1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích sự khác biệt tiền lương giữa lao động khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức tại thành phố hồ chí minh

161 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích sự khác biệt tiền lương giữa lao động khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Đoàn Trường An
Người hướng dẫn TS. Dương Quỳnh Nga
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 4,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 GIỚI THIỆU (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (16)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (16)
    • 1.4. Đối tượng nghiên cứu (17)
    • 1.5. Phạm vi nghiên cứu (17)
    • 1.6. Phương pháp nghiên cứu (17)
    • 1.7. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu (18)
    • 1.8. Sự khác biệt của luận văn so với các nghiên cứu trước (19)
    • 1.9. Kết cấu của luận văn (19)
  • Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT (21)
    • 2.1. Các khái niệm (21)
      • 2.1.1. Khu vực kinh tế phi chính thức (21)
      • 2.1.2. Khu vực kinh tế chính thức (25)
      • 2.1.3. Người lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức (26)
      • 2.1.4. Thu nhập/tiền lương (26)
      • 2.1.5. Người lao động có việc làm (27)
    • 2.2. Đặc trưng khu vực kinh tế chính thức (28)
    • 2.3. Đặc trưng khu vực kinh tế phi chính thức (29)
    • 2.5. Các nguyên nhân tạo nên sự khác biệt tiền lương của người lao động khu vực (32)
      • 2.5.1. Các yếu tố kinh tế (32)
      • 2.5.2. Yếu tố phi kinh tế (33)
    • 2.6. Các nghiên cứu trước (34)
      • 2.6.1 Nghiên cứu trong nước (34)
      • 2.6.2 Nghiên cứu nước ngoài (40)
    • 2.7 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm đề xuất (45)
  • Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (53)
    • 3.1. Mô hình nghiên cứu (53)
      • 3.1.1. Mô hình Mincer (53)
      • 3.1.2. Mô hình phân tách Oaxaca-Blinder (54)
      • 3.1.3. Phương pháp hồi qui phân vị Koenker và Basset (56)
      • 3.1.4 Phương pháp phân tách Machado – Mata (57)
    • 3.2. Mô tả các biến (57)
      • 3.2.1. Biến phụ thuộc (57)
      • 3.2.2. Biến độc lập (58)
    • 3.3. Dữ liệu và phần mềm hỗ trợ nghiên cứu (63)
      • 3.3.1. Thiết kế mẫu điều tra lao động việc làm năm 2014 (63)
      • 3.3.2. Trích dữ liệu từ dữ liệu điều tra lao động việc làm năm 2014 (65)
      • 3.3.3. Số liệu nghiên cứu (68)
      • 3.3.4. Phần mềm hỗ trợ (71)
    • 3.4. Sự phù hợp của phương pháp và nguồn dữ liệu nghiên cứu (71)
  • Chương 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (73)
    • 4.1. Đặc điểm phân bố nguồn lao động hai khu vực kinh tế tại Tp. Hồ Chí Minh (73)
    • 4.2. Thực trạng sự khác biệt về nguồn lực và tiền lương giữa người lao động khu vực (77)
      • 4.2.1. Nhóm các yếu tố về đặc điểm của người lao động (77)
      • 4.2.2. Nhóm các yếu tố về trình độ giáo dục và chuyên môn kỹ thuật (83)
      • 4.2.3. Nhóm các yếu tố về đặc điểm của lao động việc làm (86)
      • 4.2.4. Nhóm yếu tố về đặc điểm khu vực địa lý (92)
    • 4.3. Kết quả phân tích (94)
      • 4.3.1. Kiểm định sự khác biệt tiền lương giữa hai nhóm lao động (94)
      • 4.3.2. Kết quả phân tích hàm tiền lương Mincer (95)
      • 4.3.3. Kết quả phân tách khoảng cách tiền lương bằng phương pháp Oaxaca- (104)
      • 4.3.4. Kết quả phân tách khoảng cách tiền lương bằng phương pháp Machado- (106)
  • Chương 5 KẾT LUẬN (119)
    • 5.1. Kết luận (119)
    • 5.2. Khuyến nghị (120)
      • 5.2.1. Một số khuyến nghị tăng tiền lương người lao động (120)
      • 5.2.2. Một số khuyến nghị giảm khoảng cách tiền lương giữa hai nhóm lao động (121)
    • 5.3. Hạn chế của nghiên cứu (124)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (125)
  • PHỤ LỤC (129)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài “Phân tích sự khác biệt tiền lương giữa lao động khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức tại Tp Hồ Chí Minh” tập trung vào việc đánh giá và phân tích kết quả Điều tra Lao động việc làm năm 2014 Mục tiêu là đo lường khoảng cách tiền lương giữa hai khu vực kinh tế này và tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về tiền lương.

Câu hỏi nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ tập trung giải quyết ba câu hỏi chính sau đây:

(1) Có hay không sự khác biệt tiền lương giữa lao động khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh?

(2) Nếu có, sự khác biệt này diễn ra như thế nào đối với các mức phân vị của tiền lương?

(3) Các nguyên nhân nào dẫn đến sự khác biệt tiền lương giữa hai khu vực kinh tế này?

Đối tượng nghiên cứu

Luận văn này nghiên cứu sự khác biệt về tiền lương giữa người lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức tại Tp Hồ Chí Minh.

Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu: bộ dữ liệu được thực hiện điều tra trên 24 quận/huyện của Tp Hồ Chí Minh, cụ thể gồm: quận 1, quận 2, quận 3, quận 4, quận

Quận 6, quận 7, quận 8, quận 9, quận 10, quận 11, quận 12, quận Tân Bình, quận Tân Phú, quận Gò Vấp, quận Bình Tân, quận Phú Nhuận, quận Bình Thạnh, quận Thủ Đức, huyện Củ Chi, huyện Hốc Môn, huyện Bình Chánh, huyện Cần Giờ và huyện Nhà Bè là những khu vực quan trọng của thành phố, mỗi quận, huyện đều có đặc điểm riêng biệt và đóng góp vào sự phát triển chung của đô thị.

Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2014, với dữ liệu thu thập hàng tháng trong 7 ngày đầu tiên của mỗi tháng Đơn vị nghiên cứu là từng hộ gia đình, bao gồm nhóm người ăn chung và sống chung, có thể có hoặc không có quan hệ ruột thịt và quỹ thu-chi chung.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính trong đề tài là nghiên cứu định lượng, bao gồm phương pháp thống kê mô tả và kiểm định trung bình mẫu độc lập (Independent Sample T-test) để so sánh tiền lương giữa lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức Ngoài ra, nghiên cứu còn áp dụng mô hình hồi quy hàm tiền lương của Mincer (1974) và phương pháp phân tách của Oaxaca và Blinder để phân tích dữ liệu.

Bài viết sử dụng phương pháp hồi quy OLS (1973) để xác định khoảng cách tiền lương trung bình và áp dụng phương pháp phân tách Machado-Mata (2005) dựa trên hồi quy phân vị (QR) của Koenker và Basset (1978) nhằm phân tích khoảng cách tiền lương theo từng nhóm phân vị lao động trong hai khu vực kinh tế Mục tiêu chính là ước lượng khoảng cách tiền lương trung bình và theo từng nhóm phân vị của người lao động Khoảng cách tiền lương này được chia thành hai thành phần: một phần có thể giải thích do đặc điểm của người lao động và phần còn lại không thể giải thích do hệ số hồi quy, phản ánh sự phân biệt về thù lao giữa các khu vực kinh tế khác nhau.

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động tại thành phố, trong đó có nhiều lao động tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức Dù khu vực này đóng vai trò quan trọng ở các nước đang phát triển, nhưng vẫn thiếu sự quan tâm chính sách và thường bị nhìn nhận tiêu cực Ngoài ra, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế phi chính thức, dẫn đến sự thiếu rõ ràng trong nhận thức Đề tài nghiên cứu này nhằm mang lại ý nghĩa thực tiễn quan trọng cho vấn đề này.

Bài viết này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về khu vực kinh tế phi chính thức, đồng thời phân tích sự khác biệt về thu nhập giữa người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức và khu vực kinh tế chính thức, từ đó ước lượng khoảng cách tiền lương giữa hai nhóm lao động này.

Đề tài phân tích chênh lệch tiền lương giữa hai khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức nhằm xác định nguyên nhân của sự chênh lệch này, bao gồm các đặc điểm lao động và hệ số hồi quy, được coi là chỉ số của sự phân biệt Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách quản lý hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, từ đó khai thác nguồn nhân lực này cho sự phát triển bền vững của TP Hồ Chí Minh.

Sự khác biệt của luận văn so với các nghiên cứu trước

Khu vực kinh tế phi chính thức và người lao động trong khu vực này đã được nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây, đặc biệt qua các nghiên cứu của Tổng cục Thống kê và Viện Nghiên cứu phát triển của Pháp giai đoạn 2005-2010 Tuy nhiên, khoảng cách tiền lương giữa lao động khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức tại Tp Hồ Chí Minh vẫn chưa được khai thác Nghiên cứu này ước lượng khoảng cách tiền lương qua năm phân vị khác nhau, áp dụng kỹ thuật hồi quy mà Koenker và Bassett (1978) đã giới thiệu, vốn đã phổ biến toàn cầu nhưng chưa được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam Việc mở rộng nghiên cứu đến các phân vị sẽ giúp xác định sự khác biệt tiền lương lớn nhất ở nhóm phân vị nào, đồng thời chỉ ra sự bất bình đẳng qua hệ số hồi quy, từ đó đưa ra các gợi ý chính sách cụ thể.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, tài liệu tham khảo, các bảng biểu, nội dung đề tài nghiên cứu gồm 05 chương như sau:

Chương 1 Giới thiệu: tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi ngiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, những điểm nổi bậc của luận văn và kết cấu của luận văn

Chương 2 Cơ sở lý thuyết: trình bày các khái niệm, cơ sở lý luận về sự khác biệt tiền lương của người lao động khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức, các nghiên cứu trước và mô hình nghiên cứu đề xuất

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu: trình bày phương pháp nghiên cứu và số liệu nghiên cứu Giới thiệu sơ lược về quy trình và mô hình nghiên cứu

Chương 4 Phân tích kết quả nghiên cứu: trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích các kết quả nghiên cứu từ các mô hình

Chương 5 Kết luận: trình bày các kết luận, các khuyến nghị chính sách và những hạn chế của luận văn.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Các khái niệm

2.1.1 Khu vực kinh tế phi chính thức

Sự khác biệt giữa khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức ngày càng trở nên mờ nhạt, theo nghiên cứu của Marc Bacchetta và cộng sự (2013) Các khái niệm về khu vực kinh tế phi chính thức thường gây tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu kinh tế-xã hội và các nhà thống kê lao động, và chưa có định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi.

Kể từ khi xuất hiện vào những năm 1970, khái niệm kinh tế phi chính thức đã gây ra nhiều cuộc tranh luận Đến những năm 1930, các quan điểm về kinh tế phi chính thức được phân chia thành ba trường phái chính: trường phái nhị nguyên, trường phái cấu trúc và trường phái pháp gia Trong bài viết “Toàn cầu hóa và việc làm phi chính thức tại các nước đang phát triển”, Marc Bacchetta và cộng sự (2013) đã tóm tắt ba trường phái này liên quan đến khu vực kinh tế phi chính thức.

Trường phái nhị nguyên: được phát triển vào những thập niên 1960 và 1970, có nguồn gốc lý thuyết từ các nghiên cứu của Lewis (1954) và Harris & Todaro

Nghiên cứu nhị nguyên từ năm 1970 xem khu vực kinh tế phi chính thức như một phân khúc kém phát triển của thị trường lao động hai phân khúc, không có liên hệ trực tiếp với khu vực kinh tế chính thức Khu vực này phát sinh trong quá trình chuyển đổi của nền kinh tế đang phát triển, tồn tại do khu vực chính thức không đáp ứng đủ cơ hội việc làm cho một bộ phận lực lượng lao động Dự báo rằng, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và quá trình chuyển đổi, khu vực kinh tế phi chính thức sẽ dần hòa nhập vào khu vực chính thức.

