Đề tài này được thực hiện để kiểm tra mối quan hệ giữa sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế, đồng thời đánh giá tác động của sức khoẻ đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước đang phát triển t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng, luận văn “Mối quan hệ giữa sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu trường hợp các nước ASEAN” này là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng, toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô của Trường Đại Học Mở Thành phố
Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi được học tập và nghiên cứu ở nhà trường Nguồn kiến thức của quý thầy cô truyền thụ cho không những
là nền tảng để tôi nghiên cứu thực hiện luận văn này mà còn là hành trang vô cùng quý báu giúp tôi tự tin phát triển hơn trong công việc và cuộc sống sau này
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Thanh Loan đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn lớp Cao học Kinh Tế ME015A, các bạn đồng nghiệp và gia đình đã nhiệt tình ủng hộ, khích lệ, chia sẽ nhiều tài liệu, kinh nghiệm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài
Mặc dù đã nỗ lực để thực hiện một cách hoàn chỉnh nhất song cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong tiếp tục nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Trần Hoàng Phú
Trang 4TÓM TẮT
Ảnh hưởng của vốn con người với tăng trưởng kinh tế đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của các quốc gia khi tham gia tự do hoá thương mại toàn cầu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới cũng như ở Việt Nam, mặc dù vốn con người bao gồm nhiều khía cạnh như: giáo dục, kỹ năng, kinh nghiệm, sức khoẻ … nhưng chỉ tập trung vào yếu tố giáo dục làm thước đo để xem xét ảnh hưởng của vốn con người đến tăng tưởng kinh tế
Đề tài này được thực hiện để kiểm tra mối quan hệ giữa sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế, đồng thời đánh giá tác động của sức khoẻ đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước đang phát triển thuộc khu vực Đông Nam Á (ASEAN) trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 2015 Bằng các kỹ thuật kinh tế lượng và dữ liệu bảng, các phương pháp được dùng
là kiểm tra quan hệ nhân quả Granger, các phương pháp ước lượng hồi quy dữ liệu bảng GMM và hồi quy sửa lỗi ECM tiếp cận theo phương pháp ARDL Với mẫu nghiên cứu bao gồm 7 quốc gia đang phát triển thuộc ASEAN là Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines, Thái Lan và Việt Nam
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giữa vốn sức khoẻ (được tính dựa trên tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi, tuổi thọ trung bình và tỷ suất sinh của sản phụ) và tăng trưởng kinh
tế ( biểu thị bởi thu nhập bình quân đầu người) tại các nước đang phát triển ASEAN trong giai đoạn nghiên cứu có tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều tại độ trễ 1 Nghiên cứu cũng cho thấy rằng vốn sức khoẻ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển ASEAN
Với kết quả nghiên cứu được, đề tài đưa ra một số chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững cho các nước đang phát triển ASEAN Trong đó, nghiên cứu nhấn mạnh cần thực hiện các chính sách nhằm gia tăng vốn con người thông
Trang 5qua kiểm soát dân số, tăng đầu tư và chi tiêu cho y tế, tăng đầu tư và chi tiêu cho giáo dục
và tăng cường giao dịch thương mại tự do
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ ix
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi
CHƯƠNG I GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 5
1.7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
Trang 72.1 Sức khỏe là thành tố quan trọng của vốn con người 7
2.2 Đo lường vốn sức khoẻ 16
2.3 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế 18
2.4 Các mô hình lý thuyết tăng trưởng kinh tế 20
2.4.1 Mô hình tăng trưởng cơ bản 20
2.4.2 Mô hình cổ điển 20
2.4.3 Mô hình tân cổ điển 21
2.4.4 Mô hình tăng trưởng của Solow 22
2.4.5 Mô hình tăng trưởng nội sinh 23
2.5 Mối quan hệ sức khỏe và tăng trưởng kinh tế 25
2.6 Tổng quan các nghiên cứu trước 28
Tóm tắt chương 2 35
CHƯƠNG III MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Mô hình nghiên cứu 37
3.1.1 Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu 37
3.1.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 40
3.2 Phương pháp ước lượng mô hình 43
3.2.1 Kiểm định tính dừng 43
3.2.2 Kiểm định đồng tích hợp 45
3.2.3 Kiểm định nhân quả Granger 46
3.2.4 Mô hình hồi quy bảng động moment tổng quát GMM 47
3.2.5 Mô hình hiệu chỉnh sai số ECM tiếp cận theo phương pháp ARDL 49
Trang 83.4 Giải thích các biến và nguồn dữ liệu 52
Tóm tắt chương 3: 57
CHƯƠNG IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59
4.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng của các nước đang phát triển ASEAN giai đoạn 1985-2015 59
4.1.1 Tăng trưởng kinh tế (theo GDP bình quân đầu người) 59
4.1.2 Vốn sức khoẻ 62
4.1.3 Tỷ lệ học sinh trung học 65
4.1.4 Tỷ lệ đầu tư công 66
4.1.5 Tỷ lệ chi tiêu công 67
4.1.6 Độ mở thương mại 67
4.2 Kiểm tra dữ liệu ban đầu các biến 68
4.3 Ma trận tương quan 70
4.4 Kiểm tra đa cộng tuyến 70
4.5 Kiểm định mối quan hệ giữa vốn sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế 71
4.5.1 Kiểm tra tính dừng 71
4.5.2 Độ trễ tối ưu của mô hình 73
4.5.3 Kiểm định tính đồng tích hợp 73
4.5.4 Kiểm định nhân quả Granger 74
4.6 Đánh giá tác động của vốn sức khoẻ đến tăng trưởng kinh tế 75
4.6.1 Kết quả ước lượng hồi quy dữ liệu bảng động GMM 76
4.6.2 Kết quả mô hình hiệu chỉnh sai số ECM tiếp cận theo phương pháp ARDL 78
Trang 94.6.3 Giải thích kết quả nghiên cứu 81
4.7 So sánh với các kết quả nghiên cứu trước 84
Tóm tắt chương 4 89
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
5.1 Kết luận 90
5.2 Khuyến nghị chính sách 92
5.3 Những hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC xiii
Phụ lục 1: Bảng mã quốc gia trong nghiên cứu xiii
Phụ lục 2: Chi tiết số liệu nghiên cứu xiv
Phụ lục 3: Đồ thị kiểm tra các biến xxii
Phụ lục 4: Thống kê dữ liệu ban đầu xxv
Phụ lục 5: Ma trận tương quan và đa cộng tuyến xxvi
Phụ lục 6: Xác định độ trễ tối ưu xxvii
Phụ lục 7: Kiểm định đồng tích hợp Johansen xxvii
Phụ lục 8: Kiểm định nhân quả VAR Granger xxviii
Phụ lục 9: Kiểm định nhân quả Granger dữ liệu bảng Dumitrescu-Hurlin xxviii
Phụ lục 10: Kết quả hồi quy mô hình GMM xxix
Phụ lục 11: Kết quả hồi quy mô hình ARDL xxx
Trang 10DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Trang
Hình 2.1: Đường cong Preston cho GDP bình quân đầu người và tuổi thọ trung bình 12
Hình 3.1: Mô hình kiểm định mối quan hệ 37
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất 40
Hình 3.3: Quy trình kiểm định mối quan hệ vốn sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế 58
Hình 4.1: GDP bình quân đầu người tại 7 nước ASEAN 1985-2015 59
Hình 4.2: Tăng trưởng GDP tại 7 nước ASEAN 1985-2015 61
Hình 4.3: Vốn sức khoẻ của 7 nước ASEAN từ 1985 đến 2015 63
Hình 4.4: Tuổi thọ trung bình tại 7 nước ASEAN 1985-2015 63
Hình 4.5: Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi tại 7 nước ASEAN 1985-2015 64
Hình 4.6: Tỷ suất sinh tại 7 nước ASEAN 1985-2015 65
Hình 4.7: Tỷ lệ học sinh trung học tại ASEAN 1985-2015 66
Hình 4.8: Tỷ lệ đầu tư công tại ASEAN 1985-2015 66
Hình 4.9: Tỷ lệ chi tiêu công tại ASEAN 1985-2015 67
Hình 4.10: Độ mở thương mại tại ASEAN 1985-2015 67
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước liên quan 34
Bảng 3.1: Giải thích tóm tắt các biến trong mô hình nghiên cứu đề xuất 56
Bảng 4.1: Tăng trưởng GDP tại 7 nước ASEAN 1985-2015 60
Bảng 4.2: Kiểm tra dữ liệu ban đầu các biến trong nghiên cứu 68
Bảng 4.3: Ma trận hệ số tương quan Pearson 70
Bảng 4.4: Kiểm tra đa cộng tuyến 71
Bảng 4.5: Kiểm định tính dừng Fisher dựa theo ADF 72
Bảng 4.6: Kiểm định tính dừng Im-Pesaran-Shin 72
Bảng 4.7: Xác định độ trễ tối ưu cho các chuỗi dữ liệu 73
Hình 4.8: Kiểm định đồng tích hợp Trace 74
Hình 4.9: Kiểm định đồng tích hợp cực đại Max-Eigenvalue 74
Bảng 4.10: Kiểm định nhân quả VAR Granger 75
Bảng 4.11: Kiểm định nhân quả Granger dữ liệu bảng Dumitrescu-Hurlin 75
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình GMM 77
