GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Giới thiệu đề tài
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu:
Thị trường tài chính hiện nay đang phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự thay đổi lớn trong các định chế tài chính trung gian, đặc biệt là ngân hàng cổ phần Các ngân hàng này đang tập trung vào việc cải thiện hình thức cạnh tranh và thực hiện tái cơ cấu để thích ứng với xu hướng mới.
Sự phát triển và thành công của hệ thống ngân hàng gắn liền với nhu cầu tài chính và dịch vụ của xã hội Do đó, việc mở rộng nhu cầu này giúp các ngân hàng có cơ hội đa dạng hóa các lĩnh vực hoạt động của mình.
Trong bối cảnh cạnh tranh và phát triển hiện nay, ngân hàng không chỉ đóng vai trò trung gian giữa người vay và người cho vay mà còn mở rộng hoạt động sang các dịch vụ tài chính khác nhằm tăng cường lợi nhuận Bên cạnh huy động vốn và cho vay, các ngân hàng đang tích cực triển khai các ngành đầu tư kinh doanh mới để đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động, đáp ứng nhu cầu xã hội và tạo ra nguồn lợi nhuận bổ sung.
Sự mở rộng thị trường tài chính trong ngành ngân hàng dẫn đến đa dạng hóa phát triển, giúp các ngân hàng cạnh tranh hơn thông qua việc gia tăng thu nhập ngoài lãi từ các dịch vụ như phí dịch vụ và quản lý tư vấn tài chính Ngoài ra, các ngân hàng cũng mở rộng phân khúc thị trường, bao gồm ngân hàng đầu tư và các hoạt động liên quan đến chứng khoán và bảo hiểm, đồng thời tập trung vào việc mở rộng thị phần địa lý Bên cạnh hoạt động cho vay truyền thống, các dịch vụ tư vấn và đầu tư đã phát triển mạnh mẽ, nhấn mạnh tính chuyên nghiệp của nhân viên và mạng lưới chuyên sâu Công nghệ tiên tiến đã giúp rút ngắn thời gian xử lý, tạo điều kiện cho ngân hàng triển khai dịch vụ và thiết bị mới, làm cho đa dạng hóa trở thành yếu tố chính quyết định hiệu suất hoạt động (Lepetit và ctg, 2008).
Các nghiên cứu trước đây chưa thống nhất về ảnh hưởng của sự đa dạng hóa đến hiệu suất và rủi ro của ngân hàng Một số nghiên cứu cho thấy rằng việc kết hợp hoạt động cho vay và thu nhập ngoài lãi không mang lại lợi ích từ đa dạng hóa, mà còn có thể làm tăng rủi ro.
Nghiên cứu của De Young và Roland (2001) cùng Stiroh (2004) chỉ ra rằng đa dạng hóa doanh thu có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng Mỹ Tương tự, Lepetit và cộng sự (2008) đã phân tích thị trường Châu Âu và kết luận rằng các ngân hàng có thu nhập ngoài lãi cao thường có mức độ rủi ro cao hơn so với những ngân hàng chủ yếu cung cấp các khoản vay Ngoài ra, nghiên cứu thực nghiệm của Acharya và cộng sự (2006) trên 105 ngân hàng tại Ý cũng cho thấy rằng đa dạng hóa làm suy giảm hiệu quả hoạt động và gia tăng rủi ro tín dụng.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng tích cực về sự đa dạng hóa trong ngành ngân hàng Rossi và cộng sự (2009) cho thấy rằng sự đa dạng hóa tại các ngân hàng Úc làm tăng hiệu quả và giảm rủi ro Tại Nhật Bản, Sawada (2013) đã công bố rằng thu nhập ngoài lãi có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất ngân hàng Nghiên cứu của Chiorazza và cộng sự (2008) cũng chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập giúp tăng lợi nhuận điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng Ý Các nghiên cứu của D’Souza và Lai (2003) cùng Lecce (2013) có kết quả tương tự Gần đây, nghiên cứu của Nguyen Thi Canh và cộng sự tại Việt Nam cũng xác nhận những kết quả tích cực này.