Trường phái cấu trúc nhấn mạnh sự phân cấp trong sản xuất và mối liên kết giữa khu vực chính thức và phi chính thức (Moser, 1978) Khu vực phi chính thức bao gồm các cơ sở sản xuất nhỏ và người lao động không đăng ký, cung cấp lao động và đầu vào rẻ cho các công ty lớn Theo quan điểm này, tốc độ tăng trưởng không thể loại bỏ các mối quan hệ sản xuất phi chính thức, vốn gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Doanh nghiệp hiện đại phản ứng với toàn cầu hóa bằng cách xây dựng hệ thống sản xuất linh hoạt hơn và mở rộng phương pháp gia công để cắt giảm chi phí, trong đó khu vực kinh tế phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp sự linh hoạt cần thiết.

Trường phái pháp lí: hay còn gọi là trường phái chính thống, đại diện là De

Trong những năm 1980 và 1990, Soto đã chỉ ra rằng khu vực kinh tế phi chính thức bao gồm các doanh nghiệp nhỏ, nơi mà nhiều người lựa chọn hoạt động để giảm chi phí đăng ký Khi chi phí đăng ký vượt quá lợi ích của việc tham gia vào khu vực chính thức, các cơ sở quy mô nhỏ sẽ tiếp tục hoạt động phi chính thức Điều này cho thấy rằng trong tương lai, những cơ sở này có tiềm năng tăng trưởng và cải thiện tiêu chuẩn nếu chính phủ thực hiện cải cách chính sách và giảm gánh nặng thuế Khác với quan điểm nhị nguyên và cấu trúc, trường phái này nhấn mạnh rằng tính chất phi chính thức có thể xuất phát từ sự tự nguyện của người lao động và các cơ sở, dựa trên phân tích chi phí - lợi ích.

Kỳ hội nghị lần thứ 15 của ICLS (ILO, 2000) xác định dân số làm việc trong khu vực phi chính thức là tất cả những người được tuyển dụng bởi ít nhất một doanh nghiệp thuộc khu vực này trong khoảng thời gian tham khảo, bất kể tình trạng việc làm của họ, cho dù đó là công việc chính hay công việc thứ hai.

Một người có thể đảm nhiệm hai hoặc nhiều công việc trong thời kỳ tham khảo, và tất cả hoặc một số công việc đó có thể thuộc về khu vực phi chính thức Khái niệm về dân số làm việc trong khu vực phi chính thức phân biệt giữa người được tuyển dụng và việc làm Mặc dù được gọi là người được tuyển dụng, nhưng dân số làm việc trong khu vực phi chính thức chỉ ra rằng công việc đó phải thuộc về doanh nghiệp phi chính thức.

Kỳ hội nghị lần thứ 15 đã khuyến nghị phân tổ dân số làm việc trong khu vực phi chính thức thành hai nhóm chính: nhóm chỉ làm việc trong khu vực phi chính thức và nhóm làm việc cả trong và ngoài khu vực này Nhóm thứ hai cần được phân chia chi tiết hơn thành hai nhóm con: nhóm có công việc chính thuộc khu vực phi chính thức và nhóm có công việc thứ hai thuộc khu vực phi chính thức Những phân tổ này nhằm mục đích hiểu rõ hơn về dân số làm việc trong khu vực phi chính thức.

- Những người chỉ làm việc trong khu vực phi chính thức

- Những người làm việc cả trong và ngoài khu vực phi chính thức

- Những người có công việc chính thuộc khu vực phi chính thức

- Những người có công việc thứ hai thuộc khu vực phi chính thức

Tổng dân số làm việc có thể được chia thành hai nhóm: lao động làm việc trong khu vực chính thức và lao động làm việc ngoài khu vực phi chính thức Để phân tích một cách chính xác, những người làm việc cả trong và ngoài khu vực phi chính thức nên được nhóm lại thành một nhóm riêng biệt.

Theo ILO (2006), khu vực kinh tế phi chính thức bao gồm tất cả các hộ sản xuất kinh doanh chưa có tư cách pháp nhân và chưa đăng ký kinh doanh, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phi nông, lâm nghiệp, thủy sản Những hộ này vẫn sản xuất hàng hóa và dịch vụ để bán hoặc trao đổi trên thị trường Trong cách hiểu quốc tế, khu vực phi chính thức được định nghĩa là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện đăng ký kinh doanh, trong khi các hoạt động nông nghiệp không được tính vào khu vực này do tính chất đặc thù của nó.

Trong giáo trình Thống kê kinh tế của trường Đại học kinh tế Quốc Dân năm

Năm 2013, Phan Công Nghĩa và Bùi Đức Triệu đã định nghĩa khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam theo Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) như sau: “Khu vực phi chính thức bao gồm các đơn vị kinh tế hộ gia đình sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ không đăng ký tư cách pháp nhân.”

Theo đó, khu vực phi chính thức ở Việt Nam bao gồm:

- Hộ kinh doanh nhỏ không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật;

- Hộ sản xuất kinh doanh theo Luật phải đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kinh doanh;

- Các doanh nghiệp, theo Luật phải đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kinh doanh

Trong phạm vi của luận văn này, khu vực kinh tế phi chính thức ở thành phố Hồ Chí Minh bao gồm:

- Hộ kinh doanh nhỏ, lẻ không cần phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật;

- Hộ sản xuất kinh doanh theo Luật phải đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kinh doanh

Theo Nghị định 39/2007/NĐ-CP, cá nhân hoạt động thương mại là những người thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi mà không cần đăng ký kinh doanh Các hoạt động này bao gồm: buôn bán rong, tức là mua bán không có địa điểm cố định; buôn bán vặt, liên quan đến việc mua bán những vật dụng nhỏ; bán quà vặt, bao gồm việc bán đồ ăn và thức uống; buôn chuyến, tức là mua hàng hóa từ nơi khác để bán lại; và cung cấp các dịch vụ như đánh giày, bán vé số, sửa chữa xe, và các dịch vụ khác không có địa điểm cố định Những cá nhân này hoạt động độc lập và thường xuyên mà không cần đăng ký kinh doanh theo quy định.

Như vậy, nếu cá nhân hoạt động thương mại thuộc một trong các trường hợp trên thì không phải đăng ký kinh doanh

2.1.2 Khu vực kinh tế chính thức

Khu vực kinh tế chính thức bao gồm các công ty có tư cách pháp nhân, tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp nhà nước không có tư cách pháp nhân, các đơn vị hành chính và sự nghiệp của nhà nước, cùng với các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể đã đăng ký tại cơ quan quản lý.