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình ARDL 80
Bảng 4.14: Kiểm định đồng tích hợp Bonds theo Perasan-Shin-Smith 80
Trang 12ADF (Augmented Dickey Fuller) : Kiểm định DF mở rộng
AEC (ASEAN Economic Community) : Cộng đồng kinh tế ASEAN
ARDL (Autoregressive distributed lag model) : Mô hình tự hồi quy phân phối trễ ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) : Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á ECM (Error Correction Model) : Mô hình hiệu chỉnh sai số
FEM (Fixed Effects Model) : Mô hình tác động cố định
GDP (Gross Domestic Product) : Tổng sản lượng quốc nội
GLS (Generalized Least Squares) : Bình phương nhỏ nhất tổng quát GMM (Generalized Method of Moments) : Phương pháp moment tổng quát GNI (Gross national income) : Tổng thu nhập quốc dân
GNP (Gross National Product) : Tổng sản lượng quốc gia
IMF (International Monetary Fund) : Quỹ tiền tệ quốc tế
IVs (Instrumental Variable Estimator) : Ước lượng biến công cụ
MDGs (Millennium Development Goals) : Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
Trang 13OECD (Organization for Economic Cooperation and Development): Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
OLS (Ordinary Least Squares) : Bình phương nhỏ nhất
REM (Random Effects Model) : Mô hình tác động ngẫu nhiên
UNDP (United Nations Development Programme) : Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
USD (United States Dollar) : Đồng đô la Mỹ
VAR (Vector Autoregressive Model) : Mô hình vector tự hồi quy
VECM (Vector Error Correction Model) : Mô hình vector hiệu chỉnh sai số
WDI (World Development Indicators) : Chỉ số phát triển thế giới
WEF (World Economic Forum) : Diễn đàn Kinh tế thế giới
WHO (World Health Organization) : Tổ chức y tế thế giới
WTO (World Trade Organization) : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 14
CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
Chương này giới thiệu tổng quan về nghiên cứu bao gồm: mở đầu đặt vấn đề và
lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu cần đạt được; các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra; mô tả đối tượng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu luận văn
1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu
Sử dụng vốn nhân lực là một vấn đề đang nổi lên trong thời đại mới của thế kỷ
21 Việc sử dụng vốn nhân lực là tiêu hao sức khoẻ của con người và y tế giáo dục có hiệu quả Khi người dân khoẻ mạnh và có kiến thức, hiển nhiên họ sẽ năng động và nhiệt tình hơn trong công việc và trở nên hiệu quả trong hơn trong lĩnh vực của họ Chi tiêu công cho giáo dục, sức khoẻ và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản hình thành một công cụ cho chính sách phát triển quốc gia Bản chất của nguồn nhân lực hiện nay được nhận thấy là quan trọng trong vấn đề này Tổng sản lượng quốc gia phụ thuộc vào mức độ sử dụng vốn con người; và tăng trưởng vốn con người như là một kết quả ở mức độ cao hơn của tình trạng sức khoẻ, giáo dục tốt hơn, điều kiện học tập
và đào tạo mới với một tinh thần và thể chất khoẻ mạnh Theo Lopez-Casasnovas, Rivera và Currais (2005), Halder và cộng sự (2010), nếu không có một lực lượng lao động với điều kiện tối thiểu về sức khoẻ, giáo dục và tình trạng khoẻ mạnh, thì một quốc gia sẽ không xác định được năng lực của mình trong việc duy trì tình trạng tăng trưởng kinh tế Khái niệm về nguồn nhân lực trong việc nhấn mạnh về sức khoẻ, giáo dục, đào tạo nghề, di cư và đầu tư khác trên con người, giúp gia tăng năng suất cho nền kinh tế Trong bối cảnh hiện nay có những lợi ích đối với việc nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa các chỉ số sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế
Ban đầu, những nghiên cứu chỉ chú ý cho sự tích lũy vốn vật chất là động cơ cho tăng trưởng kinh tế Trong năm 1960, nguồn vốn con người bắt đầu được công nhận
Trang 15có những đóng góp cho sự phát triển kinh tế quốc gia Trong số những nghiên cứu
đó, Mankiw, Romer và Weil (1992) cho thấy vai trò trung tâm của nguồn nhân lực cho sự tăng trưởng kinh tế bằng cách cung cấp các bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sức khỏe tốt hơn có một tác động tích cực đến GDP bình quân đầu người đại diện cho tăng trưởng kinh tế Vì vậy, cần có một tầm nhìn rộng hơn trong việc nghiên cứu kết nối giữa các chỉ số sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh các nước khác, hay khu vực khác nhau
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, với thu nhập xã hội ngày càng tăng cộng với
sự gia tăng dân số thế giới khiến cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe, giáo dục của con người tăng theo và lĩnh vực chăm sóc sức khỏe hiện đang trở thành ngành kinh tế xã hội rất quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới Toàn cầu hóa làm tăng lượng khách du lịch cũng phần nào làm tăng các bệnh, dịch lây truyền qua biên giới, điều
đó làm tăng gánh nặng đối với chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên, thời kỳ hội nhập cũng
là cơ hội để các nước chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao kỹ thuật, trao đổi thông tin và cùng hợp tác trong phòng, chống dịch bệnh và thiên tai thảm họa Toàn cầu hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và kể cả lối sống, hành vi, tác động đến sự thay đổi mô hình bệnh tật nhanh hơn thông qua việc làm thay đổi điều kiện làm việc, điều kiện sống và mức thu nhập Sự thay đổi này cũng làm nảy sinh những nhu cầu trong việc chăm sóc sức khoẻ, giáo dục
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một thị trường rộng lớn với dân
số hơn 622 triệu người, tổng thu nhập quốc nội (GDP) năm 2014 ước đạt 2.500 tỷ USD và tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm khoảng 1.000 tỷ USD Năm 2015, tổng GDP của ASEAN là 2,5 nghìn tỷ USD, trở thành nền kinh tế đứng thứ 6 trên thế giới Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được thành lập vào ngày 31/12/2015 Khu vực ASEAN đang phát triển năng động với rất nhiều tiềm năng kinh tế Khu vực này cần phải xác định các lĩnh vực cải tiến để đạt được các mục tiêu kinh tế và phát triển Trong số các quốc gia ASEAN, bảy nước Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines, Thái Lan và Việt Nam là những nước đang phát triển Họ cần phải tối ưu phân bổ nguồn lực của mình và từ nguồn nhân lực dồi dào trong khu vực này, nó sẽ được khai thác để có nguồn vốn con người khỏe mạnh và hiệu quả Để
Trang 16
điều này thành hiện thực, đó là một nhu cầu cần thiết để nghiên cứu mối quan hệ giữa sức khỏe và tăng trưởng kinh tế Do đó, chủ đề này được chọn để chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa sức khỏe và tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển trong khu vực ASEAN, từ đó các nước sẽ có thể làm việc trên các yếu tố cần được xây dựng để nâng cao hiệu suất kinh tế của họ
Sức khỏe là một trong những thành phần quan trọng nhất của vốn con người Nó
có thể ảnh hưởng đến mức độ sản xuất của một quốc gia thông qua các kênh khác nhau Để đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm đánh giá quan hệ giữa sức khỏe và tăng trưởng kinh tế cũng như hiểu rõ hơn nội dung “sự tác động của vốn sức khỏe
đến tăng trưởng kinh tế”, bài luận văn thực hiện đề tài nghiên cứu là “Mối quan hệ giữa sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu trường hợp các nước ASEAN”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Thứ nhất, từ những vấn đề và lý do nghiên cứu, bài nghiên cứu này kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa vốn sức khỏe và tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển ASEAN
Thứ hai, sau khi xác định quan hệ nhân quả giữa vốn sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu tiến hành đánh giá tác động của vốn sức khỏe đến tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển ASEAN
Thứ ba, dựa trên những kết quả tìm được, đưa ra những kết luận và đề xuất các giải pháp hoàn thiện vốn sức khỏe và nâng cao tăng trưởng kinh tế
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu trả lời cho các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Quan hệ giữa vốn sức khỏe và tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển ASEAN như thế nào?
