1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007 2015

101 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của Việt Nam giai đoạn 2007-2015
Tác giả Nguyễn Phan Hạnh Nguyên
Người hướng dẫn TS. Dương Quỳnh Nga
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên cơ sở lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu trước, luận văn đã xây dựng mô hình nghiên cứu với các biến tác động đến bất bình đẳng thu nhập: đầu tư trực tiếp nước ngoài, độ mở thư

Trang 1

- -

NGUYỄN PHAN HẠNH NGUYÊN

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP TẠI CÁC VÙNG

CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh, năm 2017

Trang 2

Học viên: lớp ME6

Tên đề tài: “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại

các vùng của Việt Nam giai đoạn 2007-2015”

Luận văn của học viên Nguyễn Phan Hạnh Nguyên đạt yêu cầu của Luận văn thạc sỹ

Đề nghị Khoa Đào tạo Sau đại học, trường Đại học Mở TP.HCM cho phép học viên làm thủ tục bảo vệ

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017

Giảng viên hướng dẫn

TS Dương Quỳnh Nga

Trang 3

đẳng thu nhập tại các vùng của Việt Nam giai đoạn 2007-2015” là bài nghiên cứu của

chính tôi

Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường Đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

TP Hồ Chí Minh, năm 2017

Nguyễn Phan Hạnh Nguyên

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báo cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô khoa sau đại học của Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học này

Và đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến người hướng dẫn khoa học của tôi - TS Dương Quỳnh Nga đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi suốt thời gian thực hiện luận văn này

Tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đã động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập

Cuối cùng, tôi xin chúc quý Thầy Cô, gia đình bạn bè và đồng nghiệp sức khoẻ và thành đạt

Người thực hiện

Nguyễn Phan Hạnh Nguyên

Trang 5

Từ khi mở cửa nền kinh tế và quan trọng là từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời (1987), đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đóng góp tích cực đối với kinh tế - xã hội trên nhiều phương diện Đến nay, kinh tế có những khó khăn mang tính toàn cầu, Việt Nam vẫn tiếp tục mở rộng giao thương quốc tế, vẫn tiếp tục quan tâm thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Với sự gia tăng của dòng vốn FDI vào Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của dòng vốn này đến nền kinh tế, nhiều nghiên cứu về tác động của FDI đến nền kinh tế của Việt Nam đã được thực hiện Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của FDI chủ yếu tập trung vào hiệu quả tăng trưởng của nó, có rất ít nghiên cứu đánh giá tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập

Dựa trên cơ sở lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu trước, luận văn đã xây dựng mô hình nghiên cứu với các biến tác động đến bất bình đẳng thu nhập: đầu tư trực tiếp nước ngoài, độ mở thương mại, lạm phát, thu nhập bình quân đầu người (thể hiện mức độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh), chi tiêu công, giáo dục, thành thị, dịch vụ và yếu tố vùng miền Để đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập, tác giả đã sử dụng

dữ liệu chéo theo thời gian (dữ liệu bảng) của 63 tỉnh, thành trong giai đoạn 2007-2015, kết hợp với phương pháp phân tích hiệu ứng cố định, hiệu ứng ngẫu nhiên, phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) và phương pháp ước lượng SGMM để giải quyết các vấn đề về tương quan chuỗi, phương sai sai số thay đổi và vấn đề nội sinh làm sai lệch các ước lượng

Kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa các biến trong mô hình Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với mức 1% đến bất bình đẳng thu nhập ở các tỉnh, thành phố của Việt Nam Các yếu tố khác: độ mở thương mại, lạm phát, thu nhập bình quân đầu người (thể hiện mức độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh), chi tiêu công, giáo dục, thành thị, dịch vụ và yếu tố vùng miền đều có ảnh hưởng nhất định đến bất bình đẳng thu nhập các tỉnh, thành phố của Việt Nam

Trang 6

Trang

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

TÓM TẮT iv

PHỤ LỤC vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC HÌNH VẼ ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Ý nghĩa đề tài 4

1.6 Kết cấu của Luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Các khái niệm 6

2.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 6

2.1.2 Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập 7

2.1.3 Đo lường bất bình đẳng trong phân phối thu nhập 7

2.2 Cơ sở lý thuyết 10

2.2.1 Các lý thuyết chính về đầu tư trực tiếp nước ngoài 10

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập 14

2.2.4 Mối quan hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập 15

Trang 7

2.3.1 Các công trình nước ngoài đã công bố 19

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 26

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Lựa chọn mô hình của tác giả 29

3.1.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu 29

3.1.2 Mô tả các biến trong mô hình 30

3.2 Phương pháp ước lượng mô hình 35

3.2.1 Nguồn số liệu 35

3.2.2 Phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu 37

3.2.3 Kiểm định cho mô hình nghiên cứu 39

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM KẾT QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2015 42

4.1 Thực trạng thu hút vốn FDI ở các vùng của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 42

4.2 Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2007-2015 46

4.3 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình 52

4.3.1 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình 52

4.3.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 53

4.3.3 Kết quả nghiên cứu chính 55

4.3.4 Phân tích kết quả hồi quy và suy diễn thống kê 60

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 67

5.1 Những điểm chính trong kết quả nghiên cứu 67

5.2 Gợi ý về chính sách 67

5.3 Hạn chế và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 8

PHỤ LỤC

Trang

Phụ lục 1 Các vùng kinh tế xã hội Việt Nam 80

Phụ lục 2 Thống kê mô tả các biến 81

Phục lục 3 Ma trận hệ số tương quan 82

Phụ lục 4 Kết quả hồi quy dữ liệu bảng 83

Phụ lục 5 89

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 3.1 Tóm tắt biến và đo lường các biến trong mô hình 34

Bảng 4.1: FDI ở các vùng của Việt Nam (tính đến ngày 31/12/2015 44

Bảng 4.2: Thu nhập bình quân đầu người và chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất giai đoạn 2007-2015 50

Bảng 4.3 : Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 52

Bảng 4.4: Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu 54 Bảng 4.5: Tổng hợp giá trị p value từ kiểm định Likelihood 56

Bảng 4.6: Tổng hợp giá trị p value từ kiểm định Breuch and Pagan Test 57

Bảng 4.7: Tổng hợp giá trị p value từ kiểm định Hausman Test 57

Bảng 4.8: Kiểm tra đa cộng tuyến mô hình nghiên cứu 58

Bảng 4.9: Tổng hợp giá trị p value từ kiểm định Woolridge test 59

Bảng 4.10: Tổng hợp giá trị p value từ kiểm định Heteroskedasticity Test 59

Bảng 4.11: Kết quả hồi quy bằng phương pháp SGMM 59

Trang 10

Trang

Hình 1.1 Đường cong Lorenz và hệ số Gini 8

Hình 4.1: Diễn biến dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2007-2015 42

Hình 4.2: FDI ở các vùng của Việt Nam (tính đến ngày 31/12/2015) 44

Hình 4.3: FDI ở các tỉnh của Việt Nam (tính đến ngày 31/12/2015) 45

Hình 4.4: Hệ số GINI theo vùng giai đoạn 2007-2015 47

Hình 4.5: Thu nhập bình quân đầu người của nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất 48

Hình 4.6: Chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất tại các vùng của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 51

Trang 11

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FEM Mô hình các ảnh hưởng (tác động) cố định

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for

Economic Cooperation and Development)

VHLSS Khảo sát mức sống hộ gia đình

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Sau hơn 25 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, khu vực kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng

kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Trong giai đoạn đầu của thời

kỳ đổi mới, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) góp phần đưa Việt Nam ra khỏi tình thế khó khăn khi bị bao vây, cấm vận Trong các giai đoạn tiếp theo, FDI thể hiện rõ vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam FDI

là nguồn vốn bổ sung chủ yếu trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần đáng

kể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đóng góp ngân sách nhà nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo thêm việc làm Nhờ vậy, Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm liền, được thế giới biết đến là quốc gia phát triển năng động, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế

Trong thời kỳ 1991-1995, tỷ trọng của FDI trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội chiếm khoảng 30% Tỷ lệ này giảm dần còn 23,4% trong những năm 1996-2000 và duy trì ở mức khoảng 16,7% giai đoạn 2001-2006 Trong giai đoạn 2007-2009, vốn FDI vào Việt Nam đã có sự gia tăng mạnh mẽ từ mức 21 tỷ USD/năm lên mức kỷ lục 71,3 tỷ USD Trong 9 tháng đầu năm 2014, vốn FDI đăng ký đạt 11,18 tỷ USD Tính chung trong 12 tháng năm 2015, tổng vốn đăng

ký cấp mới và tăng thêm là 22,757 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2014 Hiện nay, vốn đầu tư FDI đóng góp khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở Việt Nam Số dự án và vốn đăng ký FDI vào Việt Nam không ngừng tăng qua các năm, đặc biệt là từ năm 2007 đến nay Hầu hết các địa phương đều có dự án FDI, nhiều tỉnh thành phố có vốn FDI trên 1 tỷ USD Vốn FDI đã thúc đẩy cơ cấu kinh

tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng GDP và lao động trong nông nghiệp,

