh khoản là những yếu tố nền tảng trong phân tích cơ bản khi đầu tư chứng khoán.

Nhóm nhân tố chính trị - văn hóa - xã hội ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, hệ thống pháp lý, giáo dục và tự do tín ngưỡng của quốc gia Nghiên cứu cho thấy văn hóa có mối liên hệ với chiến lược đầu tư; cụ thể, Hofstede (2001) chỉ ra rằng các quốc gia có tự do hành động và tín ngưỡng cao thường thu hút nhà đầu tư với khối lượng giao dịch lớn hơn, mặc dù đi kèm với độ bất ổn cao hơn nhưng lợi nhuận cũng cao hơn Ngoài ra, Chui, Lloyd và Kwok (2002) xác nhận rằng cấu trúc vốn của công ty bị ảnh hưởng bởi văn hóa quốc gia, trong khi Chui, Titman và Wei (2009) nhấn mạnh rằng sự khác biệt văn hóa có thể dẫn đến sự khác biệt về tỷ suất sinh lời trong chiến lược đầu tư.

Tổng quan các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam

2.3.1 Lược khảo các nghiên cứu liên quan

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng số lượng nghiên cứu về hành vi và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân vẫn còn hạn chế Nguyên nhân chính là do lĩnh vực này còn mới mẻ và chưa được khai thác nhiều Hiện tại, chỉ một số trường đại học bắt đầu giảng dạy về Tài chính hành vi cho sinh viên, và đã có một số công trình nghiên cứu sơ bộ trong lĩnh vực này.

Bài báo "Tài chính học hành vi, tâm lý bầy đàn và TTCK Việt Nam" được viết bởi Saga.vn cho báo Đầu tư chứng khoán, đăng ngày 19/04/2007, chỉ ra sự xuất hiện của tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua một số dấu hiệu Tuy nhiên, bài viết chưa cung cấp kết quả kiểm định hoặc số liệu cụ thể để chứng minh cho những dấu hiệu này.

Bài báo “Tài chính hành vi và những bất thường của TTCK Việt Nam” của ThS Lê Đạt Chí, đăng trong Tạp chí Phát triển Kinh tế tháng 7/2007, đã tổng hợp các khái niệm cơ bản về tài chính hành vi và chỉ ra những sai lầm phổ biến mà các nhà đầu tư cá nhân thường mắc phải qua phân tích các dấu hiệu Tuy nhiên, bài viết chưa cung cấp các kết quả định lượng để hỗ trợ cho những nhận định này.

Bài báo “Ứng dụng tài chính hành vi vào phân tích thực tiễn” của Trần Ngọc Thơ và Hồ Quốc Tuấn, đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế tháng 7/2007, nghiên cứu hai trường hợp điển hình của thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm phản ứng thái quá và hiệu ứng ngôi sao đang lên từ góc độ lý thuyết tài chính hành vi Mặc dù vậy, phân tích trong bài báo chủ yếu dựa vào các hiện tượng mà chưa cung cấp số liệu thuyết phục.

Bài báo “Tài chính hành vi: Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính” của tác giả Hồ Quốc Tuấn, đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế tháng 7/2007, đã tóm tắt các nguyên lý cơ bản của tài chính hành vi và đề xuất một số ứng dụng có thể áp dụng vào thị trường chứng khoán Tuy nhiên, tác giả chưa làm rõ các luận cứ chứng minh cho những ứng dụng này.

Bài báo “Khảo sát và đo lường các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân” của ThS Trần Minh và Nguyễn Thị Thùy Dung, đăng trên tạp chí Công nghệ ngân hàng số 30 tháng 9/2008, đã chỉ ra rằng có bốn yếu tố tâm lý chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân, bao gồm: ảnh hưởng đám đông, kỳ vọng vào lợi nhuận, sự quá tự tin và tâm trạng Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố như ảnh hưởng của thông tin và nhà đầu tư chuyên nghiệp không có tác động đến quyết định đầu tư, điều này có thể được coi là một điểm chưa phù hợp trong nghiên cứu.

Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Đức Hiển năm 2012 tại trường Đại học Kinh tế Quốc Dân nghiên cứu "Hành vi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam" đã xây dựng các nội dung chính về hành vi của nhà đầu tư cá nhân dựa trên lý thuyết tài chính hành vi Tác giả cũng đã liên kết các lý thuyết kiểm định hành vi thông qua khảo sát bảng câu hỏi và phân tích kết quả giao dịch thực tế trên tài khoản của nhà đầu tư.

