Từ đây, một số nghiên cứu cho rằng các NHTM sau sáp nhập có quy mô lớn hơn và đủ khả năng để cạnh tranh với các NH khác nhưng khi quy mô ngân hàng lớn sẽ khuyến khích các ngân hàng chấp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN MINH HÀ
Trang 3Hiệu quả hoạt động của các NHTM luôn là một trong những vấn đề quan trọng nhất của nền kinh tế bởi ngân hàng có thể được xem là trái tim của nền kinh tế Hoạt động như thế nào để đạt được hiệu quả mà vẫn đảm bảo rủi ro tín dụng thấp nhất luôn
là một đòi hỏi gần như bắt buộc đối với tất cả các NHTM Bên cạnh đó sự gia tăng về
số lượng các NHTM cũng như sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thì yêu cầu này lại càng quan trọng hơn Hiệu quả hoạt động của ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng cần có quy mô đủ mạnh để có thể tồn tại và phát triển mà vẫn đảm bảo mức độ rủi ro tín dụng trong giới hạn cho phép là một câu hỏi không dễ có câu trả lời
Nghiên cứu về tác động của quy mô ngân hàng với nợ xấu đã trả lời được câu hỏi khá khó khăn này Với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu (NPL) và các biến giải thích chính là đại diện cho quy mô của ngân hàng xét trên nhiều phương diện như quy mô vốn hóa (EQUITY) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL, quy mô đa dạng hóa hoạt động (STL) ) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL, quy mô cạnh tranh (LERNER) )
có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL, quy mô tài sản (SIZE) ) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL, quy mô thị phần(HHI) ) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL cũng như các biến kiểm soát có ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu gồm tỉ lệ dư nợ của ngân hàng (L_TA) có ảnh hưởng ngược chiều (-) với NPL, tăng trưởng tài sản (A_GROW)
có ảnh hưởng ngược chiều (-) với NPL, tăng trưởng dư nợ (L_GROW) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL , tỉ lệ dư nợ cho vay (LTD) có ảnh hưởng ngược chiều (-) với NPL và tỉ lệ thu nhập ngoài lãi (NII) có ảnh hưởng ngược chiều (-) với NPL Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy chính là SGMM đã cho một kết quả khá có ý nghĩa
về ảnh hưởng của quy mô ngân hàng đến nợ xấu
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra quy mô ngân hàng có những khía cạnh ảnh hưởng tích cực đến việc làm giảm nợ xấu và có những khía cạnh ảnh hưởng tiêu cực đến việc gia tăng nợ xấu Điều này cũng xảy ra với các biến kiểm soát khi có những biến kiểm soát ảnh hưởng cùng chiều với nợ xấu và có những biến kiểm soát ngược chiều với nợ xấu
Trang 4The aim of this study is to investigate the effects of bank scale as such as capitalization scale, competitive scale, asset size, market share scale, scale of operational diversification to non performing loan (NPL) With the dependent variable
is the non performing loan (NPL) and the explanatory variables are representative of the size of the bank in many aspects such as capitalization scale (EQUITY) which has
a positive impact (+) on NPL, scale of operational diversification (STL) has a positive impact (+) with NPL, competitive scale (LERNER)) has the same directional impact (+) with NPL, asset size (SIZE)) having a positive influence (+) on NPL, market share scale (HHI)) has a positive influence (+) on NPL as well as controlling variables affecting bad debt ratio including loan outstanding ratio (L_TA) has the opposite effect (-) with the NPL, asset growth (A_GROW) has the opposite effect (-) with the NPL, debt growth (L_GROW) has the same positive impact (+) with the NPL , the ratio of loan outstanding (LTD) has the opposite effect (-) with NPL and the ratio of non-interest income (NII) has the opposite effect (-) with the NPL The study using the main regression method, SGMM, gave a significant result on the effect of bank scale
on NPL
Research results have shown that the bank scale has positive aspects to reduce NPL and there aspects are negatively affect to increase in NPL This also happens with control variables when there control variables impact positive with NPL and the others impact opposite with NPL
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Tác động của quy mô ngân hàng đến nợ xấu của
các ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 3 năm 2019
Tác giả luận văn
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, lời đầu tiên tôi chân thành bày tỏ sự biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Minh Hà về tất cả sự hướng dẫn hết sức tận tình của thầy, thầy đã có những gợi ý quan trọng về nội dung cũng như phương pháp để thực hiện luận văn này trong suốt thời gian từ khi thực hiện đề cương cho đến lúc hoàn thành luận văn này
Đồng thời qua quá trình học tập, tôi cũng xin cảm ơn các thầy, cô ở Trường Đại học Mở Tp.Hồ Chí Minh đã giảng dạy cho tôi những kiến thức rất quí báu trong tất cả các môn học để tôi có được những kiến thức quan trọng, giúp cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập, quá trình thực hiện luận văn và trong công việc cũng như trong cuộc sống của bản thân mình
Lời cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những ý kiến ủng
hộ, động viên từ gia đình đặc biệt là MẸ tôi cũng như gia đình nhỏ của tôi cũng như bạn bè đã ủng hộ giúp đỡ cho tôi có động lực để hoàn thành luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh,ngày 20 tháng 03 năm 2019
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 7TÓM TẮT
Hiệu quả hoạt động của các NHTM luôn là một trong những vấn đề quan trọng nhất của nền kinh tế bởi ngân hàng có thể được xem là trái tim của nền kinh tế Hoạt động như thế nào để đạt được hiệu quả mà vẫn đảm bảo rủi ro tín dụng thấp nhất luôn là một đòi hỏi gần như bắt buộc đối với tất cả các NHTM Bên cạnh đó sự gia tăng về số lượng các NHTM cũng như sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thì yêu cầu này lại càng quan trọng hơn Hiệu quả hoạt động của ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng cần có quy mô đủ mạnh để có thể tồn tại và phát triển mà vẫn đảm bảo mức độ rủi ro tín dụng trong giới hạn cho phép là một câu hỏi không dễ có câu trả lời
Nghiên cứu về tác động của quy mô ngân hàng với nợ xấu đã trả lời được câu hỏi khá khó khăn này Với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu (NPL) và các biến giải thích chính là đại diện cho quy mô của ngân hàng xét trên nhiều phương diện như quy mô vốn hóa (EQUITY) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL, quy mô đa dạng hóa hoạt động (STL) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL, quy mô cạnh tranh (LERNER) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL, quy mô tài sản (SIZE) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL, quy mô thị phần(HHI) có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL cũng như các biến kiểm soát có ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu gồm tỉ lệ dư nợ của ngân hàng (L_TA) có ảnh hưởng ngược chiều (-) với NPL, tăng trưởng tài sản (A_GROW) có ảnh hưởng ngược chiều (-) với NPL, tăng trưởng dư nợ (L_GROW)
có ảnh hưởng cùng chiều (+) với NPL , tỉ lệ dư nợ cho vay (LTD) có ảnh hưởng ngược chiều (-) với NPL và tỉ lệ thu nhập ngoài lãi (NII) có ảnh hưởng ngược chiều (-) với NPL Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy chính là SGMM đã cho một kết quả khá có ý nghĩa về ảnh hưởng của quy mô ngân hàng đến nợ xấu
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra quy mô ngân hàng có những khía cạnh ảnh hưởng tích cực đến việc làm giảm nợ xấu và có những khía cạnh ảnh hưởng tiêu cực đến việc gia tăng nợ xấu Điều này cũng xảy ra với các biến kiểm soát khi có những biến kiểm soát ảnh hưởng cùng chiều với nợ xấu và có những biến kiểm soát ngược chiều với nợ xấu
Trang 8MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh mục hình và đồ thị viii
Danh mục bảng ix
Danh mục từ viết tắt x
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 4
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5.2 Dữ liệu nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 5
1.7 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1 Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng 7
2.2 Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng 8
2.2.1 Định nghĩa nợ xấu 8
2.2.2 Phân loại theo nghiệp vụ ngân hàng 9
2.2.2.1 Phân loại nợ theo phương pháp định lượng 10
Trang 92.2.2.2 Phân loại nợ theo phương pháp định tính 11
2.2.3 Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: 12
2.3 Mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và nợ xấu 12
2.3.1 Quy mô ngân hàng 12
2.3.2 Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ 14
2.3.3 Quy mô vốn hóa 14
2.3.4 Quy mô đa dạng hóa hoạt động 15
2.3.5 Quy mô cạnh tranh 15
2.3.6 Quy mô tài sản 18
2.3.7 Quy mô thị phần 18
2.3.8 Các biến kiểm soát đại diện cho đặc trưng của ngân hàng 19
2.4 Các nghiên cứu đi trước 22
2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài 22