Câu hỏi 2: Giải pháp nào giúp nâng cao vốn sức khỏe và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế các nước đang phát triển ASEAN?
Trang 171.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu này là vốn sức khoẻ, tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ giữa sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế, và tác động của sức khoẻ đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khu vực Đông Nam Á Những biến được xem sẽ là yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế theo mô hình cơ sở là chỉ số pháp luật, dân chủ, chỉ số tham nhũng, chỉ số đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ số lạm phát không dùng trong nghiên cứu này bởi vì vấn đề dữ liệu không đầy đủ
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: ban đầu nghiên cứu muốn thực hiện với số liệu của tất cả các
nước thuộc khu vực ASEAN Tuy nhiên, một số nước không có đủ số liệu thống kê
để thực hiện nghiên cứu trong khoản thời gian xác định như Đông Timor Thứ hai là đến 2015, các nước Brunei, Malaysia, và Singapore là nước phát triển cao hơn các nước còn lại trong khu vực này, nên nghiên cứu không đưa vào Do đó nghiên cứu thực hiện dựa trên dữ liệu của 7 nước đang phát triển Đông Nam Á cụ thể là: Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines, Thái Lan và Việt Nam
Về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn đáng tin cậy trên
thế giới như Ngân hàng thế giới (WB), Cơ sở thống kê dữ liệu Thương mại tiêu dùng của Liên Hợp Quốc (UN Comtrade), Ngân hàng phát triển các nước châu Á (ADB),
Cơ sở dữ liệu Penn và thế giới (The Penn and world database), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Nghiên cứu sử dụng số liệu được thu thập trong chuỗi thời gian từ năm 1985 -
2015, trong phạm vi 7 quốc gia khu vực Đông Nam Á
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này là nghiên cứu định lượng theo trình tự như sau:
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, kế thừa và phân tích khách quan các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước để làm rõ mối quan hệ giữa vốn con người mà đại diện là sức khoẻ với tăng trưởng kinh tế, từ đó xác định các yếu tố đại diện cho sức khoẻ có tác động tới tăng trưởng kinh tế là cơ sở xây dựng nên mô hình nghiên cứu
Trang 18
Tiếp theo, nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để xử lý số liệu của đề tài; thực hiện các kiểm định giả thiết thống kê như kiểm tra tính dừng (Unit root test), tính nhân quả Granger (Granger Causality test), tính đồng tích hợp (Co-intergration test),… nhằm tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa vốn sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế, sau đó tiến hành các mô hình hồi qui nhằm tìm ra mô hình thực nghiệm phù hợp nhất để phân tích kết quả nghiên cứu Tương ứng với từng phương pháp ước lượng sẽ có các kiểm định phù hợp nhằm lựa chọn mô hình hồi quy tốt nhất với bảng dữ liệu của nghiên cứu
Cuối cùng, tiến hành so sánh kết quả phân tích thực nghiệm với các ước đoán, các giả thiết đặc ra, trình bày các kết quả nghiên cứu và trên cơ sở đó sẽ đề xuất các giải pháp, khuyến nghị chính sách phát triển, xem xét những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng của cách tiếp cận định lượng mối quan hệ giữa vốn sức khỏe với tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu đã đề xuất phương pháp đo lường vốn sức khỏe bằng tính toán dựa trên ba khái niệm: tuổi thọ trung bình, tỷ lệ tử vong trẻ dưới năm tuổi và tỷ suất sinh của sản phụ Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu đã phân tích quan hệ vốn sức khỏe và tăng trưởng kinh tế ở nước đang phát triển ASEAN giai đoạn 1985-2015, làm rõ tác động của vốn sức khỏe đến nền kinh tế các nước đang phát triển ASEAN trong giai đoạn này
Luận văn đã sử dụng mô hình hồi quy bảng động GMM, mô hình hồi quy sửa lỗi ECM tiếp cận theo phương pháp ARDL để đo lường và phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa vốn sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển ASEAN giai đoạn 1985-2015 Luận văn lựa chọn các biến đại diện trong mô hình: Rgdp (tăng trưởng kinh tế), Health (vốn sức khỏe), Edu (tỷ lệ học sinh trung học), Invest (tỷ lệ đầu tư công), Govexp (tỷ lệ chi tiêu công) và Open (độ mở thương mại) Với kết quả phân tích và gợi ý chính sách, các chỉ số sức khoẻ được xây dựng như là đại diện quan trọng của vốn con người, ở mức độ cao hơn sẽ là lĩnh vực cần
Trang 19được các nhà tạo lập chính sách quan tâm cải tiến để nâng cao sức khỏe con người, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vĩ mô tại các nước đang phát triển ASEAN
1.7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia thành năm chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu: Trình bày giới thiệu khái quát về vấn đề và lý do nghiên
cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, và kết cấu của luận văn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày cơ sở lý thuyết về sức khỏe là thành tố
quan trọng của vốn con người; tăng trưởng kinh tế, các mô hình tăng trưởng kinh tế; mối quan hệ giữa vốn sức khỏe và tăng trưởng kinh tế Đồng thời, chương này cũng trình bày kết quả của một số nghiên cứu trước có liên quan, từ đó đề xuất giả thuyết nghiên cứu là cơ sở để thiết kế mô hình nghiên cứu
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Trình bày trình bày cơ sở
xây dựng mô hình và mô hình nghiên cứu đề xuất; giới thiệu các phương pháp kiểm định và ước lượng mô hình phù hợp Mô tả dữ liệu nghiên cứu, giải thích các biến và nguồn dữ liệu được lấy để thực hiện nghiên cứu với kỳ vọng dấu tương ứng
Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Trình bày phân tích đánh
giá vốn sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN trong giai đoạn nghiên cứu Kiểm tra dữ liệu ban đầu, phân tích tương quan giữa các biến, kiểm định các giả thuyết có liên quan đến mô hình nghiên cứu và phân tích kết quả nghiên cứu từ mô hình kinh tế lượng
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Tổng kết các nội dung luận văn đã thực
hiện, từ đó đưa ra một số kết luận, khuyến nghị về chính sách nâng cao sức khỏe con người đối với các nước ASEAN để góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế Đồng thời đưa ra những điểm mới, những hạn chế của đề tài, và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 20và các nghiên cứu trước có liên quan, tác giả sẽ đề xuất giả thuyết nghiên cứu, là cơ
sở để xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài này
2.1 Sức khỏe là thành tố quan trọng của vốn con người
Theo Becker (1993), phân tích vốn con người bắt đầu với giả thiết cho rằng những cá nhân quyết định giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế và những phần bổ sung vào hiểu biết và sức khoẻ của mình bằng cách cân nhắc những phần được và những chi phí Becker đã nhận giải Nobel năm 1992 về Khoa học Kinh tế, là người tiên phong áp dụng phân tích kinh tế vào hành vi của con người trong các lĩnh vực như phân biệt, hôn nhân, quan hệ gia đình và giáo dục
Theo Bùi Quang Bình (2009), “Vốn con người và đầu tư vào vốn con người”, thì
vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong mỗi con người nhờ quá trình giáo dục, rèn luyện sức khỏe và lao động Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả công việc của họ Cùng với vốn hữu hình nó tạo ra tài sản của nền kinh tế, nhưng vốn con người là phần cấu thành quan trọng nhất trong đó, góp phần vào tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế của mỗi nước Vốn con người được xem là tài sản của mỗi quốc gia Khi định giá tài sản quốc gia, các nhà kinh tế cũng tính toán phần giá trị của nó vào tổng tài sản Ngày nay nguồn vốn này giữ vai trò rất lớn trong sự phát triển của mỗi quốc gia và là nguồn lực quyết định tới