Bài báo “Lý thuyết tài chính hành vi trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của TS Đặng Văn Dân, được đăng trên Tạp chí Tài chính vào ngày 11/4/2016, đã chỉ ra một số tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam có liên quan đến yếu tố hành vi Tuy nhiên, các nhận xét trong bài viết chủ yếu mang tính chủ quan và chưa được hỗ trợ bởi các luận cứ thuyết phục.

Bài báo “Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư chứng khoán” của PGS.TS Vương Đức Hoàng Quân và Bùi Chiến Công, đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 6/2016, phân tích mức độ tác động của các thiên lệch hành vi đến nhà đầu tư cá nhân Nghiên cứu chỉ ra các thiên lệch như tự tin thái quá, tâm lý bầy đàn, ác cảm sợ thua lỗ, tâm lý mỏ neo và phản ứng thái quá, tập trung vào yếu tố bản thân nhà đầu tư mà không đề cập đến các yếu tố bên ngoài.

- Bài báo “Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam” của PGS

TS Nguyễn Trọng Tài đã công bố một nghiên cứu trên Tạp chí Ngân hàng vào ngày 16/12/2016, trong đó ông phân tích các đặc điểm tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường tài chính và ảnh hưởng của yếu tố tâm lý đến thị trường chứng khoán Mặc dù nghiên cứu tập trung vào tâm lý của nhà đầu tư, nhưng chưa đề cập đến tác động của các yếu tố khác đối với thị trường chứng khoán.

Bài báo "Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh" của TS Phạm Ngọc Toàn và ThS Nguyễn Thành Long, đăng trên Tạp chí Công Thương ngày 12/12/2018, đã chỉ ra năm nhân tố chính tác động đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân Nghiên cứu này đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố theo thứ tự từ cao xuống thấp, điều này được coi là một thành công so với các nghiên cứu trước Tuy nhiên, hai yếu tố chất lượng báo cáo tài chính và hình ảnh công ty chỉ liên quan đến bản thân doanh nghiệp.

Hiện nay, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư tại Việt Nam còn hạn chế Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc xác định các yếu tố quyết định mà nhà đầu tư cần xem xét.

Nội dung các nghiên cứu tập trung vào 4 hướng:

 Nghiên cứu về các yếu tố tâm lý nhà đầu tư thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi

 Nghiên cứu về hiệu ứng tâm lý đám đông

 Giải thích những bất thường trên thị trường chứng khoán

Nghiên cứu hành vi nhà đầu tư thông qua phân tích và kiểm định kết quả giao dịch nhằm làm rõ các lệch lạc trong hành vi đầu tư.

2.3.2 Các hạn chế của những nghiên cứu trước:

Nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào tác động của yếu tố tâm lý bầy đàn đối với hành vi của nhà đầu tư, nhưng vẫn chưa xây dựng được một mô hình toàn diện bao gồm tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân.

Chưa có nghiên cứu kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân, cũng như sự khác biệt giữa các nhà đầu tư dựa trên lĩnh vực hoạt động, độ tuổi, thâm niên đầu tư, giới tính và trình độ học vấn.

2.3.3 Các phương pháp đã được nghiên cứu:

Các giả thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2.4.1 Yếu tố nội tại của công ty niêm yết

Yếu tố nội tại là các yếu tố liên quan đến bản thân doanh nghiệp, bao gồm những nguồn lực bên trong quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, theo quan điểm của Grant RM.

Các nguồn lực của doanh nghiệp được chia thành hai loại: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình Nguồn lực hữu hình bao gồm tài sản như quy mô, vị trí địa lý và thiết bị sản xuất hiện đại, trong khi nguồn lực vô hình bao gồm thương hiệu, công nghệ, bằng sáng chế và trình độ nguồn nhân lực Những nguồn lực này tạo ra lợi thế cạnh tranh, giúp doanh nghiệp đạt được kết quả kinh doanh mong muốn, điều này cũng thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư Ngoài ra, theo Nguyễn Đức Hiển (2012), các yếu tố khác như cổ tức, tỷ số tài chính và thương hiệu cũng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư.