2.4.2 Nghiên cứu trong nước 25
2.5 Tóm tắt chương 2 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Quy trình nghiên cứu 28
3.2 Mô hình nghiên cứu 28
3.3 Dữ liệu và phương pháp xử lý dữ liệu 35
3.3.1 Dữ liệu 35
3.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 35
3.3.2.1 Kiểm định tính dừng của dữ liệu bảng 37
3.3.2.2 Kiểm định tự tương quan của phần dư 37
3.3.2.3 Kiểm tra tính phù hợp của các biến công cụ 37
Trang 103.4 Tóm tắt chương 3 38
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Thực trạng mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và nợ xấu của các ngân hàng 39
41.1 Tổng quan về nợ xấu của các NHTM giai đoạn 2007-2017 39
4.1.2 Mối quan hệ giữa quy mô vốn hóa và nợ xấu 40
4.1.3 Mối quan hệ giữa quy mô đa dạng hóa hoạt động và nợ xấu 42
4.1.4 Mối quan hệ giữa quy mô cạnh tranh và nợ xấu 43
4.1.5 Mối quan hệ giữa quy mô tài sản và nợ xấu 45
4.1.6 Mối quan hệ giữa quy mô thị phần và nợ xấu 46
4.2 Phân tích thống kê mô tả trong mô hình 48
4.3 Phân tích tương quan và đa cộng tuyến 51
4.4 Kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy 54
4.4.1 Kết qủa kiểm định lựa chọn mô hình 54
4.4.2 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi 55
4.4.3 Kết quả hồi quy với phương pháp SGMM 56
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 60
4.5.1 Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ ( NPL ) 60
4.5.2 Quy mô vốn hóa (EQUITY) 61
4.5.3 Quy mô đa dạng hóa hoạt động( STL) 62
4.5.4 Quy mô cạnh tranh ( LERNER) 63
4.5.5 Quy mô tài sản ( SIZE) 63
4.5.6 Quy mô thị phần ( HHI) 64
4.5.7 Tỉ lệ dư nợ của ngân hàng ( L_TA) 65
4.5.8 Tăng trưởng tài sản ( A_GROW ) 66
Trang 114.5.9 Tăng trưởng dư nợ (L_GROW ) 66
4.5.10 Tỉ lệ dư nợ cho vay( L_ TD ) 67
4.5.11 Tỉ lệ thu nhập ngoài lãi ( NII ) 67
4.6 Tóm tắt chương 4 67
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Kiến nghị 70
5.3 Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 74
5.3.1 Hạn chế của đề tài 74
5.3.2 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 74
Trang 12DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 4.2: Quy mô vốn hóa và nợ xấu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 –
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu 32
Bảng 4.1 Thống kê mô tả 48
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan 52
Bảng 4.3 Hệ số VIF 53
Bàng 4.4 Kết quả hồi quy bằng phương pháp SGMM trên từng loại quy mô…… 57 Bảng 4.5 Kết quả hồi quy bằng các phương pháp hồi quy với biến phụ thuộc NPL 58
Trang 16CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Chương 1 sẽ giới thiệu lý do thực hiện nghiên cứu và phác thảo một cách tổng quan các bước cần thực hiện cho nghiên cứu gồm mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Cuối cùng sẽ đưa ra ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu luận văn
1.1 Lý do nghiên cứu
Đối với các tổ chức tín dụng, nợ xấu luôn là một yếu tố không thể tránh khỏi bởi hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2008 nợ xấu đã trở thành một chủ đề nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của không chỉ các nhà nghiên cứu mà còn các nhà hoạch định chính sách Theo Louzis và cộng sự (2012), nợ xấu có thể đóng vai trò như một dấu hiệu cảnh báo cho một cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai nếu nó không được theo dõi
và xử lý kịp thời Nợ xấu phản ánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng đồng thời cũng cho thấy được mối quan hệ của nó với quy mô của các ngân hàng trên nhiều khía cạnh khác nhau (Malgorzata Pawlowska, 2016)
Tại Việt Nam, hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò quan trọng trong việc luân chuyển luồng vốn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội Tuy nhiên, trong giai đoạn 2007 - 2010 với việc bong bóng bất động sản nổ
ra cùng với khủng hoàng toàn cầu 2007- 2008 đã làm cho nợ xấu tại các NHTM không ngừng gia tăng, trở thành một gánh nặng cho toàn hệ thống ngân hàng Theo Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong suốt giai đoạn từ
2008 - 2014, tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành ngân hàng luôn ở mức trên 3% ngoại trừ một số năm như 2007, 2009 và gần đây nhất với sự cố gắng kiểm soát chất lượng tín dụng của NHNN thì tỷ lệ nợ xấu đã có chiều hướng giảm và kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra (dưới 3%) Tính đến cuối tháng 12/2016 tỷ lệ nợ xấu toàn ngành là 2,46%, giảm nhẹ so với 2015 là 2,55% Tháng 04/2012, NHNN ra Quyết định 780/QĐ- NHNN cho phép các tổ chức tín dụng được điều chỉnh kì hạn trả nợ,
và gia hạn nợ đối với những doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ Tháng
Trang 1706/2013, NHNN ra Quyết định 1459/QĐ-NHNN thành lập Công ty Quản lý tài sản (VAMC) với một số chức năng chính là mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng, cơ cấu lại khoản nợ chỉnh, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn
cổ phần của khách hàng vay Các quyết định này của NHNN nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp và tháo gỡ các vấn đề nợ xấu đồng thời cũng là công cụ giúp các tổ chức tín dụng giảm đi tỷ lệ nợ xấu thực tế Như vậy, tỷ lệ nợ xấu trên thực tế của các tổ chức tín dụng có thể còn lớn hơn nhiều Gần đây nhất vào năm 2015, NHNN đã tiến hành mua lại 3 NHTM gồm Xây dựng Việt Nam, Dầu khí toàn cầu và Đại Dương
Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh giữa các NHTM với nhau cũng như với các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước để vừa duy trì hiệu quả hoạt động vừa xử lý nợ xấu đã và đang gây ra không ít khó khăn cho các NHTM Cạnh tranh giữa các NHTM được xem xét trên nhiều khía cạnh như nguồn vốn, kinh nghiệm quản lý, nhân lực, công nghệ và khả năng cung ứng dịch vụ có thể được hiểu là quy mô ngân hàng Cạnh tranh có thể dẫn đến một môi trường tài chính phát triển ổn định hơn khi
mà các ngân hàng vừa và nhỏ sẽ buộc phải sáp nhập với các ngân hàng lớn thông qua quá trình sáp nhập và mua lại (M&A) làm cho số lượng ngân hàng bị thu hẹp lại nhưng quy mô của các ngân hàng lại lớn hơn Các thương vụ M&A tiêu biểu trong
hệ thống ngân hàng gồm MHB - BIDV, Mekong Bank - Maritime Bank và Southern Bank - Sacombank Habubank - SHB; Đại Á - HDBank
Từ đây, một số nghiên cứu cho rằng các NHTM sau sáp nhập có quy mô lớn hơn và đủ khả năng để cạnh tranh với các NH khác nhưng khi quy mô ngân hàng lớn
sẽ khuyến khích các ngân hàng chấp nhận nhiều rủi ro hơn để tìm kiếm lợi nhuận và điều này có thể gây ra bất ổn cho hệ thống cụ thể là nợ xấu của các NH sẽ tăng lên (Kouki và l-Nasser, 2014; Kasman và Kasman, 2015) Tuy nhiên, có một số nghiên cứu lại không đồng ý với nhận định này và cho rằng khi các NH có quy mô càng lớn sẽ càng có cơ hội để cạnh tranh với các NH khác về mức lãi suất cho vay cũng như thắt chặt hơn về các quy định liên quan, vấn đề "Too big to fail" (Quá lớn nên không thể bị phá sản) ít được quan tâm hơn và do đó làm giảm rủi ro hệ thống dẫn đến nợ xấu sẽ được kiểm soát tốt hơn (Boyd và De Nicolo, 2005; Schaek và
cọ ng sự, 200 ; bid và cộng sự , 2014)
Trang 18Nghiên cứu của Bùi Duy Tùng và Đặng Thị Bạch Vân (2015) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu của các NHTM tác động ngược chiều với quy mô ngân hàng trên khía cạnh tổng tài sản của ngân hàng Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015) trong nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nợ xấu của các NHTM đã chỉ ra rằng các NH có quy mô càng lớn sẽ càng dễ dàng đa dạng hoá danh mục cho vay dẫn đến làm giảm tỷ lệ nợ xấu, đồng thời các ngân hàng có quy mô lớn
sẽ sử dụng lợi thế "Too big to fail " để gia tăng đòn bẩy tài chính của mình và cho vay với chất lượng thấp dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao Tuy nhiên, nghiên cứu của các tác giả vẫn còn tồn tại những vấn đề chưa được giải quyết như : (1) Quy mô ngân hàng có ảnh hưởng đến nợ xấu nhưng quy mô ngân hàng gồm khá nhiều khía cạnh trong đó có những khía cạnh tác động tích cực, tiêu cực đến nợ xấu cụ thể là gì; (2) Các nghiên cứu chỉ xem xét nợ xấu chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào chứ chưa chỉ rõ vai trò của quy mô ngân hàng với nợ xấu Chính từ những lý do này đã
thôi thúc tác giả thực nghiên cứu "Tác động của quy mô ngân hàng đến nợ xấu
của các ngân hàng thương mại Việt Nam" để khắc phục những tồn đọng còn thiếu
sót của các nghiên cứu đi trước
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung vào giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau:
- Xác định được các yếu tố thuộc về quy mô ngân hàng tác động đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về quy mô ngân hàng đến
nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp cho công tác quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, để tài trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Các yếu tố nào thuộc về quy mô có ảnh hưởng đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam?