Trang 21tính bền vững sự tăng trưởng kinh tế Vốn con người là vốn vô hình gắn với con người và thể hiện qua kết quả và hiệu quả làm việc trong quá trình sản xuất Nhưng vốn con người theo Mincer (1974) cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư để tích luỹ thông qua giáo dục, sức khỏe trong lao động và thuộc
về mỗi người, và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006) thì vốn con người là khái niệm để chỉ toàn bộ hiểu biết của con người
về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội Như vậy, hai quan điểm vốn con người hữu hình và vô hình không có gì khác nhau về những hiểu biết, kinh nghiệm để hình thành và tích luỹ trong quá trình lao động
Mặt khác, Becker, Murphy và Tamura (1986) cho thấy là trong những xã hội có vốn con người dồi dào thì các gia đình có xu hướng lớn mạnh trong lúc chúng lại có
xu hướng thu nhỏ lại khi vốn con người trở nên khan hiếm Trong một lĩnh vực khác, lĩnh vực của sự phân biệt đối xử thì những chênh lệch về lương giữa nam và nữ một phần thuộc về những khác biệt trong thời lượng hoạt động và trong kinh nghiệm nghề nghiệp (Mincer & Polachek, 1974)
Nếu phân tích những nguồn gốc của tăng trưởng đã góp phần vào sự phát triển của lí thuyết đầu tư vào vốn con người thì, ngược lại, vốn con người nằm ở trung tâm của những lí thuyết tăng trưởng nội sinh kể từ những năm 1980 Lucas (1988) quan tâm đến những ngoại sinh tích cực trên sản xuất do tích luỹ vốn con người sinh ra Đối với hệ thống kinh tế, tích luỹ vốn con người là nội sinh và cho phép giải thích một cơ chế cộng dồn tăng trưởng mà không cần phải viện đến một tăng trưởng ngoại sinh Romer (1990) lấy lại vai trò của tiến bộ kĩ thuật như là nguồn gốc nội sinh của tăng trưởng, nhưng vốn con người lại được xem như yếu tố hàng đầu cho thực hiện những nghiên cứu Ông đưa vào một sự phân biệt quan trọng giữa khái niệm kho vốn con người là một kho hàm chứa và khái niệm kho vốn sức khoẻ hiện có trong một xã hội: kho vốn sức khoẻ này là một sản phẩm công cộng
Theo Grossman (1972), sức khỏe là thành tố quan trọng của vốn con người Sức khoẻ được cá nhân yêu cầu vì sức khoẻ tham gia trực tiếp vào hàm lợi ích của cá thể, nhưng cũng vì sức khoẻ xác định tổng thời gian có được dành cho những hoạt động
Trang 22
thị trường và phi thị trường Cá nhân thừa hưởng một kho sức khoẻ ban đầu mất giá trị với thời gian nhưng có thể được tăng lên bằng một đầu tư sử dụng những dịch vụ chăm sóc y tế và thời gian dành cho sức khoẻ Giáo dục làm tăng năng suất của đầu
tư phi hàng hoá về sức khoẻ
Khái niệm sức khỏe:
Sức khoẻ là khái niệm còn nhiều tranh luận với các tác động sâu rộng về mặt chính trị và xã hội Sức khoẻ giống như nhiều khái niệm khác, không thuần tuý mang tính khoa học và cũng không hẳn chỉ là một phần của lý lẽ thông thường Mẫu số chung của chúng bao gồm cả các lý thuyết khoa học và những suy nghĩ đời thường Các phát biểu về sức khoẻ như sau: “Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể cường tráng (sane mind in a strong body) Sức khoẻ là tình trạng không có bệnh hoặc không
có tàn tật”
Hiến chương Ottawa (qua hội nghị quốc tế của WHO về Nâng cao sức khoẻ năm 1986) qui định: “Sức khoẻ là một nguồn lực cho cuộc sống hàng ngày, không phải là mục tiêu của cuộc sống Sức khoẻ là một khái niệm tích cực nhấn mạnh vào các nguồn lực xã hội và cá nhân, cũng như khả năng về thể chất”
John Last (1997): “Sức khỏe là tình trạng thăng bằng giữa con người và môi trường tự nhiên, sinh học, và xã hội, thích hợp cho các hoạt động chức năng toàn vẹn”
Mô hình bệnh tật: mô hình bệnh tật với bệnh lây nhiễm cao nói lên tình hình phát triển thấp, với bệnh không lây nhiễm cao nói lên tình hình phát triển cao hơn, với tai nạn, chấn thương và ngộ độc cao nói lên sự phát triển chưa được quản lý tốt
Mô hình bệnh theo các nhóm thu nhập: nhóm nghèo có tử vong trẻ sơ sinh cao hơn nhóm giàu, bệnh lây nhiễm cao hơn nhóm giàu, bệnh không lây nhiễm thấp hơn nhóm giàu, tai nạn cao hơn nhóm giàu, số người già trên 70 thấp hơn nhóm giàu Báo cáo của World Bank vào năm 2010 nhấn mạnh khoảng cách về tuổi thọ giữa các nước giàu và người nghèo ngày càng lớn Một đứa trẻ sinh ra ở Nhật Bản có tuổi thọ là 82 năm; trái lại, ở Sierra Leone, Angola và Afghanistan, tuổi thọ trung bình khi
sinh là khoảng 34 năm Theo Lopez, Rivera, & Currais (2005), "Đối với các nước
kém phát triển đầu tư vào sức khỏe thường cung cấp một phương tiện để thoát khỏi
Trang 23cái bẫy nghèo đói” Các chương trình y tế công cộng và dịch tễ học giúp rút ngắn
vòng luẩn quẩn của nghèo đói và bệnh tật tạo ra sự bổ sung trong các hình thức vốn con người khác như giáo dục hoặc tỷ suất sinh bền vững cho gia đình Chương trình này giúp làm thế nào để gia tăng tuổi thọ sau khi cha mẹ quyết định đầu tư vào giáo dục con cái của họ và giảm rủi ro tử vong ở trẻ sơ sinh Kết quả là, phụ nữ có thể làm giảm tỷ suất sinh với tỷ lệ mà tại đó các lao động chính cần phải được giảm xuống Điều này làm tăng thu nhập bình quân đầu người Ngoài ra, ở cấp độ cao hơn, cộng đồng khỏe mạnh làm năng suất cao hơn, và đóng góp thu nhập quốc gia để chia sẻ cho những người nghèo khó
Theo Scheffler (2004), ghi nhận sự gia tăng chi phí chăm sóc sức khỏe là do công nghệ Ở nhiều quốc gia công nghiệp hóa phát triển, chi phí chăm sóc sức khỏe là gián tiếp liên quan đến công nghệ Trong quá khứ, chi tiêu y tế không được coi là cần thiết cho sự phát triển Nó được cho là cái gì đó sẽ đến sau khi một quốc gia đã phát triển Nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, để phát triển kinh tế một quốc gia, cần
có một hệ thống chăm sóc sức khỏe được quản lý tốt và có kế hoạch để đạt được thành công trong sự phát triển của một quốc gia Lập luận này tập trung vào việc phát triển nguồn vốn con người bao gồm: giáo dục, đào tạo và sức khoẻ
Ở các nước kém phát triển, tình trạng những gia đình lớn nhưng có nhiều trẻ em
và tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao, có nhiều lý do như như sử dụng biện pháp tránh thai thấp của người dân nông thôn của các nước kém phát triển, kế hoạch gia đình cũng không được thực hành tốt (Scheffler, 2004) Nếu các yếu tố khác không đổi, sự phát triển của hệ thống chăm sóc sức khỏe của một quốc gia sẽ giúp một gia đình lành mạnh Như vậy gia đình sẽ có một chất lượng cao hơn chứ không phải là số lượng lớn các trẻ em Điều này có ý nghĩa với mô hình tăng trưởng kinh tế
Hơn nữa, sức khỏe kém là nguyên nhân chính của đói nghèo Bệnh nghiêm trọng khiến cho người ta trở nên nghèo vì họ bị đào thải khỏi thị trường lao động Vì vậy,
để phát triển một đất nước, sức khỏe của người dân phải được tốt hơn Một cách để đạt được điều này là do giáo dục phụ nữ Vì phụ nữ là người chăm sóc chính của một
hộ gia đình, đặc biệt là trong trường hợp các nước kém phát triển (Scheffler, 2004)
Có một hệ thống chăm sóc sức khỏe phát triển tốt do đó sẽ giúp nâng cao năng suất
Trang 24
lao động, dẫn đến mức lương và GDP cao hơn Đây là chung cho mọi quốc gia vì chăm sóc sức khỏe góp phần vào số lượng và chất lượng cuộc sống tốt hơn
Các chỉ số vốn con người:
Các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách đã công nhận vốn con người
là một thành phần quan trọng trong tích luỹ vốn và phát triển kinh tế Do đó việc đo lường vốn con người là vô cùng quan trọng Theo nhiều nghiên cứu trong nước và ngoài nước về nguồn vốn con người, tuỳ theo vấn đề quan tâm mà họ xây dựng thang đo khác nhau Trong nghiên cứu này chỉ quan tâm đến những chỉ số sức khoẻ
