GIỚI THIỆU
Lý do chọn đề tài
Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện
Việt Nam, mặc dù đạt được nhiều thành tựu kinh tế, đang đối mặt với những thách thức từ nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sự gia tăng chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư và các vùng miền Mặc dù nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, khoảng cách giàu nghèo lại có xu hướng gia tăng, theo nhận định của Ngân hàng Thế giới.
Từ năm 1993 đến 2012, thu nhập bình quân của 40% nhóm có thu nhập thấp nhất tại Việt Nam tăng 9% mỗi năm Trong giai đoạn 2004-2010, chênh lệch thu nhập giữa 20% hộ giàu nhất và 20% hộ nghèo nhất đã tăng từ 7 lần lên 8,5 lần Đến năm 2014, Việt Nam có 210 người siêu giàu với tài sản trên 30 triệu USD, tổng tài sản của họ đạt khoảng 20 tỷ USD, tương đương 12% GDP cả nước.
Hồ Chí Minh (Tổ chức Oxfarm, 2017)
Mối liên hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu ở cả nước phát triển và đang phát triển Nhiều nghiên cứu, như của Alessina và Rodrik, chỉ ra rằng có thể tồn tại một mối quan hệ ngược chiều giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế.
(1994), Person và Jabellina (1994), Benabou (1996) Tuy nhiên, Simon Kuznets
(1955) cho rằng ở mức thu nhập bình quân đầu người thấp, bất bình đẳng thu nhập
Trang 2 tăng cùng với sự gia tăng của thu nhập bình quân đầu người và chỉ giảm trong giai đoạn phát triển sau của quá trình công nghiệp hóa
Công bằng là yếu tố quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, theo các nhà kinh tế của Ngân hàng Thế giới, tăng trưởng kinh tế có thể giảm nghèo đói Nghiên cứu từ 44 quốc gia cho thấy, nếu một quốc gia có sự phân phối thu nhập bình đẳng, ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến việc xóa đói giảm nghèo sẽ cao gấp năm lần so với quốc gia có phân phối thu nhập bất bình đẳng (Ngân hàng Thế giới, 1999) Tại Việt Nam, quá trình đổi mới theo hướng tự do hóa và hội nhập đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Tuy nhiên, trong hai thập kỷ qua, tăng trưởng kinh tế cũng đi kèm với sự gia tăng bất bình đẳng, thể hiện qua chỉ số Gini tăng từ 3.2.
Từ năm 1993 đến năm 2010, chỉ số bất bình đẳng ở Việt Nam đã tăng từ 3.5 lên 4.3, chủ yếu do sự gia tăng chênh lệch thu nhập và nghèo đói Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người tại thành phố cao hơn 2.2 lần so với nông thôn, và tỷ lệ chi tiêu giữa hai khu vực này cũng cho thấy sự khác biệt tương tự Chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành phố là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng trong những năm qua.
Hội nhập kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), góp phần phổ biến công nghệ mới và nâng cao trình độ quản lý tại Việt Nam, đặc biệt là ở ĐBSCL Ngoài ra, hội nhập còn thúc đẩy tự do hóa thương mại, tạo cơ hội chuyển giao công nghệ và tăng cường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Điều này giúp các tác nhân kinh tế tối ưu hóa nguồn lực như vốn, tri thức và sức lao động Tuy nhiên, các tác nhân này sẽ có phản ứng khác nhau đối với những thay đổi do hội nhập kinh tế mang lại, đặc biệt là những cá nhân không đủ điều kiện về vốn, trình độ quản lý và lao động.
Trang 3 hội nhập với sự phát triển chung và dễ dàng bị bỏ rơi ngoài cuộc chơi Điều này dẫn đến sự thay đổi trong bức tranh kinh tế theo tỉnh/ vùng miền của một nước Hiệu quả sử dụng đầu vào sẽ khác nhau, tiến bộ công nghệ và do đó năng suất lao động cũng khác nhau Tất cả điều này đều có ảnh hưởng tới mức độ bất bình đẳng trong kinh tế giữa các hộ gia đình
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nổi tiếng với khí hậu ôn hòa, đất đai phì nhiêu, là vựa lúa, thủy sản và trái cây của cả nước Vùng này có tiềm năng lớn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt trong phát triển công nghiệp tiêu dùng và mở rộng mạng lưới bán lẻ cho hơn 18 triệu dân Tính đến tháng 6/2016, ĐBSCL đã thu hút hơn 1.348 dự án FDI với tổng vốn gần 20 tỷ USD, chiếm 7% tổng vốn FDI cả nước Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2016, vùng này đã thu hút gần 80 dự án lớn, cho thấy sự gia tăng dòng vốn FDI vào ĐBSCL, từ mức 5% trước đó lên gần 7% Khu vực này cũng có lợi thế về nguồn nguyên liệu và lao động dồi dào, thu hút doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư nhiều hơn Tuy nhiên, sự chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn đang có xu hướng gia tăng tại ĐBSCL.
Bài viết nghiên cứu tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị tại Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn 2004 – 2014 Tác giả xem xét và đánh giá ảnh hưởng của FDI đối với sự chênh lệch thu nhập trong khu vực này.
Nghiên cứu này sẽ làm rõ tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị, đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp phù hợp cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu trên, đề tài trả lời các câu hỏi như sau:
- Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại vùng ĐBSCL giai đoạn 2004-2014 như thế nào?
- Giải pháp nào để giảm tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị?
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là phân tích tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Các mục tiêu cụ thể bao gồm việc xác định mức độ ảnh hưởng của vốn đầu tư đến sự chênh lệch thu nhập trong khu vực này.
Nghiên cứu này kiểm chứng tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong giai đoạn 2004 – 2014 Kết quả cho thấy FDI có ảnh hưởng rõ rệt đến sự chênh lệch thu nhập, làm gia tăng khoảng cách giữa các khu vực, đặc biệt là giữa các thành phố phát triển và vùng nông thôn Việc phân tích này cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa đầu tư nước ngoài và sự phát triển kinh tế không đồng đều trong khu vực.