(2015) cho thấy ngân hàng có thu nhập ngoài lãi cao thì ít rủi ro hơn so với những ngân hàng có chủ yếu thu nhập từ lãi
Nghiên cứu về đa dạng hóa tại thị trường nước ngoài cho thấy nhiều kết luận khác nhau tùy thuộc vào thời điểm, bối cảnh và quy mô ngân hàng Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại đang thực hiện chiến lược đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi và tìm kiếm cơ hội tạo ra lợi nhuận ngoài dịch vụ ngân hàng Hiện nay, thị trường tài chính chứng kiến sự mở rộng quy mô và mạng lưới hoạt động, đặc biệt là sự tăng trưởng tín dụng nóng Tuy nhiên, hiệu quả và rủi ro từ đa dạng hóa vẫn chưa rõ ràng Do đó, nghiên cứu này sẽ xem xét tác động của đa dạng hóa đến rủi ro và hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng đa dạng hóa có thể làm tăng hiệu quả hoạt động nhưng cũng có thể gia tăng rủi ro và tác động tiêu cực đến lợi nhuận Bài nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa rủi ro và hiệu quả hoạt động trong ngành ngân hàng Việt Nam, nhằm xác định liệu đa dạng hóa có tuân theo quy luật rủi ro cao – lợi nhuận cao trên thị trường tài chính hay không Kết quả nghiên cứu sẽ giúp làm rõ hiệu quả của đa dạng hóa trong ngân hàng Việt Nam và tác động của nó đến yếu tố rủi ro.
Bài viết được cấu trúc thành các phần rõ ràng: phần 2 tập trung vào việc xem xét tài liệu về đa dạng hóa ngân hàng và tổng quan các nghiên cứu trước, từ đó phát triển giả thuyết nghiên cứu; phần 3 trình bày phương pháp đo lường các yếu tố như đa dạng hóa, rủi ro và hiệu quả hoạt động cùng với mô hình nghiên cứu; phần 4 giới thiệu kết quả nghiên cứu và tiến hành phân tích; cuối cùng, kết luận được nêu ra trong phần cuối cùng của bài viết.
Phần này xác định câu hỏi nghiên cứu cho toàn bài, mở rộng các công trình trước đây về đa dạng hóa ngân hàng dựa trên thực tiễn hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam Bài viết sẽ xem xét tác động của đa dạng hóa đến rủi ro và hiệu quả hoạt động, với ba loại đa dạng hóa được chọn lọc: đa dạng hóa thu nhập, đa dạng hóa đầu tư và đa dạng hóa địa lý.
Đề tài nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi liệu đa dạng hóa có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) tại Việt Nam hay không Nghiên cứu sẽ được phân tích thông qua ba loại hình đa dạng hóa khác nhau.
- Đa dạng hóa thu nhập có tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam không?
- Đa dạng hóa thu nhập có tác động đến rủi ro của các ngân hàng TMCP Việt Nam không?
- Đa dạng hóa đầu tư có tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam không?
- Đa dạng hóa đầu tư có tác động đến rủi ro của các ngân hàng TMCP Việt Nam không?
- Đa dạng hóa địa lý có tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam không?
- Đa dạng hóa địa lý có tác động đến rủi ro của các ngân hàng TMCP Việt Nam không?
Từ câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu của đề tài đƣợc xác định nhƣ sau:
Nghiên cứu này phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập, địa lý và đầu tư đến hiệu quả hoạt động và rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam Đặc biệt, việc đa dạng hóa thu nhập giúp tăng cường khả năng sinh lời, trong khi đa dạng hóa địa lý có thể giảm thiểu rủi ro do sự biến động của thị trường Đồng thời, đa dạng hóa đầu tư cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, từ đó góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia.