và giáo dục được trình bày sau đây:
1) Tuổi thọ trung bình (Life expectancy) là tuổi thọ từ khi sinh ra phản ánh số
tuổi trung bình của người đã chết trong năm của dân số Nó tóm tắt mô hình tử vong chiếm ưu thế ở tất cả các nhóm tuổi trong một năm nhất định bao gồm trẻ em và thanh thiếu niên, người lớn và người cao tuổi Tuổi thọ trung bình phụ thuộc vào các tiêu chuẩn được sử dụng để chọn các nhóm Tuổi thọ trung bình thường được tính riêng cho nam và nữ Nữ giới thường sống lâu hơn nam giới ở hầu hết các quốc gia
có hệ thống y tế sản khoa tốt (WHO) Trong nghiên cứu này sẽ sử dụng tuổi thọ trung bình như một trong những đại diện của vốn sức khoẻ để thu thập số liệu và phân tích, đánh giá
Tuổi thọ trung bình còn được gọi là “Triển vọng sống” là con số ước tính về số năm bình quân của một người sinh ra có thể sống được Tuổi thọ trung bình có mối quan hệ khăng khít với tỷ lệ tử vong Cùng có cấu trúc tuổi như nhau, nước nào có tuổi thọ trung bình càng cao thì hệ số tử vong của nước đó càng thấp
Tuổi thọ trung bình hường được sử dụng trong nhiều hồi quy xuyên quốc gia và thường được tìm thấy là tích cực và đáng kể về tỷ lệ tăng trưởng kinh tế (Bloom, Canning, và Sevilla, 2004) Mặc dù tuổi thọ trung bình hoặc số năm người lớn sống sót là thước đo sức khỏe dân số, nó gián tiếp phản ánh năng suất của lực lượng lao động (Bhargava, Jamison, Lau, & Murray) Vốn con người như lực lượng lao động
có tay nghề, là quan trọng đối với sự hình thành vốn Lực lượng lao động cần phải
có kinh nghiệm làm việc, cải tiến kỹ thuật và phải mất nhiều năm đầu tư nghiên cứu
Trang 25và phát triển mới tăng năng suất lao động, góp phần nâng cao sản xuất và phát triển kinh tế
Theo nghiên cứu của Preston (1975), "Sự thay đổi quan hệ giữa tuổi thọ trung bình và mức độ phát triển kinh tế", đã cho thấy một mối quan hệ thực nghiệm giữa
tuổi thọ và thu nhập thực tế bình quân đầu người thể hiện trong đường cong Preston Preston đã nghiên cứu mối quan hệ với những năm 1900, năm 1930 và những năm
1960 và tìm thấy hệ số tương quan giữa các logarit của thu nhập bình quân đầu người và tuổi thọ trung bình là 0.885 trong năm 1930 và 0.880 vào năm 1960 Đường cong Preston (2005) trên hình 2.1 sau sẽ mô tả đường cong Preston, sử dụng
dữ liệu xuyên quốc gia cho năm 2005 Các đường cong rõ ràng cho thấy mối quan
hệ giữa GDP bình quân đầu người và tuổi thọ là tích cực
Hình 2.1: Đường cong Preston cho GDP bình quân đầu người và tuổi thọ trung bình
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của Preston (2005)
2) Tỷ lệ tử vong là chỉ số nói lên mức độ tử vong của dân cư trên thế giới, khu
vực hoặc từng nước Qua đó chúng ta cũng có thể đánh giá trình độ y tế và tình trạng sức khỏe của dân cư ở mỗi nước Tỷ lệ tử vong bao gồm tỷ lệ tử vong thô, đặc trưng theo từng nhóm tuổi, ở trẻ em, người mẹ, …
Tỷ lệ tử vong trẻ em (Mortality Rate): phản ánh đầy đủ trình độ nuôi dưỡng và
tình hình sức khỏe chung của trẻ em ở một địa phương (World Bank) Những số liệu
về tỷ lệ tử vong thô chỉ thể hiện một phần tình hình sức khỏe của dân cư và là căn
Trang 26
cứ để tính toán mức độ phát triển dân số Nhiều nước có tỷ lệ tử vong thấp một phần
là do người ở lứa tuổi trẻ chiếm tỉ lệ cao trong tổng số dân Ngược lại, ở một số nước khác hệ số tử vong cao chủ yếu là do dân số già đi, tỷ lệ người ở lứa tuổi già khá lớn Do đó người ta lưu ý đến việc tính toán tỷ lệ tử vong trẻ em
Có nhiều loại tỷ lệ tử vong trẻ em (tử vong trước hoặc sau khi đẻ, tử vong trẻ
em ở các độ tuổi…), sử dụng phổ biến là tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi Cách tính tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi như sau:
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho biết, tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm gần 50 % trong giai đoạn từ 1990 - 2012 Unicef cho biết một phần nguyên nhân là do các nước nghèo đang ngày một phát triển hơn và nhờ những chính sách với mục tiêu cụ thể như khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ và tiêm phòng các bệnh thường gặp
Tuy ghi nhận những thành quả ban đầu trong công tác giảm thiểu tỷ lệ trẻ em tử vong ở một số nước trên thế giới, bản báo cáo của UNICEF cũng lưu ý rằng, tốc độ suy giảm tỷ lệ trẻ tử vong ở độ tuổi dưới 5 như hiện nay vẫn chưa đủ để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) - vốn quy định số trẻ dưới 5 tuổi
tử vong chỉ dừng lại ở tỷ lệ 1/3 trong giai đoạn 1990 - 2015 UNICEF khuyến cáo, với tình hình hiện nay, mục tiêu giảm trẻ dưới 5 tuổi tử vong xuống còn tỷ lệ 1/3 sẽ chỉ có thể đạt được vào năm 2028
Trang 273) Tỷ suất sinh (tổng số ca sinh mỗi phụ nữ): là đơn vị đo mức sinh được tính
bằng tương quan giữa số trẻ sinh ra với số dân tương ứng tại một địa phương Cũng như các tỷ suất khác của quá trình dân số, tỷ suất sinh được chia thành: tỷ suất sinh chung, tỷ suất sinh đặc trưng (nam, nữ) và tỷ suất sinh riêng (tuổi tác)…
Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASBR : Age – specific Birth Rate): là đơn vị
đo mức sinh chính xác hơn các tỷ suất kể trên (World Bank) Tỷ suất này được tính bằng tỷ số giữa trẻ em sinh ra trong năm và số phụ nữ theo từng nhóm tuổi tương ứng
Trong việc nghiên cứu dân số học, người ta còn thường dùng trị số tổng tỷ suất sinh (TFR Total Fertility Rate) để thể hiện tổng tỷ suất sinh theo lứa tuổi của tất cả
các khoảng cách tuổi Tổng tỷ suất sinh được tính như sau:
Fert =
Đây chính là trị số nói lên số trung bình về số con sinh ra còn sống trong cả cuộc đời của một phụ nữ Trị số này hay được dùng và được coi là một đơn vị đo chính xác nhất vì nó vừa nói lên số con sinh ra (trung bình) của một phụ nữ (trong suốt cả cuộc đời) đồng thời vẫn giữ được sự phân hóa mức sinh ở từng lứa tuổi (không phụ thuộc vào mức tử vong và những thay đổi về lứa tuổi) Trong nghiên cứu này sẽ sử dụng tổng tỷ suất sinh (TFR Total Fertility Rate) như một trong những đại diện của vốn sức khoẻ để thu thập số liệu và phân tích, đánh giá
Để đánh giá mức độ của tổng tỷ suất sinh, người ta thường xếp theo các loại như sau:
Trang 28…có thể hữu ích cho mục đích đo sức khỏe
4) Giáo Dục (education): theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến
thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học,
và giáo dục đại học Trong đó giáo dục trung học là giai đoạn rất quan trọng, trong nghiên cứu này tỷ lệ học sinh trung học được tính như sau:
Edu =
Trong hầu hết các hệ thống giáo dục hiện nay trên thế giới, giáo dục trung học bao gồm giáo dục chính quy dành cho thanh thiếu niên Đây là giai đoạn chuyển tiếp giữa giáo dục tiểu học, thường là bắt buộc, dành cho trẻ vị thành niên, và giáo dục sau trung học hay giáo dục đại học, vốn mang tính tùy chọn, dành cho người lớn Tùy thuộc vào từng hệ thống giáo dục, các trường học trong giai đoạn này, hoặc một phần của giai đoạn này, có thể được gọi là trường trung học hay trường dạy nghề Biên giới chính xác giữa giáo dục tiểu học và trung học cũng thay đổi theo từng quốc gia và theo từng vùng, thường thì khoảng ở năm học thứ bảy hay thứ mười Giáo dục thường được xem là phương tiện giúp tất cả mọi người vượt qua nghịch cảnh, đạt được sự công bằng tốt hơn, và có được của cải và địa vị xã hội Người học cũng có thể bị thúc đẩy bởi sự quan tâm của mình đến chủ đề môn học hay kỹ năng đặc thù mà họ đang cố gắng học hỏi Mô hình giáo dục người học-trách nhiệm được thúc đẩy bởi sự quan tâm của người học đến chủ đề sẽ được học Giáo
Trang 29dục cũng thường được coi như là nơi trẻ em có thể phát triển theo những nhu cầu và tiềm năng đặc thù, có mục đích giúp mỗi cá nhân phát triển trọn vẹn tiềm năng của mình