Để giảm thiểu tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cần khuyến nghị các chính sách và giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương Những biện pháp này nên tập trung vào việc nâng cao năng lực sản xuất, tăng cường kết nối hạ tầng và hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động địa phương Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực bền vững, nhằm tạo ra cơ hội việc làm và thu nhập công bằng hơn cho người dân nông thôn.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng để xác định nguyên nhân gây ra bất bình đẳng thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn.
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn chính:
Nghiên cứu sơ bộ bằng phân tích định lượng nhằm xây dựng các biến trong mô hình nghiên cứu thông qua việc khảo sát tài liệu thứ cấp Sau đó, các biến quan sát được điều chỉnh và bổ sung để đo lường các khái niệm nghiên cứu một cách chính xác.
Nghiên cứu chính thức được tiến hành thông qua phân tích định lượng sau khi xác định các biến trong mô hình Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp từ bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS), được Tổng cục Thống kê thu thập mỗi hai năm, cùng với số liệu FDI từ niên giám thống kê các tỉnh thành Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0 và Stata 13.0.
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Giới hạn nghiên cứu Đề tài chỉ nghiên cứu các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014
Nghiên cứu tác động của FDI đối với bất bình đẳng thu nhập giữa thành thị và nông thôn được thực hiện thông qua việc thu thập dữ liệu từ 13 tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) trong giai đoạn 2004.
- 2014 (gồm các năm 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014) tương ứng với 78 mẫu quan sát
- Giai đoạn trước năm 2004 không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu "Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với bất bình đẳng thu nhập thành thị - nông thôn vùng ĐBSCL giai đoạn 2004-2014" mang lại những ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ mối quan hệ giữa đầu tư nước ngoài và sự chênh lệch thu nhập giữa các khu vực Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển kinh tế ở Đồng bằng sông Cửu Long mà còn giúp xác định các chính sách cần thiết để giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững cho cả khu vực thành thị và nông thôn.
Nghiên cứu này góp phần xác định tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với gia tăng bất bình đẳng thu nhập tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong giai đoạn 2004-2014, đồng thời bổ sung thêm một nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của FDI đối với khu vực ĐBSCL và toàn quốc.
Thứ hai, Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các học viên nghiên cứu về lĩnh vực liên quan.
Kết cấu của đề tài
Kết cấu của luận án gồm 5 chương, như sau:
Chương 1: Phần giới thiệu Chương này nêu khái quát những nội dung của đề tài như: lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn và phạm vị nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chương này trình bày cơ sở lý luận của đề tài, các khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài và bất bình đẳng thu nhập, các lý thuyết có liên quan đến luận án như: lý thuyết về bất bình đẳng
Trang 6 do sự chuyển dịch giữa công nghiệp và nông nghiệp; lý thuyết về tác động của chính phủ đến bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn; lý thuyết về tác động của hội nhập quốc tế đến bất bình đẳng thu nhập; tổng quan về tình hình thu hút FDI và bất bình đẳng thu nhập giữa thành thị và nông thôn tại ĐBSCL; đồng thời, trình bày phương pháp tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập giữa thành thị và nông thôn, các nghiên cứu và kết luận có liên quan
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này chủ yếu nói về cách thiết kế bài nghiên cứu, các phương pháp sẽ sử dụng trong nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các thức thu thập và phân tích dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, kiểm định độ phù hợp tổng quát của mô hình, kiểm định mức độ phù hợp của mô hình nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của FDI và các yếu tố đối với bất bình đẳng thu nhập thành thị và nông thôn
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trình bày tóm tắt kết quả tìm thấy ở chương 4, vận dụng kiến thức và các lý thuyết kinh tế để đưa ra giải pháp cụ thể chính sách nhằm giảm tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập thành thị và nông thôn Nêu ra hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp của đề tài
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Các khái niệm
2.1.1 Khái niệm về đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khái niệm đầu tư đã được nhiều tác giả định nghĩa với nhiều góc độ khác nhau
Theo J.Sachs và Larrain (1993), đầu tư là việc tích lũy sản lượng nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong tương lai của nền kinh tế Sản lượng này có thể được tạo ra từ nội địa hoặc nhập khẩu, bao gồm cả sản phẩm hữu hình như máy móc, thiết bị và sản phẩm vô hình như bằng phát minh, sáng chế.
Trần Ngọc Thơ (2007) định nghĩa đầu tư là việc hy sinh một giá trị nhất định trong hiện tại để đổi lấy khả năng nhận được giá trị không chắc chắn trong tương lai.
Theo Trần Văn Hùng và cộng sự (2004), đầu tư là hoạt động bỏ vốn hiện tại để sinh lợi trong tương lai, với vốn có thể là tiền, tài sản, sức lao động hoặc trí tuệ Quá trình chuyển đổi từ tích lũy vốn đến đầu tư diễn ra qua ba bước: tiết kiệm, huy động tiết kiệm vào hệ thống tài chính và cuối cùng là đầu tư.
Đầu tư có thể được định nghĩa là việc hy sinh các nguồn lực hiện tại để thực hiện các hoạt động nhằm thu về kết quả lớn hơn trong tương lai so với nguồn lực đã bỏ ra.
Đầu tư là một khái niệm đa dạng với nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng điểm chung của tất cả là nhằm tạo ra lợi nhuận trong tương lai.
2.1.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Theo Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam năm 2005 đưa ra khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là quá trình mà nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào Việt Nam dưới hình thức tiền hoặc tài sản khác, nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật.
FDI, hay đầu tư trực tiếp nước ngoài, là hình thức đầu tư vượt ra ngoài biên giới quốc gia, cho phép nhà đầu tư nắm giữ một phần hoặc toàn bộ quyền sở hữu lâu dài tại một doanh nghiệp ở quốc gia khác Để được coi là FDI, quyền sở hữu tối thiểu cần đạt ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp (IMF).