Thông tin từ các yếu tố nội tại của doanh nghiệp cần được cung cấp đầy đủ cho nhà đầu tư, với báo cáo tài chính là một trong những tài liệu quan trọng nhất Những báo cáo này giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư chính xác Nghiên cứu của Nagy và Obenberger (1994) cho thấy rằng thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời từ doanh nghiệp sẽ gia tăng niềm tin của nhà đầu tư cá nhân, từ đó thúc đẩy xu hướng đầu tư vào cổ phiếu của công ty Bên cạnh đó, các thông tin như kết quả kinh doanh khả quan, mở rộng thị trường và cải thiện tỷ số tài chính cũng thu hút sự chú ý của nhà đầu tư.

H1: Yếu tố nội tại của doanh nghiệp tích cực ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân Sự cải thiện trong các yếu tố này tạo ra niềm tin và khuyến khích các nhà đầu tư cá nhân tham gia vào thị trường Khi doanh nghiệp thể hiện sự phát triển và ổn định, nhà đầu tư sẽ cảm thấy an tâm hơn trong việc đưa ra quyết định đầu tư.

2.4.2 Thông tin từ nền kinh tế

Fama (1970) với “lý thuyết thị trường hiệu quả” cho rằng thị trường chứng khoán không bị ảnh hưởng bởi các chính sách vĩ mô và tình hình kinh tế quốc gia Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu như của Narayan và Narayan (2010) và Mukhejee và Naka (1995) cho thấy rằng các yếu tố vĩ mô thực sự có tác động đến biến động chỉ số giá chứng khoán, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân Những thay đổi trong nền kinh tế vĩ mô, bao gồm cả các chính sách kinh tế, thường tác động đến thị trường và tâm lý của nhà đầu tư, cho thấy sự liên kết giữa các yếu tố này và hành vi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

“Phong vũ biểu” phản ánh những vấn đề cơ bản của nền kinh tế vĩ mô, là nơi tiếp nhận và phản ánh nhanh chóng các thông tin kinh tế Theo Nguyễn Văn Mỹ (2007), giá chứng khoán chịu ảnh hưởng từ ba nhân tố, trong đó có nhân tố ngoại sinh như lãi suất và lạm phát Nguyễn Đức Hiển (2012) cũng chỉ ra bốn nhóm nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến quyết định đầu tư, bao gồm tình hình ổn định chính trị, đầu tư trên thị trường vàng và các chính sách kinh tế doanh nghiệp.

Nền kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến tâm lý nhà đầu tư; khi có tín hiệu tích cực như tăng trưởng kinh tế, lạm phát giảm và đầu tư nước ngoài gia tăng, nhà đầu tư sẽ cảm thấy hứng thú hơn Ngược lại, nếu có tín hiệu xấu như bất ổn chính trị và chi phí đầu vào tăng, tâm lý nhà đầu tư sẽ trở nên bất ổn, dẫn đến khả năng họ quyết định bán cổ phiếu.

H2: Thông tin tích cực từ nền kinh tế ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định đầu tư cổ phiếu của các nhà đầu tư cá nhân

2.4.3 Ý kiến của các nhà tư vấn

Nhà tư vấn trong nghiên cứu này bao gồm công ty chứng khoán, chuyên gia phân tích độc lập và quỹ đầu tư chuyên nghiệp, tất cả đều có uy tín và năng lực trong tư vấn đầu tư Malmendier và Shanthikumar (2003) chỉ ra rằng khuyến nghị từ các nhà tư vấn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định đầu tư của cá nhân Các nhà đầu tư thường dựa vào những khuyến nghị này để hỗ trợ quá trình ra quyết định đầu tư cổ phiếu trong ngắn hạn (Krishnan và Booker, 2002).

Trên thị trường chứng khoán, có nhiều loại nhà đầu tư, trong đó một số được đào tạo bài bản về tài chính và có khả năng tự phân tích, đưa ra quyết định đầu tư Tuy nhiên, khảo sát cho thấy hơn 30% nhà đầu tư chưa từng tham gia khóa đào tạo nào, điều này khiến họ phải phụ thuộc vào thông tin từ các nguồn khác, bao gồm ý kiến tư vấn từ công ty chứng khoán, nhà đầu tư chuyên nghiệp và quỹ đầu tư Do đó, ý kiến tư vấn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ quyết định đầu tư của nhiều nhà đầu tư cá nhân.