Trang 13

tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt Nam đã mang theo những công nghệ quản lý tiên tiến, phong cách làm việc hiện đại Việc phải cạnh tranh với các doanh nghiệp FDI đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải đổi mới phương thức quản trị, phương thức kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Từ đó, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Tuy vậy, kinh tế phát triển cũng dẫn đến một kết quả tất yếu là khoảng cách giàu nghèo đang ngày càng tăng Theo Phan Minh Ngọc (2006), trong ngắn hạn, làn sóng FDI sau khi Việt Nam gia nhập WTO có thể làm tăng sự bất bình đẳng về thu nhập không chỉ ở khu vực thành thị, mà cả giữa khu vực thành thị và nông thôn Mức lương cao hơn ở khu vực thành thị sẽ kích thích làn sóng nhập cư

từ nông thôn, trong khi thu nhập của lao động ở nông thôn không được cải thiện Ngoài ra, các dự án FDI cũng đã góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng giữa các vùng miền Những vùng có điều kiện thuận lợi, có mức độ thu hút vốn FDI cao vào phát triển công nghiệp, dịch vụ, dẫn đến tốc độ tăng trưởng cao, cơ hội làm việc nhiều hơn, và như vậy mức thu nhập cũng cao hơn rất nhiều

Trên thế giới có rất nhiều bài viết chuyên ngành, đề tài nghiên cứu, đánh giá về tác động của FDI vào tăng trưởng kinh tế sử dụng đa dạng các dữ liệu, nhiều phương pháp, nhiều không gian nghiên cứu như Furong (2009), Wu (2012), Trần Nhuận Kiên (2013), Franco và Gerussi (2013), Farhan (2014), Mihaylova (2015), Nam (2016) Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm xem xét

về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế như nghiên cứu của Nguyễn Minh Tiến (2008), Nguyễn Minh Kiều và cộng sự (2016) Ngoài ra, FDI còn được nghiên cứu trong mối quan hệ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, năng suất nhân tố tổng hợp, hiệu quả ngành, sự phát triển ngành và cả sự rời bỏ ngành như các nghiên cứu của Phùng Quốc Chí (2004), Lê Thị Kim Chung (2015), Nguyễn Thị Huỳnh Giao (2016), Phạm Quang Sáng, Phạm Thị Bích Ngoc (2014) Tuy nhiên, các nghiên cứu phân tích tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập hầu

Trang 14

như rất ít Chỉ tìm thấy nghiên cứu của Trần Nhuận Kiên (2013) ứng dụng mô hình TOBIT nhằm đánh giá tác động của FDI đối với bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam Do vậy, để tìm hiểu kỹ hơn tác động của FDI đối với bất bình đẳng thu

nhập tại các vùng ở Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài: “Tác động của đầu tư trực

tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng ở Việt Nam giai đoạn 2007-2015” để thực hiện luận văn tốt nghiệp

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Bằng việc phân tích hiện trạng và định lượng mức độ tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam theo vùng và theo các tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2007 – 2015, luận văn đưa ra các mục tiêu nghiên cứu sau:

- Xác định tác động của vốn FDI đến bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2015

- Đo lường mức độ ảnh hưởng của FDI đến bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề nghiên cứu trên, đề tài tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Vốn FDI tác động đến bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 như thế nào?

- Mức độ tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam là bao nhiêu?

1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tác động của vốn FDI đến bất bình đẳng thu nhập theo vùng và theo tỉnh, thành phố tại Việt Nam

Trang 15

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn phân tích các nhân tố sau: hệ số bất bình đẳng thu nhập GINI của các tỉnh, thành phố; đầu tư trực tiếp nước ngoài; độ mở thương mại, lạm phát, thu nhập bình quân đầu người, chi tiêu công, giáo dục, thành thị, dịch vụ và các biến đại diện cho đặc tính vùng miền của địa phương

Kỳ nghiên cứu: dựa trên số liệu 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 09 năm

từ 2007-2015 do Tổng cục Thống kê công bố

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp thu thập từ niên giám thống kê hàng năm và bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình (VHLSS) của 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2007-2015 do Tổng cục Thống kê cung cấp

Dữ liệu áp dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu bảng với tập hợp các quan sát ở 63 tỉnh, thành phố và mỗi tỉnh theo thời gian 09 năm từ năm 2007 đến năm

2015, nên sẽ có 567 quan sát

Dựa trên cơ sở các lý thuyết kinh tế và nghiên cứu trước, tác giả xây dựng

mô hình nghiên cứu để làm cơ sở phân tích Tác giả thực hiện nghiên cứu định lượng để giải quyết các vấn đề về câu hỏi nghiên cứu trên cơ sở mô hình xây dựng và dữ liệu thứ cấp thu thập được từ Tổng cục Thống kê, số liệu hàng năm của 63 tỉnh, thành phố trong cả nước từ năm 2007 đến năm 2015 Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đo lường tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập thông qua phương pháp ước lượng hồi quy dữ liệu bảng Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thống kê mô tả để thống kê phân tích dữ liệu

và kỹ thuật tổng hợp, so sánh để phân tích, nhận xét về vấn đề nghiên cứu

Trang 16

của Việt Nam để đề xuất một số giải pháp liên quan đến thu hút FDI và giảm bất bình đẳng thu nhập phù hợp với đặc trưng vùng miền của Việt Nam

Từ kết quả nghiên cứu này, ta thấy ý nghĩa của đề tài vận dụng các kiến thức

về kinh tế học, đặc biệt kinh tế lượng, để phân tích tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng ở Việt Nam

1.6 Kết cấu của Luận văn

Luận văn nghiên cứu gồm có sáu chương và được trình bày như sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu gồm vấn đề được nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu luận văn, dữ liệu nghiên cứu và tóm tắt kết quả nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích thực nghiệm tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2007-2015

Chương 5: Kết luận kết quả nghiên cứu, gợi ý giải pháp từ kết quả nghiên cứu

và những hạn chế của đề tài cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Tóm tắt chương

Nhận thấy được ảnh hưởng của FDI đến bất bình đẳng thu nhập ở các tỉnh, thành, các vùng tại Việt Nam và thực tế có rất ít công trình nghiên cứu về tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập ở các tỉnh, thành của Việt Nam Vì vậy chương một đã đưa ra vấn đề nghiên cứu “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng ở Việt Nam giai đoạn 2007-2015” Bên cạnh đó, chương một đã nêu câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp

và dữ liệu nghiên cứu Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài cũng được đề cập trong chương này Cuối cùng là giới thiệu về kết cấu của luận văn

Từ đó, làm tiền đề cho nghiên cứu của những chương tiếp theo của đề tài

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuỳ thuộc vào mục đích và góc độ nhìn nhận khác nhau:

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động đầu tư nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp (IMF,1993)

- Theo OECD (2008), FDI phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể tại một nước (nhà đầu tư) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác Lợi ích lâu dài thể hiện ở chỗ tồn tại một mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp với doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp đó Đầu tư trực tiếp liên quan đến cả giao dịch ban đầu giữa hai thực thể và mọi giao dịch vốn tiếp theo giữa chúng và giữa các công ty con, dù có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân

- Theo D Perkins (2006), FDI được định nghĩa là một hình thức đầu tư dài hạn trong đó một thực thể có yếu tố nước ngoài được tham gia chủ yếu trong khâu điều hành và quản lý một nhà máy ở nước chủ nhà (thông thường nắm giữ 10 phần trăm số cổ phiếu được quyền biểu quyết)

- Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài ngày 09/6/2000 thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này

- Luật Đầu tư (2005) có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu

tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài” Tuy nhiên, từ các khái niệm quy định trong Luật Đầu tư 2005

Trang 18

thì có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

- Theo quy định của Luật Đầu tư (2014) thì các khái niệm về “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” đã bị bãi bỏ, chỉ còn khái niệm

về “đầu tư kinh doanh” và “nhà đầu tư nước ngoài” Theo đó có thể hiểu đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam

Từ các quan niệm trên, có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn nhất định (theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư) vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư

2.1.2 Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập

Có nhiều quan điểm khác nhau về bất bình đẳng thu nhập, nhưng đơn giản

và chung nhất có thể hiểu bất bình đẳng thu nhập là sự không ngang bằng nhau về thu nhập giữa các cá nhân hoặc nhóm xã hội Theo OECD (2011), bất bình đẳng thu nhập phản ánh cách thức phân phối các nguồn lực vật chất trong xã hội Trong Sổ tay về nghèo đói và bất bình đẳng của World Bank (2009), Houghton & Kandker cho rằng bất bình đẳng là một khái niệm đi liền với nghèo đói, nhưng có nội hàm rộng hơn Trong khái niệm nghèo đói, mối quan tâm thường tập trung vào mức thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người và phân phối thu nhập trên chi tiêu của nhóm có thu nhập thấp nhất; trong khi đó bất bình đẳng quan tâm tới phân phối thu nhập của toàn bộ dân số