Căn cứ theo Luật doanh nghiệp năm 2014 thì những trường hợp sau phải đăng ký kinh doanh (thuộc khu vực kinh tế chính thức):

- Đối với cá nhân: không thuộc các trường hợp không phải đăng ký kinh doanh (theo Nghị định 39/2007/NĐ-CP);

- Đối với hộ kinh doanh, các trường hợp sau bắc buộc phải đăng ký kinh doanh: + Cơ sở sử dụng thường xuyên dưới 10 lao động;

+ Trường hợp sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp

Các đơn vị hành chính, sự nghiệp và tổ chức chính trị, xã hội thuộc cơ quan nhà nước không cần thực hiện đăng ký kinh doanh nhưng vẫn được xem là khu vực kinh tế chính thức do có tư cách pháp nhân.

2.1.3 Người lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức

Theo tài liệu hướng dẫn LFS năm 2014 của Tổng cục Thống kê (GSO), người lao động được định nghĩa là những người tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại các cơ sở Lao động trực tiếp, bao gồm cả lao động phổ thông và lao động tri thức, là những người sản xuất ra sản phẩm và sức lao động của họ trực tiếp gắn liền với sản phẩm Nghiên cứu này phân chia lao động thành hai khu vực: lao động phi chính thức, bao gồm những người làm việc tại các cơ sở không có đăng ký kinh doanh, và lao động chính thức, là những người làm việc tại các cơ sở đã đăng ký kinh doanh.

Đặc trưng khu vực kinh tế chính thức

Khu vực kinh tế chính thức tại Tp Hồ Chí Minh thu hút nguồn lao động có trình độ học vấn cao và chế độ làm việc ổn định hơn khu vực kinh tế phi chính thức Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2014), 57% người lao động trong khu vực chính thức có trình độ từ trung học phổ thông trở lên, trong khi chỉ 24% ở khu vực phi chính thức Hơn nữa, chỉ 26% người lao động trong khu vực chính thức không có hợp đồng lao động hay thỏa thuận miệng, so với 94% trong khu vực kinh tế phi chính thức.

Người lao động trong khu vực kinh tế chính thức được đảm bảo về chế độ tiền lương và an sinh xã hội thông qua hợp đồng lao động Khi ký kết hợp đồng, người lao động sẽ nhận được lương, tăng lương, làm việc theo đúng điều kiện và thời gian quy định, cũng như tham gia bảo hiểm xã hội Hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi của cả người sử dụng lao động và người lao động Bảo hiểm xã hội mang lại nhiều quyền lợi như trợ cấp, tính theo thời gian tham gia bảo hiểm khi nghỉ hưu, chế độ thai sản và nghỉ việc vì lý do chính đáng.

Công đoàn cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động khi họ tham gia vào các khu vực kinh tế chính thức như đơn vị hành chính, tổ chức xã hội, và doanh nghiệp Công đoàn giám sát hợp đồng lao động và hỗ trợ người lao động trong việc thỏa hiệp các nguyện vọng chính đáng, bao gồm chế độ tiền lương và thưởng Khi công đoàn phát huy hiệu quả, phong trào sản xuất được đẩy mạnh, giúp nâng cao hiệu suất làm việc và cải thiện chế độ tiền lương cho người lao động.

Đặc trưng khu vực kinh tế phi chính thức

Khu vực kinh tế phi chính thức tại Việt Nam, đứng thứ hai về cung cấp việc làm với 24%, chỉ sau nông nghiệp, được coi là hiện tượng lâu dài ở các nước đang phát triển Dự báo trong những năm tới, việc làm trong lĩnh vực này sẽ gia tăng do ảnh hưởng của đô thị hóa và công nghiệp hóa Người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại Việt Nam, đặc biệt là tại Tp Hồ Chí Minh, có những đặc điểm riêng biệt.

Viện Khoa học Thống kê (2012) chỉ ra rằng khu vực phi chính thức ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc tạo sinh kế cho người nghèo, đặc biệt tại các thành phố Tuy nhiên, điều kiện làm việc tại đây rất bấp bênh với thu nhập thấp và không ổn định, khiến người lao động không được bảo vệ bởi các quy định của thị trường lao động Họ thường không nhận được hỗ trợ từ các chương trình trợ cấp xã hội và tiếng nói của họ thường bị bỏ qua trong quá trình xây dựng chính sách Doanh nghiệp trong khu vực chính thức phải đối mặt với cạnh tranh không công bằng từ khu vực phi chính thức, nơi mà giá cả hàng hóa và dịch vụ thấp hơn do không phải đóng góp vào bảo hiểm xã hội và thuế Cuộc sống của người lao động trong khu vực này thường gắn liền với thu nhập thấp và điều kiện làm việc kém, làm tăng nguy cơ tổn thương trước các tác động bên ngoài.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2014), khu vực kinh tế phi chính thức tại Tp Hồ Chí Minh rất đa dạng, bao gồm cả lao động trí thức như gia sư, luật gia tư vấn, dịch thuật, nghiên cứu viên, cùng với lao động chân tay Những người lao động này tham gia vào nhiều ngành nghề khác nhau, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của thành phố.

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại các hộ gia đình và làng nghề như làng nhang Bình Chánh, làng giày Khánh Hội Quận 4, làng nghề Bánh Tráng Phú Hòa Đông, và làng nghề Đan Lát ở Thái Mỹ, Củ Chi, bao gồm nhiều lĩnh vực như gia công dệt, may công nghiệp và cơ khí.

- Dịch vụ: như uốn tóc, thợ may tại nhà, sửa chữa giày dép, điện tử tại nhà, bơm hơi, sửa chữa xe gắn máy, xe đạp,…

Buôn bán tại Việt Nam bao gồm nhiều hình thức như buôn bán hàng rong, buôn bán vỉa hè và buôn bán tại nhà Các hoạt động buôn bán vỉa hè chủ yếu liên quan đến việc bán trái cây, thuốc lá, sim, thẻ điện thoại, sách báo, thu mua phế liệu và hàng ăn uống Trong khi đó, buôn bán hàng rong thường tập trung vào sách báo và thực phẩm Cuối cùng, buôn bán tại nhà chủ yếu là các cửa hàng tạp hóa nhỏ hoặc dịch vụ ăn uống, phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân.