H3: Ý kiến từ các nhà tư vấn có tác động thuận chiều với quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân

2.4.4 Thông tin phi chính thức

Thông tin phi chính thức là những thông tin chưa được công bố chính thức hoặc không chính xác, thường tồn tại dưới dạng tin đồn hoặc thông tin nội gián Tình trạng này tạo ra sự bất cân xứng thông tin, khi một bên giao dịch nắm giữ nhiều thông tin hơn bên còn lại, dẫn đến lợi thế cho bên có thông tin nhiều hơn Thị trường chứng khoán, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn và cổ phiếu có tính thanh khoản cao, là mục tiêu ưa thích của tin đồn do thiếu minh bạch Nhiều thông tin xuất hiện hàng ngày, cả chính thống và chưa được kiểm chứng, thường được truyền tải qua diễn đàn, nhóm đầu tư hoặc truyền miệng, dễ dàng tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư nhỏ lẻ Những nhà đầu tư này thường thiếu kinh nghiệm và thời gian để kiểm chứng thông tin, nên dễ bị ảnh hưởng bởi các tin đồn tốt hoặc xấu về doanh nghiệp Các tin đồn này không chỉ làm biến động tâm lý nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, khi tin đồn không chính xác được kiểm chứng, giá cổ phiếu có thể phục hồi, tạo cơ hội cho những người tung tin kiếm lời Do đó, thông tin phi chính thức trên thị trường chứng khoán Việt Nam xuất hiện nhiều và tồn tại dưới nhiều hình thức, ảnh hưởng lớn đến tâm lý nhà đầu tư.

Sự xuất hiện của thông tin tích cực từ các nguồn không chính thức về doanh nghiệp niêm yết có ảnh hưởng tích cực đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân Những thông tin này không chỉ tạo dựng niềm tin mà còn thúc đẩy sự quan tâm và quyết định đầu tư của họ, góp phần vào sự phát triển của thị trường chứng khoán.

Tâm lý đám đông là hiện tượng mà cá nhân hành động theo sự dẫn dắt của nhóm, đặc biệt trong thị trường chứng khoán, nơi nhà đầu tư cá nhân thường bắt chước hành động của người khác thay vì dựa vào phân tích và chiến lược riêng (Bikhachandani và Sharma, 2001) Christie và Hwang (1995) cho rằng hành vi bầy đàn thể hiện sự thiếu niềm tin của nhà đầu tư nhỏ lẻ, dẫn đến quyết định đầu tư dựa vào xu hướng thị trường Mặc dù lý thuyết cổ điển cho rằng nhà đầu tư hành động một cách duy lý, thực tế cho thấy trong các cuộc khủng hoảng tài chính, họ thường bỏ qua phân tích và chiến lược đã định, chỉ đơn giản là theo đuổi xu hướng mua bán trên thị trường Điều này cho thấy các lý thuyết tài chính chuẩn không còn đủ để giải thích hành vi của nhà đầu tư trong những tình huống này.

Hành vi đám đông không chỉ ảnh hưởng đến nhà đầu tư non trẻ mà còn cả những nhà đầu tư dày dạn kinh nghiệm trong những tình huống không chắc chắn Khi đối mặt với sự mơ hồ, nhiều nhà đầu tư chọn hành động theo số đông để cảm thấy an tâm hơn, dẫn đến việc họ không cần phân tích hay thu thập thông tin Mặc dù hành vi này giúp ra quyết định nhanh chóng và tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí nghiên cứu, nhưng nó cũng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, như đẩy giá cổ phiếu lên quá cao hoặc quá thấp so với giá trị thực, góp phần gây ra khủng hoảng và biến động bất thường trên thị trường chứng khoán.

H5: Tâm lý đám đông ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân

Quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân được hiểu là hành vi bỏ vốn vào cổ phiếu, phản ánh ý định hành vi theo lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB) Ý định này chịu ảnh hưởng bởi suy nghĩ, nhận định chủ quan và thái độ của nhà đầu tư Quá trình ra quyết định đầu tư là sự xử lý thông tin để đánh giá khả năng và xác suất đầu tư Do đó, quyết định đầu tư phụ thuộc vào các thông tin mà nhà đầu tư tiếp cận, bao gồm yếu tố nội tại của doanh nghiệp niêm yết, thông tin kinh tế, ý kiến tư vấn, thông tin phi chính thức và tâm lý đám đông.