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là sự tác động của đa dạng hóa thu nhập, đa dạng hóa đầu tƣ và đa dạng hóa địa lý tới rủi ro và hiệu quả hoạt động các ngân hàng TMCP Việt Nam Nghiên cứu bỏ qua các ngân hàng liên doanh, ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài, …
Phạm vi nghiên cứu trên 20 ngân hàng TMCP trong giai đoạn 8 năm:
Nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng với phân tích hồi quy dữ liệu bảng, kết hợp với ước lượng tác động cố định (Fixed Effect Model – FEM) và phần mềm Stata.13, nhằm thiết lập mô hình hồi quy và kiểm tra tính phù hợp của các giả thuyết đã đề ra.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước
Bài viết này nhằm xây dựng nền tảng cho nghiên cứu mối quan hệ giữa đa dạng hóa, hiệu quả hoạt động và rủi ro trong ngành ngân hàng Nó giới thiệu lý thuyết về hiệu quả hoạt động ngân hàng, rủi ro và lý thuyết dự báo rủi ro, đồng thời tổng quan về sự đa dạng hóa trong ngân hàng.
2.1 Lý thuyết về hiệu quả hoạt động ngân hàng:
Theo Rose và Hudgin (2008), hiệu quả hoạt động của tổ chức tài chính được xác định bởi khả năng đáp ứng nhu cầu của cổ đông, nhân viên, người gửi tiền, người đi vay và các bên liên quan khác Sự thành công của các tổ chức này được thể hiện qua các báo cáo tài chính, với các chỉ tiêu như lợi nhuận, vốn chủ sở hữu, tài sản và giá trị cổ phiếu Lợi nhuận không chỉ phản ánh hiệu quả kinh doanh mà còn chỉ ra sự phát triển bền vững của ngân hàng Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lời và khả năng thanh toán của ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến triển vọng phát triển trong tương lai.
Theo Rose và Hudgin (2008), hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo lường qua khả năng sinh lời, sử dụng các chỉ tiêu như lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS), tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROA phản ánh hiệu quả quản lý bằng cách cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản thành thu nhập ròng, trong khi ROE đo lường tỷ lệ lợi nhuận mà cổ đông nhận được từ khoản đầu tư của họ vào tổ chức tài chính.
2.2 Lý thuyết về dự báo rủi ro:
Rủi ro, theo Nguyen Minh Kieu (2011), là khả năng lợi nhuận thực tế khác với lợi nhuận kỳ vọng, với rủi ro cao đồng nghĩa với xác suất lợi nhuận thấp hơn kỳ vọng tăng Ngân hàng, với sản phẩm tài chính chủ yếu là đi vay để cho vay, cần kiểm soát mức độ an toàn của các khoản vay bên cạnh việc tăng trưởng doanh thu Rủi ro nợ khó đòi và thua lỗ trong đầu tư chứng khoán có thể ảnh hưởng trực tiếp đến vốn chủ sở hữu, và nếu người gửi tiền mất lòng tin, ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro phá sản do không đủ khả năng chi trả Để dự báo rủi ro, Altman (1968) đã phát triển mô hình Z_score, được chứng minh là hiệu quả trong việc dự báo phá sản qua nhiều năm Mô hình này, sau đó được Hannan và Hanweck (1988) cải tiến, thể hiện mối quan hệ giữa suất sinh lợi trên tài sản và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản của ngân hàng Z_score cho biết số độ lệch chuẩn tại đó suất sinh lời trên tài sản nhỏ hơn giá trị kỳ vọng khi vốn chủ sở hữu thâm hụt Các nghiên cứu như của Stiroh (2004), Lecce (2013), và Marco cùng Fernandez (2008) đã ứng dụng chỉ số này trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa đa dạng hóa và rủi ro ngân hàng, và đề tài này cũng áp dụng chỉ số Z_score cho mô hình nghiên cứu của mình.
2.3 Tổng quan về đa dạng hóa trong ngân hàng:
Theo Ansoff (1957), đa dạng hóa là sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm của công ty, cho phép doanh nghiệp mở rộng sang các thị trường sản phẩm khác ngoài lĩnh vực kinh doanh cốt lõi Trong ngành ngân hàng, điều này xảy ra khi các ngân hàng mở rộng nguồn thu nhập từ lãi sang các dịch vụ khác Các nghiên cứu về đa dạng hóa ngân hàng chỉ ra rằng chiến lược này có thể mang lại lợi ích như tiết kiệm chi phí và tăng doanh thu nhờ vào việc kết hợp các dịch vụ tài chính (Llewellyn, 1996; Teece, 1980) Tuy nhiên, đa dạng hóa cũng có thể dẫn đến giảm hiệu suất hoạt động và gia tăng rủi ro tín dụng do các vấn đề về quy mô và quản lý (De Young và Roland, 2001; Lepetit và ctg, 2008; Stiroh, 2004).
Sự đa dạng hóa trong ngành ngân hàng xuất phát từ nhiều nguồn, đặc biệt là từ các cải cách tài chính ở Châu Âu vào thập niên 70 và 80 Theo Lepetit và cộng sự (2008), các ngân hàng phương Tây đã phải đối mặt với những thay đổi lớn trong cạnh tranh và tái cơ cấu, dẫn đến việc họ áp dụng chiến lược mở rộng sản phẩm cung cấp cho khách hàng Một trong những thay đổi quan trọng là sự gia tăng của thu nhập ngoài lãi, chiếm 41% tổng thu nhập tại thị trường Châu Âu trong năm qua.
Vào năm 1998, tỷ lệ này đạt 43% tại Mỹ vào năm 2011 Nghiên cứu của Piyadasa và cộng sự (2015) cho thấy sự bãi bỏ quy định trong ngành tài chính tại Úc đã khuyến khích các ngân hàng thương mại đa dạng hóa hoạt động, không chỉ tập trung vào các khoản cho vay truyền thống Nhờ vào việc phát triển nhiều chức năng mới, ngành ngân hàng Úc đã trở nên mạnh mẽ và đạt được lợi nhuận cao nhất thế giới.
Để thích ứng với xu hướng cạnh tranh toàn cầu hóa, các ngân hàng thương mại đã mở rộng ra ngoài các lĩnh vực truyền thống Sự cạnh tranh này đã tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới, giúp họ mạnh dạn phát triển các hoạt động trung gian truyền thống như huy động vốn và cho vay sang các lĩnh vực có thu nhập ngoài lãi.
2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước:
Trong những năm gần đây, sự kết hợp giữa các hoạt động truyền thống và phi truyền thống trong ngành ngân hàng đã thu hút sự chú ý đáng kể từ các nghiên cứu Nhiều tài liệu hiện có đã chỉ ra những lợi ích tiềm năng của việc đa dạng hóa trong các ngân hàng.
Nghiên cứu của Piyadasa và cộng sự (2015) về các ngân hàng ở Úc trong giai đoạn 2000-2012 cho thấy rằng mặc dù đa dạng hóa không đảm bảo thành công, nhưng nó đã mang lại sự tin cậy cao hơn về thu nhập ngoài lãi, cải thiện rủi ro cho ngân hàng Kinh nghiệm đa dạng hóa đã giúp các ngân hàng Úc duy trì lợi nhuận ổn định và cải thiện tỷ suất rủi ro/lợi nhuận Hơn nữa, các biện pháp bảo vệ của chính phủ Úc trong thời kỳ khủng hoảng tài chính đã khuyến khích các ngân hàng tiếp tục chiến lược đa dạng hóa mà không ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận.
Tại Nhật Bản, Sawada (2013) phân loại thu nhập ngoài lãi thành ba thành phần: lệ phí, thu nhập kinh doanh và thu nhập ngoài lãi khác Nghiên cứu cho thấy cả thu nhập từ phí và thu nhập kinh doanh đều có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến hiệu suất ngân hàng Bên cạnh đó, bài viết nghiên cứu của Leece (2013) cũng đã thu thập thêm thông tin liên quan.
Nghiên cứu dựa trên 3.060 quan sát từ các ngân hàng ở Ý trong giai đoạn 2006 – 2011 cho thấy sự đa dạng hóa về doanh thu và địa lý có tác động tích cực đến hiệu suất hoạt động của ngân hàng Tác giả đã phân tích ảnh hưởng của sự đa dạng về địa lý, chính sách lãi suất và thu nhập ngoài lãi đối với hiệu suất ngân hàng.
Nghiên cứu của Vishwasrao và cộng sự (2012) chỉ ra rằng thu nhập ngoài lãi có tác động tích cực đến việc giảm rủi ro cho các ngân hàng khu vực công Từ năm 2001 đến 2009, họ đã phân tích ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi đối với lợi nhuận và rủi ro mất khả năng thanh khoản Kết quả cho thấy, các ngân hàng khu vực công thu được thu nhập từ phí thấp hơn nhiều so với ngân hàng tư nhân trong nước, trong khi ngân hàng nước ngoài lại có doanh thu phí cao hơn Điều này cho thấy rằng thu nhập từ phí có khả năng giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng công.
Chiorazza và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập có tác động tích cực đến lợi nhuận điều chỉnh rủi ro, dựa trên dữ liệu hàng năm từ các ngân hàng Ý trong giai đoạn 1993-2003 Nghiên cứu cho thấy các ngân hàng lớn hưởng lợi nhiều hơn từ các hoạt động ngoài lãi so với ngân hàng nhỏ Trong khi đó, Lepetit và cộng sự (2008) đã phân tích ảnh hưởng của kích thước ngân hàng và chia các hoạt động ngoài lãi thành hai loại: hoạt động kinh doanh từ lãi và hoạt động kinh doanh từ hoa hồng cùng phí dịch vụ, cho thấy rằng mối liên hệ tích cực với rủi ro chủ yếu đúng với các ngân hàng nhỏ.
Baele, Jonghe và Vennet (2007) sử dụng dữ liệu từ 255 ngân hàng Châu Âu
Từ năm 1989 đến 2004, sự điều tiết trong cơ cấu tài chính đã khuyến khích các ngân hàng mở rộng hoạt động trong ngành dịch vụ đầu tư tài chính, dẫn đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động và giá trị lâu dài của công ty Baele và cộng sự đã chỉ ra ba lợi ích chính của việc đa dạng hóa, bao gồm việc tăng cường khả năng tạo ra thu nhập thông qua quy mô kinh tế, cải thiện hiệu quả cung cấp dịch vụ tài chính nhờ vào thông tin từ các mối quan hệ cho vay, và nâng cao hệ thống quản trị của các tập đoàn tài chính thông qua giám sát trong quá trình sáp nhập hoặc mua lại D‟Souza và Lai (2003) đã đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong việc tối ưu hóa rủi ro, với dữ liệu thu thập từ các chỉ số công nghiệp, địa lý, kinh doanh trực tuyến, chỉ số tài chính và danh mục đầu tư tài sản của các ngân hàng Canada năm 2002, cho thấy rằng việc tối ưu hóa rủi ro mang lại hiệu quả cao hơn cho các ngân hàng.
Kết luận quan điểm thứ nhất, đa dạng hóa làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng và giảm rủi ro
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận theo hướng định lượng, dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng
Dữ liệu bảng là sự kết hợp giữa dữ liệu chéo và dữ liệu thời gian, mang lại quy mô đa dạng về thời gian và không gian Hiện nay, dữ liệu bảng được ưa chuộng trong nghiên cứu kinh tế nhờ vào khả năng tích hợp thông tin phong phú, số lượng quan sát lớn, tính biến thiên cao, giảm thiểu hiện tượng đa cộng tuyến, và cung cấp nhiều bậc tự do hơn, từ đó nâng cao hiệu quả nghiên cứu (Baltagi, 2008) Việc sử dụng dữ liệu bảng trong nghiên cứu cho phép khai thác tối đa thông tin từ chuỗi thời gian và phân tích nhiều cá thể, chẳng hạn như các ngân hàng khác nhau.
Các kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu bảng trong nghiên cứu bao gồm mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (Pooled OLS), mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) Phần mềm Stata 13 được sử dụng để thực hiện các mô hình hồi quy này.
Các phương thức kiểm định được sử dụng trong mô hình hồi quy:
- Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến: nghiên cứu dựa vào ma trận hệ số tương quan
Nghiên cứu hiện tượng phương sai sai số thay đổi được thực hiện thông qua kiểm định Modified Wald trong mô hình FEM và kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian trong mô hình REM.
- Kiểm định hiện tượng tự tương quan: nghiên cứu sẽ sử dụng kiểm định Wooldridge
- Kiểm định giả thuyết T-student để kiểm định giả thuyết về các hệ số hồi quy
Quy trình thực hiện nhƣ sau:
Nghiên cứu tổng hợp các biến của mô hình thông qua thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, giá trị trung bình, đồng thời xem xét mối tương quan giữa các biến.
Vào thứ hai, nghiên cứu tiến hành kiểm định hệ số của ma trận hệ số tương quan nhằm kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình.
- Thứ ba, nghiên cứu tiến hành kiểm định F để lựa chọn sự phù hợp giữa mô hình hồi quy Pooled OLS và FEM,
Vào thứ ba, nghiên cứu đã thực hiện kiểm định Hausman nhằm xác định sự phù hợp giữa mô hình FEM và REM, từ đó đưa ra quyết định lựa chọn mô hình ước lượng tối ưu nhất.
Vào thứ năm, nghiên cứu đã kiểm tra các hạn chế của mô hình bằng cách sử dụng kiểm định Modified Wald để xác định phương sai sai số thay đổi qua các thực thể trong mô hình FEM, kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian để kiểm tra phương sai sai số trong mô hình REM, và kiểm định Wooldridge để đánh giá hiện tượng tự tương quan của mô hình.
Cuối cùng, dựa trên mô hình đã chọn, nghiên cứu tiến hành phân tích hồi quy và đánh giá kết quả nghiên cứu, tập trung vào mức độ giải thích của mô hình, độ tin cậy của các trị thống kê và mối quan hệ giữa các biến Từ đó, nghiên cứu đưa ra kết luận cho 6 giả thuyết đã được đề xuất trong chương 2.
3.2 Mô tả mẫu nghiên cứu:
Nghiên cứu này sử dụng số liệu từ 33 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đã niêm yết trên các sàn chứng khoán HNX, HSX, OTC và UpCom, loại trừ ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh Việc chọn lựa các ngân hàng niêm yết đảm bảo rằng dữ liệu thu thập từ các báo cáo tài chính là công khai, minh bạch và đã được kiểm toán bởi các tổ chức uy tín, đảm bảo độ chính xác cao Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian công bố thông tin, nghiên cứu chỉ thu thập dữ liệu trong khoảng thời gian từ 2009 đến 2016, dẫn đến một số ngân hàng không có đầy đủ dữ liệu Kết quả nghiên cứu đã thu thập được dữ liệu đầy đủ từ các ngân hàng này.
20 ngân hàng với thông tin đã đƣợc công bố trên website chính thức của từng ngân hàng và trên các sàn chứng khoán
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các chỉ tiêu tài chính trong Báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán qua các năm, cùng với đặc điểm của từng ngân hàng và thông tin doanh nghiệp từ Báo cáo thường niên Tất cả thông tin này được lấy từ website của 20 ngân hàng và các trang web Vietstock.vn, cafef.vn, hnx.vn, hsx.vn.