- Xây dựng: gồm các nhóm, đội chuyên làm xây dựng, sửa chữa các công trình hay nhà ở,…

- Vận tải: như đạp xích lô, chạy xe Honda ôm, xe ba gác hay các dịch vụ khuân vác hàng hóa tại các chợ, trung tâm thương mại,…

2.4 Sự khác biệt tiền lương giữa lao động khu vực kinh tế chính thức và khu vực phi chính thức

Nhiều nghiên cứu về sự chênh lệch tiền lương giữa lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức ở các quốc gia như Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước châu Mỹ La Tinh (như Argentina, Brazil, Chile, Peru) đã chỉ ra rằng luôn tồn tại một khoảng cách tiền lương đáng kể giữa hai nhóm lao động này.

Theo nghiên cứu của Theo Dasgupta và các cộng sự (2015), người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại Thái Lan nhận lương hàng tháng thấp hơn so với người lao động trong khu vực chính thức Sự khác biệt này chỉ được giải thích 67,9% bởi đặc điểm của người lao động, phần còn lại được coi là bất bình đẳng trong trả lương.

Nghiên cứu của Zuo (2013) về thị trường lao động Trung Quốc cho thấy rằng sự chênh lệch tiền lương theo giờ giữa lao động chính thức và phi chính thức chủ yếu do hiệu ứng phân khúc thị trường lao động chiếm 67%, trong khi sự khác biệt do đặc điểm của người lao động chỉ giải thích được 33%.

Nghiên cứu của Cho và Cho (2009) về sự khác biệt tiền lương giữa lao động khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức tại Hàn Quốc cho thấy có một khoảng cách đáng kể trong mức lương Cụ thể, mức lương trung bình hàng tháng của lao động trong khu vực kinh tế chính thức đạt 2.000.000 KRW, trong khi lao động trong khu vực phi chính thức chỉ nhận được ít hơn 58.000 KRW.

Nghiên cứu của Tansel và Kan (2012) chỉ ra rằng có sự chênh lệch về tiền lương giữa người lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức tại Thổ Nhĩ Kỳ Cụ thể, người lao động khu vực phi chính thức nhận lương thấp hơn 31,8% so với đồng nghiệp trong khu vực chính thức Hơn 50% sự chênh lệch này có thể được giải thích bởi đặc điểm của người lao động, trong khi phần còn lại không thể giải thích được do các yếu tố như phân khúc thị trường lao động.

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2014) chỉ ra rằng tại Tp Hồ Chí Minh, có sự chênh lệch rõ rệt về tiền lương giữa người lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức Cụ thể, vào năm 2012, người lao động trong khu vực phi chính thức chỉ nhận được khoảng 70% mức lương hàng tháng so với người lao động trong khu vực chính thức.

Từ các báo cáo LFS của GSO từ năm 2011 đến 2015, có thể kết luận rằng người lao động trong khu vực kinh tế chính thức tại Tp Hồ Chí Minh luôn nhận mức lương cao hơn so với người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức.

Hình 2.2: Sự khác biệt tiền lương giữa lao động khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức giai đoạn 2011-2015 Đơn vị tính: 1.000 đồng/tháng

(Nguồn: Tính toán từ các báo cáo kết quả LFS các năm 2011-2015)

Các nguyên nhân tạo nên sự khác biệt tiền lương của người lao động khu vực

2.5.1 Các yếu tố kinh tế

2.5.1.1 Nhóm yếu tố đặc tính của người lao động

Nhóm yếu tố đặc trưng của người lao động bao gồm các yếu tố liên quan đến thể chất và giới tính như độ tuổi và tình trạng hôn nhân Những yếu tố này có vai trò quan trọng trong việc phân tích và đo lường thu nhập của người lao động trong cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức.

2.5.2.2 Nhóm yếu tố về giáo dục, trình độ đào tạo

Giáo dục và đào tạo đóng vai trò then chốt trong việc xác định thu nhập của người lao động Những công việc yêu cầu trình độ chuyên môn cao và kỹ năng phức tạp thường đi kèm với mức lương hấp dẫn.

Giá trị kiến thức và kỹ năng cao hơn nhiều so với các công việc đơn giản, vì vậy những người có nền giáo dục cao hơn thường có cơ hội tìm kiếm việc làm với thu nhập tốt hơn.

2.5.2.3 Nhóm yếu tố về lao động việc làm

Nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, tổ chức làm việc

Người lao động trong ngành nông nghiệp thường nhận lương thấp hơn so với ngành công nghiệp và dịch vụ do yêu cầu kỹ năng và trình độ thấp Trong cùng một ngành, thu nhập còn phụ thuộc vào chuyên môn và kinh nghiệm, với những công việc phức tạp có mức lương cao hơn Những người có kinh nghiệm làm việc lâu năm thường hoàn thành công việc hiệu quả hơn, do đó được trả lương cao hơn Tuy nhiên, nghiên cứu về lao động tại TP Hồ Chí Minh không bao gồm lao động trong ngành nông nghiệp Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2014), người lao động trong ngành công nghiệp có thu nhập cao hơn so với ngành dịch vụ.

2.5.2.4 Nhóm yếu tố địa lý: khu vực thành thị/ nông thôn

Thu nhập của người lao động cần đủ để đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình Nghiên cứu cho thấy, người lao động khu vực thành thị thường có thu nhập cao hơn so với người lao động nông thôn, ngay cả khi công việc có tính chất và độ phức tạp tương đương Điều này xuất phát từ việc mức sống và chi tiêu ở khu vực thành thị cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn.

2.5.2 Yếu tố phi kinh tế

Sự chênh lệch về vốn nhân lực giữa lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức là rất rõ ràng, góp phần vào sự khác biệt về tiền lương giữa hai nhóm này Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến mức thu nhập của người lao động.