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Dựa vào các giả thuyết trên, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau:

Sơ đồ 2.1 Mô hình nghiên cứu

Yếu tố nội tại của công ty niêm yêt

Thông tin từ nền kinh tế Ý kiến của các nhà tư vấn

Thông tin phi chính thức

Quyết định đầu tư (giao dịch cổ phiếu)

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài và lược khảo các nghiên cứu liên quan để xác định những khe hở nghiên cứu để làm cơ sở xác định các giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm 1 biến phụ thuộc là quyết định đầu tư và 5 biến độc lập bao gồm: (1) Yếu tố nội tại của công ty niêm yết, (2) Thông tin từ nền kinh tế, (3) Ý kiến của nhà tư vấn, (4)Thông tin phi chính thức, (5) Tâm lý đám đông.

PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Phương pháp phân tích dữ liệu

Tác giả đã phát phiếu khảo sát và tiến hành phân tích dữ liệu để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân Phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng bao gồm nhiều kỹ thuật nhằm đảm bảo độ chính xác và khách quan trong kết quả nghiên cứu.

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để trình bày các đặc điểm tổng quát của mẫu nghiên cứu, bao gồm giới tính, độ tuổi, trình độ và kinh nghiệm của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét giá trị tài khoản, động lực tham gia thị trường và tỷ suất lợi nhuận mà nhà đầu tư đạt được trong năm vừa qua.

Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha là một phương pháp quan trọng trong nghiên cứu định lượng, giúp xác định tính phù hợp của các biến quan sát khi nhiều câu hỏi nhỏ được sử dụng để đo lường một nhân tố Việc này đảm bảo rằng các câu hỏi phản ánh đúng khái niệm và tính chất của yếu tố cần đo Khi thực hiện kiểm định Cronbach's Alpha, cần lưu ý hai tiêu chí quan trọng để xác định các biến quan sát phù hợp cho phân tích tiếp theo.

Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là chỉ số quan trọng trong việc đánh giá độ tin cậy của thang đo Nếu hệ số lớn hơn 0,8, thang đo được coi là rất tốt; từ 0,7 đến 0,8, thang đo đạt mức tốt; và nếu hệ số từ 0,6 trở lên, thang đo được xem là đủ điều kiện (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc).

- Hệ số tương quan biến tổng: nếu biến quan sát nào có hệ số tương quan biến tổng < 0,3 sẽ bị loại ra khỏi thang đo

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA giúp tóm tắt và rút gọn các biến quan sát thành những nhóm nhân tố chính, phục vụ cho việc phân tích hoặc kiểm định tiếp theo Các nhân tố được rút gọn và phân bổ lại sẽ mang lại ý nghĩa sâu sắc hơn so với các nhóm nhân tố ban đầu, đặc biệt khi có sự thay đổi trong biến quan sát giữa các nhóm Đồng thời, các nhóm nhân tố này vẫn bao gồm nội dung của tập biến quan sát ban đầu, và EFA được sử dụng để kiểm định giá trị khái niệm của thang đo.

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), để kiểm định có ý nghĩa, cần thực hiện các yêu cầu liên quan một cách đầy đủ.

 Xem xét trị số KMO: giá trị KMO nằm trong khoảng từ 0,5 - 1 thì phân tích nhân tố là thích hợp với các dữ liệu

 Hệ số tải nhân tố: > 0,5

Bằng việc áp dụng phân tích nhân tố khám phá EFA, tác giả mong muốn nhận diện và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

- Yếu tố nội tại của công ty niêm yết

- Thông tin từ nền kinh tế

- Ý kiến của các nhà tư vấn

- Thông tin phi chính thức

Phân tích hồi quy bội

Trong nghiên cứu này, phương pháp hồi quy bội được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp Enter, cho phép các biến được chạy hồi quy đồng thời và phân tích các kết quả thống kê liên quan Quy trình phân tích hồi quy bao gồm nhiều bước quan trọng để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu.

- Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình thông qua hệ số R 2

- Kiểm định khuyết tật: Kiểm định hiện tượng tự tương quan bằng hệ số

Durbin – Watson, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai VIF

- Kiểm định giả thuyết của mô hình nghiên cứu

Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân là rất quan trọng Hệ số beta chuẩn hóa cho biết yếu tố nào có ảnh hưởng lớn hơn trong mô hình nghiên cứu; yếu tố nào có hệ số beta càng lớn thì mức độ ảnh hưởng của nó càng cao so với các yếu tố khác.