2.1.3 Đo lường bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

Trang 19

- Tỷ lệ Q5/Q1: các nhà kinh tế và thống kê thường sắp xếp các cá nhân theo mức thu nhập tăng dần, rồi chia tổng dân số thành các nhóm Một phương pháp thường được sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có qui mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xác định xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập (ngũ phân vị) Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia đình, thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận được 20% thu nhập Nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài gia đình, thì hai mươi phần trăm gia đình có thu nhập cao nhất sẽ nhận tất cả thu nhập, và các nhóm gia đình khác không nhận được gì Khi

đo lường mức độ bất bình đẳng, một cách áp dụng khá hiệu quả cách định lượng này là tính chỉ tiêu tỉ lệ thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất

- Đường cong Lorenz: đường cong Lorenz mang tên nhà kinh tế học người

Mỹ Coral Lorenz, mô phỏng tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất, biểu thị mối quan hệ định lượng thực tế giữa tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỉ lệ phần trăm thu nhập mà họ nhận được Đường Lorenz càng xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất bình đẳng

Trang 20

- Hệ số Gini: đây là thước đo phổ biến và được sử dụng nhiều nhất, hệ số Gini được tính theo công thức

có thể dao động trong phạm vi 0 (hoàn toàn bình đẳng: mọi người có mức thu nhập giống nhau) và 1 (hoàn toàn bất bình đẳng: một số ít người nhận được tất cả, còn những người khác không nhận được gì), hoặc từ 0% đến 100% nếu đo theo phần trăm Theo ngân hàng thế giới, nếu hệ số GINI lớn hơn 0,5 là mức độ bất công bằng lớn; nằm trong khoảng từ 0,4 - 0,5 là bất công bằng vừa và nhỏ hơn 0,4 là bất công bằng chấp nhận được

- Hệ số Kuznets: hệ số này so sánh % khoảng cách về thu nhập giữa % dân

số giàu nhất và % dân số nghèo nhất; được tính bằng tỷ lệ % giữa thu nhập của X% dân số có mức thu nhập cao nhất và Y% dân số có mức thu nhập cao nhất Nếu X=Y, có thể bằng 20%, 10%, 5% thì có hệ số giãn cách thu nhập, phản ánh

khoảng cách thu nhập giữa hai đầu nghèo nhất và giàu nhất

- Tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng thế giới: Tiêu chuẩn này xét tỷ trọng thu

nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân

cư Tỷ trọng này nhỏ hơn 12% là có sự bình đẳng cao về thu nhập, nằm trong khoảng từ 12% - 17% là có sự bất bình đẳng vừa và lớn hơn 17% là có sự tương đối bình đẳng

- Chỉ số Theil: theo Hoàng Thị Thanh Hà (2013), chỉ số Theil có hai loại là Theil T và Theil L, cả hai chỉ số này được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để đo lường bất bình đẳng thu nhập hoặc chi tiêu

Trang 21

Chỉ số Theil có thể viết dưới dạng sau:

i i i

n

i

n n Y y Y

y T

1 log )

(

1 1

Theil L =

trong đó:

yi = thu nhâp của i (i = 1,2 …n);

n = tổng số hộ trong tổng thể nghiên cứu;

Y= tổng thu nhập của toàn bộ các hộ;

µ = thu nhập bình quân của tất cả các hộ

2.2 Cơ sở lý thuyết

2.2.1 Các lý thuyết chính về đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Lý thuyết thương mại quốc tế:

Lý thuyết thương mại cổ điển được khởi xướng bởi Adam Smith (1776) Tác giả này cho rằng thương mại giữa hai nước với nhau là xuất phát từ lợi ích của cả hai bên dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của từng nước Điều then chốt trong lập luận về lợi thế tuyệt đối là sự so sánh chi phí sản xuất của từng mặt hàng giữa các quốc gia, theo đó một hàng hoá được coi là có lợi thế tuyệt đối khi chi phí sản xuất tính theo giờ công lao động quy chuẩn để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá đó phải thấp hơn nước khác, do vậy các quốc gia, các công ty có thể đạt được lợi ích lớn hơn nếu tập trung sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá có lợi thế tuyệt đối, đồng thời nhập khẩu những hàng hoá kém lợi thế tuyệt đối

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith không giải thích được vì sao một nước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so với nước khác, hoặc không có một lợi

Trang 22

thế tuyệt đối nào vẫn có thể tham gia và thu lợi trong thương mại quốc tế Năm

1987, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh nhằm giải thích tổng quát, chính xác hơn về sự xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế Theo luận điểm của Ricardo, các nước đều khác biệt về điều kiện tự nhiên, tay nghề và điều kiện sản xuất nói chung, do đó bất kỳ quốc gia nào cũng có thể chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm nhất định để đổi lấy hàng nhập khẩu của các nước khác vì mỗi nước đều có lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng

Phát triển lý thuyết lợi thế tương đối của Ricardo, Hecksher (1919) và Ohlin(1933) đã đưa ra mô hình H-O Lý thuyết này giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở, mỗi nước đều hướng tới chuyên môn hóa các ngành sản xuất mà nước đó có lợi thế so sánh Lợi thế so sánh này là do các nước sản xuất sản phẩm hàng hoá sử dụng các yếu tố sản xuất có lợi thế tự nhiên (vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu…) so với các quốc gia khác khiến cho một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn

Từ lý thuyết lợi thế so sánh của Hechscher-Ohlin, Kojima đưa ra lý thuyết vĩ

mô về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phạm vi các yếu tố sản xuất tương đối Theo Kojima, nguyên nhân xuất hiện đầu tư quốc tế là từ sự khác biệt về lợi thế

so sánh dẫn đến sự khác nhau về tỷ suất lợi nhuận giữa các nước; sự khác biệt về lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế dựa trên bốn loại động lực: đầu

tư khai thác lợi thế tự nhiên, đầu tư hướng vào nguồn nhân lực dồi dào, đầu tư hướng về thị trường có rào cản thương mại và đầu tư theo dịnh hướng thị trường độc quyền Trong lý thuyết này, Kojima đã tạo ra mối liên hệ giữa đầu tư FDI và thương mại theo hướng đầu tư FDI thực sự có thể thúc đẩy thương mại phát triển, đồng thời cũng chỉ ra mối liên kết giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Tác giả này cho rằng việc đầu tư FDI sẽ được thực hiện từ ngành công nghiệp tương đối khó khăn ở nước đầu tư đến ngành công nghiệp tương đối thuận lợi ở nước sở tại, từ

đó thúc đẩy việc nâng cấp cơ cấu công nghiệp và tăng cường thương mại giữa các quốc gia này

Trang 23

- Lý thuyết về lợi nhuận cận biên của Mac Dougall & Kemp (1964): Lý

thuyết này được Mac Dougall xây dựng vào năm 1960 trên cơ sở phân tích so sánh giữa chi phí và lợi ích của di chuyển vốn và rút ra kết luận chênh lệch về năng suất cận biên của vốn – số vốn có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất - giữa các nước là nguyên nhân của lưu chuyển vốn quốc tế Năm 1964, M.Kemp phát triển thành

mô hình MacDougall-Kemp, theo đó nước phát triển (dư thừa vốn đầu tư) có năng suất cận biên của vốn thấp hơn năng suất cận biên của vốn ở những nước đang phát triển (thiếu vốn) làm xuất hiện dòng lưu chuyển vốn giữa hai nhóm nước Lý thuyết này về sau không giải thích được hiện tượng vì sao một số nước đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra, không đưa ra được giải thích đầy đủ về FDI Do vậy lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể được coi là bước khởi đầu để nghiên cứu về FDI

- Lý thuyết về tổ chức công nghiệp: Lý thuyết này là kết quả tự nhiên từ sự

tăng trưởng và phát triển của các công ty lớn độc quyền của Mỹ, đóng góp tiên phong là từ luận án tiến sỹ của Hymer (1976) Áp dụng lý thuyết về tổ chức công nghiệp, Hymer chỉ ra rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ di chuyển vốn FDI đến các quốc gia hay các địa phương mà ở nơi đó, nhà đầu tư nước ngoài có lợi thế sở hữu riêng của doanh nghiệp, công nghệ cao hơn và được bảo hộ; kỹ năng quản lý hoặc chi phí thấp hơn nhờ mở rộng quy mô Tiếp theo Hymer, Richad.E.Caves (1971) cho rằng những sản phẩm mới thường có xu hướng độc quyền và có giá thành hạ nên các công ty đầu tư sản xuất ra thị trường quốc tế để khai thác lợi thế độc quyền nhằm tối đa hóa lợi nhuận