Becker (1971) và Cain (1986) cho rằng sự khác biệt về tiền lương không chỉ phụ thuộc vào vốn con người và năng suất lao động mà còn do phân biệt đối xử Maurizio (2010) trong báo cáo tại Hội nghị về khu vực phi chính thức và việc làm phi chính thức tại Hà Nội đã chỉ ra rằng luôn tồn tại phân khúc tiền lương giữa lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức Ông lập luận rằng nếu không có phân khúc tiền lương và rào cản di chuyển lao động, người lao động dư thừa sẽ chuyển sang khu vực phi chính thức có năng suất thấp hơn, dẫn đến giảm mức lương chung Khu vực kinh tế phi chính thức thường bao gồm các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, cá nhân và hộ gia đình với năng suất thấp, do đó trả lương trung bình thấp hơn Việc không thực hiện nghĩa vụ đăng ký kinh doanh và thuế cũng khiến người lao động không được bảo vệ bởi các chế độ an sinh xã hội, dẫn đến giảm hiệu quả và năng suất của các cơ sở kinh doanh, từ đó làm giảm lương của người lao động.

Ngoài các yếu tố kinh tế như vốn nhân lực, sự chênh lệch tiền lương giữa người lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố phi kinh tế, đặc biệt là sự phân khúc trong thị trường lao động.

Các nghiên cứu trước

2.6.1 Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam nói chung và Tp Hồ Chí Minh nói riêng, tính cho đến nay có rất ít nghiên cứu định lượng về sự khác biệt tiền lương giữa lao động khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế phi chính thức cũng như những nguyên nhân tạo nên sự khác biệt đó một cách toàn diện

Nguyễn Thanh Bình (2014) đã tiến hành nghiên cứu “Sự khác nhau giữa lao động khu vực kinh tế phi chính thức và chính thức tại Tp Hồ Chí Minh” dựa trên bộ dữ liệu LFS 2012 do Tổng cục Thống kê thực hiện Nghiên cứu áp dụng các kiểm định định tính để phân tích sự khác biệt về thu nhập, điều kiện sống và an sinh xã hội giữa hai khu vực lao động Bên cạnh đó, phương pháp định lượng cũng được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương của lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức.

- Lao động khu vực phi chính thức rất ít được thụ hưởng các chế độ xã hội hơn so với người lao động khu vực chính thức:

Bảng 2.1: Bảng tỉ lệ các chế độ xã hội hai khu vực kinh tế Đơn vị tính

Khu vực kinh tế phi chính thức

Khu vực kinh tế chính thức

- Tỷ lệ lao động được hưởng lương ngày nghỉ phép, ngày lễ % 5,7 78,3

- Tỷ lệ lao động được cấp thẻ

- Tỷ lệ lao động được hưởng

Người lao động trong khu vực phi chính thức chủ yếu nhận lương theo ngày hoặc giờ làm việc, chiếm 62,6%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực chính thức chỉ là 9,8% Đáng chú ý, lao động phi chính thức dường như không nhận được tiền hoa hồng, tỷ lệ này là 0%, so với 0,5% trong khu vực chính thức.

Người lao động trong khu vực phi chính thức chủ yếu làm việc tại nhà hoặc trong các công việc lưu động như bán hàng rong, với tỷ lệ lần lượt là 48,9% và 22,8% Trong khi đó, tỷ lệ này ở khu vực chính thức chỉ đạt 17,4% và 2,9%.

Các yếu tố cá nhân như tuổi, giới tính, dân tộc và tình trạng hôn nhân, cùng với trình độ giáo dục, bao gồm số năm đi học, và các đặc điểm công việc như số giờ làm việc, kinh nghiệm và ngành nghề, cũng như yếu tố địa lý như khu vực thành thị và nông thôn, đều có ảnh hưởng đáng kể đến mức lương của người lao động trong khu vực phi chính thức.

Tiền lương trung bình của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức chỉ đạt khoảng 70% so với người lao động trong khu vực kinh tế chính thức, với mức lương tương ứng là 3.306,4 nghìn đồng so với 4.761,7 nghìn đồng.

Trần Thị Phương Minh (2015) đã thực hiện nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này dựa trên bộ dữ liệu LFS 2014, nhằm xác định các yếu tố tác động đến tiền lương của người lao động trong khu vực này.

Mô hình nghiên cứu chi tiết:

Mô hình thu nhập hằng tháng của người lao động được xây dựng dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc và tình trạng hôn nhân Ngoài ra, thành phần dân tộc, tình trạng di cư, nơi cư trú (thành thị hoặc nông thôn), số giờ làm việc, ngành nghề, công việc trước đây, quy mô hộ gia đình, địa điểm kinh doanh và khả năng làm thêm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thu nhập của người lao động.

Nghiên cứu chỉ ra rằng trong 14 biến động lập, có 2 biến là tuổi và dân tộc không có mối tương quan với thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức Biến quy mô hộ gia đình có ý nghĩa ở mức 10% đối với thu nhập, trong khi nhóm biến di cư và việc làm trước có ý nghĩa ở mức 5% Các yếu tố như giới tính, trình độ học vấn, kinh nghiệm lao động, tình trạng cư trú (thành thị - nông thôn), số giờ làm việc, ngành kinh doanh, việc làm trước đây và địa điểm kinh doanh đều có mối tương quan mạnh với thu nhập của người lao động trong khu vực này, với mức ý nghĩa dưới 1%.

Nguyễn Hữu Chí (2012) đã thực hiện nghiên cứu về "Việc làm phi chính thức cho lao động di cư từ nông thôn đến thành thị" dựa trên dữ liệu điều tra Di cư của Tổng cục Thống kê năm 2004, với 10.000 cuộc phỏng vấn cá nhân Nghiên cứu phân tích các biến nhân khẩu học như tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, và trình độ học vấn, cùng với các đặc điểm di cư, khu vực địa lý và việc làm, nhằm ước lượng các yếu tố tác động đến tiền công hàng tháng của lao động nhập cư và lao động bản địa trong khu vực kinh tế phi chính thức Phương pháp phân tách Oaxaca-Blinder được sử dụng để so sánh khoảng cách tiền công hàng tháng giữa hai nhóm lao động Nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận quan trọng về tình trạng việc làm và tiền công của lao động di cư.

Các yếu tố như tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, mối quan hệ với chủ hộ, trình độ học vấn và khu vực làm việc đều ảnh hưởng đáng kể đến mức lương của người lao động trong cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức.