Theo Đinh Phi Hổ (2010), vốn đầu tư nước ngoài: bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII), cụ thể:
Đầu tư trực tiếp (FDI) là hình thức mà các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các dự án sản xuất và kinh doanh tại một quốc gia khác Theo Phan Văn Nam (2012), FDI được định nghĩa là khoản đầu tư mà qua đó một tổ chức trong nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) có thể thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp ở nền kinh tế khác Mục tiêu chính của nhà đầu tư trực tiếp là gia tăng ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp tại quốc gia mà họ đầu tư.
Đầu tư gián tiếp (FII) là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài chỉ tham gia bỏ vốn mà không quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, thường thông qua cổ phiếu và tín phiếu Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đề cập đến việc mua tài sản tài chính nước ngoài để kiếm lời mà không tham gia vào quản lý doanh nghiệp hay cam kết chuyển giao tài sản, công nghệ, đào tạo lao động, và kinh nghiệm quản lý Nói cách khác, FPI là hình thức đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.
Nguyễn Phú Tụ và Huỳnh Công Minh (2010) nhận định có nhiều nhân tố tác động đến thu hút FDI, song có một số nhóm nhân tố chính sau:
Môi trường đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI, bao gồm môi trường pháp lý minh bạch, kinh tế vĩ mô ổn định với tăng trưởng cao và bền vững, cùng với kiểm soát lạm phát hiệu quả Một môi trường kinh tế không ổn định và thiếu minh bạch sẽ tạo ra rủi ro, khiến nhà đầu tư lo ngại về việc bảo toàn vốn và thu nhập Tăng trưởng kinh tế là yếu tố then chốt, các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững thường thu hút FDI nhiều hơn so với những nước có nền kinh tế xã hội không ổn định.
Chất lượng cơ sở hạ tầng cần phải được đảm bảo đầy đủ và đồng bộ, bao gồm cả hạ tầng vật chất - kỹ thuật (hay còn gọi là hạ tầng cứng) và hạ tầng kinh tế.
Hệ thống hạ tầng cơ sở, bao gồm cả yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất kinh doanh, đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư Khi hạ tầng yếu kém và thiếu đồng bộ, các nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc triển khai dự án, dẫn đến chi phí đầu tư tăng cao và quyền lợi không được bảo đảm Điều này là một trong những lý do khiến nhà đầu tư ngần ngại trong việc rót vốn.
Độ mở của nền kinh tế, khuyến khích xuất khẩu và sự ổn định chính trị là những yếu tố quan trọng Khi nền kinh tế càng mở cửa, giao thương và buôn bán sẽ gia tăng, tạo ra thị trường xuất nhập khẩu rộng lớn hơn cho các doanh nghiệp Điều này mang lại nhiều cơ hội cho việc đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Quy mô và tính chất của thị trường nội địa đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư Để thu hút FDI, không chỉ cần có tiềm năng dân số lớn mà còn cần cải thiện đời sống, tăng thu nhập và sức mua của cư dân Hơn nữa, việc tham gia vào các liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu cũng mở rộng thị trường cho các nhà đầu tư, trở thành yếu tố quyết định trong việc lựa chọn địa bàn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
2.1.2 Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập nông thôn - thành thị
2.1.2.1 Khái niệm về thu nhập
Theo Nguyễn Trung Kiên (2012), thu nhập của cá nhân hoặc hộ gia đình trong một khoảng thời gian nhất định được xác định bằng tổng số tiền chi cho tiêu dùng và sự biến động giá trị tài sản tính bằng tiền trong khoảng thời gian đó.
Thu nhập = Tiêu dùng + Sự thay đổi giá trị của tài sản
Các nhà kinh tế thường chỉ tập trung vào thu nhập bằng tiền:
Cơ sở lý thuyết
2.2.1 Lý thuyết về sự chuyển dịch lao động giữa thành thị và nông thôn
Quan điểm của trường phái tân cổ điển:
Theo Reder (1971), thị trường lao động được coi là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, dẫn đến mức lương giữa nông thôn và thành thị là như nhau Sự chênh lệch thu nhập giữa hai khu vực này chủ yếu xuất phát từ đặc điểm cá thể của người lao động Những người làm việc tại thành phố thường có trình độ giáo dục và đào tạo cao hơn, đồng thời đảm nhận các công việc có năng suất lao động cao và áp lực lớn hơn so với nông dân Farkas (1988) chỉ ra rằng, các doanh nghiệp ở thành phố thường áp dụng mức lương cao để thu hút lao động từ nông thôn, tạo ra một môi trường gần như hoàn hảo về vốn con người và mức lương.
Trường phái tân cổ điển giải thích sự chênh lệch mức lương giữa khu vực nông thôn và thành thị là do những đặc điểm cá nhân khác nhau giữa hai khu vực này.
Quan điểm của các nhà kinh tế học thể chế:
Các nhà kinh tế học thể chế đồng ý với quan điểm của các nhà kinh tế Tân cổ điển rằng sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị xuất phát từ đặc tính cá thể khác nhau Tuy nhiên, họ nhấn mạnh rằng có nhiều rào cản đối với việc chuyển dịch lao động từ nông thôn sang thành thị, trong đó vai trò của chính phủ đóng một phần quan trọng.
Tordaro (1971) chỉ ra rằng có sự di chuyển lao động từ nông thôn đến thành thị do sức hấp dẫn của mức lương cao hơn Những người lao động nông thôn thường chấp nhận mức lương thấp hơn so với mức trung bình tại thành phố, nhưng họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm do thiếu kỹ năng và trình độ so với lao động thành thị Hệ quả là, mức lương ở khu vực thành thị vẫn luôn cao hơn so với khu vực nông thôn.
Theo Kwoka (1983), khu vực nhà nước, bao gồm doanh nghiệp nhà nước và hành chính sự nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị, với sự tập trung chủ yếu của các cơ quan này ở khu vực thành thị.