- Lý thuyết về nội bộ hóa (1976): Lý thuyết nội bộ hoá do Buckley và

Casson đưa ra năm 1976 để lý giải sự phát triển của các công ty đa quốc gia trên

cơ sở lý thuyết về chi phí giao dịch Lý thuyết này cho rằng để đối phó với sự không hoàn hảo của thị trường - không hoàn hảo tự nhiên (khoảng cách giữa các quốc gia làm tăng chi phí vận tải), không hoàn hảo mang tính cơ cấu (rào cản thương mại như các tiêu chuẩn về sản phẩm, về môi trường; các yêu cầu liên quan

Trang 24

đến quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ) - doanh nghiệp có xu hướng nội bộ hoá các hoạt động để giảm đến mức thấp nhất các chi phí giao dịch và tăng hiệu quả sản xuất

- Lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm của Raymond Vernon

(1966): căn cứ xuất phát của lý thuyết này là từ các ý tưởng: i) Mỗi sản phẩm có một vòng đời: xuất hiện – tăng trưởng mạnh – chững lại – suy giảm tương ứng với quy trình xâm nhập – tăng trưởng – bão hòa – suy giảm; vòng đời này dài hay ngắn tùy thuộc từng loại sản phẩm; ii) các nước công nghiệp phát triển thường nắm giữ những công nghệ độc quyền do họ khống chế khâu nghiên cứu, triển khai và do họ có lợi thế về quy mô Theo quan điểm của Vernon, doanh nghiệp FDI đưa sản phẩm vào sử dụng, mở rộng tiêu thụ sản phẩm và chuẩn hóa sản phẩm tương ứng với ba giai đoạn phát triển của sản phẩm, theo đó vòng đời của một sản phẩm gồm ba giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Sản phẩm mới xuất hiện cần thông tin phản hồi nhanh và được bán ở trong nước phát minh ra sản phẩm, xuất khẩu không đáng kể

+ Giai đoạn 2: Sản phẩm chín muồi, nhu cầu tăng, xuất khẩu tăng mạnh, các nhà máy ở nước ngoài bắt đầu được xây dựng, FDI xuất hiện, các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện Trong giai đoạn này nước phát minh ra sản phẩm vẫn giữ vai trò là nước xuất khẩu, tuy nhiên nhu cầu sản phẩm ở nước phát minh giảm dần vào cuối giai đoạn này trong khi nhu cầu ở nước ngoài tiếp tục tăng

+ Giai đoạn 3: Sản phẩm và quy trình sản xuất được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóa trở nên thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực phải giảm chi phí càng nhiều càng tốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh Các doanh nghiệp chế tạo ra sản phẩm tăng cường đầu tư tại các nước đang phát triển nhằm tìm kiếm thị trường tiêu thụ và lợi thế so sánh về chi phí sản xuất sản phẩm Sản phẩm được tiếp tục sản xuất ra ở các nước đang phát triển và nhập khẩu về lại những nước đi đầu tư Khi đó quốc gia đi đầu tư trở

Trang 25

thành nước nhập khẩu thuần túy và quốc gia tiếp nhận đầu tư trở thành nước xuất khẩu

- Lý thuyết chiết trung của Dunning (1980): đây là quan điểm được

Dunning phát triển trên cơ sở kết hợp các giả thuyết về tổ chức công nghiệp, thuyết nội bộ hóa và thuyết lợi thế địa điểm nhằm làm rõ khái niệm FDI và sản xuất quốc tế Theo đó, các quốc gia hoặc địa phương muốn thu hút được vốn FDI thì phải đạt đươc 3 lợi thế: lợi thế sở hữu đặc trưng, lợi thế địa điểm và lợi thế nội

bộ hóa Ba yếu tố trên được kết hợp trong một mô hình gọi là OLI, trong đó O là lợi thế về quyền sở hữu (công nghệ độc quyền, tính kinh tế nhờ quy mô, kỹ năng quản lý, uy tín…), L là lợi thế về địa điểm (tài nguyên, quy mô nền kinh tế, hạ tầng, nguồn nhân lực, chính sách) và I là lợi thế về nội bộ hóa (sự minh bạch, chi phí thông tin, bản quyền…) Dunning cho rằng bộ ba nhân tố OLI quyết định FDI

và hoạt động của các công ty đa quốc gia, mỗi nhân tố thúc đẩy các nhân tố khác,

và bộ ba này chỉ thực hiện đúng chức năng nếu 3 nhân tố cân bằng Cho đến nay

mô hình OLI của Dunning có thể coi là cách giải thích đầy đủ về FDI

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập

Theo UNDP (2013), có hai yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập lày yếu tố toàn cầu hóa, sự thay đổi khoa học công nghệ và các yếu tố liên quan đến chính sách của chính phủ như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và chính sách tỉ giá

UNDP (2013) nhận định thương mại có thể góp phần gia tăng bất bình đẳng trong công nghiệp cũng như tăng bất bình đẳng ở các quốc gia ở các mức thu nhập, phụ thuộc vào thể chế và xã hội của từng nước Đối với các nước đang phát triển, tự do hóa thương mại sẽ làm tăng nhu cầu lao động trong các ngành thâm dụng lao động, từ đó lôi kéo một lượng lao động trong nông nghiệp (có năng suất thấp) đến nơi có năng suất cao hơn Việc mở cửa thương mại ở các nước đang phát triển kéo theo mở cửa tài chính Dòng vốn nước ngoài đầu tư vào nền kinh tế

sẽ giúp mở rộng các hoạt động kinh tế, đồng thời tác động lên tỉ giá làm thay đổi

Trang 26

cơ cấu xuất nhập khẩu Khi cơ cấu xuất nhập khẩu thay đổi sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất trong nước, dẫn đến thay đổi trong lao động, tiền lương, làm cho bất bình đẳng thu nhập cũng thay đổi Toàn cầu hóa tài chính gây mất ổn định kinh tế

vĩ mô ở các nước đang phát triển, tác động tiêu cực đến thu nhập người lao động nghèo, làm gia tăng bất bình đẳng (UNDP, 2013)

Sự thay đổi công nghệ sẽ thay đổi cơ cấu sản xuất, tăng nhu cầu lao động có tay nghề và làm dư thừa một lượng lớn lao động không đáp ứng được nhu cầu của thị trường Dư thừa lao động càng làm giảm tiền lương trong lĩnh vực phi nông nghiệp, góp phần giảm thu nhập lao động khi toàn cầu hóa và cải cách theo hướng thị trường (UNDP, 2013)

Bất bình đẳng thu nhập còn chịu ảnh hưởng của tài nguyên thiên nhiên (Nikoloski, 2009) Việc sản xuất phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên có khả năng tạo ra đặc quyền đặc lợi, chỉ một số ít những người có quyền lực và quan hệ mới có khả năng tiếp cận và khai thác tài nguyên thiên nhiên, điều này làm trầm trọng thêm bất bình đẳng thu nhập giữa người giàu và người nghèo

Bất bình đẳng thu nhập cũng tăng lên khi có sự khác biệt về các đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ gia đình (tuổi lao động, số lượng thất nghiệp, nguồn thu nhập chính và trình độ học vấn trung bình); các khía cạnh liên quan đến số người trong gia đình, thành phần hộ gia đình; nơi cư trú và các đặc điểm kinh tế xã hội của cá nhân (giới tính, ngành nghề, tuổi ) Crespo và cộng sự (2012)

2.2.4 Mối quan hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập

Theo Barends (2009), có hai giả thuyết với các giải thích khác nhau về tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập: giả thuyết hiện đại hóa và giả thuyết phụ thuộc Cả hai giả thuyết đều thừa nhận vai trò của các nước phát triển như là nền kinh tế gia đình của các công ty đa quốc gia và các nước đang phát triển như

là nước chủ nhà và cả hai đều đưa ra các lập luận rằng dòng vốn FDI có thể tăng lên hoặc làm giảm bất bình đẳng về thu nhập trong nền kinh tế của nước chủ nhà

Trang 27

Giả thuyết hiện đại hóa lý giải rằng, trong giai đoạn phát triển đầu tiên, sự thành lập các công ty đa quốc gia là sự thay đổi nhu cầu lao động làm giảm sự bất bình đẳng thu nhập tổng thể Khi lĩnh vực đầu tư của công ty đa quốc gia phát triển mạnh, sự tiến bộ công nghệ làm tăng nhu cầu về lao động có tay nghề cao và kết quả là làm tăng mức lương của lao động có tay nghề cao so với lao động có tay nghề thấp, dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng về thu nhập khi kết thúc giai đoạn phát triển đầu tiên Một khi các hiệu ứng lan tỏa bắt đầu lan rộng ra khắp cả nước, mức độ công nghệ và vốn trong nước chủ nhà tăng lên dẫn đến tăng mức