Nghiên cứu này nhằm kiểm định sự khác biệt giữa các nhà đầu tư dựa trên các yếu tố như giới tính, thâm niên, độ tuổi, lĩnh vực hoạt động và trình độ học vấn Phân tích sâu ANOVA sẽ được áp dụng để xác định các khác biệt này, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quan về sự ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến quyết định đầu tư.

Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các phiếu khảo sát của nhà đầu tư tại tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh Quy trình phát phiếu khảo sát được thực hiện theo phương pháp phi xác suất, nhằm đảm bảo tính thuận tiện trong việc thu thập thông tin.

Để thực hiện phân tích nhân tố theo tiêu chuẩn năm 1998, số mẫu quan sát tối thiểu cần từ 100 trở lên và tỷ lệ giữa số mẫu quan sát và biến quan sát phải đạt ít nhất 5:1 Trong nghiên cứu này, với 26 biến quan sát, số mẫu tối thiểu phải đạt 130 Khảo sát sẽ được tiến hành qua 2 giai đoạn.

Trong giai đoạn 1, chúng tôi sẽ thiết kế bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát thông qua phỏng vấn trực tiếp khoảng 10 – 20 nhà đầu tư Mục đích của giai đoạn này là phát hiện các sai sót trong thiết kế bảng câu hỏi và bổ sung những yếu tố chưa được đề cập Thời gian thực hiện cho giai đoạn này là 10 ngày.

Giai đoạn 2 bao gồm việc hoàn thiện bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát chính thức với mục tiêu thu thập ý kiến từ 200 nhà đầu tư, trong đó tối thiểu 130 phản hồi Khảo sát sẽ được thực hiện qua hai hình thức: gặp trực tiếp để phát bảng câu hỏi hoặc gửi qua email.

Quy trình xử lý dữ liệu

Dữ liệu sau khi thu thập được đã tiến hành nghiên cứu theo quy trình như sau:

Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi

Dựa trên mô hình nghiên cứu ở chương 2, mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm

Trong nghiên cứu này, có một biến phụ thuộc và năm biến độc lập Mỗi biến sẽ được đo lường thông qua các biến quan sát, cụ thể là những câu hỏi khảo sát dành cho các nhà đầu tư.

Biến phụ thuộc trong quyết định đầu tư bao gồm ba biến quan sát chính: quyết định mua cổ phiếu, quyết định nắm giữ cổ phiếu trong ngắn hạn và niềm tin vào việc giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai.

Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu

Kiểm định thang đo Cronbach’s

Phân tích nhân tố EFA

Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm nhà đầu tư cá nhân

Thang đo yếu tố nội tại của công ty niêm yết bao gồm bảy quan sát đánh giá các khía cạnh khác nhau như minh bạch thông tin, kết quả kinh doanh, cổ tức, tỷ lệ sở hữu của các tổ chức và cổ đông lớn, các tỷ số tài chính, kế hoạch vận hành công nghệ mới hoặc ra mắt sản phẩm mới, cùng với giao dịch cổ phiếu của cổ đông lớn và cổ đông nội bộ.

Thang đo thông tin từ nền kinh tế bao gồm 5 biến quan sát quan trọng, đánh giá tình hình vĩ mô trong và ngoài nước Những biến này bao gồm các chính sách kinh tế của nhà nước, sự ổn định của môi trường chính trị, biến động giá cả trên thị trường, tình hình đầu tư vào thị trường vàng, và sự biến động của thị trường chứng khoán ở các quốc gia khác.

Thang đo ý kiến của các nhà tư vấn được xây dựng dựa trên bốn biến quan sát chính: nhận định từ các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp, khuyến nghị của các môi giới chứng khoán, báo cáo phân tích thị trường, và tư vấn đầu tư từ các chuyên gia phân tích đầu tư chứng khoán.

Thang đo thông tin phi chính thức bao gồm năm biến quan sát quan trọng: thông tin nội gián, tin đồn từ người khác, thông tin từ những người định giá chứng khoán, thông tin trên các diễn đàn chứng khoán, và thông tin tự thu thập.

Thang đo yếu tố tâm lý đám đông bao gồm bốn biến quan sát quan trọng: giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động giao dịch của các nhà đầu tư lớn hoặc quỹ đầu tư, dư mua của cổ phiếu, và lời giới thiệu từ những người đã tư vấn thành công trong quá khứ Ngoài ra, tham khảo ý kiến của người khác trước khi đưa ra quyết định cũng là một yếu tố cần thiết.