Trang 19- Mức độ tác động của các yếu tố quy mô ngân hàng đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?
- Các giải pháp nào dùng để hạn chế được nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quy mô và nợ xấu của các ngân hàng thương mại
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn từ 2007– 2017
1.5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử đụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng vào bài nghiên cứu, cụ thể:
Phương pháp định lượng: Phần mềm ST T trong pha n tích định lu ợng
đu ợc sử dụng để xa y dựng các mo hình pha n tích hồi quy cho dữ liẹ u dạng bảng nhằm xem xét mối quan hẹ giữa quy mô ngân hàng và nợ xấu Tỷ lẹ nợ xấu (NPL)
là biến phụ thuọ c đo lu ờng nợ xấu của các NHTM Các biến nhu đại diện cho quy
mo ngân hàng trên các khía cạnh khác nhau gồm quy mô vốn hoá, quy mô đa dạng hoá hoạt động, quy mô cạnh tranh, quy mô tài sản, quy mô thị phần là các biến giải thích của mô hình Các biến kiểm soát của mô hình gồm tỉ lệ dư nợ của ngân hàng, tăng trưởng tài sản, tăng trưởng dư nợ, tỉ lệ dư nợ cho vay, tỉ lệ thu nhập ngoài lãi Trong quá trình nghie n cứu, phu o ng pháp dữ liẹ u bảng đọ ng moment tổng quát hẹ thống (S-GMM) hai bu ớc sẽ đu ợc sử dụng để khắc phục hiẹ n tu ợng nọ i sinh, phu o ng sai thay đổi và tự tu o ng quan của mo hình
Trang 201.5.2 Dữ liệu nghiên cứu
Đối với dữ liẹ u pha n tích, tác giả xem xét dữ liẹ u ở dạng thứ cấp của các NHTM Viẹ t Nam bao gồm khối NHTM Nhà nu ớc và khối NHTM cổ phần, thời kỳ lấy mẫu là trong giai đoạn từ na m 2007 đến na m 2017 (11 na m) Các nga n hàng
đu ợc tham gia lấy mẫu là phần dữ liẹ u thu thạ p từ báo cáo tài chính, báo cáo thu ờng nie n và bản cáo bạch của các nga n hàng thu o ng mại tại Viẹ t Nam – là dữ liẹ u đã
đu ợc kiểm toán và đu ợc co ng bố co ng khai với Nga n hàng Nhà nu ớc và Ủy ban chứng khoán Nhà nu ớc Be n cạnh đó, nguồn dữ liẹ u kinh tế vĩ mo và chỉ số thị tru ờng giai đoạn 2007 – 2017 đu ợc thu thạ p từ cổng tho ng tin điẹ n tử của ebsite của Nga n hàng Thế giới ( orldbank.org) và Quỹ Tiền tẹ Quốc tế (IM ) Tuy nhie n, để kết quả chính xác và mang tính đại diẹ n, viẹ c chọn lựa dữ liẹ u dựa tre n những nguye n tắc: (1) Thời gian nghie n cứu là 11 na m từ na m 2007 đến na m 2017
và (2) Dữ liẹ u phải có tính lie n tục tối thiểu 05 na m
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Với nghiên cứu về "Tác động của quy mô ngân hàng đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam" tác giả sẽ bổ sung thêm về mặt lý luận các lý thuyết về quy mô ngân hàng và nợ xấu Về mặt thực tiễn, đề tài sẽ cung cấp thêm các bằng chứng khác nhau của quy mô ngân hàng trong việc ảnh hưởng đến nợ xấu bao gồm những khía cạnh tích cực và tiêu cực Từ đó, các ngân hàng với quy mô lớn sẽ chọn lựa gia tăng quy mô theo những khía cạnh nào để mang lại hiệu quả hoạt động tốt nhất mà vẫn đảm bảo nợ xấu ở mức cho phép
1.7 Kết cấu của Luận văn
Nghiên cứu gồm 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Nọ i dung chu o ng là ne u bạ t le n
tính cấp thiết của đề tài và dựa tre n các nghie n cứu đi tru ớc để đu a ra đu ợc chủ đề nghie n cứu cho luạ n va n Đồng thời, chu o ng này cũng trình bày khái quát về mục tie u nghie n cứu, phu o ng pháp nghie n cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trong chu o ng 2, luạ n va n
sẽ trình bày các khái niẹ m có lie n quan đến nợ xấu, quy mô ngân hàng và co sở lý thuyết cho mối quan hẹ giữa nợ xấu và quy mô của các nga n hàng thu o ng mại Mạ t
Trang 21khác, luạ n va n cũng tham khảo các nghie n cứu tru ớc đa y nhằm xa y dựng mo hình thực nghiẹ m và kỳ vọng dấu cho tác động của quy mô ngân hàng đến nợ xấu của các nga n hàng ở chu o ng 3
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chu o ng này sẽ tạ p trung xa y dựng mo
hình nghie n cứu cho tác đọ ng của quy mô ngân hàng đến nợ xấu nga n hàng Đồng thời, luạ n va n cũng xa y dựng kỳ vọng nghie n cứu và phu o ng pháp xử lý dữ liẹ u
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chu o ng 4 bao gồm hai nọ i dung
chính, phần thứ nhất của chu o ng trình bày về thực trạng quy mô và nợ xấu của các nga n hàng thu o ng mại Viẹ t Nam; phần thứ hai sẽ vận dụng mo hình đã xa y dựng ở chu o ng 2 để pha n tích tác đọ ng quy mô ngân hàng đến nợ xấu tho ng qua nghie n cứu định lu ợng
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Nọ i dung của chu o ng này sẽ tóm lu ợc kết
quả nghie n cứu gắn với các mục tie u nghie n cứu đã đề ra của luạ n va n, từ đó sẽ đu a
ra mọ t số kiến nghị nhằm na ng cao quy mô ngân hàng một cách phù hợp và giảm thiểu nợ xấu của các nga n hàng thu o ng mại Viẹ t Nam Đồng thời, luạ n va n cũng sẽ
đu a ra mọ t số hạn chế chu a giải quyết đu ợc ở chu o ng này
Trang 22CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 nghiên cứu tập trung giới thiệu các cơ sở lý thuyết về quy mô và nợ xấu ngân hàng Từ đó đưa ra mối quan hệ giữa các khía cạnh quy mô khác nhau với
nợ xấu Dựa trên các nghiên cứu đi trước gồm trong và ngoài nước tác giả sẽ đề xuất mô hình thực nghiệm cho nghiên cứu của mình
2.1 Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Theo Bessis (2002), rủi ro ngân hàng là những ảnh hưởng bất lợi đến lợi nhuận ngân hàng từ những điều không chắc chắn Các rủi ro phổ biến đối với các tổ chức tài chính gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, rủi ro tiền tệ, rủi ro lãi suất và rủi ro quốc gia
Theo cách phân loại của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, rủi ro ngân hàng có thể được chia thành ba loại chính: rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường Trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn chỉ phân tích rủi ro tín dụng
Khái niệm rủi ro tín dụng
Valsamakis và cộng sự (2010) cho rằng, rủi ro tín dụng (RRTD) là rủi ro mà một hợp đồng tài chính sẽ không được thực hiện theo thỏa thuận Đó là rủi ro về lợi nhuận hoặc nguồn vốn do sự chậm trễ và không trả nợ đúng hạn của người vay Rủi
ro tín dụng phát sinh do các luồng tiền dự kiến từ các khoản vay và chứng khoán không được thanh toán đầy đủ
Theo định nghĩa của The World Bank, rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng
Rủi ro tín dụng được xem là rủi ro nguy hiểm nhất mà ngân hàng phải đối mặt (Eddie Cade, 1999) Theo Faure (2005), rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất mà ngân hàng phải đối mặt và có thể trở nên cực kỳ tốn kém không chỉ do sự mất mát vốn gốc mà còn mất thời gian và chi phí để lấy lại số tiền bị mất
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 "RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực
Trang 23hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết" Hiểu theo nghĩa rộng, RRTD là rủi ro trong quá trình cho vay của ngân hàng, khoản cho vay không được hoàn trả kịp thời như thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng hay trả không đủ vốn và lãi khi đến hạn RRTD diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, của ngân hàng