độ hiệu quả tổng thể và năng suất lao động Về mặt lý thuyết điều này, theo dự đoán của giả thuyết trên, làm giảm mức bất bình đẳng về thu nhập thậm chí thấp hơn giá trị ban đầu của nó

Theo các học thuyết hiện đại, sự hiện diện của các khoản đầu tư quan trọng hơn là nguồn gốc Điều này có nghĩa là vốn thúc đẩy tăng trưởng và đem lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế cho dù từ nước ngoài hoặc trong nước Vì vậy, ngay

cả khi FDI kích thích tăng trưởng chỉ ở một số ngành và khu vực quan trọng, cung cấp lợi ích cho một số lĩnh vực riêng biệt thì sự tăng trưởng trong các ngành

và các khu vực quan trọng tạo điều kiện phân phối thu nhập bình đẳng hơn trong thời gian dài Đối với hầu hết các lý thuyết hiện đại, các yếu tố như các nền kinh

tế và chiến lược phát triển là những yếu tố quan trọng quyết định phân phối thu nhập Chừng nào những ảnh hưởng của các yếu tố này được xem xét một cách đúng đắn, sự khác biệt về số lượng vốn nước ngoài không gây ra bất kỳ khác biệt đáng kể nào trong sự bất bình đẳng thu nhập (Tsai 1995) Quan điểm này cũng được hỗ trợ bởi Dollar và Kraay (2000) khi cho rằng tăng trưởng kinh tế, giúp nâng cao thu nhập của người nghèo hơn so với những người giàu có, lấy FDI như

là một công cụ hữu ích trong việc giảm đói nghèo Quan điểm này nói lên mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập (hoặc FDI và tăng trưởng kinh tế), không liên quan một cách trực tiếp đến FDI và bất bình đẳng thu nhập

Trang 28

Blomstrưm và Kokko (1996) lập luận rằng FDI giảm bất bình đẳng thu nhập thông qua các hiệu ứng Kuznets - bất bình đẳng thu nhập tăng lúc đầu khi thu nhập bình quân tăng nhưng giảm khi đạt mức độ tăng trưởng ổn định Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, một nền kinh tế đang phát triển thường được đặc trưng bởi: sự gia tăng trong tỷ lệ dân số tham gia vào một ngành hiện đại có thu nhập cao của nền kinh tế; sự gia tăng khoảng cách thu nhập giữa các ngành có thu nhập cao và các ngành có thu nhập thấp, và sự gia tăng bất bình đẳng trong từng ngành Những đặc điểm này trực tiếp gia tăng bất bình đẳng Trong giai đoạn sau, khi sản lượng được sản xuất nhiều hơn và lao động chuyển từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp hiện đại, sự dư thừa lao động trong nông nghiệp dần dần biến mất, và các sản phẩm biên của lao động nông nghiệp sẽ được nâng lên ngang tầm của lao động công nghiệp Với sự gia tăng thu nhập lao động, tăng trưởng kinh tế và sự gia tăng chế độ dân chủ dẫn đến phân phối thu nhập công bằng hơn

Các giả thuyết phụ thuộc cho rằng sự bất bình đẳng về thu nhập hiện tại như

là kết quả của các sự kiện lịch sử, theo đó, mức bất bình đẳng thu nhập không được xác định bởi sản lượng kinh tế mà là do kiểm soát xã hội và tổ chức sản xuất Yếu tố quan trọng nhất trong lập luận này là vị trí mà một quốc gia nắm giữ trong nền kinh tế thế giới và vị trí của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế

Trái với các giả thuyết hiện đại, các giả thuyết phụ thuộc thừa nhận rằng trong ngắn hạn FDI có thể có một tác động tích cực vào tăng trưởng kinh tế nhưng có nhiều tác động tiêu cực trong dài hạn, được phản ánh trong các mối tương quan nghịch giữa dòng vốn FDI và tỷ lệ tăng trưởng Trong ngắn hạn, sự gia tăng FDI cho phép đầu tư và tiêu dùng cao hơn và do đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, khi các dự án nước ngoài nắm giữ phần FDI tích lũy,

sẽ có ảnh hưởng xấu đến các phần còn lại của nền kinh tế dẫn đến làm giảm tăng trưởng kinh tế (Lheem và Guo 2004) Farhan (2014) cho rằng FDI tác động vào bất bình đẳng thu nhập trên hai mặt khác nhau Một mặt, FDI giúp giảm bất bình đẳng thu nhập khi đầu tư vào các lĩnh vực dư thừa lao động phổ thông với tay

Trang 29

nghề và tiền lương thấp Mặt khác, vốn FDI có thể tác động xấu hơn đến phân phối thu nhập do tác động lan tỏa tiền lương khi các tập đoàn đa quốc gia thường trả lương cao hơn so với các đối tác địa phương Khi họ cần thêm lao động để làm việc với công nghệ mới, họ sẽ sử dụng lợi thế của mình về vốn dư thừa để trả mức lương cao hơn nhằm thu hút nhiều lao động lành nghề cũng như công nhân không có tay nghề làm việc với họ Hoặc cũng có thể là sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia sẽ làm giảm thị phần của các doanh nghiệp trong nước Khi lợi nhuận đang giảm, doanh nghiệp trong nước buộc phải giảm chi phí bằng cách giảm mức lương và số lượng công nhân mà họ có thể thuê để tồn tại trong thị trường

Nhiều quan điểm cho rằng FDI làm tăng sự bất bình đẳng thu nhập ở các nước nhận đầu tư kém phát triển theo nhiều cách

- Các lập luận phổ biến nhất đối với tác động tiêu cực của FDI vào bất bình đẳng thu nhập là FDI làm tăng tiền lương tương đối của lao động có tay nghề cao trong một nước nhận đầu tư bằng cách sử dụng công nghệ tiên tiến Bằng dữ liệu

từ Hoa Kỳ, Mexico và Venezuela, khi kiểm soát các nhân tố khác, Aitken và cộng

sự (1996) thấy rằng các công ty nước ngoài trả lương cao hơn so với các công ty trong nước Feenstra và Hanson (1997) và Graham và Wada (2000) tìm thấy bằng chứng thực nghiệm rằng sự tăng trưởng của FDI có tương quan thuận với mức lương tương đối của lao động có tay nghề cao tại Mexico

- Các kỹ thuật thâm dụng vốn được sử dụng bởi các nhà đầu tư nước ngoài thúc đẩy tỷ lệ thất nghiệp cho người lao động không có tay nghề (Lall, 1985) Các tập đoàn đa quốc gia trả lương thấp trong các ngành công nghiệp thâm dụng lao động như giày dép, quần áo và các nhà cung cấp trong nước để giảm chi phí (Barnet và Cavanag, 1994)

- FDI tạo ra một tầng lớp “lao động tiên tiến” ở một số ngành quan trọng Những lao động tiên tiến này hưởng lương cao 4-10 lần so với mức lương bình thường và các lợi ích khác so với các ngành tương đương và do đó làm tăng bất

Trang 30

bình đẳng thu nhập (Girling 1973) Hơn nữa, có những ghi nhận cho thấy một liên minh kinh tế - chính trị “ba liên minh” nổi lên một cách tự nhiên từ các tầng lớp lao động tiên tiến, các thế lực kinh tế và nhà nước, được hỗ trợ bởi các nhà đầu

tư nước ngoài Liên minh kinh tế-chính trị này sau đó thao túng quyền lực độc quyền của quốc gia để can thiệp vào thị trường bất cứ khi nào ảnh hưởng đến lợi ích của họ, dẫn đến sự phá hoại bên trong khi áp dụng bất kỳ chính sách cải thiện phân phối thu nhập nào Đây có thể là một trong những cách thức cơ bản nhất dẫn đến sự bất bình đẳng thu nhập liên tục trong các nước kém phát triển (Tsai 1995)

- Nước nhận đầu tư kém phát triển thường ưu đãi thuế đối với các nhà đầu

tư nước ngoài, điều này làm giảm doanh thu của chính phủ, ảnh hưởng đến phúc lợi dẫn đến người nghèo nhiều hơn người giàu (Hatzius 1997)

2.3 Tổng hợp một số mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây 2.3.1 Các công trình nước ngoài đã công bố

Đến nay đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện trên thế giới về tác động của FDI đến bất bình đẳng của quốc gia nhận vốn đầu tư Đối tượng nghiên cứu của các tác giả nước ngoài chủ yếu ở cấp độ quốc gia, khu vực bao gồm nhiều quốc gia, đa dạng về dữ liệu nghiên cứu và phương pháp thực hiện Kết quả của các nghiên cứu này đều chưa có sự thống nhất