Trang 14 và là nơi cần nhiều lao động và chủ yếu được nhà nước bảo hộ Do tính chất độc quyền của các đơn vị này nên các cơ quan này sẵn sàng trả mức lương cao cho người lao động bởi không bị ràng buộc bởi áp lực cạnh tranh Hơn thế nữa, người lao động làm việc trong các đơn vị này có được sự đảm bảo an toàn nghề nghiệp rất lớn cả về vật chất và tinh thần nên thu hút lao động từ nông thôn ra thành thị đồng thời làm cho mức lương ở thành thị cao hơn nông thôn
2.2.2 Lý thuyết về tác động các chính sách của Chính phủ đến bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn
Theo Yang (1999), các đạo luật lao động và ràng buộc thể chế là yếu tố quan trọng gây bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn Những quy định như hạn chế nhập hộ khẩu và di chuyển lao động đến thành phố đã tạo ra rào cản giữa hai khu vực này Trong khi cư dân thành phố hưởng nhiều ưu đãi và mức sống cao, người dân nông thôn lại sống trong nghèo đói và ít được chính phủ quan tâm.
Theo Nabb và Ryan (1990), mức lương tối thiểu và các chính sách bảo hộ doanh nghiệp nhà nước, cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô, đã dẫn đến mức lương ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn Điều này tạo ra sự khác biệt rõ rệt giữa hai khu vực, khiến người dân thành thị có mức lương và điều kiện sống tốt hơn so với người dân nông thôn, mặc dù họ có cùng trình độ giáo dục và kinh nghiệm.
Lipton (1977) chỉ ra rằng sự bất bình đẳng kinh tế giữa nông thôn và thành thị xuất phát từ chính sách trọng thị Ông nhấn mạnh rằng các quốc gia thường tập trung vào tăng trưởng kinh tế, dẫn đến việc đầu tư chủ yếu vào những khu vực có lợi thế về giao thông, chủ yếu là các thành phố Kết quả là, người dân ở các khu vực đô thị được hưởng lợi nhiều hơn, trong khi những vùng nông thôn bị bỏ quên và không nhận được sự đầu tư cần thiết.
2.2.3 Lý thuyết về tác động của hội nhập quốc tế đến bất bình đẳng thu nhập
Lý thuyết kinh tế chỉ ra mối liên hệ giữa thương mại quốc tế và bất bình đẳng thu nhập, cho thấy rằng hội nhập kinh tế có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm khoảng cách giàu nghèo, đặc biệt tại các nước đang phát triển Các mô hình tân cổ điển như Heckscher-Ohlin và định lý Stolpher-Samuelson cho rằng, thông qua thương mại, lao động trình độ thấp sẽ trở nên khan hiếm hơn, tạo cơ hội tăng thu nhập cho họ.
Mặc dù có những mô phỏng khác nhau ở các quốc gia, nhưng nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tự do hóa thương mại có tác động tiêu cực đến người nghèo trong ngắn hạn Theo Mabugu và Chitiga (2007), tại Nam Phi, tự do hóa thương mại ảnh hưởng xấu đến người nghèo tạm thời nhưng lại mang lại lợi ích lâu dài Các nghiên cứu của Bannister và Thugge (2001) tại Nam Phi và Inđônêxia cũng cho thấy nhóm hộ gia đình nghèo nhất chịu tác động tiêu cực từ chính sách này Hơn nữa, Guillermo Perry và các cộng sự (2006) đã chỉ ra rằng trong những năm 1990, tự do hóa thương mại ở Châu Mỹ La tinh đã làm giảm lương của người lao động trình độ thấp và tăng lương của người lao động trình độ cao, dẫn đến gia tăng bất bình đẳng thu nhập.
Các yếu tố ảnh hưởng bất bình đẳng thu nhập
2.3.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Vốn FDI chủ yếu tập trung vào các khu vực thành thị nhờ vào ưu điểm như hệ thống đường xá thuận lợi, cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và lực lượng lao động tay nghề cao Điều này tạo điều kiện cho người dân thành phố dễ dàng tìm kiếm việc làm, dẫn đến thu nhập cao hơn so với khu vực nông thôn Theo Trịnh Duy Luân (2008), trước năm 2006, ông đã chỉ ra rằng có mối tương quan thuận chiều giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập, khi đầu tư nước ngoài làm mất đất của khu vực nông thôn.
Trang 16 làm cho thu nhập của họ bị thu hẹp, tăng chênh lệch đối với người dân thành thị Cũng theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Minh Ngọc (2006) khẳng định FDI không những tạo ra bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam ở thành thị mà còn gây ra bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị
2.3.2 Giá trị xuất nhập khẩu
Giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu của tỉnh là chỉ tiêu thống kê quan trọng, phản ánh kết quả hoạt động buôn bán và khả năng hội nhập quốc tế Nó cho thấy mức độ tiếp cận thị trường của địa phương với nước ngoài Tác động của giá trị xuất nhập khẩu đến bất bình đẳng thu nhập có sự khác biệt rõ rệt tùy theo từng quốc gia và khu vực.
Theo mô hình tân cổ điển Heckscher-Ohlin và định lý Stolpher-Samuelson, hội nhập kinh tế thúc đẩy thương mại, từ đó góp phần tăng trưởng kinh tế và giảm khoảng cách giàu nghèo trong các nước đang phát triển nhờ vào việc cải thiện lợi thế tương đối của lao động trình độ thấp.
Nghiên cứu của Mabugu và Chitiga (2007) chỉ ra rằng tự do hóa thương mại có tác động tiêu cực đến người nghèo trong ngắn hạn, nhưng lại mang lại lợi ích tích cực trong dài hạn Ngược lại, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012) khẳng định rằng tự do hóa thương mại có ảnh hưởng tích cực đến việc giảm bất bình đẳng thu nhập.
Nghiên cứu của Perry và cộng sự (2006) chỉ ra rằng tự do hóa thương mại đã dẫn đến việc giảm lương cho người lao động trình độ thấp, đồng thời gia tăng số lượng lao động có trình độ cao, từ đó góp phần làm tăng bất bình đẳng thu nhập.
Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến mức độ bất bình đẳng thu nhập giữa thành thị và nông thôn, góp phần gia tăng khoảng cách thu nhập Những cá nhân có trình độ học vấn cao thường đạt được mức thu nhập tốt hơn Bên cạnh đó, các khu vực có trình độ học vấn đồng đều sẽ có mức độ bất bình đẳng thu nhập thấp hơn so với những khu vực có sự chênh lệch về trình độ học vấn.
Nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2006) chỉ ra rằng giáo dục là yếu tố quan trọng góp phần vào khoảng cách giữa nông thôn và thành thị Sự chênh lệch về trình độ giáo dục giữa hai khu vực này dẫn đến khả năng tạo thu nhập khác nhau, với người dân thành thị thường có trình độ giáo dục cao hơn và do đó có cơ hội tạo ra thu nhập lớn hơn.
2.3.4 Thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập bình quân đầu người ảnh hưởng trực tiếp đến bất bình đẳng thu nhập, với người dân thành thị có nhiều cơ hội tạo ra thu nhập cao hơn so với nông thôn, do phần lớn doanh nghiệp trả lương cao tập trung ở khu vực thành phố Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012) chỉ ra rằng thu nhập bình quân đầu người có tác động tiêu cực đến bất bình đẳng thu nhập giữa thành thị và nông thôn; cụ thể, khi thu nhập bình quân đầu người tăng, bất bình đẳng thu nhập giữa hai khu vực này cũng gia tăng Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Barro (2000), cho thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập ở các nước đang phát triển là ngược chiều.
Giới tính ảnh hưởng lớn đến bất bình đẳng trong việc làm, đặc biệt giữa khu vực thành thị và nông thôn Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt (2006), tỷ lệ nam giới có việc làm cao hơn nữ giới ở cả hai khu vực, với tỷ lệ việc làm của nam giới tại thành thị cũng vượt trội hơn so với nông thôn Tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực ĐBSCL, vẫn tồn tại quan niệm phong kiến trọng nam khinh nữ, cho phép nam giới tham gia vào các hoạt động xã hội và đảm nhận các trách nhiệm quan trọng, trong khi phụ nữ chủ yếu chăm sóc gia đình và làm những công việc ít quan trọng hơn với thu nhập thấp Điều này dẫn đến việc hầu hết các vị trí công việc có thu nhập cao đều do nam giới nắm giữ.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đang làm thay đổi mạnh mẽ thị trường lao động, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động có trình độ cao trong lĩnh vực này, trong khi lao động giản đơn ngày càng dư thừa Theo Low (1998), cuộc cách mạng công nghệ thông tin toàn cầu đang gây ra vấn đề thất nghiệp trên quy mô lớn, khiến lao động không lành nghề gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm.
Sự cách biệt về khả năng tiếp cận thông tin giữa hai nhóm lao động cũng ngày càng làm tăng khoảng cách thu nhập
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012), tỷ lệ hộ sử dụng internet ảnh hưởng tiêu cực đến bình đẳng trong phát triển giữa thành phố và nông thôn tại Việt Nam Các hộ gia đình có khả năng sử dụng internet thường là những hộ có thu nhập cao, tập trung chủ yếu ở đô thị, trong khi các vùng sâu, vùng xa lại ít có điều kiện tiếp cận Những hộ sử dụng internet có cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn nhờ vào việc tiếp cận thông tin tuyển dụng trực tuyến Hơn nữa, việc sử dụng internet cũng giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng của người lao động, từ đó cải thiện thu nhập so với những người không sử dụng internet.
Các nghiên cứu trước
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, đã có nhiều nghiên cứu trước đó đề cập đến sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, sử dụng các phương pháp và cách tiếp cận đa dạng.
Nghiên cứu “FDI và bất bình đẳng thu nhập ở Châu Mỹ Latin”của Willem
(2003) xem xét nhiều nguồn dữ liệu của 18 quốc gia Châu Mỹ Latin từ năm 1989 đến
Bất bình đẳng thu nhập ở các nước Mỹ Latin vẫn cao và liên tục, được xác định bởi ba yếu tố chính: phân phối các yếu tố sản xuất, nguồn cung các yếu tố này và lao động Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác động tích cực đến sự phát triển, tuy nhiên, các quốc gia sẽ nhận được lợi ích và chi phí khác nhau từ FDI Hơn nữa, FDI ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và phân phối khu vực trong các quốc gia.
Trang 19 không tác động làm giảm bất bình đẳng thu nhập; Thứ năm, Chính phủ và doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ FDI và bất bình đẳng thu nhập
Nghiên cứu của Chintrakan (2010) về "FDI và bất bình đẳng thu nhập: bằng chứng từ Hoa Kỳ" đã phân tích dữ liệu từ 1977 đến 2001, bao gồm 47 tiểu bang và địa hạt Columbia Kết quả cho thấy rằng trong ngắn hạn, dòng vốn FDI không ảnh hưởng đáng kể đến bất bình đẳng thu nhập, nhưng trong dài hạn, FDI có tác động mạnh mẽ và tiêu cực đến vấn đề này.
Nghiên cứu của Herzer và Nunnenkamp (2011) về "FDI và bất bình đẳng thu nhập: bằng chứng từ châu Âu" đã phân tích mối quan hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập ở 10 quốc gia châu Âu trong giai đoạn 1980-2000 Kết quả cho thấy, trong ngắn hạn, FDI có tác động tích cực đến bất bình đẳng thu nhập, trong khi trong dài hạn, ảnh hưởng của FDI lại tiêu cực, với sự gia tăng FDI dẫn đến giảm bất bình đẳng thu nhập Hơn nữa, tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập có sự khác biệt giữa các quốc gia.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006) về "Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam" đã chỉ ra rằng chính sách đầu tư nước ngoài của Việt Nam có sức hấp dẫn nhưng hiệu quả thực thi còn thấp, ảnh hưởng đến dòng vốn FDI Mặc dù FDI đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, nhưng các doanh nghiệp FDI chủ yếu tập trung vào sản xuất thay thế nhập khẩu và sử dụng nguyên liệu nhập khẩu, gây cản trở cho tác động tích cực đến nền kinh tế Tuy nhiên, mức độ đóng góp của FDI tăng lên khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và toàn cầu.