2.2 Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
2.2.1 Định nghĩa nợ xấu
Uỷ ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) không đưa ra khái niệm cụ thể
về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia
về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng thực hiện hành động để
cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày
Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) nợ xấu gồm:
- Những khoản nợ không thể thu hồi được: những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ để đòi bồi thường từ nợ; người mắc nợ bỏ trốn hoặc mất tích không còn tài sản để thanh toán nợ; những khoản nợ mà khách nợ
đã chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ
- Nợ có thể thu nhưng không được thanh toán đầy đủ: đây là những khoán nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ; là những khoản nợ khách hàng vay đồng ý trả nợ nhưng giá trị tài sản không đủ để trang trải cho toàn
bộ khoản nợ hoặc tài sản thế chấp ở ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp
lý dẫn đến người mắc nợ không có khả năng trả nợ đầy đủ; những khoản nợ mà tòa
án tuyên bố khách hàng vay phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ
Theo Phòng Thống kê Liên Hiệp Quốc (2002) : nợ xấu về cơ bản là khoản nợ quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản trả lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thõa thuận, hoặc các khoản đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ
Trang 24Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ
bị giảm giá trị thay vì thường sử dụng thuật ngữ nợ xấu Về cơ bản, IAS chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (khách hàng) Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn Vì vậy, nó đang được uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế chỉnh sửa lại
Trong các nghiên cứu có nhiều cách khái niệm về nợ xấu Theo Patersson và Wadman (2004), nợ xấu là các khoản vay mà các ngân hàng không thể thu lợi từ khoản vay đó Nợ xấu là các khoản vay không thu hồi được trong khoảng thời gian quy định bởi luật pháp của một quốc gia Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), IMF (2009), về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi hoặc gốc trên
90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới
90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ
Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu được đề cập theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2005 và theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng
01 năm 2013 của Ngân hàng Nhà nước thì nợ xấu được định nghĩa : “ Nợ xấu là các khỏan nợ thuộc các nhóm 3,4,5 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng, với nhóm 3 là nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm 4
là nợ nghi ngờ và nhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn Theo định nghĩa này thì nợ xấu cũng có nghĩa là các khoản nợ đã quá hạn thanh toán cả gốc lẫn lãi từ 90 ngày trở lên và khả năng trả nợ là đáng lo ngại Đây cũng là định nghĩa về nợ xấu của chuẩn mực kế toán việt Nam (VAS)
2.2.2 Phân loại theo nghiệp vụ ngân hàng
Trang 25Hiện nay chưa có một quy chuẩn chung nào về phân loại nợ trên thế giới , hầu hết các nước phát triển đều phân loại nợ thành 5 nhóm bao gồm : nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn
Theo Điều 10, Điều 11 của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước thì các tổ chức tín dụng phân loại nợ theo hai phương pháp sau:
2.2.2.1 Phân loại nợ theo phương pháp định lượng
- Nhóm 1( Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm :
Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy
đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn
- Nhóm 2 ( Nợ cần chú ý) bao gồm: Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ
điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
- Nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; nợ gia hạn nợ lần đầu; nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng
mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
+ Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;
+ Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;
Trang 26+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;
+ Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối
và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
+ Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được
cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Nợ quá hạn trên 360 ngày;Nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản
2.2.2.2 Phân loại nợ theo phương pháp định tính:
-Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc
và lãi đúng hạn Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết
-Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có
Trang 27khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết
-Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết
-Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao
-Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết
2.2.3 Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau:
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN ngày 22 tháng
04 năm 2005 và theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Ngân hàng Nhà nước thì nợ xấu được chia làm các nhóm gồm:
2.3 Mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và nợ xấu
2.3.1 Quy mô ngân hàng
Cuộc khủng hoảng toàn cầu 2007-2008 đã làm dấy lên một cuộc tranh luận gay gắt về cấu trúc của ngành ngân hàng, trong đó một số nhà kinh tế và hoạch định chính sách cho rằng nhiều ngân hàng đã phát triển quá lớn và hệ thống ngân hàng trở nên quá tập trung Theo Buiter (2009) cho rằng vấn đề cốt lõi của khủng hoảng là
Trang 28quy mô ngân hàng Một ngân hàng nhỏ cho dù hoạt động phức tạp cũng không có mối đe doạ đến sự ổn định của hệ thống và ngược lại Tuy nhiên có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hiện diện của nhiều ngân hàng với quy mô nhỏ không đảm bảo cuộc khủng hoảng sẽ không xảy ra, điển hình là cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay ở Mỹ 1990 là minh chứng rõ cho điều này Nếu nhiều ngân hàng nhỏ cùng có quy mô hoạt động giống nhau thì khi có khủng hoảng tài chính xảy ra, các ngân hàng này sẽ dễ thất bại Ngược lại các ngân hàng có quy mô lớn hơn sẽ hoạt động ổn định hơn, do đó góp phần ổn định tài chính cho toàn hệ thống ngân hàng (Jakob de Haan và cộng sự, 2011)
Sử dụng những tiêu chuẩn gì để đo lường quy mô ngân hàng là một vấn đề khá quan trọng, đặc biệt khi các ngân hàng luôn đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các hệ thống tài chính của mỗi quốc gia và được quản lý, giám sát chặt chẽ bởi chính phủ (Schildbach, 2010) Quy mô ngân hàng đóng vai trò quyết định vì đây là ngành
(i) phục vụ/ dịch vụ của tất cả các lĩnh vực khác, đặc biệt trong nền kinh tế
mở cửa thì có những khách hàng chỉ muốn hợp tác với những ngân hàng có quy mô lớn
(ii) chịu rủi ro về tính ổn định của hệ thống tài chính và có thể ảnh hưởng sâu rộng cho cả những người tham gia thị trường tài chính và phúc lợi kinh tế của xã hội
Kết quả là, các ngân hàng có quy mô càng lớn trên bất kỳ khía cạnh nào đều phải chịu sự chú ý đặc biệt từ chính phủ Không có một chuẩn mực chung trong việc
đo lường quy mô ngân hàng khi có rất nhiều các chỉ số khác nhau có thể phản ánh quy mô ngân hàng mà mỗi chỉ số lại có các tính năng khác nhau Khi xem xét quy
mô ngân hàng các nghiên cứu thường tập trung vào bảng cân đối kế toán với các chỉ
số liên quan đến quy mô vốn hoá trên thị trường hoặc tổng doanh thu (Boyd, 1994))
Sự đa dạng trong việc sử dụng các chỉ số khác nhau để đo lường quy mô ngân hàng
có thể dẫn đến các kết quả trái ngược nhau Trong nghiên cứu của mình, Schildbach (2017) đã tổng hợp một số chỉ số được sử dụng để đo lường quy mô ngân hàng thể hiện qua bảng sau:
Trang 29Kết quả Chỉ số
Những ngân hàng có cùng quy mô Mỹ,
Châu Âu
Vốn chủ sở hữu,Tài sản có tính rủi ro
2.3.2 Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ
Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ cao hay thấp đều có ảnh hưởng đến nợ xấu ở thời điểm hiện tại (Võ Xuân Vinh và Đặng Bửu Kiếm, 201 ; Kasman và Kasman, 2015; Malgorzata Pawlowska, 2016) Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ phản ánh khả năng quản trị rủi ro của ngân hàng và quá trình xử lý nợ xấu luôn đòi hỏi các ngân hàng rất nhiều thời gian dẫn đến ảnh hưởng đến nợ xấu ở thời điểm hiện tại (Nguyễn Thị Hồng Vinh, 2015; Nguyễn Thị Ngọc Diệp và cộng sự, 2015; Malgorzata Pawlowska, 2016) Mối liên hệ cùng chiều giữa nợ xấu trong quá khứ và hiện tại đã được tìm thấy trong các nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Diệp và cộng sự (2015); Malgorzata Pawlowska, (2016) Do đó nghiên cứu này kì vọng nợ xấu trong quá khứ của ngân hàng sẽ có tác động cùng chiều (+) đến nợ xấu ở thời điểm hiện tại
Giả thuyết 1: Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ có tương quan cùng chiều (+) với
nợ xấu ở thời điểm hiện tại
2.3.3 Quy mô vốn hoá
Theo Keeton và Morris (1987) thì mức vốn hoá của các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ nợ xấu Về bản chất, mức vốn hoá thấp của các ngân hàng làm tăng rủi ro của danh mục cho vay và do đó làm tăng nợ xấu Các tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên các NHTM Mỹ giai đoạn 1979 - 1985 cho thấy nợ xấu gia tăng với các ngân hàng có mức vốn hoá thấp thể hiện qua biến tỉ lệ Vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản (Equity) Mối liên hệ ngược chiều giữa nợ xấu và các chỉ số cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu của Berger và De Young (1997), Salas và Saurina (2002) Do đó nghiên cứu này kì vọng quy mô vốn hoá của ngân hàng sẽ có tác động ngược chiều (-) đến nợ xấu
Giả thuyết 2: Quy mô vốn hoá có tương quan ngược chiều (-) với nợ xấu
Trang 302.3.4 Quy mô đa dạng hoá hoạt động
Về mặt lí thuyết, ngân hàng lớn luôn luôn mong muốn mức nợ xấu thấp và nó
có đủ khả năng để nắm giữ một danh mục cho vay được đa dang hoá tốt nhất, nhằm giữ nợ xấu ở mức thấp nhất có thể Saunders và cộng sự (1990), Chen và cộng sự (1998) và Meggison (2005) đều tìm ra kết quả quan hệ nghịch chiều giữa nợ xấu và quy mô đa dạng hoá hoạt động của ngân hàng Nguyên nhân là các ngân hàng lớn thường có hệ thống quản lí nợ xấu tốt và đương nhiên họ có nhiều cơ hội để nắm giữ các danh mục cho vay ít nợ xấu nhất Tuy nhiên, tác giả lại kỳ vọng kết quả ngược lại với các bài nghiên cứu trên Vì đa số các ngân hàng có dư nợ lớn tại VN không dựa trên việc thực hiện chính sách đa dạng hoá danh mục cho vay, mà các ngân hàng này chủ yếu tập trung cho các doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn lớn vay vốn ( Nguyễn Thị Ngọc Diệp và cộng sự, 2015; Buiter, 2009; Malgorzata Pawlowska, 2016) Bên cạnh đó, các NHTM nhỏ do không thể hoặc không đủ nguồn vốn để có thể cho các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn lớn vay vốn mà chỉ có thể tìm cách đa dạng hóa hoạt động của mình trên các lĩnh vực khác như bất động sản, vay tiêu dùng, trong khi năng lực quản lý, trình độ của nhân viên không đủ để đảm bảo được các khoản vay là tốt Do đó, nghiên cứu kỳ vọng quy mô đa dạng hoá hoạt động của ngân hàng được đo lường qua tỷ lệ dư nợ ngắn hạn trên tổng dư nợ sẽ tác động dương (+) với nợ xấu
Giả thuyết 3: Quy mô đa dạng hoá hoạt động của ngân hàng thể hiện qua tỷ
lệ dư nợ ngắn hạn trên tổng dư nợ tín dụng có tương quan cùng chiều (+) với nợ xấu
2.3.5 Quy mô cạnh tranh
Samuelson và Nordhaus (200 ) cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiẹ p cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoạ c thị tru ờng” Hai tác giả này cho rằng cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo Mo i tru ờng cạnh tranh hoàn hảo là khi mà mọi hành vi của cá nha n đều kho ng ảnh hu ởng tới giá cả thị tru ờng và thị tru ờng này có rất nhiều ngu ời bán và ngu ời mua Theo Porter (1990), “Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuạ n, là khoản lợi nhuạ n cao ho n mức lợi nhuạ n trung bình mà doanh nghiẹ p đang
Trang 31có Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình qua n hóa lợi nhuạ n trong ngành theo chiều hu ớng cải thiẹ n sa u dẫn đến hẹ quả là giá cả có thể giảm đi” Tóm lại, cạnh tranh là sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng giữa các chủ thể kinh tế với nhau bằng những biẹ n pháp khác nhau để giành đu ợc những lợi thế nhất định tre n thị tru ờng Cạnh tranh đu ợc diễn ra trong mọ t mo i tru ờng cụ thể và có những quy định chung buọ c các chủ thể phải chấp hành (nhu điều kiẹ n pháp lý, tho ng lẹ kinh doanh,
đạ c điểm sản phẩm ) Trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể đu ợc sử dụng những
co ng cụ khác nhau (nhu chính sách sản phẩm, giá hay pha n phối ) nhằm đạt đu ợc mục đích cuối cùng là tìm kiếm lợi nhuạ n cho mình
Theo Porter (1990) những ngân hàng có quy mô lớn sẽ có sức mạnh thị trường lớn và thuận lợi trong việc gia tăng lợi nhuận của mình cũng như có khả năng cạnh tranh tốt hơn so với các ngân hàng khác Cạnh tranh được xem là vấn đề tất yếu không chỉ ở ngành ngân hàng mà còn ở tất cả các ngành nghề khác trong nền kinh tế Không có một quan điểm thống nhất về cạnh tranh và nợ xấu của các ngân hàng, cụ thể như sau:
Quan điểm truyền thống cho rằng năng lực cạnh tranh dẫn đến nguy cơ đổ
vỡ Viẹ c ta ng cu ờng cạnh tranh có thể làm giảm sức mạnh thị tru ờng và lợi nhuạ n bie n của nga n hàng, khuyến khích gia ta ng viẹ c chấp nhạ n rủi ro đối với danh mục cho vay dẫn đến phá sản nga n hàng và ga y bất ổn cho thị tru ờng tài chính Keeley (1990) đu a ra giả thuyết về “giá trị thu o ng hiẹ u” cung cấp bằng chứng về viẹ c gia
ta ng cạnh tranh làm nga n hàng có xu hu ớng chấp nhạ n rủi ro quá mức để gia ta ng lợi nhuạ n Nga n hàng s n sàng cấp tín dụng với hạn mức cao ho n nhiều so với giá trị tài sản đảm bảo bất chấp sự xấu đi của chất lu ợng danh mục cho vay Hậu quả cuối cùng sẽ làm gia tăng nợ không thanh toán được và tăng xác suất vỡ nợ cho ngân hàng Cùng quan điểm này, Hellman và cộng cự (2000) cho rằng cạnh tranh trên thị trường tiền gửi làm suy giảm hành vi thận trọng của ngân hàng, suy giảm hiệu quả hoạt động và xói mòn giá trị thương hiệu khi nghiên cứu về các ngân hàng ở Mỹ Nghie n cứu của llen và Gale (2000) chỉ ra cạnh tranh nga n hàng làm giảm khả
na ng tiếp nhạ n tho ng tin của các mối quan hẹ vay mu ợn, giảm đọ ng lực trong viẹ c quản lý ngu ời vay, ga y ảnh hu ởng xấu đến sự ổn định nga n hàng Stiglit và Weiss
Trang 32(2000) chỉ ra rằng tỷ lẹ lãi suất càng cao có thể làm gia ta ng rủi ro danh mục cho vay
do nảy sinh vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức Mishkin (1999) đã đu a ra khái niẹ m về “quá lớn để sụp đổ" cho thấy rằng các nga n hàng có quy mo lớn thì vấn đề rủi ro đạo đức càng đáng quan ta m ho n cho nhà quản lý Họ thu ờng chấp nhạ n những khoảng đầu tu rủi ro du ới sự bảo trợ của Nga n hàng Trung u o ng hoạ c đu ợc sự bảo trợ từ chính sách của Chính phủ; điều này làm họ khuyến khích chấp nhạ n rủi ro
ga y mất ổn định hẹ thống nga n hàng u và cọ ng sự (2014), Boyd và De Nicolo (2005) cho rằng, các nga n hàng có sức mạnh thị tru ờng cao sẽ có nguy co rủi ro cao
ho n đối với các khoản cho vay, mức đọ cạnh tranh thấp khuyến khích họ đu a ra mức lãi suất cao đối với các khoản vay, từ đó làm gia ta ng rủi ro và khả na ng vỡ nợ
Ngu ợc lại, trong mọ t thị tru ờng mà sự cạnh tranh giữa các nga n hàng cao, mức lãi suất cho vay thu ờng thấp, vấn đề “quá lớn để sụp đổ" sẽ đu ợc giải quyết làm giảm sự bất ổn của hẹ thống nga n hàng Cạnh tranh gia ta ng dẫn đến sự ổn định của
hẹ thống nga n hàng kéo theo nợ xấu của ngân hàng được kiềm hãm và ngu ợc lại Schaek và cọ ng sự (2014) cho rằng, hẹ thống nga n hàng cạnh tranh ho n sẽ ổn định
ho n so với đọ c quyền bởi khả na ng phá sản thấp ho n, cạnh tranh khuyến khích các nga n hàng chấp nhạ n đa dạng hóa rủi ro giúp cho hẹ thống nga n hàng khó xảy ra nguy co đổ vỡ tru ớc các cú sốc Boyd và cọ ng sự (2005) cho rằng, các nga n hàng có mức đọ hiẹ n diẹ n lớn ho n hay đọ c quyền cao ho n trong hẹ thống nga n hàng tạ p trung có thể ta ng lợi nhuạ n, do đó làm giảm tính dễ vỡ của tài chính bằng cách cung cấp “mức đẹ m vốn dự phòng” cao ho n để bảo vẹ hẹ thống chống lại những cú sốc kinh tế vĩ mo và thanh khoản be n ngoài Ngoài ra, kết luận quan trọng của nghiên cứu này là cạnh tranh gia tăng sẽ mang lại sự ổn định ở thị trường tiền gửi nhưng rất khó tồn tại ở thị trường cho vay
Trong nghiên cứu này, tác giả ủng hộ quan điểm cho rằng sự gia tăng cạnh tranh của các ngân hàng sẽ dẫn đến nợ xấu tăng cao, hay là có một quan hệ dương (+) giữa sự gia tăng cạnh tranh và nợ xấu ngân hàng
Giả thuyết 4: Quy mô cạnh tranh của ngân hàng có mối tương quan cùng chiều (+) với nợ xấu
Trang 33Để đo lường quy mô cạnh tranh của ngân hàng, trong nghiên cứu này tác giả
sử dụng chỉ số Lerner Chỉ số Lerner được định nghĩa là chênh lệch giữa giá đầu ra
và chi phí biên của ngân hàng, chia cho giá đầu ra (Berger và cộng sự, 2009; Malgorzata Pawlowska ,2016) Chỉ số Lerner được sử dụng vì có nhiều ưu điểm hơn
so với các chỉ số khác vì dễ dàng tính toán cho mỗi ngân hàng theo từng năm, và điều nổi bật nữa là có thể ước lượng năng lực cạnh tranh cho các loại hình sở hữu ngân hàng khác nhau (ngân hàng 100% vốn nhà nước, ngân hàng có vốn nhà nước
và các ngân hàng thương mại) (Tan và Floros, 2013; Malgorzata Pawlowska ,2016)
2.3.6 Quy mô tài sản
Các ngân hàng có quy mô lớn thường nắm giữ một lượng tài sản lớn, dẫn đến gia tăng mức độ tập trung trong hệ thống ngân hàng Điều này dần hình thành những ngân hàng với quy mô "Quá lớn nên không thể bị phá sản" (TBTF) Các ngân hàng TBTF chấp nhận mức rủi ro cao hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn nên
nợ xấu nhiều hơn Bởi vì kỷ luật thị trường không áp đặt cho các ngân hàng lớn, vì
họ mong đợi chính phủ bảo vệ trong trường hợp ngân hàng phá sản (Sten và Feldman, 2004) Qua đó, các ngân hàng càng có quy mô lớn càng dễ dàng gia tăng đòn bẩy của họ và s n sàng cho vay với chất lượng khách hàng thấp hơn Theo Boyd
và Gertler (1994) trong những năm 1980, xu hướng các ngân hàng lớn của Mỹ có danh mục đầu tư rủi ro cao hơn bởi sự khuyến khích của chính sách "Too big to fail” (Quá lớn nên không thể bị phá sản)" của chính phủ Mỹ, kết quả này cũng tìm thấy trong nghiên cứu của Malgor ata Pa lo ska, 201 Do đó, nghiên cứu kỳ vọng khi các ngân hàng TBT được đo lường qua tổng tài sản của họ có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu
Giả thuyết 5: Quy mô tài sản có mối tương quan cùng chiều (+) với nợ xấu
2.3.7 Quy mô thị phần
Trong ngành ngân hàng, chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử dụng
để nhận biết mức độ cạnh tranh của thị trường là hoàn hảo hay độc quyền cao Tại
Mỹ, chỉ số này được Bộ Tư pháp sử dụng để đánh giá mức độ độc quyền hay độc quyền nhóm trong hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A) giữa các ngân hàng HHI xác định bằng tổng bình phương thị phần của mỗi ngân hàng trong toàn hệ thống
Trang 34Chỉ số HHI có giá trị từ 1/n đến 1, chỉ số có giá trị thấp nhất khi tất cả các ngân hàng trong thị trường đều có quy mô như nhau, và có giá trị bằng 1 trong trường hợp độc quyền
Thông qua chỉ số HHI, thị trường sẽ phân loại mức độ cạnh tranh dựa trên cơ
sở sau:
- HHI <0,01: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
- 0,01≤ HHI ≤0,1: Mức độ cạnh tranh cao
- 0,1≤HHI ≤0,18: Thị trường cạnh tranh trung bình
- 0,18≤HHI: Mức độ tập trung thị trường cao và có xu hướng độc quyền Chỉ số HHI đo lường quy mô thị phần của các ngân hàng trên cả 3 phương diện: (1) Tổng tài sản; (2) Thị phần huy động; (3) Thị phần cho vay Theo Fiordelisi
và cộng sự (2014), Beck và cộng sự (2017), Khan và cộng sự (2018) thì những ngân hàng càng có thị phần lớn càng có xu hướng độc quyền dẫn đến việc gia tăng tín dụng kéo theo rủi ro về nợ xấu gia tăng Để thuận lợi trong nghiên cứu này tác giả đo lường chỉ số HHI trên tổng tài sản và đề xuất giả thuyết nghiên cứu là quy
mô thị phần càng lớn trên khía cạnh tổng tài sản càng lớn thì xu hướng độc quyền cao dẫn đến quy mô thị phần có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu
Giả thuyết 6: Quy mô thị phần có mối tương quan cùng chiều (+) với nợ xấu
2.3.8 Các biến kiểm soát đại diện cho đặc trưng của ngân hàng
Tỷ lệ dư nợ của ngân hàng (L_TA)
Tỷ lẹ du nợ cho vay tre n tài sản đu ợc xem xét nhu mọ t co ng cụ để đo lu ờng rủi ro ngẫu nhie n cho nga n hàng Rủi ro này chủ yếu dựa tre n chất lu ợng tài sản của nga n hàng; chỉ ra khoản cho vay nga n hàng đu ợc đảm bảo bằng bao nhie u phần tra m của tổng tài sản Do đó, biến tỷ lẹ du nợ cho vay tre n tổng tài sản đu ợc đu a vào mo hình nhằm kiểm soát rủi ro vỡ nợ của nga n hàng Các nghie n cứu của Ghosh (2015),
Ra ha (201 ) đã chứng minh đu ợc mối quan hẹ cùng chiều giữa L_T và NPL; cho thấy các nga n hàng có mức đọ chấp nhạ n rủi ro cao thì thu ờng có tỷ lẹ nợ xấu cao Tre n co sở đó, tác giả kỳ vọng tỷ lẹ du nợ cho vay tre n tổng tài sản nga n hàng (L_T ) sẽ có mối quan hẹ cùng chiều (+) với nợ xấu của các NHTM Viẹ t Nam và tỷ
lẹ du nợ cho vay tre n tài sản đu ợc đo lu ờng nhu sau:
Trang 35L_T = Dư nợ cho vay/ Tổng tài sản
Giả thuyết 7: Tỷ lệ dư nợ cho vay có mối tương quan cùng chiều (+) với nợ xấu
Tăng trưởng tài sản (A_GROW),
Nghie n cứu của Schaeck và Cihak (2014) chỉ ra tốc đọ ta ng tru ởng tài sản có mối quan hẹ cùng chiều với NPL Tác giả đã đề cạ p tốc đọ ta ng tru ởng nga n hàng nhu là biến đạ c tru ng nga n hàng nhằm chỉ ra sự khác biẹ t về mức đọ chấp nhạ n rủi
ro của nga n hàng hay phản ánh sự ta ng tru ởng nhanh chóng của nga n hàng Tu o ng
tự, Sanya và Wolfe (2011) cũng cho rằng các nga n hàng theo đuổi chiến lu ợc ta ng tru ởng nhanh có xu hu ớng sẽ đa dạng hóa các khoản chi tie u và đu a ra các quyết định đầu tu rủi ro ga y bất lợi cho ổn định nga n hàng Tốc đọ ta ng tru ởng tài sản
đu ợc đu a vào mo hình để kiểm soát các chiến lu ợc mở rọ ng ảnh hu ởng đến khả na ng tạo lợi nhuạ n cũng nhu nguy co phá sản của nga n hàng (Stiroh, 2004; Sanya và Wolfe, 2011; Lee và cọ ng sự, 2014) Do đó, luạ n va n kỳ vọng A_GROW có quan hẹ cùng chiều (+) với NPL của các NHTM Viẹ t Nam Co ng thức tính của tốc đọ ta ng tru ởng tài sản nga n hàng nhu sau:
A_GROW = [Tổng tài sản năm t - Tổng tài sản năm (t-1)]/ Tổng tài sản năm (t-1)
Giả thuyết 8: Tăng trưởng tài sản có mối tương quan cùng chiều (+) với nợ xấu
Tăng trưởng dư nợ (L_GROW)
Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng Trong nền kinh tế phát triển các ngân hàng cạnh tranh mạnh mẽ ở thị phần cho vay, điều này khiến các ngân hàng luôn chạy đua về mức tăng trưởng tín dụng cùng với đó mức tăng trưởng tín dụng cao thường là hệ quả kéo theo khi nền kinh tế bùng nổ, các ngân hàng có nguy cơ gặp phải những khoản vay kém chất lượng gây ra tỷ lệ nợ xấu hình thành trong tương lại (Shaek và Ciha'k, 2014; Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Minh, 2015) Trong luận văn này,
kế thừa từ các nghiên cứu đi trước tác giả kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều (+) giữa
Trang 36tăng trưởng dư nợ và nợ xấu, với công thức tính tăng trưởng dư nợ của NHTM được thể hiện như sau
L_GROW = [Dư nợ năm (t) - Dư nợ năm (t-1)]/ Dư nợ năm (t-1)
Giả thuyết 9: Tăng trưởng dư nợ có mối tương quan cùng chiều (+) với nợ xấu
Tỷ lệ dư nợ cho vay (LTD)
Các nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng, khi đề cập đến dư nợ cho vay thường sử dụng tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng nguồn vốn huy động Theo Bashir (2013) cho rằng tỷ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu Chỉ số này được xem xét trong mô hình nghiên cứu của tác giả để kiểm soát tổng số tiền cho vay đối với khách hàng còn phải thu hồi tại một thời điểm nợ xấu (Berger và De Young, 1997; Salas và Saurina, 2002; Nguyễn Thị Hồng Vinh ,2015) Trong nghiên cứu của mình, tác giả kỳ vọng có mối quan hệ cùng chiều giữa LTD và NPL, với LTD được tính như sau
LTD = Dư nợ cho vay/ Vốn huy động
Giả thuyết 10: Tỷ lệ dư nợ cho vay có mối quan hệ cùng chiều (+) với nợ xấu
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (NII)
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi bao gồm thu nhập từ dịch vụ, đầu tư, kinh doanh trong bảng cân đối kế toán ngân hàng.Nợ xấu bắt nguồn từ rủi ro trong hoạt động tín dụng và khi nợ xấu xảy ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính của ngân hàng, do vậy để giảm tỷ lệ nợ xấu về mặt nguồn gốc các ngân hàng phải tập trung khai thác tối đa các khoản thu nhập ngoài lãi để có thể bù đắp cho rủi ro mà hoạt động tín dụng gây ra và đa dạng hoá nguồn thu duy trì lợi nhuận trước những biến động xấu của nền kinh tế Hầu hết các NHTM Việt Nam thì chỉ số NII là nhỏ nhưng tốc độ tăng nguồn thu nhập ngoài lãi tăng khá mạnh Mặt khác, thực tế tại Việt Nam các doanh nghiệp nhà nước luôn có ưu thế trong quan hệ vay mượn, nên các ngân hàng lớn thường đơn giản hoá thủ tục xét duyệt cho vay Điều này có nguy cơ ẩn chứa nợ xấu đối với các khoản vay này Louzis và cộng sự (2012) sử dụng tỉ lệ thu nhập ngoài lãi để phân tích tác động đến nợ xấu và kết quả cho thấy yếu tố này có tác động tiêu cực đáng kể đến nợ xấu Kế thừa từ các nghiên cứu đi trước, tác giả kỳ
Trang 37vọng có mối quan hệ ngược chiều (-) với nợ xấu (Louzis và cộng sự, 2012; Bùi Duy Tùng & Đặng Thị Bạch Vân, 2015) với tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (NII), được tính như sau
NII = Tổng thu nhập ngoài lãi / Tổng thu nhập ngân hàng
Giả thuyết 11: Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi có mối quan hệ ngược chiều (-) với nợ xấu
2.4 Các nghiên cứu đi trước
2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Boyd và De Nicolo (2005) về lý thuyết rủi ro và cạnh tranh cần xem xét lại đã chỉ ra rằng sự gia tăng cạnh tranh sẽ đẩy các ngân hàng gia tăng lựa chọn danh mục đầu tư mạo hiểm Khi các ngân hàng có quy mô lớn xuất hiện kéo theo sự tập trung trong hệ thống ngân hàng sẽ gia tăng khiến các ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn trong hoạt động tín dụng
Nghiên cứu của Schaek và cọ ng sự (200 ) về cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng có dẫn đến ổn định hơn không giai đoạn từ 1998- 2003 chỉ ra rằng gia tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ giúp hệ thống ngân hàng ổn định hơn
Nghiên cứu của Berger và cộng sự (1997) về mối liên hệ giữa hiệu quả chi phí và vay nợ của các NHTM quy mô vốn của ngân hàng càng thấp thì kéo theo việc gia tăng các khoản vay không hiệu quả, cụ thể là những ngân hàng có quy mô vốn hoá thấp sẽ gia tăng các danh mục đầu tư rủi ro và ngược lại
Nghiên cứu của Salas và cộng sự (2002) vể rủi ro tín dụng trong các NHTM tại Tây Ban Nha giai đoạn từ 1985 - 1997 sử dụng dữ liệu bảng động đã chỉ ra rằng tín dụng trong quá khứ, gia tăng số lượng các chi nhánh, mở rộng danh mục đầu tư, tăng quy mô vốn hoá, tỷ lệ vốn và sức mạnh thị trường có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Đồng thời quy mô thị phần đòi hỏi các ngân hàng muốn gia tăng thị phần phải giảm chất lượng cho vay đối với khách hàng dẫn đến nguy cơ gặp phải rủi ro tín dụng
Nghiên cứu của Louzis và cộng sự (2012) về mối liên hệ giữa nợ xấu và các yếu tố vĩ mô tại Hy Lạp đã chỉ ra rằng các biến kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất cho vay và nợ công có tác động mạnh đến nợ xấu