2.3.1.1 Các nghiên cứu cho thấy FDI tác động đến bất bình đẳng thu nhập

- Trên bình diện các nhóm nước với nhau, Basu (2007) sử dụng dữ liệu bảng không cân đối của 119 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1970-1999 để tìm hiểu mối quan hệ giữa (i) FDI và bất bình đẳng, (ii) FDI và tăng trưởng, (iii) FDI

và tỷ trọng nông nghiệp trên GDP ở nước tiếp nhận kết quả nghiên cứu cho thấy FDI thúc đẩy sự bất bình đẳng và tăng trưởng, và có xu hướng làm giảm tỷ trọng nông nghiệp đối với GDP ở nước tiếp nhận; FDI có thể làm trầm trọng thêm bất bình đẳng, đặc biệt là trong một môi trường mà người nghèo không thể tiếp cận với công nghệ hiện đại dựa vào FDI do nguồn nhân lực ban đầu thấp

Trang 31

- D.Herzer (2012) đánh giá các tác động trong dài hạn của vốn FDI vào bất bình đẳng thu nhập giữa các hộ gia đình ở Bolivia, Chile, Colombia, Mexico và Uruguay trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2000 Bằng kiểm định nghiệm đơn

vị, kiểm định đồng kết hợp, các phân tích cho thấy FDI tác động tích cực đến bất bình đẳng thu nhập, hơn nữa, FDI đã góp phần tăng khoảng cách thu nhập trong tất cả các nước được nghiên cứu, ngoại trừ Uruguay Tuy nhiên không tìm thấy bằng chứng cho quan hệ nhân quả đảo ngược từ bất bình đẳng đến FDI

- Suanes (2016) phân tích mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và bất bình đẳng về thu nhập ở Mỹ Latinh từ góc độ ngành với ba lĩnh vực chính: ngành sơ cấp, ngành sản xuất và dịch vụ Sử dụng dữ liệu bảng của 13 nền kinh tế trong giai đoạn 1980-2009 cùng với các ước lượng tác động cố định(FE), TSLS, DGMM, bài nghiên cứu đã phân tích hai mô hình, một với dữ liệu FDI tổng hợp

và một trong số đó được phân tách theo các ngành kinh doanh chính (sơ cấp, sản xuất và dịch vụ) Mục đích của việc thực hiện hai phân tích này là tìm ra bằng chứng cho thấy liệu FDI có tác động khác nhau đối với bất bình đẳng về thu nhập trong từng ngành hay không Hiệu quả tích cực của các ngành này đối với hệ số bất bình đẳng là đặc biệt nổi bật bởi vì chúng là những ngành đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình phát triển ở các nền kinh tế trong khu vực nghiên cứu trong thập kỷ qua

- Chintrakarn và cộng sự (2011) sử dụng dữ liệu bảng của 48 tiểu bang (bao gồm các quận của Columbia) trong giai đoạn 1977-2001 để điều tra các mối quan

hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập ở Hoa Kỳ Tác giả sử dụng ước lượng đồng liên kết để kiểm định mô hình Kết quả chỉ ra rằng những tác động ngắn hạn của FDI vào bất bình đẳng thu nhập là không đáng kể Về lâu dài, FDI tạo ra một tác động tiêu cực mạnh mẽ lên sự bất bình đẳng thu nhập ở Hoa Kỳ Tại một số bang, FDI đã góp phần đáng kể gia tăng khoảng cách thu nhập

- Farhan (2014) sử dụng dữ liệu từ giai đoạn 1970-2012 và phương pháp hồi quy phân vị để phân tích tác động của dòng vốn FDI vào phân phối thu nhập

Trang 32

trong các quốc gia ASEAN-5 (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) với các biến GINI, FDI, GDP – GDP bình quân đầu người, TO – độ

mở thương mại, LE – tuổi thọ đại diện vốn con người Các phân tích cho thấy có những tác dụng giảm bất bình đẳng trong trường hợp của Malaysia, Philippines

và Thái Lan Điều này ngụ ý rằng các hoạt động FDI ở các nước này đã được hưởng lợi từ việc trả lương thấp cho công nhân có tay nghề thấp Tuy nhiên, những phát hiện tại Singapore và Indonesia cho thấy rằng FDI làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng Điều này phù hợp với quan điểm FDI vào các nước này tập trung nhiều hơn vào sử dụng công nhân có tay nghề cao Nhìn chung, các quốc gia khác nhau với môi trường kinh tế khác nhau có xu hướng hưởng lợi ích

và chi phí từ các công ty đa quốc gia khác nhau

- Furong (2009) xem xét tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bất bình đẳng thu nhập của Trung Quốc trên hai mảng: bất bình đẳng trong cộng đồng đô thị và khoảng cách thu nhập thành thị-nông thôn Dữ liệu bao gồm 25 tỉnh từ năm1990 đến năm 2006, gồm các biến GINI, FDH – tỷ lệ FDI/GDP, GDPRG – tốc độ tăng trưởng GDP, COAST – vị trí địa lý, INFL – lạm phát, SOE – khu vực nhà nước, GOV – chi tiêu chính phủ, EDU – tỷ lệ nhập học trung học, URBANA – đô thị hoá, EXPORT – xuất khẩu, được phân tích bằng hiệu ứng cố định, hiệu ứng ngẫu nhiên, và mô hình SGMM Kết quả phân tích cho thấy FDI làm tăng đáng kể sự bất bình đẳng thành thị và không có bằng chứng cho thấy FDI làm tăng chênh lệch thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn Cũng nghiên cứu về Trung Quốc, Mah (2015) thu thập dữ liệu từ Niên giám thống kê hàng năm của Trung Quốc trong giai đoạn 1982-2010, cùng với ước lượng GMM

để đo lường ảnh hưởng của dòng FDI lên bất bình đẳng thu nhập Kết quả ước lượng GMM cho thấy sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng tồi tệ với dòng FDI vào Trung Quốc Bằng chứng từ Trung Quốc cho thấy một hiệu ứng phi tuyến tính của dòng FDI lên bất bình đẳng thu nhập Mở rộng mô hình nghiên cứu về Trung Quốc, Servin (2014) sử dụng dữ liệu thu thập từ niêm giám thống kê của

29 tỉnh của Trung Quốc trong giai đoạn 1992 đến năm 2010 và mô hình tác động

Trang 33

cố định FE để phân tích mối liên quan giữa sự gia tăng bất bình đẳng liên tỉnh và

sự hiện diện của đầu tư trực tiếp nước ngoài Bài nghiên cứu xem xét hai mô hình: mô hình 1 xem xét mối quan hệ giữa FDI và hệ số Gini, mô hình 2 xem xét mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập giữa các tỉnh và FDI Kết quả cho thấy

sự có mặt của đầu tư trực tiếp nước ngoài ảnh hưởng đến sự khác biệt về thu nhập của tỉnh, cũng như hệ số Gini của Trung Quốc trong những năm 1992 đến năm

2010 Kết quả này chỉ ra rằng sự có mặt của đầu tư trực tiếp nước ngoài có ảnh hưởng tiêu cực tới mức bất bình đẳng liên tỉnh ở Trung Quốc

2.3.1.2 Các nghiên cứu cho thấy FDI tác động không đáng kể đến bất bình đẳng thu nhập

- Piyaareekul (2013) nghiên cứu các tác động dài hạn của đầu tư trực tiếp nước ngoài, hội nhập kinh tế khu vực và phát triển nguồn nhân lực đối với bất bình đẳng thu nhập ở các nước ASEAN.Tập dữ liệu bao gồm các quan sát xuyên quốc gia cho 5 nền kinh tế ASEAN ( Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan

và Việt Nam) trong giai đoạn 1985-2011 từ nguồn dữ liệu của Ngân hàng thế giới Qua các kiểm định nghiệm đơn vị (Panel unit root test), kiểm định đồng kết hợp (panel cointegration test) và kiểm định nhân quả Granger, kết quả cho thấy dòng vốn FDI không có ảnh hưởng trực tiếp đến bất bình đẳng về thu nhập mặc

dù việc thực hiện lộ trình xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) có thể trực tiếp ảnh hưởng đến sự gia tăng bất bình đẳng về thu nhập trong khu vực này Tuy nhiên, các quan sát trong nghiên cứu này chỉ giới hạn ở 5 nước ASEAN vì những hạn chế về dữ liệu và những khó khăn trong việc thu thập dữ liệu nên đây là hạn chế bài nghiên cứu

- Franco và Gerussi (2013) xác minh liệu thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể ảnh hưởng đến việc phân phối thu nhập trong một mẫu 18 quốc gia chuyển đổi trong giai đoạn 1990-2006 hay không Mô hình sử dụng các biến GINI, FDI, TRADE – thương mại, GDPPC – GDP bình quân đầu người, SEC –

số học sinh trung học đại diện cho giáo dục, INFL – lạm phát, SERVICE – dịch

Trang 34

vụ, IMPED – nhập khẩu từ các nước phát triển, IMPING – nhập khẩu từ các nước đang phát triển, EXPED – xuất khẩu sang các nước phát triển, EXPING - xuất khẩu sang các nước đang phát triển Bằng mô hình tác động cố định (FE) và SGMM, kết quả cho thấy FDI tác động không đáng kể đến sự bất bình đẳng thu nhập