Các biến quan sát trong mô hình sẽ được đo lường theo thang đo Likert 5 mức độ: (1) Hoàn toàn không đồng ý, (2) Không đồng ý, (3) Không ý kiến, (4) Đồng ý,

3.4.2 Xây dựng bảng câu hỏi

Các biến quan sát theo từng thang đo được lượng hóa thành những câu hỏi cụ thể như sau:

3.4.2.1 Yếu tố nội tại của công ty niêm yết

Các biến quan sát đo lường yếu tố nội tại của công ty niêm yết được lượng hóa thành những câu hỏi như sau:

Bảng 3.1 Các biến đo lường yếu tố nội tại của công ty niêm yết

A1 Ông/bà quan tâm cổ phiếu công ty A nếu công ty A có uy tín trong việc minh bạch thông tin

A2 Ông/bà quan tâm cổ phiếu công ty A nếu kết quả kinh doanh của công ty thuận lợi, đạt kế hoạch đề ra

A3 Ông/bà quan tâm cổ phiếu công ty A nếu công ty chia cổ tức bằng tiền mặt đều đặn

A4 Ông/bà quan tâm đến tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn đối với cổ phiếu công ty A

A5 Ông/bà quan tâm cổ phiếu công ty A nếu như các tỷ số tài chính

(khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, P/E…) này có xu hướng tốt lên

A6 Thông tin doanh nghiệp vận hành một công nghệ mới hoặc cho ra đời một sản phẩm mới sẽ thu hút sự quan tâm của ông/bà

A7 Giao dịch cổ phiếu của các cổ đông nội bộ sẽ thu hút sự quan tâm của ông/bà

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

3.4.2.2 Thông tin nền kinh tế

Các biến quan sát đo lường thông tin nền kinh tế được lượng hóa thành những câu hỏi như sau:

Bảng 3.2 Các biến đo lường thông tin nền kinh tế vĩ mô

Những chính sách kinh tế của nhà nước nới lỏng về cơ chế kinh doanh cho doanh nghiệp sẽ thúc đẩy ông bà mua cổ phiếu doanh nghiệp đó

B2 Sự ổn định của môi trường chính trị quốc gia và khu vực là một yếu tố cần được quan tâm

B3 Ông/bà quan tâm đến tình hình kinh doanh trên thị trường vàng

B4 Ông/bà quan tâm cổ phiếu công ty A nếu tình hình chung của ngành đang tốt lên

B5 Thị trường chứng khoán các quốc gia khác tăng trưởng sẽ thúc đẩy ông bà mua cổ phiếu

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

3.4.2.3 Ý kiến của các nhà tư vấn

Các biến quan sát phản ánh ý kiến tư vấn của công ty chứng khoán và các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp đã được chuyển hóa thành những câu hỏi cụ thể để dễ dàng đo lường và phân tích.

Bảng 3.3 Các biến đo lường ý kiến nhà tư vấn

C1 Ông/bà quan tâm cổ phiếu công ty A nếu như các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp nhận định tốt

C2 Ông/bà quan tâm cổ phiếu công ty A theo khuyến nghị của môi giới

C3 Ông/bà quan tâm cổ phiếu A theo các báo cáo phân tích thị trường của các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp

C4 Ông/bà quan tâm cổ phiếu A theo những tư vấn của các chuyên gia phân tích đầu tư chứng khoán đã có những nhận định đúng trong quá khứ

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

3.4.2.4 Thông tin phi chính thức

Các biến quan sát đo lường thông tin phi chính thức được lượng hóa thành những câu hỏi như sau:

Bảng 3.4 Các biến đo lường thông tin phi chính thức

D1 Ông/bà quan tâm cổ phiếu A theo những thông tin nội gián tích cực từ người quen

D2 Ông/bà quan tâm cổ phiếu A khi có những tin đồn tích cực về doanh nghiệp

D3 Ông/bà quan tâm cổ phiếu A khi có thông tin từ những người làm giá chứng khoán

D4 Ông bà luôn tìm hiểu thông tin từ các website, diễn đàn… về cổ phiếu A trước khi đưa ra quyết định

D5 Ông/bà dựa vào các nguồn thông tin không chính thức (diễn đàn, bạn bè, tin đồn…) để đưa ra hành động