FDI trong giai đoạn vừa qua xuất hiện thông qua hai kênh: kênh sản xuất và kênh cạnh tranh
Nghiên cứu của Trịnh Duy Luân và cộng sự (2008) về "Tác động xã hội của hội nhập quốc tế và gia nhập WTO ở Việt Nam" chỉ ra rằng từ năm 1993 đến 2004, sự gia tăng bất bình đẳng xã hội, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn, đã diễn ra, mặc dù tầm quan trọng của yếu tố này đang giảm dần Đồng thời, bất bình đẳng nội vùng ngày càng gia tăng và trở nên nghiêm trọng hơn so với sự chênh lệch giữa các khu vực thành phố và nông thôn Nghiên cứu khẳng định rằng hiện tượng bất bình đẳng tại Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ quá trình hội nhập quốc tế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Nguyễn Thị Minh (2009) trong nghiên cứu "Sử dụng mô hình toán nghiên cứu tác động của hội nhập quốc tế lên mức bất bình đẳng thu nhập của các hộ gia đình ở Việt Nam" đã phân tích chỉ số bất bình đẳng GINI tại 64 tỉnh trong các năm 2002, 2004 và 2006, dựa trên dữ liệu từ bộ điều tra mức sống dân cư Nghiên cứu xây dựng và ước lượng các mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của hội nhập kinh tế quốc tế, được đo bằng tỷ trọng xuất nhập khẩu và tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong GDP, đến các yếu tố như hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và năng suất lao động Kết quả cho thấy hội nhập kinh tế quốc tế có tác động tích cực đến các yếu tố sản xuất cơ bản, đồng thời các yếu tố này có mối tương quan ngược chiều với mức bất bình đẳng thu nhập.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012) về “Tác động của hội nhập quốc tế lên bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam” đã chỉ ra mức độ, xu hướng và nguyên nhân của sự bất bình đẳng này trong những năm qua, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Dựa trên dữ liệu điều tra mức sống từ 2002 đến 2010 cùng một số dữ liệu vĩ mô, tác giả cho thấy chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị tồn tại ở nhiều tiêu thức như vùng, học vấn, nghề nghiệp, và dân tộc, nhưng có sự giảm dần kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO.
Trang 21 Đề tài “Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với bất bình đẳng thu nhập thành thị - nông thôn vùng ĐBSCL giai đoạn năm 2004-2014” dựa vào mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để tiến hành phân tích định lượng Nghiên cứu này có điểm khác so với các nghiên cứu trước đây là: (1) vấn đề nghiên cứu khác so với các nghiên cứu trước, đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của FDI đến sự bất bình đẳng thu nhập thành thị - nông thôn; (2) các biến trong mô hình nghiên cứu này mở rộng hơn các nghiên cứu khác, đó là xem xét yếu tố giới tính, trình độ học vấn, ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập thành thị - nông thôn; (3) dữ liệu nghiên cứu là nguồn dữ liệu thứ cấp, dữ liệu từ bộ số liệu điều tra mức sống dân cư từ năm 2004 đến năm 2014 Mục đích của nghiên cứu là tìm ra tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập thành thị - nông thôn để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm tác động của việc thu hút FDI đến bất bình đẳng thu nhập thành thị - nông thôn tại vùng ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của vốn FDI đến bất bình đẳng thu nhập giữa thành thị và nông thôn tập trung vào các yếu tố nội sinh và ngoại sinh ảnh hưởng đến vấn đề này Để thực hiện, nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích định lượng, kết hợp với thảo luận nhóm, suy luận và thống kê mô tả Phân tích hồi quy dữ liệu bảng được thực hiện dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ điều tra mức sống hộ gia đình và niên giám thống kê các tỉnh thành, nhằm tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu.
Nghiên cứu tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị tại vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2004-2014 cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt Vốn đầu tư này không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn làm gia tăng khoảng cách thu nhập giữa hai khu vực Sự phân bổ không đồng đều của nguồn lực và cơ hội việc làm đã góp phần vào sự gia tăng bất bình đẳng Do đó, cần có các chính sách hợp lý để giảm thiểu tác động tiêu cực này và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho cả nông thôn và thành thị.
Để giảm tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị, cần thực hiện một nghiên cứu nhằm phân tích ảnh hưởng của FDI đến sự chênh lệch thu nhập trong hai khu vực này Nghiên cứu sẽ được tiến hành theo quy trình cụ thể để xác định các giải pháp hiệu quả.
Bước 1: Trình bày vấn đề nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Bước 2: Trình bày cơ sơ lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Bước 3: Thu thập số liệu thứ cấp, hệ thống dữ liệu, mã hóa và nhập liệu theo yêu cầu nghiên cứu
Bước 4: Phân tích số liệu, thống kê mô tả, phân tích sự tương quan của các biến độc lập và biến phụ thuộc
Bước 5: Phân tích hồi quy dữ liệu bảng, kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, kiểm định các biến trong mô hình
Bước 6: Kết luận từ mô hình
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau:
Mô hình nghiên cứu
Dựa trên nghiên cứu ở Chương 2, bài viết này phân tích mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và bất bình đẳng thu nhập giữa thành phố và nông thôn Đề tài kế thừa mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012) và bổ sung một số biến mới nhằm cung cấp cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này Mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày chi tiết trong bài viết.