- Mugeni (2015) điều tra tác động của luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

và nền dân chủ vào sự bất bình đẳng về thu nhập Sử dụng số liệu thống kê của

153 quốc gia đang phát triển và phát triển từ năm 1995 đến năm 2010; phương pháp hiệu quả cố định FE và phương pháp GMM của Arello và Bond (1998), nghiên cứu này kết luận rằng dòng vốn FDI giảm bớt sự bất bình đẳng về thu nhập ở các nước có mức độ dân chủ cao hơn; đồng thời cho thấy sự gia tăng nguồn nhân lực làm giảm bất bình đẳng về thu nhập

- Nam (2016) phân tích tác động của dòng FDI vào sự bất bình đẳng về thu nhập dựa trên bảng dữ liệu các tỉnh của Việt Nam trong giai đoạn 2002-2012 Các biến được sử dụng trong mô hình gồm LnGIN, LnFDI, LnSEC-giáo dục, LnDOI-đầu tư, LnTO – độ mở thương mại, LnINF-lạm phát, LnPGPC-GDP bình quân đầu người, LnPOP- dân số Bằng cách áp dụng các phân tích dữ liệu bảng điều khiển bao gồm mô hình OLS và mô hình tác động cố định FE, nghiên cứu cho thấy ở cấp tỉnh, FDI vào Việt Nam có xu hướng giảm khoảng cách thu nhập bằng cách sử dụng lao động có tay nghề thấp trong khi giáo dục trung học và mở cửa thương mại có thể thúc đẩy bình đẳng về phân phối thu nhập Ngược lại, tỷ lệ lạm phát, GDP bình quân đầu người và dân số theo tỉnh có xu hướng làm trầm trọng thêm khoảng cách thu nhập trong trường hợp của Việt Nam Mặt khác, đầu tư trong nước có ảnh hưởng không đáng kể đến sự bất bình đẳng về thu nhập

2.3.1.3 Các nghiên cứu cho thấy tác động của FDI lên bất bình đẳng thu nhập thay đổi trong dài hạn

- Wu và Hsu (2012) sử dụng bộ dữ liệu cắt ngang từ 54 nước trong giai đoạn 1980-2005 (các biến trong mô hình gồm GINI, FDI, GDP, Schooling – giáo

Trang 35

dục, Inflation – lạm phát, Trade – thương mại, Air – vận tải hàng không, Elect – điện năng tiêu thụ, Phone – đường dây điện thoại, PCM – chỉ số kết hợp cơ sở hạ tầng từ ba biến Air, Elect, Phone) cùng với ước lượng hồi quy ngưỡng nội sinh do Hansen (2000) và Caner và Hansen (2004) đề xuất và mô hình GMM để phân tích những ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bất bình đẳng về thu nhập Nghiên cứu cho thấy FDI có thể gây hại cho việc phân phối thu nhập của các nước tiếp nhận có năng lực hấp thụ thấp nhưng lại ít ảnh hưởng đến bất bình đẳng

về thu nhập trong trường hợp các quốc gia có khả năng hấp thụ tốt hơn Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy thương mại quốc tế có thể dẫn đến phân phối thu nhập bình đẳng hơn

- Ucal và Ahaug (2014) áp dụng cách tiếp cận mô hình ARDL (AutoRegressive Distributed Lag) và FM-OLS để khảo sát cách thức đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố quyết định khác ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng về thu nhập ở Thổ Nhĩ Kỳ trong ngắn hạn và dài hạn trong giai đoạn từ năm 1970 đến 2008, các biến được sử dụng trong mô hình gồm GINI, FDI, tốc độ tăng dân

số (POPGR), tỷ lệ lạm phát (INF), tốc độ tăng trưởng GDP (GDPGR) và tỷ lệ biết chữ (LR) Các kết quả thực nghiệm cho thấy FDI làm tăng bất bình đẳng thu nhập ban đầu phần nào nhưng hiệu ứng này biến mất trong thời gian dài

- Bhandari (2007) kiểm tra liên kết giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập cho các nước đang chuyển đổi ở Đông Âu và Trung Á trong giai đoạn 1990 đến 2002

Sử dụng hiệu ứng cố định FE, không có bằng chứng cho thấy FDI ảnh hưởng đến

sự bất bình đẳng thu nhập nói chung Tuy nhiên, các bằng chứng thống kê cho thấy rằng FDI làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng thu nhập tiền lương, trong khi giảm bất bình đẳng thu nhập vốn

- Cho và Ramirez (2013) xem xét mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và phân phối thu nhập ở nước tiếp nhận được đo bằng hệ số Gini bằng kiểm định nghiệm đơn vị và phân tích đồng kết hợp nhằm kiểm tra xem FDI

có tác động phi tuyến tính đến bất bình đẳng về thu nhập ở bảy quốc gia được lựa

Trang 36

chọn ở Đông Nam Á trong giai đoạn 1990-2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy dòng vốn FDI có xu hướng làm tăng bất bình đẳng về thu nhập trong ngắn hạn nhưng giảm trong dài hạn, Trong nghiên cứu này, chỉ số Gini bắt đầu giảm sau khi các luồng FDI đổ vào GDP đạt 5,6 Thực tế là hệ số Gini đạt đến mức tối đa ở mức tương đối thấp của dòng FDI cho thấy rằng các quốc gia nghiên cứu có khả năng hấp thụ đáng kể Nói cách khác, các quốc gia này sẽ chuyển sang mô hình công nghệ mới một cách nhanh chóng và khi đạt trạng thái cân bằng thì FDI sẽ có lợi hơn là có hại

- Chen (2016) điều tra tác động liên vùng của FDI vào bất bình đẳng về thu nhập giữa nông thôn và thành thị ở các tỉnh nội địa ở Trung Quốc Thông qua số liệu thống kê và kết quả ước lượng của mô hình tác động cố định FE, mô hình biến công cụ (IV) cho thấy hiệu quả liên vùng của FDI đã góp phần làm tăng bất bình đẳng thu nhập giữa thành thị và nông thôn ở các tỉnh trong nội địa Tuy nhiên, FDI ở các tỉnh nội địa và duyên hải có những tác động tràn khác nhau Cụ thể, sự bất bình đẳng về thu nhập đô thị ở một tỉnh nội địa có thể giảm do tác động lan tỏa từ FDI ở các tỉnh nội địa khác trong khi đó có thể tăng do tác động tràn từ FDI đến các tỉnh ven biển Biến động này có thể xảy ra do sự khác biệt trong chế độ thương mại mà FDI ở các vùng duyên hải và nội địa đang tham gia

- Yu (2011) sử dụng dữ liệu trên 29 tỉnh của Trung Quốc và mô hình phương trình đồng thời để thực hiện phân tích hồi quy, sau đó phân tích các kết quả hồi quy bằng cách sử dụng phương pháp phân huỷ hồi quy dựa trên giá trị Shapley để xác định tác động của FDI đối với bất bình đẳng thu nhập khu vực của Trung Quốc và các thay đổi liên quan Kết quả cho thấy rằng FDI ở Trung Quốc đã đóng góp ít hơn 2% của bất bình đẳng thu nhập khu vực; tỷ lệ đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài bình quân đầu người cho sự bất bình đẳng thu nhập khu vực của Trung Quốc đã giảm từ năm 2002

- Mihaylova (2015) khảo sát tác động của FDI đối với bất bình đẳng thu nhập ở 10 nước từ Trung và Đông Âu (CEE) trong giai đoạn 1990 – 2012, các

Trang 37

biến sử dụng trong mô hình gồm GINI , FDI, EDUC – giáo dục, GDPPC – thu nhập bình quân đầu người, INFL – lạm phát, GOVERN – chính phủ, SERV – dịch vụ Thông qua mô hình tác động cố định (FE), nghiên cứu nhận thấy rằng FDI có tiềm năng gây ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng về thu nhập, nhưng tác động này khác nhau tùy thuộc vào mức độ giáo dục và phát triển kinh tế của nước tiếp nhận, sự biểu hiện của hiệu ứng này phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của nền kinh tế chủ nhà mức độ thấp về vốn con người và kinh tế phát triển, FDI có xu hướng tăng bất bình đẳng về thu nhập ở nền kinh tế có vốn con người và trình độ phát triển thấp, nhưng nếu gia tăng về giáo dục và GDP bình quân đầu người thì hiệu quả phân phối của FDI sẽ giảm đi Đến khi nền kinh tế đạt được mức độ vốn con người và phát triển kinh tế cao hơn, FDI thậm chí có thể góp phần làm giảm

sự bất bình đẳng về thu nhập Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, lạm phát và sự mở rộng của ngành dịch vụ đã góp phần làm tăng bất bình đẳng về thu nhập trong các nền kinh tế