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Các biến quan sát đo lường tâm lý đám đông được lượng hóa thành những câu hỏi như sau:

Bảng 3.5 Các biến đo lường yếu tố tâm lý đám đông

E1 Ông/bà quan tâm cổ phiếu công ty A khi có những nhà đầu tư nước ngoài đang mua cổ phiếu đó

E2 Ông/bà luôn tham khảo quyết định của người khác khi tiến hành đầu tư

E3 Ông/bà quan tâm cổ phiếu A khi có lời giới thiệu từ những người đã tư vấn đúng cho ông/bà trong quá khứ

E4 Ông/bà quan tâm cổ phiếu A khi cổ phiếu A có thanh khoản lớn hoặc có dư mua cổ phiếu với số lượng lớn

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Các biến quan sát đo lường quyết định đầu tư được lượng hóa thành những câu hỏi như sau:

Bảng 3.6 Các biến đo lường quyết định đầu tư

F1 Ông/bà muốn mua cổ phiếu A (2012) Thảo Lý và

F2 Ông/bà tiếp tục nắm giữ cổ phiếu A

F3 Ông/bà tin rằng giá cổ phiếu A sẽ tăng trong tương lai

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Chương 3 trình bày các phương pháp sẽ được dùng để phân tích trong nghiên cứu, cụ thể bao gồm các bước: Phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy và phân tích sâu ANOVA Dữ liệu trong nghiên cứu này được thu thập theo phương pháp phi xác suất, thuận tiện Tổng số nhà đầu tư đủ điều kiện để phân tích là 210 nhà đầu tư, số lượng như vậy là đạt yêu cầu Ngoài ra, chương này còn đi xây dựng thang đo cho các biến trong mô hình nghiên cứu Theo đó, thang đo quyết định đầu tư bao gồm 3 biến quan sát, thang đo yếu tố nội tại của công ty niêm yết bao gồm 7 biến quan sát, thang đo thông tin từ nền kinh tế bao gồm 5 biến quan sát, thang đó ý kiến của nhà tư vấn bao gồm 4 biến quan sát, thang đo thông tin phi chính thức bao gồm

5 biến quan sát và thang đo tâm lý đám đông bao gồm 4 biến quan sát.

KIỂM ĐỊNH MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ DẪN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁC NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Ngày đăng: 04/10/2023, 11:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu dữ liệu  3.4 Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu dữ liệu 3.4 Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi (Trang 34)
Bảng 3.1 Các biến đo lường yếu tố nội tại của công ty niêm yết - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.1 Các biến đo lường yếu tố nội tại của công ty niêm yết (Trang 36)
Bảng 3.6 Các biến đo lường quyết định đầu tư - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.6 Các biến đo lường quyết định đầu tư (Trang 38)
Bảng 4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu (Trang 40)
Bảng 4.2 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha yếu tố nội tại - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.2 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha yếu tố nội tại (Trang 43)
Bảng 4.4 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha lần 2 - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.4 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha lần 2 (Trang 44)
Bảng 4.3 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha biến thông tin từ nền kinh tế - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.3 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha biến thông tin từ nền kinh tế (Trang 44)
Bảng 4.5 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha biến ý kiến tư vấn  Trung bình thang - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.5 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha biến ý kiến tư vấn Trung bình thang (Trang 45)
Bảng 4.8 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha biến tâm lý đám đông - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.8 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha biến tâm lý đám đông (Trang 46)
Bảng 4.7 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha lần 2 - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.7 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha lần 2 (Trang 46)
Bảng 4.13 Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát với nhân tố đại  diện - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.13 Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát với nhân tố đại diện (Trang 50)
Bảng 4.17 Hệ số hồi quy mô hình và thống kê đa cộng tuyến - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.17 Hệ số hồi quy mô hình và thống kê đa cộng tuyến (Trang 54)
Bảng 4.21 Phân tích ANOVA về sự khác nhau về trình độ của nhà đầu tư - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.21 Phân tích ANOVA về sự khác nhau về trình độ của nhà đầu tư (Trang 59)
Bảng 4.22 Phân tích ANOVA về sự khác nhau về kinh nghiệm của nhà đầu tư - Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến quyết định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.22 Phân tích ANOVA về sự khác nhau về kinh nghiệm của nhà đầu tư (Trang 60)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm