1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố tác động đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn tỉnh bà rịa vũng tàu

81 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố tác động đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả Nguyễn Nữ Thanh Tuyền
Người hướng dẫn TS. Dương Quỳnh Nga
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Sau thời gian học tập và nghiên cứu, với sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của quý Thầy, Cô, các Sở, Ngành cùng người thân và bạn bè, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NỮ THANH TUYỀN

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU ĐÀO TẠO NGHỀ CỦA THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

TP Hồ Chí Minh, Năm 2017

Tai Lieu Chat Luong

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan bản luận văn “Các nhân tố tác động đến nhu cầu đào tạo

nghề của thanh niên trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” là công trình nghiên

cứu của riêng tôi

Ngoài những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, không có sản phẩm, nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn mà không được trích dẫn theo quy định

Toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố, sử dụng hoặc nộp để nhận bằng cấp tại các trường đại học, cơ sở đào tạo, hoặc bất cứ nơi nào khác

TP HCM, năm 2017

Người thực hiện

Nguyễn Nữ Thanh Tuyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu, với sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của quý Thầy, Cô, các Sở, Ngành cùng người thân và bạn bè, tôi đã hoàn thành luận văn tốt

nghiệp Thạc sĩ với đề tài: “Các nhân tố tác động đến nhu cầu đào tạo nghề của

thanh niên trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô trường Đại học Mở TP HCM đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến TS Dương Quỳnh Nga đã nhận lời hướng dẫn và đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Cho phép tôi được gởi lời cám ơn đến Sở Lao động thương Binh Xã Hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, các thầy cô giáo trường Cao Đẳng nghề tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trường Cao đẳng nghề du lịch Vũng Tàu, trường Cao đẳng nghề Hồng Lam Vabis, trường trung cấp công nghệ thông tin TM Computer, một số anh chị em học viên của trường Cao Đẳng nghề tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã đóng góp những ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập thông tin và số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài này

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài: “Các nhân tố tác động đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên

trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” được thực hiện với mục đích xác định các

nhân tố tác động đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm giúp công tác hướng nghiệp và chiến lược phát triển giáo dục dạy nghề của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng và của cả nước nói chung đạt hiệu quả hơn trong tương lai.

Trên cơ sở các lý thuyết về nhu cầu, các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trước đây, kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, tác giả đã xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu các nhân tố tác động đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn nghiên cứu Mô hình lý thuyết cho thấy có 9 nhân tố tác động đến nhu cầu tham gia đào tạo nghề của thanh niên Bao gồm: Tuổi, giới tính, quy mô hộ, số người phụ thuộc trong hộ, niềm tin chất lượng đào tạo, kỳ vọng việc làm, nhận thức về lợi ích, hướng nghiệp từ gia đình, hướng nghiệp từ xã hội

Dữ liệu thu thập từ phiếu điều tra gởi đến đối tượng là thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 30 tuổi trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với cỡ mẫu là 260 quan sát Dữ liệu thu thập được xử lý bằng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích hồi quy Binary Logistic Kết quả nghiên cứu cho thấy 3 nhân tố là tuổi, quy mô hộ và số người phụ thuộc trong hộ là không có ý nghĩa thống kê 6 nhân tố còn lại là giới tính, niềm tin chất lượng đào tạo, kỳ vọng việc làm, nhận thức về lợi ích, hướng nghiệp từ gia đình, hướng nghiệp từ xã hội có ý nghĩa thống kê

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra các gợi ý chính sách nhằm cải thiện và tăng cường sự hấp dẫn của đào tạo nghề trong nhận thức của thanh niên Đây sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị, là cơ sở cho chính quyền địa phương trong việc đưa ra các chính sách thu hút thanh niên tham gia đào tạo nghề

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II TÓM TẮT LUẬN VĂN III MỤC LỤC IV DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VII DANH MỤC CÁC BẢNG VIII DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ IX

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 5

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu 5

1.6 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Các khái niệm 7

2.1.1 Nghề 7

2.1.2 Nghề đào tạo 7

2.1.3 Giáo dục nghề 7

2.1.4 Đào Tạo nghề 8

Trang 6

2.2 Lý thuyết về nhu cầu: 9

2.3 Nhu cầu đào tạo nghề 10

2.4 Thanh niên và những đặc điểm ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho thanh niên 12 2.5 Cơ sở lý thuyết 13

2.5.1 Lý thuyết về vốn con người (Human capital) 13

2.5.2 Lý thuyết tự quyết định (Self – Determination Theory) 13

2.5.3 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) 14

2.5.4 Lý thuyết của kế hoạch hành vi (Theory of Planned Behavior) 15

2.6 Các nghiên cứu trước 16

2.6.1 Các nghiên cứu nước ngoài 16

2.6.2 Các nghiên cứu trong nước 18

2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất 22

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 26

3.1 Phương pháp nghiên cứu 26

3.2 Quy trình nghiên cứu 28

3.3 Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu 29

3.3.1 Mô hình nghiên cứu 31

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 37

4.2 Các nhân tố tác động đến nhu cầu tham gia đào tạo nghề của thanh niên42 4.2.1 Kiểm định Wald 42

4.2.2 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (Kiểm định Omnibus) 44

4.2.3 Kiểm định mức độ giải thích của mô hình 44

4.2.4 Kiểm định mức độ dự báo chính xác của mô hình 45

4.2.5 Phân tích các nhân tố tác động đến nhu cầu tham gia đào tạo nghề của thanh niên 45 4.2.6 Ước lượng xác suất nhu cầu tham gia đào tạo nghề của thanh niên 51

Trang 7

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Khuyến nghị 55

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 57

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC 1: PHỎNG VẤN SÂU 63

PHỤ LỤC 2: DÀN BÀI THẢO LUẬN NHÓM 64

PHỤ LỤC 3: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 66

PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ HỒI QUY 68

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2 1 Tổng hợp các nghiên cứu trước đây liên quan đến nhân tố tác động đến

nhu cầu đào tạo nghề 21

Bảng 2 2 Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu của Bùi Công Toàn và Bùi Lan Anh (2014) 22

Bảng 4 1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 37

Bảng 4 2 Kiểm định về mức độ phù hợp của mô hình 42

Bảng 4 3 Kiểm định mô hình 44

Bảng 4 4 Kiểm định mức độ giải thích của mô hình 44

Bảng 4 5 Mức độ dự báo mô hình 45

Bảng 4 6 Kết quả hồi quy Binary Logistic của mô hình 45

Bảng 4 7 Phân tích tác động của các biến độc lập 51

Bảng 5 1 Kết quả nghiên cứu 54

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 2 1 Mô hình lý thuyết tự quyết định (Deci &Ryan, 1985) 14

Hình 2 2 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Fishbein & Ajzen, 1975) 15

Hình 2 3 Mô hình lý thuyết của kế hoạch hành vi (Ajzen, 1991) 16

Hình 2 4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 25

Hình 3 1 Quy trình nghiên cứu 29

Hình 4 1 Phân bố mẫu theo giới tính 38

Hình 4 2 Phân bố mẫu theo độ tuổi 39

Hình 4 3 Phân bố mẫu theo số người phụ thuộc trong hộ 40

Hình 4 4 Phân bố mẫu theo trình độ học vấn 41

Hình 4 5 Phân bố mẫu theo học lực 42

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, bên cạnh sự hợp tác

là sự cạnh tranh ngày càng diễn ra quyết liệt Chất lượng nguồn nhân lực sẽ là yếu

tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh và sự thành công của mỗi quốc gia

Theo luật dạy nghề số 74/2014/QH13 ban hành năm 2014 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu:

“Là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kĩ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”

Nói cách khác, đào tạo nghề là việc tham gia học nghề ở các cơ sở dạy nghề bao gồm sơ cấp nghề, trung cấp nghề hoặc cao đẳng nghề nhằm mục đích trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để tham gia lực lượng lao động sau khi tốt nghiệp khóa học Hiện nay, việc chú trọng vào đào tạo dạy nghề là một trong những giải pháp đột phá của chiến lược phát triển kinh tế xã hội (KTXH) nhằm phát triển nhanh đội ngũ nhân lực kỹ thuật trực tiếp, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Ngoài ra, việc phát triển đào tạo dạy nghề còn hỗ trợ tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần phát triển KTXH bền vững Tại đại hội XI diễn ra vào tháng 1/2011, nhà nước Việt Nam cũng khẳng định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn

2011 - 2020 Do vậy, phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo nghề là yêu cầu, là đòi hỏi của đất nước, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung

Trang 13

Nhận thấy tầm quan trọng của đào tạo nghề trong bối cảnh đất nước hiện nay, đã có nhiều sự quan tâm sâu rộng của nhà nước ta đến sự phát triển đào tạo dạy nghề như thực hiện các đề án: “Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 – 2015”, “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 – 2015,

“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”,… Bên cạnh đó, hệ thống các cơ sở dạy nghề cũng được đầu tư xây dựng Theo báo cáo dạy nghề Việt Nam năm 2011 và 2014, tính đến cuối năm 2011 trên cả nước có 1293 cơ sở dạy nghề So với năm 2001 số trường nghề tăng 2,84 lần (từ 156 trường dạy nghề năm 2001 lên

443 trường cao đẳng nghề và trung cấp nghề năm 2011); Số trung tâm dạy nghề tăng 5,66 lần (từ 150 trung tâm dạy nghề năm 2001 lên 849 trung tâm dạy nghề năm 2011) Tính đến hết tháng 11 năm 2014, trên cả nước có tổng số 1.481 cơ sở dạy nghề Ngân sách nhà nước đầu tư cho dạy nghề cũng tăng dần qua các năm Cũng theo 2 báo cáo trên, ngân sách đầu tư dạy nghề tăng từ 968 tỷ đồng năm 2001 lên

9800 tỷ đồng năm 2011 (gấp 10.1 lần trong vòng 10 năm), năm 2013 là 10746 tỷ đồng và năm 2014 là 11784 tỷ đồng

Tuy nhiên, dù nhận được nhiều sự quan tâm và đầu tư của nhà nước dành cho giáo dục dạy nghề nhưng hoạt động tuyển sinh của hệ thống các trường đào tạo nghề vẫn gặp nhiều khó khăn Báo cáo dạy nghề Việt Nam của bộ lao động thương binh và xã hội (LĐTB&XH) năm 2014 cho biết tổng số lượng tuyển sinh cả nước từ năm 2011 đến năm 2014 không cao và có nhiều biến động, năm 2012 số lượng giảm khoảng 300.000 lượt người so với 2 năm còn lại Tỷ lệ phân luồng của học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) vào học nghề vẫn rất thấp, chỉ đạt 26,8% Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt trầm trọng học viên ở các cơ sở đào tạo dạy nghề

Hệ lụy của việc không thu hút được người học của giáo dục dạy nghề là khó

có thể đong đếm được Trước mắt có thể thấy rằng, trong khi trường nghề được đầu

tư xây dựng khang trang thì phải bỏ không vì không có học viên trong khi các trường cao đẳng, đại học thì lại quá tải dẫn đến chất lượng đào tạo bị ảnh hưởng, sự

dư thừa về nhân lực ở bậc cử nhân khiến một số lượng lớn cử nhân ra trường thất

Trang 14

nghiệp trong khi nguồn nhân lực qua đào tạo nghề thì lại thiếu trầm trọng Điều này gây ra một sự lãng phí rất lớn đối với xã hội

Hiện nay, tính trên cả nước, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp Theo

bộ LĐTB&XH, lao động qua đào tạo nghề trong cả nước (gồm cả dạy nghề chính quy và thường xuyên, phi chính quy, dạy nghề dưới 3 tháng và dạy nghề tại doanh nghiệp) chỉ chiếm khoảng 34% tổng số lao động trong cả nước

Riêng tại Bà Rịa – Vũng Tàu (BRVT), theo thống kê trong năm 2015 của Sở LĐTB&XH tỉnh BRVT, số người theo học nghề thuộc nhóm ngành, nghề phi nông nghiệp là 28.881 người; trong đó chủ yếu là người theo học sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng (chiếm 90,4%), còn số người lao động có trình độ cao đẳng nghề chỉ chiếm 4,1%, trung cấp nghề là 5,5% Dự án quy hoạch “Phát triển nguồn nhân lực” của tỉnh BRVT giai đoạn 2010-2015, định hướng 2020 của Sở kế hoạch đầu tư cũng chỉ rõ, hiện nay nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh có trình độ học vấn ở mức trung bình thấp so với mặt bằng cả nước Quá nửa lao động làm việc tại các khu công nghiệp chỉ dừng ở mức lao động phổ thông (chiếm 58%) Chất lượng nguồn nhân lực không cao, dẫn đến năng suất lao động thấp đang thực sự là một vấn đề đáng lo ngại cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới

Nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng của hoạt động dạy nghề đối với sự phát triển nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, góp phần phát triển kinh

tế, xã hội bền vững Những năm qua, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu luôn chú trọng tới công tác dạy nghề, coi đó là một trong những giải pháp đột phá của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội nhằm phát triển nhanh đội ngũ nhân lực kỹ thuật trực tiếp, phục

vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Cũng như cả nước, Bà Rịa - Vũng Tàu có cơ cấu dân số vàng (tỷ lệ lao động 18-45 tuổi chiếm số lượng lớn), đây là cơ cấu dân số mà nhiều nền kinh tế đang mơ ước Trong đó, lực lượng thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người Việc xác định nhu cầu và đầu tư

Trang 15

đào tạo nghề cho lực lượng thanh niên là một yêu cầu cần thiết của tỉnh trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” đã được thực hiện Nghiên cứu này được tiến hành trước hết nhằm giúp chính quyền của tỉnh BRVT nói riêng và của cả nước nói chung xây dựng các chương trình hướng nghiệp phù hợp và hiệu quả hơn trong việc thu hút học viên tham gia học nghề Ngoài ra, còn giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng các chiến lược phát triển giáo dục dạy nghề, xây dựng các chiến lược phát triển nguồn nhân lực của quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực nghề của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của việc nghiên cứu là xác định những nhân tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong bối cảnh thiếu hụt nhân lực nghề đã qua đào tạo ở địa phương và tình trạng tỷ lệ cao sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học ra trường không tìm được việc làm hiện nay Bên cạnh đó, phân tích và đánh giá những nhân tố tác động mạnh đến nhu cầu tham gia đào tạo nghề của thanh niên Cuối cùng, từ kết quả nghiên cứu của

đề tài, đề xuất các khuyến nghị nhằm giúp công tác hướng nghiệp và chiến lược phát triển giáo dục dạy nghề của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng và của cả nước nói chung đạt hiệu quả hơn trong tương lai

Mục tiêu cụ thể như sau:

 Xem xét mối quan hệ giữa các nhân tố then chốt gồm: tuổi, giới tính, quy mô

hộ, số người phụ thuộc trong hộ, niềm tin chất lượng đào tạo, kỳ vọng việc làm, nhận thức về lợi ích, hướng nghiệp từ gia đình, hướng nghiệp từ xã hội tới nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Trang 16

Trong nghiên cứu này, một số câu hỏi được đặt ra như sau:

 Những nhân tố tuổi, giới tính, quy mô hộ, số người phụ thuộc trong hộ, niềm tin chất lượng đào tạo, kỳ vọng việc làm, nhận thức về lợi ích, hướng nghiệp

từ gia đình, hướng nghiệp từ xã hội ảnh hưởng tới nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hay không?

 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó tới nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu như thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ giữa các nhân tố bao gồm đặc điểm thanh niên (độ tuổi, giới tính, nhận thức của thanh niên về lợi ích của việc học nghề, kỳ vọng của thanh niên về cơ hội việc làm) và các tác động từ bên ngoài (quy mô hộ, số người phụ thuộc, tư vấn/hướng nghiệp về học nghề, năng lực đào tạo nghề của địa phương) và nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát được tiến hành trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Trong 8 đơn vị hành chính: Thành phố Vũng Tàu, thành phố Bà Rịa, huyện Đất Đỏ, huyện Xuyên Mộc, huyện Châu Đức, huyện Tân Thành, huyện Long Điền, huyện Côn Đảo, khảo sát được tiến hành tại thành phố Vũng Tàu và 3 huyện: huyện Xuyên Mộc, huyện Châu Đức, huyện Tân Thành Đây là những địa phương có đặc điểm kinh tế tiêu biểu và chú trọng nhất trong việc đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Việc xem xét sự tác động của các nhân tố đến nhu cầu tham gia đào tạo nghề của thanh niên ở Bà Rịa – Vũng Tàu giúp chính quyền địa phương có cơ sở trong việc xây dựng các chiến lược phát triển đào tạo dạy nghề nhằm tăng cường và nâng

Trang 17

cao chất lượng nguồn nhân lực nghề cho địa phương, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về nhân lực của quá trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập toàn cầu

1.6 Kết cấu luận văn

Luận văn được chia làm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu

Trình bày tổng quan chung về nội dung của nghiên cứu, bao gồm: đặt vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và cuối cùng là kết cấu luận văn Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến các khái niệm, các nghiên cứu trước

đó có liên quan đến đề tài nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Giới thiệu phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích của mô hình kinh tế lượng

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu đã thực hiện từ đó đưa ra một số khuyến nghị chính sách; Nêu lên một số hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo

Tóm tắt chương 1: Trong chương 01 đã giới thiệu về vấn đề nghiên cứu, trình bày các câu hỏi nghiên cứu, những mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa về khoa học và thực tiễn và kết cấu của luận văn

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Còn theo giáo trình Kinh tế Lao động (Mai Quốc Chánh & Trần Xuân Cầu,

2008) thì khái niệm nghề là “một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kĩ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định.”

2.1.2 Nghề đào tạo

Theo khái niệm được phát triển bởi Nguyễn Thị Hằng (2013):

“Nghề đào tạo là những nghề mà người lao động phải được đào tạo với thời gian quy định để có được những năng lực cần thiết mới có thể tìm việc và hành nghề Nghề đào tạo là do các nhà quản lý giáo dục và các nhà giáo dục tự đề ra và được thiết kế theo các diện nghề rộng hẹp khác nhau.”

2.1.3 Giáo dục nghề

Theo luật giáo dục nghề nghiệp ban hành ngày 27/11/2014, giáo dục nghề là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ

Trang 19

trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên

2.1.4 Đào Tạo nghề

Khái niệm đào tạo nghề:

Đào tạo nghề cho người lao động là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cả người đã

có nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề chuyên môn khác Theo Tổ chức

Lao động Quốc tế (ILO): "Những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và ñào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu"

Nguyễn Thị Hằng (2013) cho rằng đào tạo nghề là “một quá trình sư phạm có mục đích, có nội dung và phương pháp, nhằm trang bị cho học sinh/sinh viên những năng lực cần thiết để họ có cơ hội tìm việc làm và có năng lực hành nghề theo yêu cầu của sản xuất còn được gọi là năng lực thực hiện Năng lực thực hiện là những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để người học /người lao động có thể thực hiện được tất cả các công việc của nghề đạt chuẩn quy định”

Đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về

lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau môt thời gian nhất định người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới (Mai Quốc Khánh & Trần Xuân Cầu, 2008)

Còn theo luật giáo dục nghề nghiệp (2014), đào tạo nghề là “hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người

Trang 20

học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”

Phân loại đào tạo nghề:

Theo Lưu Thị Duyên (2009), đào tạo nghề được chia thành 2 loại hình cơ bản:

- Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học: gồm có đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo nâng cao

Đào tạo mới: là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có nghề, đào

tạo mới để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề

Đào tạo lại: là quá trình đào tạo những người đã có nghề, song vì lý do nào đó nghề

của họ không còn phù hợp nữa

Đào tạo nâng cao: Nhằm bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để

người lao động có thể đảm bỏa công việc phức tạp hơn và có năng suất cao hơn

Đào tạo liên thông: Nhằm để chuyển đổi giữa lao động kỹ thuật thực hành và lao

động chuyên môn mang tính hàn lâm và ngược lại

- Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề: gồm đào tạo ngắn hạn và đào tạo dài hạn

Đào tạo ngắn hạn: là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới 1 năm, chủ

yếu áp dụng đối với phổ cập nghề Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên

Đào tạo dài hạn: là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ 1 năm trở lên, chủ

yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn

2.2 Lý thuyết về nhu cầu:

Trang 21

Định Nghĩa nhu cầu

Có nhiều định nghĩa về nhu cầu của nhiều tác giả trong và ngoài nước, theo

từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên, 2008) thì “Nhu cầu là một trạng thái của cá nhân được tạo ra do cá nhân đó thiếu những đối tượng cần cho sự tồn tại và phát triển và là nguồn gốc hoạt động của cá nhân đó”

Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu khách quan của mỗi người trong những điều kiện nhất định cảm thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển (Arnold, 2004) Nhu cầu thúc đẩy con người tích cực hoạt động nhằm tạo nên những điều kiện, những phương tiện tương ứng để thỏa mãn những đòi hỏi củ mình Nếu nhu cầu của con người được thỏa mãn đầy đủ sẽ tạo ra điều kiện cần thiết để làm cho nhân cách phát triển toàn diện và làm phát triển toàn bộ xã hội

Nói cách khác, nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu của con người có các đặc trưng là không ổn định, biến đổi, năng động, biến đổi theo quy luật, không bao giờ thỏa mãn cùng một lúc mọi nhu cầu, ham muốn không có giới hạn

Nhu cầu là thuộc tính cơ bản của cá nhân Nó có tác dụng xác định xu hướng của cá nhân, xác định thái độ của người đó đối với hiện thực và đối với trách nhiệm của bản thân, xét đến cùng, nó xác định lối sống và hoạt động của cá nhân (Trần Trọng Thủy, 2009)

2.3 Nhu cầu đào tạo nghề

Nhu cầu đào tạo nghề là mong muốn được tham gia khóa học, được hiểu biết và thực hành về một hay một số nghề phù hợp với điều kiện của cá nhân mỗi người (Nguyễn Ngọc Bích, 1979) Nếu nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của sự tồn tại và phát triển của con người nói chung thì nhu cầu đào tạo nghề là một trong những nhu cầu

Trang 22

cần thiết đối với mỗi cá nhân khi đứng trước quyết định chọn ngành nghề của mình

và hoạt động tốt ở lĩnh vực nghề đó

Nhu cầu đào tạo nghề thuộc nhu cầu về nhận thức của con người, nhu cầu nhận thức một lĩnh vực riêng Theo Phan Chính Thức (2003), nhu cầu đào tạo nghề với tư cách là nhu cầu nhận thức, ngoài những đặc điểm của nhu cầu nói chung, có những đặc điểm của riêng mình Đối tượng của nhu cầu đào tạo nghề là những thông tin về nghề nghiệp, hệ thống trường đào tạo nghề, nhu cầu lao động của thị trường, sự kỳ vọng, các chính sách , nhu cầu đào tạo nghề được nảy sinh trong quá trình cá nhân tìm kiếm thông tin liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp và trước khi quyết định tham gia đào tạo nghề từ đó cá nhân sẽ tìm phương thức để thỏa mãn nhu cầu này, đó là

cá nhân tìm đến các tổ chức hoặc các chuyên gia tư vấn, hướng nghiệp Đồng thời,

cá nhân có xem xét những điều kiện bên ngoài cũng như điều kiện của bản thân (sở thích, năng lực, điều kiện sức khỏe, điều kiện kinh tế gia đình ) để biết cách điều chỉnh nhu cầu cho phù hợp và đạt được mục đích

Phân tích vai trò của nhà nước trong việc đào tạo nghề nhìn từ góc độ kinh tế học, Đỗ Thị Thu Hằng và Đỗ Thị Kim Thoa (2010) nhận định rằng giáo dục nghề nghiệp là một loại hàng hóa công cộng không thuần túy, trong một phạm vi nhất định phải do nhà nước cung cấp miễn phí, giá thành của việc cung cấp đó có thể được bù đắp thông qua việc thu thuế, còn sau khi vượt quá phạm vi nhất định thì nên dựa trên nguyên tắc định giá thành cận biên của thị trường để cung cấp dịch vụ Đồng thời, xem đào tạo nghề như là một loại hình cung cấp dịch vụ cho người có nhu cầu học Theo nghiên cứu này, nhu cầu đào tạo nghề được hiểu là nhu cầu tiêu dùng dịch vụ dạy nghề ở các cơ sở đào tạo nghề Đó chính là việc cảm thấy cần thiết sử dụng dịch vụ đào tạo nghề của người tiêu dùng (người học) tại các cơ sở đào tạo nghề nhằm trang bị cho bản thân những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp

Trang 23

2.4 Thanh niên và những đặc điểm ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho thanh

niên

Cơ cấu lứa tuổi dân số của các nước trên thế giới có sự khác biệt trong việc phân chia độ tuổi thanh niên Thông thường từ 15 tuổi đến 24, 25, 29, 30 hoặc 34 tuổi Tại Việt Nam, trong các văn bản pháp lý hiện hành thì độ tuổi của thanh niên Việt Nam cũng không được nhất quán Điển hình, theo chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010 do thủ tướng chính phủ ký phê duyệt kèm theo quyết định

số 70/2003/QĐ-TTg ngày 29-4-2003 cho rằng thanh niên nước ta gồm những công dân Việt Nam từ 15 đến 34 tuổi Sau đó, luật thanh niên (luật số 53/2005/QH11) được quốc hội khóa X thông qua năm 2005 đã quy định tại điều 1: Thanh niên quy định trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi Còn theo báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam do Bộ nội vụ phát hành tháng 6/2015 đề cập đến việc nhiều báo cáo quốc tế và quốc gia sử dụng định nghĩa độ tuổi thanh niên là

từ 15 đến 24 tuổi nên các phân tích số liệu trong báo cáo được thực hiện phân tổ theo nhóm tuổi (3 nhóm: 16-19, 20-24 và 25-30) để thuận tiện cho việc so sánh với các nguồn báo cáo khác

Trong phạm vi đề tài, nhằm đảm bảo cho việc phân tích được phù hợp, thống nhất và chính xác, thanh niên được hiểu là công dân Việt Nam trong độ tuổi từ 15 đến 30 tuổi

Lực lượng lao động thanh niên có điểm mạnh là có thể lực, có trình độ, tiếp cận công việc nhanh đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp về bộ phận nhân lực trẻ, khoẻ Tuy nhiên, có những hạn chế: Đối với lao động thanh niên không qua đào tạo nên việc hội nhập vào thị trường lao động không dễ dàng Đối với lao động thanh niên qua đào tạo vẫn gặp nhiều khó khăn như kiến thức, kỹ năng

có được từ trường đào tạo còn có khoảng cách lớn đối với thực tiễn công việc đòi hỏi; Tác phong lao động công nghiệp, ý thức kỷ luật lao động còn yếu; Tâm lý kén việc

Trang 24

2.5 Cơ sở lý thuyết

2.5.1 Lý thuyết về vốn con người (Human capital)

Lý thuyết về vốn con người (Human capital) được nhà kinh tế học Theodore Schultz đề xuất (1961) và được phát triển rộng rãi bởi Becker (1964) Theodore Schultz đã giới thiệu về lợi tức đầu tư, làm nổi bật phân tích chi phí và lợi ích của việc đào tạo và giáo dục Becker (1964) đã phát triển lý thuyết vốn con người dựa trên nghiên cứu của Schutlz (1961) về lợi tức đầu tư

Vốn con người là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học giáo dục Nó có thể được hiểu là kỹ năng và kiến thức của người lao động (Schultz, 1961; Becker, 1964) Tương tự như cách định nghĩa trên, OECD (2001) cho rằng vốn con người là

“kiến thức, kỹ năng, năng lực và những thuộc tính tiềm tàng trong mỗi cá nhân góp phần tạo nên sự thịnh vượng kinh tế, xã hội và bản thân của người ấy” Vốn con

người theo Jacob (1974) cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư để tích luỹ thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người, và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006) thì vốn con người – là khái niệm để chỉ toàn bộ hiểu biết của con người về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội Như vậy về mặt nội dung thì không có gì khác nhau vì những hiểu biết và kinh nghiệm đề được hình thành và tích luỹ trong quá trình học tập và lao động

2.5.2 Lý thuyết tự quyết định (Self – Determination Theory)

Lý thuyết tự quyết định (Self – Determination Theory) là một lý thuyết vỹ

mô về động cơ và nhân cách của con người liên quan đến xu hướng phát triển vốn con người và nhu cầu tâm lý bẩm sinh Nó liên quan đến động lực đằng sau sự lựa chọn của bản thân con người mà không chịu sự can thiệp từ bên ngoài Nó tập trung vào động cơ và sự tự quyết định

Trong những năm 1970, nghiên cứu về lý thuyết tự quyết định phát triển từ các nghiên cứu so sánh nội tại và động cơ bên ngoài Đến giữa những năm 1980, lý

Trang 25

thuyết tự quyết định được chính thức giới thiệu và được chấp nhận như là một lý thuyết thực nghiệm vững chắc về vai trò của động lực nội tại chi phối hành vi của một cá nhân Deci và Ryan (1985) sau đó đã mở rộng những nghiên cứu ban đầu trong việc phân biệt và xác định vai trò của động lực bên trong và bên ngoài Đồng thời đề xuất 3 nhu cầu nội tại chủ yếu tác động đến sự tự quyết là năng lực, các mối quan hệ liên quan và sự tự chủ

Hình 2 1 Mô hình lý thuyết tự quyết định (Deci &Ryan, 1985)

2.5.3 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action)

Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được Fishbein và Ajzen xây dựng từ năm 1975 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian Lý thuyết này cho rằng: nhân tố quan trọng nhất quyết định hành vi của con người là ý định thực hiện hành vi đó (Fishbein & Ajzen, 1975) Ý định thực hiện hành vi được quyết định bởi hai nhân tố: thái độ của một người về hành vi và tiêu chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi Kết quả của hai nhân tố này hình thành nên ý định thực hiện hành vi Trên thực tế, lý thuyết này tỏ ra rất hiệu quả khi dự báo những hành vi nằm trong tầm kiểm soát của ý chí con người

Trang 26

Hình 2 2 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Fishbein & Ajzen, 1975)

2.5.4 Lý thuyết của kế hoạch hành vi (Theory of Planned Behavior)

Lý thuyết của kế hoạch hành vi (Theory of Planned Behavior) được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (Fishbein & Ajzen, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng

để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991)

Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố Thứ nhất, các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó Cuối cùng, lý thuyết của kế hoạch hành vi được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm nhân tố kiểm soát hành vi nhận thức vào

mô hình lý thuyết hành động hợp lý Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi điều này phụ thuộc vào sự sẵn

có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi Ajzen đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành

vi (Ajzen, 1991)

Trang 27

Hình 2 3 Mô hình lý thuyết của kế hoạch hành vi (Ajzen, 1991)

Mô hình lý thuyết của kế hoạch hành vi được xem như tối ưu hơn mô hình lý thuyết hành động hợp lý trong việc dự đoán và giải thích hành vi trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu bởi vì mô hình lý thuyết của kế hoạch hành vi khắc phục được nhược điểm của mô hình lý thuyết hành động hợp lý bằng cách bổ sung thêm nhân tố kiểm soát hành vi cảm nhận

2.6 Các nghiên cứu trước

2.6.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo là đề tài dành nhiều được sự quan tâm từ các tổ chức nói chung và các cá nhân nghiên cứu nói riêng Nhìn chung, các nghiên cứu có thể được thực hiện dưới 2 dạng: Nghiên cứu về vấn đề đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng và nghiên cứu chuyên sâu về nhu cầu đào tạo, chất lượng và hiệu quả của việc đào tạo nghề Nội dung chủ yếu mà các nghiên cứu đề cập đến là nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo, thực trạng đào tạo, nội dung đào tạo, kế hoạch đào tạo

Nghiên cứu của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD (1978b) trích bởi Đặng Văn Dân (2014) đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo nói

Trang 28

chung bao gồm: Xã hội/ gia đình, tâm lý/ cá nhân, kinh tế/ lựa chọn, cấu trúc/ thể chế Trong đó, nhân tố gia đình được cho rằng có ảnh hưởng quan trọng nhất Cũng

đề cập tới gia đình là yếu tố nổi bật ảnh hưởng đến việc tham gia học nghề, Francis

& ctg (2014) đã thực hiện mô hình hóa các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia các khóa học kỹ thuật và dạy nghề Qua việc sử dụng phương pháp phân tích nhân tố đa biến với kỹ thuật lấy mẫu phân tầng, bên cạnh yếu tố gia đình, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có những yếu tố nổi bật khác ảnh hưởng đến việc tham gia học kỹ thuật và học nghề như sự đảm bảo có việc làm trong tương lai, yếu tố môi trường xã hội

Giới tính cũng là một trong những nhân tố được các cá nhân nghiên cứu đưa

ra như trong mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia các khóa học kỹ thuật

và dạy nghề của Francis & ctg (2014) hay Azubuike (2011) Yếu tố này được tác giả đưa ra trong nghiên cứu xác định các yếu tố có tác động ảnh hưởng đến thái độ của học sinh trong việc học nghề/các môn kỹ thuật trong các trường trung học ở Đông Nam Nigeria Ngoài việc đưa ra yếu tố giới tính và điều kiện kinh tế gia đình giống như các nghiên cứu khác ở trên, nghiên cứu này đã nhận diện một tập hợp những biến tác động đến thái độ của học sinh trong việc lựa chọn các môn học nghề bao gồm tác động từ thuộc tính cá nhân học sinh, chất lượng dạy nghề và giáo viên hướng dẫn, vấn đề về hướng nghiệp

Tuy nhiên, nghiên cứu của Mei & ctg (2008) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nguyện vọng nghề nghiệp của thanh thiếu niên lại đi ngược với các nghiên cứu trên Kết quả chỉ ra rằng giới tính và tình trạng kinh tế - xã hội của gia đình không liên quan tới nguyện vọng tiếp tục học tập hay khát vọng thành tựu sự nghiệp

Vấn đề hướng nghiệp được coi là một trong những yếu tố then chốt trong việc xác định những ảnh hưởng tới nhu cầu đào tạo nghề của những người trẻ tuổi Như trong nghiên cứu của Bukantaite & ctg (2006) phân tích những yếu tố khuyến khích những người trẻ tuổi tham gia học tập tại một trường dạy nghề, từ đó tìm ra những ảnh hưởng của hoạt động tư vấn hướng nghiệp trong quyết định đó Tổng

Trang 29

hợp các kết quả cho thấy, một tỷ lệ lớn học sinh cho rằng bản thân họ có mong muốn học tại một trường dạy nghề vì họ muốn nhanh chóng tự lập, có được một nghề nghiệp và tìm công việc càng sớm càng tốt Ngoài ra, các yếu tố tác động đến

ý định tham gia học nghề của học sinh còn có thể kể đến là do điểm trung bình thấp nên sẽ khó khăn khi lựa chọn những cấp học cao hơn, chương trình học ở bậc học này cũng không quá khó, do nhận được lời khuyên từ thầy cô và gia đình Gbengal

& ctg (2014) cũng nhận định rằng hoạt động hướng nghiệp tác động phần lớn đến định hướng của học sinh trong đào tạo dạy nghề và kỹ thuật

Ngoài ra còn có các hướng nghiên cứu kết hợp đánh giá tới các yếu tố tác động đến sự lựa chọn học nghề như nghiên cứu của Vrontis & ctg (2007) thực hiện xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến sự lựa chọn bậc giáo dục sau trung học của học sinh tại các nước đang phát triển Trên cơ sở kế thừa các mô hình được xây dựng trước đó, nhóm tác giả đã phát triển và hoàn thiện cho nghiên cứu của mình

mô hình nghiên cứu về hành vi lựa chọn bậc giáo dục cao hơn của học sinh ở các nước đang phát triển theo một quá trình liên tục: nguyện vọng, tìm kiếm thông tin, thu thập thông tin, lập danh sách trường, quyết định và ghi danh Tương ứng với mỗi giai đoạn này sẽ có các biến tác động phù hợp với mỗi giai đoạn cụ thể, các biến tác động bao gồm: đặc điểm gia đình học sinh, đặc điểm của trường trung học, các nhân tố có ảnh hưởng, đặc điểm cá nhân học sinh, chính sách nhà nước, môi trường xã hội, đặc điểm trường, hoạt động của trường Hay Olamide & ctg (2013) thực hiện khảo sát với 100 học sinh được lựa chọn ngẫu nhiên từ 5 trường trung học

ở bang Ogun, Hoa Kỳ Kết quả là tất cả các yếu tố về môi trường, cơ hội nghề nghiệp, cá tính, các nhân tố hướng đến mục tiêu cá nhân đều ảnh hưởng đến thái độ của học sinh

2.6.2 Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về cầu đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng

Trang 30

Đề tài “phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cầu đào tạo từ xa ở Việt Nam” của tác giả Đặng Văn Dân (2014) đã xây dựng hàm cầu đào tạo từ xa, đồng thời phát hiện và thẩm định các nhân tố tác động đến cầu đào tạo từ xa và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố bằng mô hình hồi quy Binary Logistic

Các yếu tố chủ quan như sức khỏe, giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, thu nhập của người lao động được tổng hợp trong nghiên cứu ở đề tài “nhu cầu học nghề của thanh niên nông thôn huyện Kiến Thụy Thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay” - tác giả Nguyễn Thị Hạnh (2011) thông qua phương pháp nghiên cứu định tính như phỏng vấn sâu, phỏng vấn chuyên gia, thống kê mô tả và trong nghiên cứu ở đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến học nghề của người lao động tại xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” của nhóm tác giả Bùi Công Toàn và Bùi Lan Anh (2014) Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu phân tích nhu cầu học nghề của đối tượng được phỏng vấn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như: gia đình, bạn bè, dư luận xã hội, chính sách của địa phương của tác giả Nguyễn Thị Hạnh (2011); Tư vấn/hướng nghiệp về học nghề, sự tuyên truyền vận động của địa phương, am hiểu về đề án 1956 của người lao động, nhận thức của người lao động về lợi ích của học nghề, kinh tế hộ của đồng tác giả Bùi Công Toàn

và Bùi Lan Anh (2014) Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình Binary Logistic với các biến độc lập tác động đến việc tham gia hoặc không tham gia học nghề của người lao động Nghiên cứu thực hiện khảo sát 60 người lao động trên địa bàn xã Kết quả ước lượng mô hình hồi quy binary logistic nhận thấy tất cả các biến đều có ý nghĩa thống kê

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu, các bài báo, đề tài nghiên cứu khác có cách tiếp cận khác nhau về đào tạo nghề, trong đó có giải pháp cho nhu cầu đào tạo nghề và việc làm cho thanh niên như đề tài “Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng” của tác giả Phan Thị Thúy Linh (2011) Nghiên cứu này xác định các yếu tố tác động đến việc đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên thành phố Đà Nẵng bao gồm: Đặc điểm kinh tế - xã hội của

Trang 31

thành phố, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố, năng lực đào tạo nghề của thành phố, quy mô và chất lượng lao động thanh niên của thành phố, nhận thức của thanh niên và xã hội về đào tạo nghề và việc làm

Cũng giống đề tài của tác giả Phan Thị Thúy Linh (2011), đề tài “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình” của tác giả Cao Nguyễn Minh Hiền (2014) đã sử dụng số liệu thống kê được cung cấp bởi Phòng LĐTB&XH huyện Lệ Thủy về nhu cầu học nghề của lao động nông thôn trong năm

2010 – 2012 để thực hiện các phân tích, thống kê, so sánh, đánh giá định tính về vấn

đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn khu vực huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình Trong nội dung đề tài đã đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở nước ta hiện nay bao gồm: Điều kiện tự nhiên, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thị trường lao động, quy mô chất lượng lực lượng lao động nông thôn, nhu cầu học nghề của lao động nông thôn, cơ sở vật chất cho đào tạo nghề và đội ngũ giáo viên dạy nghề Trong đó, đề tài cho rằng yếu tố về nhu cầu học nghề của lao động nông thôn quyết định rất lớn đến thành công và thất bại trong công tác đào tạo nghề

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu, các bài báo, đề tài nghiên cứu khác với những cách tiếp cận khác nhau về đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng Chẳng hạn như: “Nghiên cứu mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp hiện nay” của Phùng Xuân Nhạ (2009) Ông cho rằng đào tạo trong nước thiếu gắn kết với nhu cầu của doanh nghiệp Để thúc đẩy mối liên kết này cần có một số nội dung cấn liên kết là lợi ích, cơ chế và điệu kiện Lợi ích là đáng kể cho

cả hai phía, một mặt là sự tiết kiệm chi phí nhờ tiếp cận nguồn lực phù hợp cho yêu cầu doanh nghiệp, mặt khác là đích đặt sẵn cho nhà trường để thiết kế nội dung, chọn giáo viên và giảm bớt các kinh phí cho nhà trường Cơ chế đào tạo theo hướng kết hợp với doanh nghiệp để thiết kế nội dung, phương pháp hay công nghệ đào tạo Điều kiện quan trọng cho sự liên kết này là nhận thức và quyết tâm của lãnh đạo, chiến lược phát triển rõ ràng, chính sách hỗ trợ tốt và nhóm chuyên trách làm việc

Trang 32

hiệu quả Nghiên cứu của Phan Chính Thức (2003) về “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã đi sâu vào việc đề xuất các giải pháp phát triển đào tạo nghề

Bảng 2 1 Tổng hợp các nghiên cứu trước đây liên quan đến nhân tố tác động đến

nhu cầu đào tạo nghề

STT Tên biến độc lập Tác giả, năm

1 Tuổi Vrontis (2007); Bùi Công Toàn & Bùi Lan

Anh (2014)

2 Giới tính Francis và ctg (2014), Azubuike (2011),

Mei & tcg (2008)

3 Quy mô hộ Bùi Công Toàn & Bùi Lan Anh (2014)

4 Số người phụ thuộc Mei & tcg (2008)

5 Nhận thức lợi ích của thanh

niên đối với việc tham gia

đào tạo nghề

Bukantaitė và ctg (2006), OECD (1978b); Phan Thị Thúy Linh (2011), Bùi Công Toàn

& Bùi Lan Anh (2014)

6 Kỳ vọng của thanh niên về

cơ hội việc làm sau khi kết

thúc khóa học

Bukantaite & ctg (2006), Francis & ctg (2014), Olamide & ctg (2013)

7 Niềm tin của thanh niên đối

với chất lượng đào tạo của

các cơ sở đào tạo nghề

Bukantaite & ctg (2006), Azubuike (2011); Cao Nguyễn Minh Hiền (2014)

8 Lời khuyên của gia đình OECD (1978b); Francis & ctg., (2014);

Nguyễn Thị Hạnh (2011); Bùi Công Toàn & Bùi Lan Anh (2014)

9 Tư vấn, hướng nghiệp từ xã

Trang 33

(2011) (Nguồn: Tác giả tổng hợp)

2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Tác giả dựa trên mô hình nghiên cứu của Bùi Công Toàn và Bùi Lan Anh (2014) Mô hình cụ thể của nghiên cứu này:

Bảng 2 2 Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu của Bùi Công Toàn và Bùi

Biến độc lập

điểm nghiên cứu (năm) Trình độ học vấn Trình dộ học vấn của người lao động

tính đến thời điểm nghiên cứu (số lớp) Thu nhập của người lao động Tổng thu nhập từ các nguồn khác nhau

của người lao động (triệu đồng/tháng)

Tư vấn/hướng nghiệp về học nghề Biến giả Nhận giá trị 1 nếu người lao

động có sự tư vấn/hướng nghiệp (của gia đình, trường) về học nghề và giá trị 0 nếu ngược lại

Trang 34

Diện tích sản xuất lúa của hộ Tổng diện tích sản xuất lúa hộ của người

lao động (ha/hộ)

Số nhân khẩu/hộ Số nhân khẩu trong hộ nhận giá trị tương

ứng với số người trong hộ (người/hộ) Tuyên truyền vận động của địa phương Biến giả Nhận giá trị 1 nếu địa phương

có tuyên truyền vận động về học nghề với người lao động và giá trị 0 nếu ngược lại

Am hiểu về Đề án 1956 của người lao

động

Biến giả Nhận giá trị 1 nếu người lao động có am hiểu về Đề án 1956 và giá trị 0 nếu ngược lại

Nhận thức của người lao động về lợi ích

của học nghề

Biến giả Nhận giá trị 1 nếu người lao động có nhận thức đúng về lợi ích của việc học nghề và giá trị 0 nếu ngược lại

người lao động có kinh tế thuộc loại khá/giàu và giá trị 0 nếu kinh tế hộ thuộc loại trung bình

(Nguồn: Tác giả tổng hợp) Bùi Công Toàn và Bùi Lan Anh (2014) nghiên cứu về nhu cầu học nghề của người lao động tại xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang còn đề tài nghiên cứu của tác giả là về nhu cầu học nghề của thanh niên tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Do sự khác biệt về chủ thể nghiên cứu và về tình hình kinh tế - xã hội của địa phương nghiên cứu nên có sự khác biệt của một số biến trong mô hình Bên cạnh

đó, từ việc tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước khác và từ kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm mà mô hình còn loại bỏ và bổ sung thêm một số biến khác để phù hợp với đặc điểm của đối tượng và địa phương nghiên cứu Cụ thể:

Trang 35

+ Do có sự tương đồng là cùng nghiên cứu về nhu cầu học nghề nên tác giả giữ lại biến tuổi, quy mô hộ, nhận thức về lợi ích của việc học nghề vì theo các nghiên cứu trước, từ kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, những biến này có tác động đến nhu cầu học nghề của thanh niên tại địa bàn tác giả nghiên cứu

+ Tác giả loại bỏ biến am hiểu về Đề án 1956 của người lao động do đối tượng của đề án 1956 hướng đến là lao động nông thôn, không tương đồng với tất

cả các đối tượng trong nghiên cứu của tác giả - bao gồm cả thanh niên nông thôn và thành thị; Tác giả loại bỏ biến diện tích sản xuất lúa của hộ do sự khác biệt về địa bàn nghiên cứu, nghiên cứu của tác giả là trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, chủ yếu trồng cây công nghiệp chứ diện tích trồng lúa không nhiều; Tác giả loại bỏ biến thu nhập của người lao động do sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu, nghiên cứu của tác giả là thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 30 tuổi, độ tuổi này không phải ai cũng đã đi làm và tạo ra thu nhập nên biến này khi đưa vào nghiên cứu sẽ không phù hợp Biến trình độ học vấn cũng được tác giả loại bỏ không đưa vào mô hình nghiên cứu vì trình độ học vấn theo phổ cập giáo dục hiện nay để có thể tham gia các lớp đào tạo nghề là từ lớp 9 trở lên và nếu đối tượng nghiên cứu lá thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 30 thì sự biến thiên số năm đi học sẽ không mang nhiều ý nghĩa thống kê

+ Tác giả loại bỏ biến kinh tế hộ do không có chuẩn đánh giá nào khẳng định chính xác là hộ đó đang ở mức kinh tế khá/giàu hay trung bình mà chỉ là cảm nhận chủ quan Thay thế cho biến này, tác giả sử dụng biến số người phụ thuộc trong hộ

để đánh giá về gánh nặng kinh tế của hộ gia đình trong việc tác động đến nhu cầu tham gia đào tạo nghề của thanh niên Tác giả cũng tách biến tư vấn/hướng nghiệp

về học nghề thành 2 biến là biến hướng nghiệp từ gia đình và hướng nghiệp từ xã hội để thấy rõ hơn sự tác động của hoạt động hướng nghiệp đến thanh niên và bỏ đi biến tuyên truyền vận động từ địa phương vì hoạt động tuyên truyền vận động từ địa phương cũng đã được bao hàm trong biến hướng nghiệp từ xã hội

Trang 36

Từ cơ sở lý thuyết, kết quả phỏng vấn sâu, kết quả thảo luận nhóm và dựa vào kết quả từ các nghiên cứu trước để xác định được các nhân tố nào tác động đến nhu cầu học nghề của thanh niên trên địa bàn nghiên cứu, mô hình nghiên cứu được

đề xuất như sau:

Hình 2 4 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Tóm tắt chương 2: Trong chương 2, tác giả trình bày về các khái niệm có liên quan trong đề tài, về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài nghiên cứu Trên cơ sở lý thuyết đã trình bày, tác giả tổng hợp bảng các yếu tố tác động đến nhu cầu đào tạo nghề, trình bày sự phát triển mô hình nghiên cứu của đề tài thông qua việc so sánh đề tài với các nghiên cứu trước và xác định mô hình nghiên cứu đề xuất

Trang 37

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH

NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập dữ liệu nhằm mô tả và phân tích những đặc điểm của các đối tượng

có ảnh hưởng đến nhu đào tạo dạy nghề của thanh niên Sau đó tiến hành thu thập ý kiến của một số nhóm đối tượng khác nhau như: Trực tiếp phỏng vấn sâu 2 cán bộ trường Cao đẳng nghề tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: cô Trương Huỳnh Như – hiệu phó đào tạo và thầy Võ Văn Thuận – Trưởng phòng đào tạo; 4 thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn nghiên cứu: Cô Trần Thị Thùy Dung (trường cao đẳng nghề tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), thầy Lê Văn Định (Trường cao đẳng nghề du lịch Vũng Tàu), thầy Nguyễn Ngọc Thắng (trường trung cấp công nghệ thông tin TM Computer), thầy Đàm Nguyên Hòa (trường cao đẳng nghề Vabis Hồng Lam) bằng hệ thống bảng câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn nhằm thu nhận các ý kiến từ các chuyên gia; Tập trung thảo luận nhóm 10 học viên đang theo học tại trường cao đẳng nghề tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu và nhóm 5 người lao động đã tốt nghiệp trường dạy nghề đang làm việc tại các doanh nghiệp tại địa phương Kết quả thu thập được qua các buổi phỏng vấn chuyên gia và thảo luận nhóm được tập hợp, chọn lọc, phân tích, đánh giá nhằm xác định vấn đề nghiên cứu, đồng thời kết hợp với cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đã thống nhất một tập hợp các nhân

tố dự kiến ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo dạy nghề của thanh niên ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gồm tuổi, giới tính, nhận thức lợi ích việc tham gia đào tạo nghề, kì vọng

về việc làm, niềm tin vào chất lượng đào tạo nghề, quy mô hộ, số người phụ thuộc, hướng nghiệp từ gia đình, hướng nghiệp từ xã hội Đồng thời thu nhận ý kiến của các thầy cô giáo về những giải pháp thu hút thanh niên tham gia đào tạo nghề Trong đó:

+ Kết quả của hoạt động phỏng vấn sâu do tác giả tổng hợp từ ý kiến của các chuyên gia: Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn tình BRVT trong những năm gần đây khá thấp Các trường chủ

Trang 38

yếu chỉ tuyển sinh được nhóm thanh niên đăng ký các khóa học sơ cấp và khóa ngắn hạn dưới 3 tháng Còn lượng thanh niên đăng ký tham gia đào tạo trung cấp nghề và cao đẳng nghề thì vẫn còn hạn chế Trung bình hàng năm, các cơ sở đào tạo nghề của tinh BRVT có khoảng 1200 học viên tốt nghiệp trình độ trung cấp và cao đẳng nghề Con số này chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ kỹ thuật của doanh nghiệp Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đến trường nghề đặt yêu cầu tuyển dụng ngành kỹ thuật cơ khí nhưng các trường nghề không đủ nhân lực cung ứng cho doanh nghiệp Những nhân tố thúc đẩy thanh niên tham gia đào tạo nghề có thể kể đến là kỳ vọng vào việc làm sau khi tốt nghiệp, định hướng từ gia đình, định hướng từ bạn bè và thầy cô giáo, cảm thấy bản thân yêu thích việc học nghề vì phù hợp với khả năng của bản thân Những nhân tố cản trở nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên là về định kiến xã hội cho rằng học đại học thì tương lai mới tốt đẹp còn lựa chọn học nghề chỉ có thể coi là lựa chọn cuối cùng khi không thể vào đại học được Ngoài ra, đào tạo nghề có nhiều ngành công nghiệp nặng nên một số thanh niên sợ cực khổ, muốn chọn những ngành kinh tế cho nhẹ nhàng và phù hợp hơn với thể trạng và sức khỏe bản thân Theo các chuyên gia thì nhân tố tác động mạnh nhất đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn nghiên cứu là sự hướng nghiệp từ gia đình Định hướng của ba mẹ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định có chọn tham gia hay không tham gia đào tạo nghề cùa thanh niên Để phụ huynh và bản thân thanh niên hiểu biết về học nghề và định hướng nghề nghiệp đúng và phù hợp với năng lực bản thân, các chuyên gia cho rằng cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về lợi ích của việc dạy nghề và phân luồng học sinh, thay đổi nhận thức của xã hội về dạy nghề và học nghề, giúp thanh niên có nhận thức đúng về định hướng nghề nghiệp

+ Kết quả thảo luận nhóm do tác giả tổng hợp từ ý kiến của nhóm 10 học viên đang theo học tại trường cao đẳng nghề tỉnh BRVT: Hầu hết các ý kiến đều cho rằng nhân tố tuổi, giới tính, nhận thức về lợi ích của việc tham gia đào tạo nghề, lời khuyên từ gia đình là có tác động đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên Ngoài

ra, một số các nhân tố khác được bổ sung thêm cho rằng có tác động đến nhu cầu

Trang 39

đào tạo nghề của thanh niên là chất lượng đào tạo nghề của các cơ sở giáo dục nghề,

cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp

+ Kết quả thảo luận nhóm do tác giả tổng hợp từ ý kiến của nhóm 5 người lao động đã tốt nghiệp trường đào tạo nghề và hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa phương: Kết quả thảo luận nhóm cho rằng các nhân tố tác động đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên là giới tính, nhận thức về lợi ích của việc tham gia đào tạo nghề, lời khuyên từ gia đình Ngoài ra, nhóm cũng đóng góp thêm 1 số ý kiến khác về các nhân tố tác động đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên như là định kiến của xã hội, cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp, các chính sách hỗ trợ tài chính của nhà nước khi tham gia học nghề

Để phân tích các nhân tố tác động đến nhu cầu học nghề của thanh niên trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tác giả sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic

Mô hình này được áp dụng trong trường hợp cần ước lượng xác suất một sự kiện sẽ xảy ra với biến phụ thuộc Y là biến định tính dạng nhị phân và các biến độc lập X

có thể là các biến số định lượng hoặc là biến nhị phân Tác giả tiến hành khảo sát thanh niên trên địa bàn thành phố Vũng Tàu và 3 huyện: Xuyên Mộc, Châu Đức, Tân Thành Phương pháp lấy mẫu thuận tiện Phát ra là 300 mẫu, thu về là 256 mẫu hợp lệ Sau đó, tiến hành kỹ thuật thống kê mô tả để phân tích, thống kê các số liệu điều tra qua đó đánh giá, phân tích về đặc điểm của mẫu điều tra Tiếp theo là sử dụng phương pháp phân tích hồi quy với mô hình hồi quy Binari Logistic để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn nghiên cứu

3.2 Quy trình nghiên cứu

Trang 40

Hình 3 1 Quy trình nghiên cứu

3.3 Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu

Tuổi: Thanh niên có độ tuổi càng cao thì sẽ có nhiều vấn đề phải lo lắng hơn

trong cuộc sống như lập gia đình, áp lực mưu sinh, … do đó nhu cầu học nghề

sẽ càng thấp

H1: Tuổi của thanh niên có mối quan hệ nghịch biến với nhu cầu đào tạo của thanh niên

Giới tính: Giả thuyết nghiên cứu của luận văn, các thanh niên có giới tính là

nam sẽ có nhu cầu học nghề cao hơn nữ do vai trò của nữ giới trong gia đình phải gánh vác trách nhiệm sinh con và chăm sóc con cái nên ít có cơ hội tham gia học nghề Ngoài ra còn do quan điểm của gia đình và xã hội về giá trị của giáo dục trong xã hội Việt Nam hiện nay vẫn còn nặng nề với phái nữ, cho rằng

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w