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm xem xét về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế, chẳng hạn bài nghiên cứu của Vũ Văn Hường (2007)

sử dụng dữ liệu mảng nghiên cứu tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế thông qua kênh trực tiếp (tăng tỷ lệ đầu tư trong nước) và kênh gián tiếp (thông qua năng suất nhân tố tổng hợp TFP) Hay bài nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của Phạm Thị Hoàng Anh (2014) dựa trên chuỗi số liệu được thu thập theo quý từ Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, đồng thời

sử dụng mô hình VAR để đánh giá tác động giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Hay nghiên cứu của Nguyễn Minh Tiến (2008) phân tích thực nghiệm dữ liệu bảng 43 tỉnh thành trên bình diện các vùng, liên kết vùng và tổng thể vùng ở Việt Nam giai đoạn 1997-2012 đã thể hiện kết quả tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế ở các cấp không gian khác nhau của Việt Nam; đồng thời xác định các nhân tố quyết định thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Còn có nghiên cứu của Nguyễn Minh Kiều và cộng sự (2016)

Trang 38

xem xét tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế của 08 quốc gia ASEAN trong giai đoạn từ 1995-2014

Ngoài ra, FDI còn được nghiên cứu trong mối quan hệ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, năng suất nhân tố tổng hợp, hiệu quả ngành, sự phát triển ngành và cả

sự rời bỏ ngành như các nghiên cứu của Phùng Quốc Chí (2004), Lê Thị Kim Chung (2015), Nguyễn Thị Huỳnh Giao (2016), Phạm Quang Sáng, Phạm Thị Bích Ngoc (2014)

Các nghiên cứu phân tích tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập hầu như rất ít Chỉ tìm thấy nghiên cứu của Trần Nhuận Kiên (2013), thu thập số liệu

22 tỉnh thành của Việt Nam từ năm 2002 – 2010 với các biến gồm GINI, FDI, XUATKHAU – giá trị kim ngạch xuất khẩu, LAM PHAT – tỷ lệ lạm phát, GDP – tốc độ tăng trưởng GDP, PSO – thu nhập bình quân đầu người khu vực nhà nước , CHITIEU – chi tiêu công, GIAODUC – tỷ lệ số sinh viên đại học cao đẳng, THANHTHI – tỷ lệ dân thành thị/ tổng dân số và ứng dụng mô hình TOBIT nhằm đánh giá tác động của FDI đối với bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy FDI làm giảm bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam nhờ những nỗ lực về chính sách thu hút đầu tư cũng như phân bổ nguồn FDI hợp lý của chính phủ Thêm vào đó, quá trình đô thị hóa và đầu tư phát triển nông thôn cũng làm giảm bất bình đẳng thu nhập Ngược lại, các yếu tố như giá trị xuất khẩu, lạm phát và giáo dục làm tăng bất bình đẳng ở Việt Nam

Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã sử dụng đa dạng các dữ liệu (dữ liệu thời gian, bảng hay dữ liệu chéo), nhiều phương pháp (VAR, FE, OLS, GMM ), nhiều không gian nghiên cứu (quốc gia, khu vực gồm nhiều quốc gia hoặc các vùng trong quốc gia) để định lượng tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập Trong ngắn hạn, các kết quả không nhất quán: FDI có xu hướng làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập hoặc không có tác động Trong dài hạn, FDI thậm chí có thể làm giảm sự bất bình đẳng trong thu nhập Tuy nhiên, không gian nghiên cứu khác nhau, dữ liệu khác nhau, phương pháp định lượng khác nhau có thể cho các

Trang 39

kết quả khác nhau; mặt khác tại Việt Nam rất ít nghiên cứu thực hiện ở các vùng, liên kết vùng hoặc các tỉnh, thành trong một quốc gia Do đó, tác giả nghiên cứu:

“Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng ở Việt Nam giai đoạn 2007-2015” để xem xét ảnh hưởng của FDI đến bất

bình đẳng thu nhập tại các vùng của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2015

Kết luận chương

Nội dung chương 2 đã trình bày các khái niệm và các lý thuyết về FDI và bất bình đẳng thu nhập, đồng thời nêu lên cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập Qua kết quả các nghiên cứu thực nghiệm trước có thể khẳng định có sự tồn tại mối quan hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập Các

mô hình nghiên cứu thực nghiệm từ các nghiên cứu trước sẽ làm nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo

Trang 40

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Lựa chọn mô hình của tác giả

3.1.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu

Dựa trên lý thuyết kinh tế học về mối quan hệ FDI và bất bình đẳng thu nhập và xem xét các nghiên cứu trước đây của Furong (2009), Wu (2012), Trần Nhuận Kiên (2013), Franco và Gerussi (2013), Farhan (2014), Mihaylova (2015), Nam Hoai Trinh (2016); theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Vi (2012), tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của Việt Nam như sau:

GINIit = β0 + β1 FDIit + βkXit + αiDi + µi + εit (3.1) Trong đó

- i là các tỉnh/thành phố;

- t là thời gian, giai đoạn 2007-2015;

- GINIit: hệ số bất bình đẳng thu nhập của tỉnh i theo t

- FDIit: biến độc lập chính, được đo bằng tỉ lệ vốn FDI/GDP của tỉnh i năm t;

- Xit là tập hợp các biến kiểm soát, gồm: độ mở thương mại, lạm phát, tốc

độ tăng trưởng GDP, chi tiêu công, giáo dục, thành thị, dịch vụ, các biến thể hiện đặc tính địa phương Các biến này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Vi (2012), bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam do một số nguyên nhân cơ bản: sự chênh lệch về học vấn, kỹ năng, nghề nghiệp – thể hiện ở biến giáo dục; quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa – thể hiện ở biến thành thị; toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế - thể hiện ở biến độ mở thương mại; sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng miền – thể hiện ở các biến về đặc tính địa phương; cơ chế quản lý, chính sách của nhà nước – thể hiện ở biến chi tiêu công đại diện cho chính phủ

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Đường Lorenz và hệ số Gini - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Hình 1.1. Đường Lorenz và hệ số Gini (Trang 19)
Bảng 3.1 Tóm tắt và đo lường các biến trong mô hình - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Bảng 3.1 Tóm tắt và đo lường các biến trong mô hình (Trang 45)
Hình 4.1: Diễn biến dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2007-2015 - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Hình 4.1 Diễn biến dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2007-2015 (Trang 53)
Bảng 4.1: FDI ở các vùng của Việt Nam (tính đến ngày 31/12/2015) - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Bảng 4.1 FDI ở các vùng của Việt Nam (tính đến ngày 31/12/2015) (Trang 55)
Hình 4.3: FDI ở các tỉnh của Việt Nam (tính đến ngày 31/12/2015) - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Hình 4.3 FDI ở các tỉnh của Việt Nam (tính đến ngày 31/12/2015) (Trang 56)
Hình 4.4 cho thấy, nhìn chung hệ số bất bình đẳng thu nhập ở các vùng đều  tăng qua các năm, chỉ riêng có vùng Đông Nam Bộ là giảm - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Hình 4.4 cho thấy, nhìn chung hệ số bất bình đẳng thu nhập ở các vùng đều tăng qua các năm, chỉ riêng có vùng Đông Nam Bộ là giảm (Trang 58)
Hình 4.5: Thu nhập bình quân đầu người của nhóm giàu nhất - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Hình 4.5 Thu nhập bình quân đầu người của nhóm giàu nhất (Trang 59)
Bảng 4.2: Thu nhập bình quân đầu người và chênh lệch thu nhập giữa  nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất giai đoạn 2007-2015 - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Bảng 4.2 Thu nhập bình quân đầu người và chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất giai đoạn 2007-2015 (Trang 61)
Hình 4.6 cho thấy  có  sự khác  biệt lớn về  điều  kiện kinh tế giữa  các  vùng  miền ở Việt Nam - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Hình 4.6 cho thấy có sự khác biệt lớn về điều kiện kinh tế giữa các vùng miền ở Việt Nam (Trang 62)
Hình 4.6: Chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo  nhất tại các vùng của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Hình 4.6 Chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất tại các vùng của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 (Trang 62)
Bảng 4.3 cho ta thấy tổng quát dữ liệu xét về mặt thống kê với 567 quan sát  trong giai đoạn 2007 - 2015 - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Bảng 4.3 cho ta thấy tổng quát dữ liệu xét về mặt thống kê với 567 quan sát trong giai đoạn 2007 - 2015 (Trang 63)
Bảng 4.4: Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Bảng 4.4 Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu (Trang 65)
Bảng 4.8:  Kiểm tra đa cộng tuyến mô hình nghiên cứu - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Bảng 4.8 Kiểm tra đa cộng tuyến mô hình nghiên cứu (Trang 69)
Bảng 4.10:  Tổng hợp giá trị p value từ kiểm định Heteroskedasticity Test - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng của việt nam giai đoạn 2007   2015
Bảng 4.10 Tổng hợp giá trị p value từ kiểm định Heteroskedasticity Test (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w