Kết quả phân tích Oaxaca-Blinder cho thấy rằng người lao động di cư từ nông thôn có khoảng cách tiền lương giữa khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức là 16% Đặc biệt, chỉ 23% của khoảng cách này được giải thích bởi các yếu tố liên quan đến khả năng cá nhân của người lao động.

Kết quả phân tích Oaxaca-Blinder cho thấy rằng khoảng cách tiền lương giữa người lao động di cư trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức là 26% Đáng chú ý, chỉ có 22% của khoảng cách này có thể được giải thích bởi các yếu tố thuộc về khả năng cá nhân của người lao động.

Hồ Đức Hùng và các cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu “Từ việc làm trong khu vực kinh tế phi chính thức đến việc làm phi chính thức ở Việt Nam” sử dụng dữ liệu VHLSS của Tổng cục Thống kê Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố quyết định tham gia làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức tại Việt Nam, từ đó đề xuất các chính sách phát triển thị trường lao động và cải cách khung pháp lý nhằm nâng cao chất lượng việc làm trong khu vực này Các kết quả nổi bật từ nghiên cứu đã chỉ ra những mối liên hệ quan trọng trong bối cảnh lao động phi chính thức ở Việt Nam.

Số lượng thành viên trong hộ gia đình tăng lên dẫn đến tỷ lệ tham gia vào thị trường lao động khu vực kinh tế phi chính thức cũng gia tăng Đặc biệt, nam giới có xu hướng tham gia vào khu vực này nhiều hơn nữ giới, và khu vực nông thôn ghi nhận tỷ lệ người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức cao hơn so với khu vực thành thị Điều này có thể giải thích bởi vì khu vực kinh tế phi chính thức không bao gồm những người làm việc trong ngành nông nghiệp Ngoài ra, những người có trình độ học vấn thấp có xu hướng tham gia nhiều hơn vào khu vực kinh tế chính thức, trong khi những người lớn tuổi thường ít tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức.

Mô hình nghiên cứu thực nghiệm đề xuất

Bài nghiên cứu này dựa trên lý thuyết về tiền lương trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức, áp dụng phương pháp hồi quy hàm tiền lương mở rộng của Mincer (1974) để phân tích mối quan hệ giữa logarithm tiền lương và các biến độc lập Đồng thời, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phân tách Oaxaca và Blinder (1973) để đánh giá tỷ lệ chênh lệch tiền lương, trong đó một phần chênh lệch có thể giải thích bởi vốn con người, trong khi phần còn lại không giải thích được do phân biệt đối xử hay phân khúc tiền lương.

Để phân tích sự khác biệt về tiền lương giữa người lao động trong khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức, nghiên cứu áp dụng phương pháp hồi quy phân vị Koenker và Bassett (1978) nhằm ước lượng hàm hồi quy tại các phân vị khác nhau Đồng thời, kỹ thuật phân tách Machado và Mata (2005) được sử dụng để đánh giá tỷ lệ chênh lệch tiền lương do hai nguyên nhân: một phần chênh lệch có thể giải thích bởi vốn con người, trong khi phần còn lại không thể giải thích được là do sự phân biệt đối xử tại các phân vị tương ứng.

Phương trình Mincer thể hiện mối liên hệ giữa tiền lương và vốn nhân lực, bao gồm trình độ giáo dục và kinh nghiệm Nó lập luận rằng mức lương hiện tại của một cá nhân phụ thuộc vào các khoản đầu tư vào vốn con người mà họ đã thực hiện trước đó.

- Số năm đi học là số năm được giành toàn thời gian cho việc học của người lao động

- Hiệu quả mang lại của số năm đi học đối với tiền lương tiềm năng là không đổi theo thời gian

- Hiệu quả mang lại của việc đầu tư cho việc đi học sau khi tốt nghiệp đối với tiền lương tiềm năng là không đổi theo thời gian

Dạng cơ bản của hàm Mincer như sau:

Ln(wage) = a + b*exper + c*exper 2 + d*school + Ui (2.1)

Biến số bên trái là logarit của tiền lương Phương trình này có hai biến độc lập là số năm kinh nghiệm và số năm đi học

- wage: tiền lương theo giờ

- exper: Số năm kinh nghiệm

- exper 2 : số năm kinh nghiệm bình phương

- school: Số năm đi học

- Ui: Sai số ngẫu nhiên

Với các kỳ vọng về “dấu” của mô hình như sau:

Lương của người lao động bị ảnh hưởng tích cực bởi trình độ giáo dục và kinh nghiệm làm việc Cụ thể, những người có trình độ học vấn cao hơn thường nhận được mức lương cao hơn, và những người có nhiều kinh nghiệm làm việc cũng có xu hướng có thu nhập cao hơn Do đó, hệ số tương ứng với kinh nghiệm (exper) và trình độ học vấn (school) đều mang giá trị dương.

Kinh nghiệm có tác động biên giảm dần, nghĩa là những người có nhiều kinh nghiệm thường nhận được mức tăng lương thấp hơn khi tích lũy thêm kinh nghiệm so với những người có ít kinh nghiệm Điều này cho thấy hệ số c có giá trị âm (c < 0).

Dựa trên mô hình hàm thu nhập của Mincer (1974), các nghiên cứu sau này đã phát triển và mở rộng, cho phép ước lượng thêm nhiều biến số độc lập như giới tính, loại công việc và ngành nghề.

Ln(wage) = a + b*exper + c*exper 2 + d*school+ e*X + Ui (2.2) Trong đó, X là các biến độc lập khác có tác động đến tiền lương như giới tính, công việc, ngành nghề,…

Các nghiên cứu về tiền lương đã phát triển từ mô hình Mincer (1974) bằng cách sử dụng nhiều biến độc lập khác nhau Không chỉ dừng lại ở việc phân tích tiền lương trung bình và chênh lệch tiền lương như trong nghiên cứu của Oaxaca-Blinder (1973), các nghiên cứu hiện nay còn mở rộng ra các tham số thống kê khác của hàm phân phối có điều kiện của tiền lương Điều này bao gồm các nghiên cứu về hồi quy phân vị QR của Koenker và Bassett (1978), Buchinsky (2001) và khoảng cách tiền lương theo phương pháp Machado-Mata (2005).