Kết quả thu thập dữ liệu: chọn mẫu 20 ngân hàng TMCP tại Việt Nam, giai đoạn 8 năm từ 2009 đến 2016, bài nghiên cứu có tổng cộng 160 quan sát
Nghiên cứu này tập trung vào ba loại hình đa dạng hóa: đa dạng hóa thu nhập (HHI), đa dạng hóa địa lý (HHI_Geo) và đa dạng hóa đầu tư (HHI_BL) Bài viết áp dụng mô hình và phương pháp tính toán từ các tác giả như Lecce (2013), D'Souza và Lai (2003), cùng với Nguyen Thi Canh và cộng sự (2015), để xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện dữ liệu thu thập Ngoài ra, nghiên cứu còn xem xét các yếu tố kiểm soát như quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQUITY), tỷ lệ nợ xấu (LOAN), và quy mô tiền gửi (DEPOSIT) Mô hình hồi quy được đề xuất nhằm kiểm định các giả thuyết H1, H3, H5 liên quan đến ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập, đầu tư và địa lý đến hiệu quả hoạt động.
Profit i,t = α 0 + α 1 HHI i,t + α 2 HHI_BL i,t + α 3 SOLUONG i,t + α 4 SIZE i,t + α 5 EQUITY i,t + α 6 LOAN i,t + α 7 DEPOSIT i,t + ε i,t (1)
Lợi nhuận được xem là biến phụ thuộc, phản ánh hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ số ROA và ROE Để kiểm tra các giả thuyết H2, H4, H6 liên quan đến tác động của đa dạng hóa thu nhập, đa dạng hóa đầu tư và đa dạng hóa địa lý đến rủi ro ngân hàng, tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy.
Z_score i,t = β 0 + β 1 HHI i,t + β 2 HHI_BL i,t + β 3 SOLUONG i,t + β 4 SIZE i,t + β 5 EQUITY i,t + β 6 LOAN i,t + β 7 DEPOSIT i,t + ε i,t (2)
3.4 Phương pháp đo lường các biến trong mô hình
Lợi nhuận là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, được đo bằng hai chỉ số chính là ROA và ROE ROA (tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản) phản ánh khả năng sinh lợi từ tài sản của ngân hàng, được tính bằng lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản Trong khi đó, ROE (tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) thể hiện hiệu quả đầu tư từ vốn chủ sở hữu, được tính bằng lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu.
Minh Kieu, 2011) Công thức cụ thể nhƣ sau:
Chỉ số Z_score là một công cụ quan trọng để đo lường rủi ro ngân hàng, đặc biệt là rủi ro phá sản Nghiên cứu trước đây thường dựa vào chỉ số này để đánh giá rủi ro ngân hàng (Stiroh và Rumble, 2005; Lecce, 2013) Phát triển từ công trình của E I Altman (1968), chỉ số Z_score được Hannan và Hanweck (1988) áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất tại Mỹ Chỉ số này không chỉ được dùng để đánh giá rủi ro phá sản trong lĩnh vực tài chính ngân hàng mà còn mở rộng ra các lĩnh vực khác Để tính toán chính xác chỉ số Z_score hàng năm trong mô hình hồi quy, nghiên cứu đã tham khảo các phương pháp của Marco và Fernandez (2008) cùng với Nguyen Ba Huong (2013).
Trong đó, ROAit là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản của ngân hàng i năm t;
E i (ROA it) là giá trị kỳ vọng của tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản của ngân hàng i, được xác định bằng giá trị trung bình của ROA ngân hàng i trong suốt giai đoạn mẫu Trong đó, E i đại diện cho vốn chủ sở hữu, A i là tổng tài sản của ngân hàng i tại năm t, và 𝜎𝑅𝑂𝐴 it là độ lệch chuẩn ROA của ngân hàng i trong suốt giai đoạn mẫu.