Tác động của FDI đến BBĐTN thành thị - nông thôn
- Thu thập số liệu thứ cấp
Cơ sở lý thuyết, và các nghiên cứu trước
Thống kê mô tả, kiểm định sự tương quan
Phân tích hồi quy dữ liệu bảng
Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình và kiểm định các biến trong mô hình
Phân tích kết quả từ mô hình nghiên cứu
Theil ij = β 0 + β 1 FDI ij /GRDP ij +β 2 XK ij /GRDP ij + β 3 NK ij /GRDP ij + β 4 LnGRDPbq ij + + β 5 edu ij + β 6 Tlinternet ij + β 7 Tlnam ij +v ij (3.1)
Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Tên biến Định nghĩa Kỳ vọng
Theilij Chỉ số Theil T đo lường bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị tại tỉnh i và năm j tương ứng (đơn vị tính: %)
FDIij/GRDPij Tỷ lệ vốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GRDP theo giá so sánh của tỉnh i tại năm j (đơn vị tính: %)
XKij /GRDPij Tỷ lệ tổng kim ngạch xuất khẩu trên
GRDP theo giá so sánh của tỉnh i tại năm j (đơn vị tính: %)
NKij /GRDPij Tỷ lệ tổng kim ngạch nhập khẩu trên GRDP theo giá so sánh của tỉnh i tại năm j (đơn vị tính: %)
LnGRDPbqij Logarit tổng sản phẩm địa bàn trên đầu người theo giá so sánh của tỉnh i tại năm j
+ Forbes (2000) eduij, Tỷ lệ chủ hộ tốt nghiệp trên cấp 3
(đo bằng phần trăm chủ hộ có bằng tốt nghiệp cấp 3 trở lên) của tỉnh i tại năm j (đơn vị tính: %)
Tlinternet ij Tỷ lệ hộ sử dụng internet của tỉnh i tại năm j (đơn vị tính: %)
Tlnam Tỷ lệ chủ hộ là nam của tỉnh i tại năm j (đơn vị tính: %)
Giải thích các biến trong mô hình nghiên cứu
Theil ij : Chỉ số bất bình đẳng thu nhập thành thị - nông thôn đon bằng chỉ số Theil(T) Cách tính toán đã trình bày ở chương 2
FDIij/GRDPij là chỉ số phản ánh giá trị vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng năm của từng tỉnh, được quy đổi sang tiền đồng theo tỷ giá liên ngân hàng, và sau đó được chia cho GRDP hàng năm của từng tỉnh tương ứng.
XK ij /GRDP ij được tính bằng cách lấy giá trị xuất khẩu hàng hóa hàng năm của từng tỉnh, nhân với tỷ giá liên ngân hàng trong năm đó Sau đó, tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa sẽ được chia cho GRDP tương ứng của từng tỉnh trong cùng năm.
NKij/GRDPij là chỉ số được tính bằng cách nhân giá trị nhập khẩu hàng hóa hàng năm của từng tỉnh với tỷ giá liên ngân hàng của năm đó Sau đó, tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa sẽ được chia cho GRDP tương ứng của từng tỉnh trong cùng năm.
LnGRDPbqij: Thu thập số liệu từ Tổng cục thống kê hàng năm theo tỉnh
Eduij tính toán tỷ lệ chủ hộ có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên hàng năm tại từng tỉnh bằng cách chia số hộ có chủ hộ học hết cấp 3 trở lên cho tổng số hộ của tỉnh đó.
To calculate the annual internet usage rate for each province, divide the number of households using the internet annually by the total number of households in that province.
Để tính toán tỷ lệ chủ hộ nam tại từng tỉnh, ta lấy số hộ có chủ hộ là nam hàng năm chia cho tổng số hộ của tỉnh đó.
Dữ liệu nghiên cứu
3.3.1 Cách lấy dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thứ cấp từ bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS, bao gồm các năm 2004, 2006, 2008, 2010, 2012 và 2014 Bộ dữ liệu này rất phong phú và cung cấp thông tin quan trọng cho việc phân tích mức sống của hộ gia đình tại Việt Nam.
Trang 26 phù hợp cho việc phân tích các hành vi kinh tế hộ gia đình và gắn kết các hành vi này với việc đưa ra các chính sách thích hợp do Tổng Cục Thống Kê Việt Nam thực hiện với sự trợ giúp kỹ thuật từ Ngân hàng thế giới được khảo sát từ năm 1992 đến nay cứ 2 năm một lần vào những năm chẵn Bên cạnh đó luận án còn sử dụng các số liệu từ Niên giám thống kê các năm để lấy số liệu GRDP, FDI, xuất nhập khẩu, thu nhập bình quân đầu người,…
Nghiên cứu dữ liệu tập trung vào 13 tỉnh thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong các năm 2004, 2006, 2008, 2010, 2012 và 2014 Tác giả đã thu thập đầy đủ thông tin định lượng và định tính, bao gồm số liệu điều tra mức sống hộ gia đình, giá trị xuất nhập khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tổng sản phẩm địa bàn (GRDP), thu nhập bình quân đầu người và tỷ giá VNĐ/USD.
3.3.3 Cách xử lý số liệu Đối với số liệu điều tra mức sống hộ gia đình, dữ liệu sau khi thu thập đầy đủ sẽ tiến hành phân tích, rà soát, ghép dữ liệu hộ điều tra bằng phần mềm SPSS 23.0 sau đó chuyển các dữ liệu cần thiết như tỉnh, khu vực (thành thị, nông thôn), giới tính chủ hộ, thu nhập bình quân, việc sử dụng internet, trình độ học vấn sang excel để tiến hành tính toán các biến sử dụng cho mô hình như: hệ số Theil, tỷ lệ chủ hộ là nam, tỷ lệ hộ sử dụng internet, tỷ lệ chủ hộ tốt nghiệp cấp 3 trở lên
Sau khi thu thập đầy đủ dữ liệu về giá trị xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tổng sản phẩm địa bàn (GRDP), thu nhập bình quân đầu người và tỷ giá VNĐ/USD, quá trình rà soát và nhập dữ liệu sẽ được thực hiện trên Excel Điều này nhằm tính toán các biến còn lại trong mô hình, bao gồm: tỷ lệ vốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GRDP, tỷ lệ tổng kim ngạch xuất khẩu trên GRDP, tỷ lệ tổng kim ngạch nhập khẩu trên GRDP, và logarit thu nhập bình quân đầu người.
Giai đoạn tiếp theo trong nghiên cứu là mã hóa dữ liệu phù hợp với mô hình và các biến nghiên cứu Sau đó, dữ liệu sẽ được chuyển vào phần mềm STATA 13.0 để phân tích thông qua mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên Cuối cùng, kết quả mô hình sẽ được đánh giá và đưa ra các đề xuất, kiến nghị từ đề tài nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng để định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập (BBĐTN) giữa thành thị và nông thôn tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Biến phụ thuộc trong phương trình hồi quy là chỉ số Theil T, trong khi các biến độc lập bao gồm vốn FDI, giá trị xuất khẩu, giá trị nhập khẩu, thu nhập bình quân đầu người, trình độ giáo dục, tỷ lệ hộ sử dụng internet và tỷ lệ nam giới của tỉnh Đề tài được thực hiện trên 13 tỉnh thành của vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2004-2014, với mức độ tin cậy 90% (mức ý nghĩa α = 10%).