2.7.2 Phương pháp phân tách Oaxaca và Blinder (1973) Để ước lượng tỉ trọng chênh lệch thu nhập trung bình của hai nhóm đối tượng khác nhau, cách tiếp cận phổ biến nhất hiện nay là áp dụng phương pháp phân tách của Oaxaca và Blinder (1973) Phương pháp này giải thích khoảng cách thu nhập bằng cách phân rã chênh lệch tiền lương thành hai thành phần Thành phần thứ nhất giải thích sự khác biệt về tiền lương do khác biệt về đặc điểm của người lao động và thành phần thứ hai không giải thích được sự chênh lệch tiền lương do những phân biệt đối xử Phương pháp này thường được áp dụng để phân tích khoảng cách chênh lệch tiền lương tại một thời điểm và đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới Theo Oaxaca và Blinder, phương pháp ước lượng khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm lao động khu vực kinh tế chính thức Y FS và lao động khu vực kinh tế phi chính thức Y IS được mô tả như sau:

T : số quan sát trong mẫu nghiên cứu, k : số tham số,

Y: tiền lương của người lao động,

Y : tiền lương trung bình của người lao động,

X: ma trận nkbao gồm các giá trị cụ thể của các yếu tố tác động đến tiền lương,

X : ma trận k1 các gía trị trung bình các yếu tố trong X, β : vectơ các tham số hồi qui,

 ^ : vectơ là ước lượng của β,

Giả sử hàm hồi quy tyến tính tiền lương có dạng Y  X   u ,

Khi đó, hàm hồi quy mẫu có dạng ,

Hàm hồi quy tuyến tính tiền lương tại các giá trị trung bình

  : mức lương trung bình của nhóm người lao động khu vực kinh tế chính thức,

 : mức lương trung bình của nhóm người lao động khu vực kinh tế phi chính thức

Khi sử dụng hàm tiền lương của nhóm lao động trong khu vực kinh tế chính thức làm chuẩn, chênh lệch tiền lương trung bình giữa lao động khu vực chính thức và phi chính thức sẽ được thể hiện rõ ràng.

 Y FS Y IS ( X ' FS - X ' IS ) ^ FS + X ' IS ( ^ FS - ^ IS ) (2.3)

Trong phương trình này, thành phần (X' FS - X' IS)  ^ FS thể hiện chênh lệch tiền lương được giải thích bởi sự khác biệt trung bình của các biến độc lập Ngược lại, thành phần X' IS ( ^ FS -  ^ IS) chỉ ra chênh lệch tiền lương chưa được giải thích, do hệ số hồi quy giữa hai nhóm gây ra Theo nghiên cứu của Oaxaca (1973) và các nghiên cứu sau này, phần chênh lệch chưa được giải thích này được coi là thước đo cho sự bất bình đẳng hoặc phân biệt đối xử trong xã hội.

Trong bối cảnh không có sự bất bình đẳng hay phân biệt đối xử về tiền lương giữa lao động khu vực chính thức và phi chính thức, ta có thể thấy rằng chênh lệch tiền lương giữa hai nhóm này, nếu tồn tại, chủ yếu xuất phát từ sự khác biệt về nguồn lực và đặc điểm của người lao động trong từng nhóm.

2.7.3 Phương pháp hồi qui phân vị Koenker và Baseet (1978)

Phương pháp hồi quy qui phân vị được Koenker và Baseet giới thiệu năm 1978 nhằm bổ sung cho phân tích hồi quy tuyến tính

Xét hàm hồi quy tuyến tính: i i i   u

  với Y i là biến phụ thuộc, X i là vectơ các biến độc lập, u i là sai số và hàm hồi quy mẫu ước lượng cho nó  i   i  ˆ  e i

Theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS – Ordinary Least Spuare), hàm hồi quy được ước lượng sao cho tổng bình phương sai số là nhỏ nhất tức là:

Phương pháp OLS là kỹ thuật chuẩn để xác định mô hình hồi quy tuyến tính và ước lượng các thông số chưa biết Tuy nhiên, phương pháp này phải tuân thủ nghiêm ngặt các giả thiết liên quan.

- Các biến độc lập X i không phải là các biến ngẫu nhiên

- Kỳ vọng toán của thành phần sai số e i bằng 0, tức là E[e i ] = 0

- Có tính thuần nhất - phương sai của thành phần sai số cố định, tức là ) 2 var(e i 

- Không có tự tương quan, tức là cov(e i , e j ) = 0, (i≠j)

Phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) thường không đáp ứng đầy đủ các giả thuyết, dẫn đến việc nó không còn là phương pháp tối ưu và không cung cấp cái nhìn toàn diện về hàm phân phối của đại lượng nghiên cứu Koenker và Basset (1978) đã chỉ ra những nhược điểm của OLS và đề xuất phương pháp hồi quy phân vị để khắc phục Phương pháp này không chỉ tập trung vào việc xác định hàm trung bình có điều kiện mà còn thực hiện hồi quy trên từng phân vị của biến phụ thuộc, từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về hàm phân phối của biến đang được nghiên cứu.

Phương pháp QR có thể giải quyết các vấn đề tồn tại và là nhược điểm của phương pháp OLS như sau:

- Khắc phục khuyết tật phương sai sai số thay đổi trong các mô hình khi áp dụng phưong pháp OLS

Hồi quy tối ưu bình phương (OLS) rất nhạy cảm với giá trị ngoại lai và không theo chuỗi xu thế, điều này có thể dẫn đến sai lệch kết quả đáng kể Hồi quy phân vị, với khả năng thực hiện tại các phân vị khác nhau, giúp giảm thiểu tác động của giá trị ngoại lai Đặc biệt, trong trường hợp dữ liệu phân tán, ước lượng hồi quy trung vị có thể mang lại hiệu quả tốt hơn so với hồi quy trung bình.

Hàm phân vị tuyến tính có điều kiện của Y theo X tại phân vị τ ∈ (0, 1) được biểu diễn bằng Q_i(Y_i) = X_i β̂_τ, trong đó tham số β̂ được xác định để tối thiểu hóa tổng chênh lệch sai số τ tại phân vị τ.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w