Giáo dục cao được coi là yếu tố thiết yếu giúp các quốc gia đạt được mức độ tăng trưởng kinh tế cao Những phân tích thực nghiệm có xu hướng ủng hộ tiên đoán lý thuyết cho rằng các nước nghèo có thể phát triển nhanh hơn các nước giàu bởi vì nước nghèo có thể áp dụng những công nghệ hàng đầu mà nước giàu đã thử
và kiểm tra Tuy vậy, việc chuyển giao công nghệ cần đến những nhà quản lý và những kỹ sư có kiến thức tốt, những người có thể vận hành những máy móc hay tập quán sản xuất mới học được từ những nước đi đầu Do vậy khả năng học tập từ những nước đi trước của một quốc gia là một hàm số của vốn nhân lực mà quốc gia
đó đang có Nghiên cứu gần đây về những yếu tố quyết định đến phát triển kinh tế cho thấy tầm quan trọng của những thể chế kinh tế căn bản, và vai trò của những kỹ năng nhận thức
Sức khỏe tốt hơn được cho là ảnh hưởng đến giáo dục ở các cơ chế khác nhau
và giáo dục được công nhận có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của đất nước Theo Bloom, Canning, và Sevilla (2004), một đứa trẻ khỏe mạnh có đi học tốt hơn và khả năng học tập tốt Thứ hai, tỷ lệ tử vong thấp hơn và kỳ vọng của tuổi thọ lâu hơn sẽ khuyến khích người dân đầu tư vào vốn con người
Mức độ tham gia của học đường thấp ở các nước đang phát triển thường liên quan đến bệnh tật, dinh dưỡng kém và các vấn đề khác của gia đình và đói nghèo (bao gồm các tình huống thường xảy ra ở nông thôn, ví dụ như thay vì gửi trẻ đến trường, cha mẹ muốn con mình giúp đỡ mẹ trong hộ gia đình hoặc tại một trại nuôi) Mặc dù ngày càng có nhiều gia đình nông thôn bắt đầu nhận thức được lợi ích của giáo dục, mức sống thấp hơn thường buộc họ không cho con đi học Những yếu tố này không chỉ liên quan đến giáo dục mà còn cả mức thu nhập và sự nghèo đói
2.2 Đo lường vốn sức khoẻ
Chỉ số sức khoẻ là một biến số, có thể được đo trực tiếp để phản ánh tình trạng sức khoẻ con người Hàng năm, WHO báo cáo số liệu mới nhất theo 50 chỉ số sức
Trang 30
khỏe Chỉ số sức khoẻ cũng có thể được dùng trong những thành phần để tính toán chỉ số phát triển xã hội rộng hơn Ví dụ tốt nhất là Chỉ số Phát triển Con người (HDI), cho phép xếp hạng các quốc gia mỗi năm tương ứng với mức phát triển kinh
tế, tỷ lệ mù chữ, giáo dục, và tuổi thọ trung bình
Việc đo lường sức khoẻ là thực hành cơ bản trong dịch tễ học Dịch tễ học (epidemiology) là khoa học nghiên cứu về tình trạng sức khỏe quần chúng và các yếu
tố liên quan ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe đó Dịch tễ học cần đến những định nghĩa thực tế về sức khoẻ, tập trung vào những khía cạnh sức khỏe dễ dàng đo lường được và có thể cải thiện
Có nhiều loại đo lường để mô tả tình hình sức khoẻ con người Các nhà dịch tễ học thường bắt đầu điều tra về tình trạng sức khoẻ của một cộng đồng bằng những thông tin định kỳ thu thập được Các số liệu và nguyên nhân tử vong được ghi nhận trong giấy chứng tử, trong đó bao gồm các thông tin về tuổi, giới, ngày sinh và nơi ở Xác định nguyên nhân tử vong bằng phỏng vấn là một cách gián tiếp để xác định nguyên nhân tử vong từ những thông tin về những biểu hiện, triệu chứng và hoàn cảnh trước khi tử vong từ người nhà của đối tượng tử vong Tình trạng sức khoẻ của con người không được đo lường đầy đủ ở nhiều nơi trên thế giới, và sự thiếu thông tin này là một thách thức lớn đối với các nhà dịch tễ học
Các nhà tạo lập chính sách phải đối mặt với thách thức trong sắp xếp ưu tiên phòng và kiểm soát bệnh, trong khi vẫn chịu trách nhiệm dự đoán các ưu tiên cho tương lai Quyết định này phải dựa vào các đo lường sức khỏe tổng hợp Đây chính là cách để theo dõi và đánh giá sức khỏe con người, từ đó có thể triển khai nhanh chóng các hành động phòng chống và kiểm soát ngay khi cần thiết Để lượng hóa vốn sức khỏe tổng hợp, các nghiên cứu trước thường sử dụng các chỉ số sức khoẻ như tuổi thọ trung bình, tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi và tỷ suất sinh, những chỉ số này hầu hết các quốc gia thường có sẵn số liệu và có thể cải thiện Từ phương pháp đo lường các chỉ
số sức khoẻ tuổi thọ trung bình, tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi và tỷ suất sinh, nghiên cứu này sẽ xây dựng công thức tính toán đo lường vốn sức khoẻ của một quốc gia Vốn sức khoẻ được đo lường theo đề xuất trong nghiên cứu này như sau:
Health =
Trang 31Trong đó, Health là vốn sức khoẻ, Lex là tuổi thọ trung bình, Mort là tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi, Fert là tỷ suất sinh của sản phụ Ý nghĩa của Health theo (2.4)
đó là vốn sức khỏe tỷ lệ thuận với tuổi thọ trung bình, tỷ lệ nghịch với tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi và tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh của sản phụ Do đó, giả định của Health là ba chỉ số này xảy ra đồng thời, tức là khi vốn sức khỏe tăng lên một đơn vị thì tuổi thọ trung bình tăng lên một đơn vị, tỷ lệ tử vong giảm một đơn vị và tỷ suất sinh giảm một đơn vị Việc kết hợp ba chỉ số này là chưa đầy đủ, nhưng là đại diện quan trọng cho vốn sức khỏe Các phương pháp đo lường này là không tránh được những sai số, do nhiều nguyên nhân trong bộ dữ liệu được thu thập Tuy nhiên, dữ liệu các chỉ số sức khỏe thu thập từ nguồn tin cậy, và những sai số là nhỏ, không làm mất tính hiệu lực của các kết quả nghiên cứu
Health sẽ được tính toán bằng công thức (2.4) dựa trên dữ liệu các chỉ số thống
kê của World Bank như: tuổi thọ trung bình Lex, tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi Mort, tổng tỷ suất sinh của phụ nữ Fert Số liệu này của các quốc gia được thu thập hàng năm và cật nhập trên trang website: https://data.worldbank.org/indicator
Trong nghiên cứu này, Health được xem là yếu tố đại diện cho vốn sức khoẻ, dùng để đánh giá, phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu Giả thuyết đặt ra là vốn sức khoẻ có tác động tích cực đến phát triển kinh tế nên Health được kỳ vọng là tác động tích cực
2.3 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và ứng dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng Mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới là tăng trưởng và phát triển kinh tế, nó là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của từng quốc gia Điều này càng có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển trong quá trình theo đuổi mục tiêu tiến kịp và hội nhập với các nước phát triển Chính vì vậy vấn đề nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng và cần thiết
Trang 32
North và Thomas (1973), cho rằng “Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số” Còn đối với Samuelson và Nordhaus (1992), thì “Tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở sự gia tăng của sản lượng tiềm năng, hay nói cách khác, thể hiện ở sự dịch chuyển ra ngoài của đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)”
Về mặt lý thuyết, quan niệm về tăng trưởng phân biệt rõ ràng hai mục tiêu kinh
tế vĩ mô: ổn định và tăng trưởng Mục tiêu ổn định là làm cho sản lượng được duy trì thường xuyên ở mức sản lượng tiềm năng, còn mục tiêu tăng trưởng nhằm đẩy nhanh
sự gia tăng của sản lượng tiềm năng Tuy nhiên, khi đánh giá mức tăng trưởng trong thực tế người ta luôn luôn tính toán theo sản lượng thực tế mà quốc gia sản xuất được, chứ không tính theo sản lượng tiềm năng Sản lượng thực tế dùng để đánh giá
sự tăng trưởng có thể là GDP thực hoặc GNP thực
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra của nền kinh tế trong một thời kì (thường là năm) nhất định so với kì gốc (năm gốc) Sự gia tăng đó được thể hiện cả ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng tuyệt đối, trong khi đó tốc độ tăng trưởng thể hiện sự so sánh tương đối giữa các thời kì (năm) Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm
và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng thêm các khoản thu nhập mà dân cư trong nước tạo ra ở nước ngoài và trừ đi các khoản thu nhập mà người nước ngoài tạo ra ở trong nước Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số
Theo World Bank định nghĩa về các chỉ số thống kê, GDP bình quân đầu người
là tổng sản phẩm trong nước chia cho dân số giữa năm GDP là tổng giá trị gia tăng
Trang 33của tất cả các nhà sản xuất trong nước cộng với mọi khoản thuế sản phẩm trừ đi các khoản trợ cấp không tính vào giá trị sản phẩm Số liệu về GDP của các quốc gia được thu thập hàng năm và cập nhật trên trang website của World Bank Trong nghiên cứu này sẽ dùng chỉ tiêu tổng thu nhập bình quân đầu người là đại diện tăng trưởng kinh
tế của một quốc gia
Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức
độ hạnh phúc hơn
2.4 Các mô hình lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Phần này sẽ trình bày tóm lược một số lý thuyết tăng trưởng kinh tế làm cơ sở xây dựng mô hình phù hợp cho mối quan hệ giữa vốn sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế:
2.4.1 Mô hình tăng trưởng cơ bản
Mô hình tăng trưởng cơ bản bắt đẩu bằng hàm sản xuất Hàm sản xuất mô tả mối quan hệ giữa quy mô lực lượng lao động của quốc gia và giá trị trữ lượng vốn với mức tổng sản lượng nội địa của quốc gia đó Mối quan hệ trong toàn nền kinh tế này được gọi là hàm tổng sản lượng
Y = f(K,L) (2.5) Trong phương trình (2.5), Y biểu thị tổng sản lượng, K là trữ lượng vốn và L là lượng lượng lao động Phương trình cho thấy rằng tổng sản lượng là một hàm số f của trữ lượng vốn và lực lượng lao động Khi trữ lượng vốn và lực lượng lao động tăng thì sản lượng sẽ tăng
2.4.2 Mô hình cổ điển
Theo Trần Thọ Đạt (2005), nguồn gốc của lý thuyết tăng trưởng kinh tế được ghi nhận bắt đầu từ năm 1776 với tác phẩm “Của cải của các quốc gia” của Adam Smith Smith (1776) đã nghiên cứu về tính chất, nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế và làm
Trang 34
thế nào để tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế Phát hiện quan trọng của ông là phân công lao động và chuyên môn hóa là những yếu tố đóng góp lớn vào tăng năng suất lao động và tăng sản lượng đầu ra Đồng thời, ông coi sự gia tăng tư bản là yếu
tố quyết định tăng trưởng kinh tế Ông đưa ra hai học thuyết cơ bản sau:
Học thuyết về “Giá trị lao động”: ông cho rằng lao động là nguồn gốc cơ bản tạo ta mọi của cải cho đất nước
Học thuyết “Bàn tay vô hình”: ông phủ nhận vai trò của Chính phủ trong việc điều tiết và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
David Ricardo kế thừa tư tưởng của Adam Smith và chịu ảnh hưởng của Malthus, cho rằng đất đai sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Trong mô hình Ricardo bổ sung thêm yếu tố đất đai (R), như vậy hàm sản xuất có dạng như sau:
Y = f(K,L,R) (2.6) Theo lý luận của Ricardo là: tăng trưởng là hàm tích luỹ, tích luỹ là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận lại phụ thuộc chi phí sản xuất lương thực và chi phí sản xuất lương thực phụ thuộc vào đất đai Do đó đất đai là giới hạn khả năng sản xuất
2.4.3 Mô hình tân cổ điển
Trường phái tân cổ điển xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, là thời kì đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật với một loạt các phát minh khoa học và các nguổn tài nguyên được khai thác phục vụ cho quá trình sản xuất Người đứng đầu cho trường phái này là Marshall (1890) với tác phẩm “các nguyên lý của kinh tế học”
Mô hình của trưởng phái tân cổ điển có các yếu tố tác động tới tăng trưởng là: vốn (K), lao động (L), tài nguyên thiên nhiên (R), và khoa học công nghệ (T)
Y = f(K,L,R,T) (2.7) Tiếp theo là hàm sản xuất Cobb-Douglass nổi tiếng:
Y = (2.8) Trong phương trình (2.8) trên: α,β,γ là các số luỹ thừa phản ánh tỷ lệ cận biên các yếu tố đầu vào (với giả định α+β+γ=1)
Biến đổi bằng cách lấy logarit 2 vế ta được phương trình mới sau:
Trang 35g = t+ α.k+ β.l+ γ.r (2.9) Trong phương trình (2.10), g là tốc độ tăng trưởng GDP; k,l,r là tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào; t là phần dư còn lại, phản ánh tốc độ của khoa học công nghệ theo thời gian
Keynes (1936) với tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã
đi đến kết luận: muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, thì nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng các chính sách kinh tế, những chính sách này nhằm tăng cầu tiêu dùng Nghiên cứu cũng cho rằng chính phủ có vai trò to lớn trong việc sử dụng những chính sách kinh tế: chính sách thuế, chính sách tiền tệ, lãi suất nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tiếp đó, mô hình Harrod-Domar đi vào giải thích các yếu tố dẫn đến sản lượng tăng lên từ phía cung, nhưng mang nhiều tư tưởng của Keynes Harrod-Domar chỉ ra vai trò của tiết kiệm và tích lũy vốn đối với tăng trưởng và chứng minh sự tồn tại của trạng thái cân bằng tăng trưởng Tuy nhiên tăng trưởng này là không bền vững bởi để duy trì thì các nhân tố vốn và lao động phải được đưa vào theo một tỷ lệ không đổi
Vì vậy, mô hình này có ý nghĩa đối với tăng trưởng trong ngắn hạn và trung hạn và mang tính điều chỉnh hơn là giải thích tăng trưởng trong ngắn hạn
2.4.4 Mô hình tăng trưởng của Solow
Do những nhược điểm của mô hình Harrod-Domar, vào những năm 50 của thế
kỷ XX đã xuất hiện dòng lý thuyết tân cổ điển với đại diện tiêu biểu nhất là Solow (1956) Điểm đột phá nhất của mô hình Solow là đã giảm được sự cứng nhắc của mô hình Harrod-Domar bằng cách sử dụng hàm sản xuất giả định tân cổ điển có năng suất biên giảm dần của các nhân tố sản xuất Trong đó, giả định tiền công và hệ số giữa vốn và sản lượng là có thể điều chỉnh, nhờ đó mà nền kinh tế có thể điều chỉnh
để tiến tới trạng thái cân bằng và trạng thái này là ổn định Tuy nhiên, mô hình này cũng có hạn chế lớn đó là xem yếu tố tiến bộ công nghệ chỉ là một biến ngoại sinh, không được giải thích trong mô hình của Solow
Trong hàm sản xuất: Y = f( K,L,R,T ), ông cho rằng T (khoa học công nghệ ) mới là yếu tố quyết định đến tăng trưởng, các yếu tố còn lại sẽ phải đến điểm dừng giới hạn của nó, chỉ có T mới tạo nên tăng trưởng liên tục
Trang 36
Một điểm đáng chú ý của mô hình là Solow đã đưa những tính toán của mình trên các con số bình quân tên đầu người, điều này đảm bảo sự tăng trưởng một cách hợp lý, công bằng và đơn giản hoá tính toán Solow cũng giải thích được sự có khoản cách giữa các nền kinh tế, các lý thuyết hội tụ của nền kinh tế, sự san bằng cách biệt giàu nghèo giữa các quốc gia bằng lý thuyết đi tắt đón đầu
2.4.5 Mô hình tăng trưởng nội sinh
Hạn chế về mức độ giải thích của lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển được coi là xuất phát điểm cho các nghiên cứu tiếp theo và theo đó là sự ra đời của lý thuyết tăng trưởng nội sinh vào những năm 80 của thế kỷ XX với nhiều đại diện khác nhau như Romer (1986), Lucas (1988, 1990),… Mô hình tăng trưởng nội sinh khẳng định, ngoài vai trò quan trọng của vốn (K), lao động (L) đối với tăng trưởng kinh tế, và vốn con người là kênh quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Các mô hình tăng trưởng nội sinh quan trọng làm nền tảng cho nghiên cứu này
A Mô hình AK
Một mô hình đơn giản xem xét sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô đối với
cả tổ hợp vốn vật chất và vốn con người chính là mô hình AK do Romer (1986), Barro (1990), Robelo (1991), và nhiều người khác đề xuất Mọi đầu vào của mô hình này đều được coi là vốn có thể tái sản xuất, không chỉ là vốn vật chất mà cả vốn con người Cụ thể đặt K là thước đo tổng hợp của vốn, hàm sản xuất có dạng tuyến tính như sau:
Trong đó, A lại là tham số thể hiện mọi nhân tố tác động tới trình độ công nghệ
Trang 37Có thể tính được tốc độ tăng lượng vốn bình quân lao động ở trạng thái bền vững bằng:
tụ thu nhập bình quân đầu người cho dù các nước có cùng công nghệ và cùng tỷ lệ tiết kiệm Tuy nhiên, những kiểm định chuỗi thời gian gần đây lại không ủng hộ các kết luận của mô hình AK
B Mô hình Mankiw-Romer-Weil
Các mô hình tích luỹ vốn kiến thức đã có đóng góp nhất định trong giải thích nguồn tăng trưởng từ tiến bộ công nghệ nội sinh Nhưng các mô hình này chưa giải thích được lý do mọi quốc gia đều có thể tiếp cận công nghệ mới mà vẫn có sự chênh lệch về thu nhập giữa các nước Vì thế Mankiw, Romer và Weil (1992) đã đưa vốn con người vào mô hình của Solow
Các giả thiết của mô hình
Nền kinh tế chỉ có một khu vực sản xuất, với sản lượng được cho bởi:
1
YK H (AL) , 0, 0, 1 (2.14)
Trong đó: H là lượng vốn con người và L là số lao động, còn α và β là các tham
số hiệu quả của hai loại vốn (α+ β <1 có nghĩa là tồn tại quy luật lợi ích cận biên
Trang 38
giảm dần đối với tổ hợp hai loại vốn) Vì thế, hàm này có lợi tức không đổi theo K,
L và H Cũng như trong mô hình Solow, ta giả định rằng:
k
Ks YK,L / L n (2.15) Trong đó, sk là tỷ lệ thu nhập được dành cho đầu tư vào vốn sản xuất Cũng như
mô hình Solow, tiến bộ công nghệ được xác định ngoại sinh:
Trong đó, k=K/AL và y=Y/AL
Tổng vốn vật chất, vốn con người và sản lượng (K, H và Y) đều tăng với tốc độ n+, còn vốn vật chất bình quân lao động và sản lượng bình quân lao động (K/L, H/L và Y/L) đều tăng với tốc độ Do vậy cũng như trong mô hình Solow, tốc độ tăng của sản lượng bình quân lao động dài hạn được quyết định bởi tốc độ tiến bộ công nghệ ngoại sinh
Như vậy, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã chỉ rõ động lực phát triển kinh
tế được kết hợp từ bốn yếu tố của tăng trưởng đó là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, vốn và công nghệ Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia, mỗi ngành và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau tạo nên kết quả khác nhau ở mỗi nước, mỗi ngành đối với tăng trưởng kinh tế Việc luận dẫn các học thuyết về tăng trưởng kinh tế trong nghiên cứu này nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhân tố cơ bản đối với tăng trưởng, từ đó phân tích mối quan hệ này trong phạm vi đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ giữa vốn sức khỏe qua bốn nhân tố vốn, lao động, tài nguyên và công nghệ đến tăng trưởng kinh tế
2.5 Mối quan hệ sức khỏe và tăng trưởng kinh tế
Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra, nghiên cứu trình bày các quan điểm của các nhà khoa học đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa sức khoẻ và tăng
Trang 39trưởng kinh tế Dựa trên cơ sở lý luận của các nhà khoa học để đưa ra các giả thuyết cho nghiên cứu
Đời sống kinh tế- xã hội là hình thức biểu hiện cao nhất, tiến bộ nhất của con người, khác xa với hoạt động khác có trong thế giới tự nhiên ở chỗ con người nhận thức được thực tại khách quan và các quy luật tự nhiên Để phát triển kinh tế- xã hội thì yếu tố quyết định phải chính là con người và mục tiêu của phát triển của con người Muốn vậy con người phải có được một sức khỏe thích hợp Sức khỏe của con người là điều kiện để con người phát triển, lao động và làm việc có hiệu suất cao Các hoạt động y tế với mục tiêu chăm sóc sức khỏe là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng vốn con người, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng của con người
Một quốc gia mạnh, có vị thế trên thương trường quốc tế thì quốc gia ấy phải có nền kinh tế phát triển vượt bậc Mà để cho sự phát triển ấy vương đến tầm cao thì không thể nào thiếu được nguồn vốn con người có chất lượng với sức khỏe tốt, nền tảng thể lực cao Cho đến nay các nhà kinh tế đồng ý rằng, đầu tư vào con người thông qua các hoạt động chăm sóc sức khỏe, chương trình an sinh xã hội, môi trường sống… được xem là hoạt động đầu tư có hiệu quả lâu dài, quyết định khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của một quốc gia
Kinh tế phát triển và ổn định là điều kiện tăng đầu tư cho y tế và tăng cường sức khoẻ cho con người Có vệc làm và thu nhập sẽ giúp cuộc sống ít căng thẳng hơn, có điều kiện chăm lo sức khoẻ hơn, điều kiện sống cũng tốt hơn nên sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ tích cực hơn Người dân ở các nước nghèo và trung bình có sức khoẻ kém hơn so với người dân ở các nước giàu Cải thiện sức khoẻ và tuổi thọ của người nghèo là mục tiêu tự nhiên của họ, và là mục tiêu cơ bản của sự phát triển kinh tế Nhưng nó cũng là một phương tiện để đạt được các mục tiêu phát triển khác có liên quan đến giảm nghèo Các mối liên hệ giữa sức khoẻ để xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế là cao, cao hơn nhiều so với hiểu biết thông thường Gánh nặng bệnh tật ở một số khu vực có thu nhập thấp, như châu Phi, như đứng trước một rào cản đối với phát triển kinh tế, và do đó vấn đề phải được giải quyết trực diện từ chính phủ trong bất kỳ chiến lược phát triển toàn diện nào
Trang 40
Từ những năm 1990, các nghiên cứu khác nhau đã cố gắng xác định các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế Trong số ít các biến có ý nghĩa thống kê để giải thích sự tăng trưởng kinh tế, sức khỏe được tìm thấy là một trong số đó Tăng trưởng bền vững phụ thuộc vào mức độ của nguồn nhân lực mà nguồn nhân lực tăng
là kết quả của giáo dục tốt hơn, mức độ cao hơn của sức khỏe và học tập và quy trình đào tạo Tác động của biến vốn con người có nghĩa thống kê là tỷ lệ đầu tư có
xu hướng tăng, có trình độ giáo dục tốt và gia tăng sức khỏe (Lopez, Rivera, & Currais, 2005) Vai trò của nguồn nhân lực chủ yếu chỉ liên quan đến giáo dục Vài tác giả đã nhận ra tầm quan trọng của các yếu tố khác như sức khoẻ và dinh dưỡng
để có sự tác động đến thu nhập bình quân đầu người (Fogel, 1994), (Barro & Sala, 2003) là một trong số một số nhà kinh tế mà xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và sức khỏe, và điều này dẫn đến các công trình khác tập trung vào mối liên
hệ giữa sức khỏe và tăng trưởng kinh tế
Lopez, Rivera, & Currais (2005) cho rằng sức khỏe tốt là một phần quan trọng của sức khoẻ tổng thể Dựa trên cơ sở kinh tế, sức khỏe tốt làm tăng mức độ của nguồn nhân lực, và điều này có tác động tích cực đến năng suất cá nhân và tốc độ tăng trưởng kinh tế Sức khỏe tốt hơn làm tăng năng suất lao động bằng cách giảm
sự bất lực, yếu đuối, và số ngày bị mất để nghỉ ốm Hơn nữa, công nhân khỏe mạnh
về thể chất và tinh thần tràn đầy năng lượng hơn và do đó hiệu quả trên thị trường lao động Nâng cao chỉ số sức khỏe trong xã hội sẽ khuyến khích các tiết kiệm tư nhân hơn thông qua giảm tỷ lệ tử vong và tăng tuổi thọ Sau tăng tiết kiệm trong xã hội, vốn vật chất sẽ cải thiện và gián tiếp sẽ nâng cao năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế Weil (2005)
Hiểu được mối quan hệ nhân quả giữa sức khỏe và tăng trưởng kinh tế là quan trọng để hiểu rõ cách thức hoạt động của cả hai Sự tồn tại của thể nội sinh giữa sức khỏe và tăng trưởng kinh tế làm cho khó khăn để phân tích nó Mặc dù sức khỏe tốt
có thể được coi là hình thức vốn con người mà có một tác động tích cực đến năng suất, thu nhập cũng ảnh hưởng đến sức khỏe một cách tích cực Thu nhập cao hơn
sẽ làm tăng tiêu thụ các sản phẩm liên quan đến sức khoẻ như thực phẩm và thuốc men (Lopez, Rivera, & Currais, 2005) Thu nhập cũng sẽ có cải thiện về mức sống