Mô hình nghiên cứu sử dụng là hồi quy dữ liệu bảng, dựa trên mô hình của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012) nhằm định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến BBĐTN tại thành phố và nông thôn Mô hình này đáp ứng các điều kiện kiểm định như kiểm định đa cộng tuyến, kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình tác động cố định và tác động ngẫu nhiên, kiểm định giả thuyết về hệ số hồi quy khác không, và kiểm định độ phù hợp tổng quát của mô hình.
Giới thiệu mô hình kinh tế lượng dạng số liệu mảng
Trước khi xây dựng và xử lý mô hình, nghiên cứu giới thiệu mô hình sử dụng số liệu dạng mảng, bao gồm số liệu hai chiều với chiều ngang là số liệu chéo và chiều dọc là số liệu chuỗi thời gian Một trong những ưu điểm của mô hình phân tích số liệu mảng là khả năng xử lý sự không thuần nhất trong bộ số liệu giữa các đơn vị nghiên cứu, cụ thể là sự khác biệt giữa các tỉnh trong suốt thời kỳ nghiên cứu, mà sự không thuần nhất này thường không quan sát được Đây là vấn đề phổ biến khi phân tích số liệu mảng kinh tế xã hội.
Khi các yếu tố không quan sát được tương tác với các biến độc lập trong mô hình, ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) có thể bị chệch và không ổn định Ngay cả khi kích thước mẫu tăng lên, các ước lượng vẫn không hội tụ về giá trị cần ước lượng, dẫn đến các ước lượng và thống kê suy diễn không có giá trị Một giải pháp cho tình huống này là sử dụng biến công khi làm việc với tập số liệu chéo hoặc chuỗi thời gian.
Trang 28 cụ Tuy nhiên phương pháp này thường thiếu tính khả thi vì việc tìm được biến công cụ là điều rất khó thực hiện trong các nghiên cứu thực nghiệm
Tuy nhiên khi chúng ta có số liệu dạng mảng thì chúng ta có thể sử dụng từ một công cụ hữu hiệu để xử lý vấn đề trên
Hai loại mô hình phổ biến trong phân tích dữ liệu mảng là mô hình bình phương gộp POLS (pool OLS), tác động ngẫu nhiên (random effect) và tác động cố định (fixed effect) Tuy nhiên, do tính không đồng nhất của các cá thể trong tập dữ liệu và sự thiếu hụt biến không quan sát được, luận án sẽ khởi đầu từ việc lựa chọn giữa mô hình tác động ngẫu nhiên và tác động cố định.
3.5.1 Mô hình tác động ngẫu nhiên
Mô hình tác động ngẫu nhiên là một mô hình trong đó các yếu tố không quan sát được giữa các đơn vị không tương quan với các biến độc lập Những yếu tố này được coi là một phần của sai số ngẫu nhiên và có thể kết hợp với sai số ngẫu nhiên thông thường để tạo ra sai số ngẫu nhiên tổng hợp Mặc dù phương pháp bình phương bé nhất có thể áp dụng và cung cấp ước lượng không chệch, nhưng các ước lượng này không hiệu quả bằng các ước lượng từ mô hình tác động ngẫu nhiên Để đảm bảo mô hình tác động ngẫu nhiên là phù hợp và các ước lượng hiệu quả, ma trận hiệp phương sai của sai số ngẫu nhiên tổng hợp cần phải có một dạng nhất định.
Trong mô hình, δ2c và δ2u đại diện cho phương sai của thành phần không quan sát được ci và sai số ngẫu nhiên uit Điều này yêu cầu phương sai của sai số ngẫu nhiên phải đồng nhất giữa các panel và không có sự tương quan giữa các sai số ngẫu nhiên của các panel Khi các giả thiết này bị vi phạm, các ước lượng thu được vẫn không đạt yêu cầu.
Trang 29 tụ về giá trị tham số tổng thể Khi đó mô hình tác động cố định sẽ là mô hình được lựa chọn
3.5.2 Mô hình tác động cố định
Mô hình tác động cố định (fixed effect) là lựa chọn phù hợp khi các yếu tố không thuần nhất có tương quan với các biến độc lập, vì việc gộp các yếu tố này vào sai số ngẫu nhiên như trong mô hình tác động ngẫu nhiên (random effect) sẽ dẫn đến sai số tổng hợp có tương quan với các biến độc lập, làm giảm giá trị ước lượng Vấn đề đặt ra là xác định mô hình phù hợp hơn khi không có số liệu về các yếu tố không thuần nhất.
Khi số đơn vị trong mẫu được chọn từ một tổng thể lớn, như các hộ gia đình trong nghiên cứu, mô hình tác động ngẫu nhiên thường phù hợp, với suy diễn thống kê hướng đến việc tăng số panel lên vô hạn Ngược lại, nếu các panel được lấy gần như toàn bộ từ tổng thể hoàn chỉnh, mô hình tác động cố định thường sẽ là lựa chọn thích hợp hơn.
Phương pháp chính thống nhằm giúp việc lựa chọn này sử dụng kiểm định Hausman Ý tưởng kiểm định này như sau:
Khi các yếu tố không quan sát được có sự tương quan với các biến độc lập, ước lượng từ mô hình tác động ngẫu nhiên sẽ không vững, trong khi mô hình tác động cố định sẽ cung cấp ước lượng vững hơn Kiểm định Hausman so sánh sự khác biệt giữa hai loại ước lượng: nếu sự khác biệt lớn, điều này chỉ ra sự tương quan giữa các yếu tố không quan sát được và biến độc lập, khiến mô hình cố định trở thành lựa chọn phù hợp Ngược lại, nếu không có sự khác biệt rõ rệt, mô hình tác động ngẫu nhiên sẽ được ưu tiên, vì nó mang lại ước lượng hiệu quả hơn khi các yếu tố không quan sát được không tương quan với biến độc lập.