Trang 38Bên cạnh đó nghiên cứu cũng cho thấy một mối quan hệ giữa TBTF và nợ xấu đặc biệt trong các khoản vay thế chấp
Nghie n cứu của Berger và cọ ng sự (2009) đã sử dụng mo hình hồi quy moment tổng quát (GMM) dựa tre n mọ t bọ dữ liẹ u của 8.235 nga n hàng tre n 23 quốc gia trong giai đoạn 1999 – 2005 Mục tie u chính của nghie n cứu là xem xét tác
đọ ng của cạnh tranh đến ổn định tài chính của các NHTM bằng cách sử dụng chỉ số Lerner (Lerner index) để đo lu ờng cạnh tranh nga n hàng Ngoài ra, nhóm tác giả cũng sử dụng các phu o ng pháp đo lu ờng sức mạnh thị tru ờng nhu chỉ số tạ p trung tiền gửi (HHI deposits) và chỉ số tạ p trung cho vay (HHI loans) Biến phụ thuọ c đo
lu ờng ổn định tài chính của NHTM bao gồm nợ xấu tre n tổng nợ nga n hàng (NPLs), vốn chủ sở hữu tre n tổng tài sản (E/T ) và hẹ số rủi ro phá sản (Z-index) Kết quả chỉ ra các nga n hàng có sức mạnh thị tru ờng cao ho n hay cạnh tranh thấp ho n thì rủi
ro tổng thể cũng thấp ho n Tuy nhie n, nghie n cứu cũng đã chứng minh sức mạnh thị tru ờng của các nga n hàng càng cao thì càng dễ dẫn đến rủi ro trong danh mục cho vay
Nghie n cứu của tác giả riss (2010) có sự kế thừa từ nghie n cứu của Berger
và cọ ng sự (2009) để áp dụng cho các quốc gia đang phát triển trong pha n tích cạnh tranh nga n hàng Nghie n cứu tổng hợp dữ liẹ u của 821 nga n hàng tre n 0 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1999 – 2005 bằng cách sử dụng mo hình các ảnh
hu ởng cố định ( EM) Tác giả cũng nghie n cứu cạnh tranh tho ng qua biến Lerner và
sự ổn định nga n hàng bằng Z-SCORE Kết quả cho thấy các nga n hàng có sức mạnh thị tru ờng lớn ho n hay cạnh tranh thấp ho n thì có thể giảm các nguy co rủi ro và ổn định ho n, bất chấp những tổn thất đáng kể về hiẹ u quả chi phí
Nghie n cứu của tác giả Kasman và Kasman (2015) dựa tre n dữ liẹ u của 28 nga n hàng thu o ng mại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2002 – 2012 bằng phu o ng pháp moment tổng quát hẹ thống (S-GMM) Nhóm tác giả đã sử dụng hai biến đo lu ờng cho mức đọ ổn định tài chính nga n hàng bao gồm biến tỷ lẹ nợ xấu (NPL) và hẹ số rủi ro phá sản (Z-SCORE) tu o ng ứng đại diẹ n cho hành vi chấp nhạ n rủi ro tín dụng
và ổn định nga n hàng Đối với cạnh tranh nga n hàng, tác giả sử dụng hẹ số Lerner điều chỉnh (Lerner index ad usted) và chỉ số Boone Kết quả cho thấy, cạnh tranh có
Trang 39mối quan hẹ tie u cực tới NPL nhu ng có mối quan hẹ tích cực tới Z-SCORE, chỉ ra nga n hàng trong thị tru ờng cạnh tranh ho n có thể đối mạ t với rủi ro tín dụng cao
ho n Cuối cùng, tác giả đu a ra hàm ý hạn chế áp lực cạnh tranh trong nga n hàng là thạ t sự cần thiết
Nghiên cứu của Kouki và l-Nasser (2014) về ý nghĩa cạnh tranh của ngân hàng: bằng chứng của các nước Châu Phi giai đoạn 2005- 2010 trên 127 quốc gia đã chỉ ra rằng sức mạnh thị trường của các ngân hàng càng lớn thì hiệu quả hoạt động
và khả năng sinh lời cao Các ngân hàng càng đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình sẽ có thể cải thiện lợi nhuận của họ Cuối cùng, lợi nhuận cao sẽ làm tăng sự
ổn định và giảm rủi ro tín dụng cho hệ thống ngân hàng
Nghiên cứu của Malgorzata Pawlowska (2016) về quy mô, cấu trúc thị trường
và ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại khu vực Châu Âu trên 27 ngân hàng đã cho kết quả là quy mô có ảnh hưởng ngược chiều với ổn định tài chính Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quy mô các ngân hàng ngày càng lớn và có mức
độ tập trung cao ở một số ngân hàng nhất định Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy một mối quan hệ giữa TBTF của các ngân hàng với rủi ro tín dụng
Nghiên cứu của Carlo Milani (2017) về những yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các NHTM trường hợp của nước Ý trong giai đoạn từ 200 đến 2015 trên 482 NHTM sử dụng phương pháp GMM đã cho kết luận rằng những ngân hàng có quy
mô thể hiện qua tài sản càng lớn thì khả năng gia tăng nợ xấu cao hơn các ngân hàng khác Mặt khác việc đa dạng hoá các hoạt động cho vay của ngân hàng có tác động tích cực đến việc giảm nợ xấu của các ngân hàng
Nghiên cứu của El-Maude,& ctg (2017) về nhận diện những yếu tố gây ra nợ xấu tại Nigeria trong giai đoạn từ 2010 đến 2014 trên 10 NHTM cho kết luận rằng
nợ xấu của các NHTM chịu ảnh hưởng của quy mô ngân hàng, tỷ lệ dư nợ cho vay nhưng không tìm thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ an toàn vốn cũng như lạm phát với nợ xấu
Nghiên cứu của Laxmi Koju &ctg (2018) về rủi ro tín dụng của các NHTM tại Ấn Độ trong giai đoạn từ 2000 đến 2013 trên 50 NHTM sử dụng phương pháp GMM đã chỉ ra rằng quy mô vốn hoá, thu nhập ngoài lãi, quy mô tài sản, tỉ lệ dư nợ
Trang 40có tác động ngược chiều đến nợ xấu trong khi tăng trưởng dư nợ, tỉ lệ dư nợ cho vay
có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu
2.4.2 Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015) về các yếu tố tác động đến nợ xấu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007- 2014 sử dụng phương pháp Mômen tổng quát GMM đã chỉ nợ xấu của các NHTM chịu ảnh hưởng chính bởi khả năng sinh lời và tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, nợ xấu trong quá khứ, quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng có tác động cùng chiều đến nợ xấu
Nghiên cứu của Bùi Duy Tùng và Đặng Thị Bạch Vân (2015) về ảnh hưởng của các yếu tố nội tại đến nợ xấu các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2004- 2014 sử dụng phương pháp Mômen tổng quát GMM hai bước với các biến vĩ
mô làm kiểm soát, kết quả cho thấy nợ xấu của các NHTM chịu tác động bởi các yếu tố nội của NH như: Chất lượng quản trị (-); rủi ro đạo đức (-); kiểm soát của chủ
sở hữu (+) còn đa dạng hoá hoạt động không có ý nghĩa
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều (2015) về ảnh hưởng của yếu tố đặc điểm ngân hàng đến rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Việt Nam sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) cho kết quả là các yếu
tố như tăng trưởng tín dụng, quy mô dư nợ và tỉ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập
có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của NHTM
Nghiên cứu của Hoàng Công Gia Khánh và Trần Hùng Sơn (2015) về phát triển thị trường tài chính và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn
2005 - 2013 cho thấy phát triển thị trường tài chính có khuynh hướng làm gia tăng rủi ro tại các NHTM Ngoài ra các yếu tố nội tại của ngân hàng như cấu trúc tài sản,
an toàn vốn và quy mô tài sản làm giảm rủi ro ngân hàng Khả năng sinh lời có khuynh hướng làm gia tăng rủi ro, cho thấy các ngân hàng có khuynh hướng tham gia vào các hoạt động rủi ro cao để tìm kiếm lợi nhuận
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh và Lê Phan Thị Diệu Thảo (2016) về tác động của vốn ngân hàng đến khả năng sinh lời và rủi ro tín dụng của các NHTM giai đoạn 2007- 2014 sử dụng phương pháp Moment tổng quá (GMM) cho thấy vốn