Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam khi các ngân hàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TIẾN CƯƠNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính
tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ trong luận văn này chưa từng công bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Tp Hồ Chí Minh, 2017
Nguyễn Tiến Cương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Hà, giảng viên hướng dẫn của tôi Sự nghiêm túc và tận tâm của thầy
đã giúp tôi có thể hoàn thành được nội dung luận văn theo đúng kế hoạch thực hiện
đã đề ra Với chuyên môn cao trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, thầy đã hướng dẫn tôi thực hiện công việc viết luận văn đảm bảo các yêu cầu đề ra, đạt được chất lượng tốt nhất trong khả năng của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các giảng viên trong chương trình giảng dạy thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng của Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức chuyên môn quý giá trong suốt quá trình học tập
Sau cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trang 4TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định tác động của các yếu tố nội tại và yếu tố ngành đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu này được thể hiện dựa trên mô hình hồi quy: biến tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) là biến phụ thuộc,các biến độc lập bao gồm: rủi ro tín dụng (CR), rủi ro thanh khoản (LR), quy mô ngân hàng (lnASSET), khả năng đảm bảo thanh toán (EQUITY), mức độ phi hiệu quả hoạt động (INOP), tình trạng niêm yết/ không niên yết của ngân hàng (LISTED), thị phần (MK), mức độ tập trung của ngành (HHI) Đồng thời các biến thể hiện hình thức sở hữu cũng được đưa vào mô hình để đánh giá tác động của nó đến NIM
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu tài chính của 26ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong vòng 8 năm từ năm 2008 đến 2015 Dữ liệu dạng bảng bao gồm 208 quan sát, đảm bảo tính đầy đủ và cân bằng cho tất cả các đối tượng quan sát
và thời gian quan sát Nghiên cứu sử dụng các phương pháp hồi quy thường được sử dụng cho dữ liệu bảng gồm FEM (Fixed Effect Method), REM (Random Effect Method) và GMM (Generalize Method of Moments)
Sau cùng, để đảm bảo một phương pháp hồi quy tốt nhất có thể, phương pháp GMM được áp dụng Kết quả cho thấy rủi ro tín dụng, khả năng thanh toán, mức độ phi hiệu quả hoạt động và tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu của cổ đông nhà nước có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần Trong khi thị phần có tác động ngược chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần Tác động của rủi ro thanh khoản, tình trạng niêm yết của ngân hàng, mức độ tập trung của ngành và tỷ lệ cổ phẩn thuộc sở hữu của cổ đông nước ngoài không có ý nghĩa thống kê
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Đặt vấn đề 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5
1.6 Phương pháp nghiên cứu 5
1.7 Dữ liệu nghiên cứu 5
1.8 Kết cấu đề tài nghiên cứu 6
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
2.1 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại 8
2.2 Lý thuyết về các yếu tố nội tại của ngân hàng tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần 10
2.2.1 Rủi ro tín dụng 10
2.2.2 Rủi ro thanh khoản 12
2.2.3 Quy mô ngân hàng và khả năng thanh toán 13
2.2.4 Mức phi hiệu quả hoạt động 15
2.2.5 Tình trạng niêm yết/không niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán của ngân hàng 16
2.3 Lý thuyết về các yếu tố ngành 17
2.3.1 Thị phần 18
Trang 62.3.2 Mức độ tập trung của ngành 19
2.4.Hình thức sở hữu 20
2.5 Các nghiên cứu trước 23
2.6 So sánh nghiên cứu này với nghiên cứu trước 27
2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất 28
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Quy trình nghiên cứu 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.3 Mô hình kinh tế lượng 31
3.4 Đo lường các biến trong mô hình 32
3.4.1 Đo lường biến phụ thuộc 32
3.4.2 Đo lường biến độc lập 33
3.5 Dữ liệu nghiên cứu 39
CHƯƠNG 4
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
4.1 Thống kê mô tả 42
4.2 Phân tích tương quan 45
4.3 Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy 49
4.4 Kết quả hồi quy với phương pháp GMM 54
4.5 Thảo luận kết quả 55
4.5.1 Tác động của rủi ro tín dụng đến NIM 56
4.5.2 Tác động của rủi rothanh khoản đến NIM 57
4.5.3 Tác động của khả năng thanh toán đến NIM 57
4.5.4 Tác động của mức độ phi hiệu quả hoạt động đến NIM 58
4.5.5 Tác động của tình trạng niêm yết đến NIM 59
4.5.6 Tác động của thị phần đến NIM 59
4.5.7 Tác động của mức độ tập trung ngành đến NIM 60
Trang 74.5.8 Tác động của hình thức sở hữu đến NIM 60
CHƯƠNG 5 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1 Kết luận 62
5.1.1 Các yếu tố thuộc về nội tại của các ngân hàng 62
5.1.2 Các yếu tố thuộc về ngành 63
5.1.3 Tính chất vốn chủ sở hữu 63
5.2 Kiến nghị 64
5.3 Các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 65
5.3.1 Các hạn chế 65
5.3.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo: 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 70
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do nghiên cứu
Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian đóng vai trò trong việc tạo ra và luân chuyển dòng vốn của nền kinh tế Trong đó, hoạt động kinh doanh chủ yếu và truyền thống của các ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay (hay còn gọi là hoạt động tín dụng) Rõ ràng, để có được hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt, các ngân hàng phải đảm bảo thu được lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn, hay tạo ra thu nhập lãi Nói cách khác, thu nhập lãi thu được từ hoạt động tín dụng phải vượt trội so với các chi phí lãi của hoạt động tín dụng
Đối với hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, trong giai đoạn
2008 đến 2014, sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng và một số yếu tố không thuận lợi của nền kinh tế ảnh hưởng đến ngành kinh doanh khiến cho thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng của một số ngân hàng không còn hiệu quả Từ đó, các ngân hàng không thu hồi được tiền lãi cho vay, vốn gốc cho vay ban đầu dẫn đến tình trạng khó khăn, phải chịu sự kiểm soát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước hoặc sáp nhập vào các ngân hàng khác
Bảng 1.1 Số lượng ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
Trang 9trung bình chiếm đến 92% tổng thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong đó, ngân hàng có tỉ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng thấp nhất là trên 56%, ngân hàng có tỉ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng cao nhất lên đến 99% tổng thu nhập
Bảng 1.2 Tỉ lệ các loại thu nhập trên tổng thu nhập của các ngân hàng thương
mại cổ phẩn tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2015
Nguồn: Tổng hợp báo cáo kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
Rõ ràng, thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng đóng vai trò chủ yếu trong việc tạo
ra hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.Từ chỉ tiêu thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng, chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net interest margins - NIM) được xây dựng để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của các ngân hàng Chỉ tiêu này được tính dựa trên chênh lệch giữa thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng và chi phí lãi cho hoạt động tín dụng Hơn nữa, do xuất phát từ hoạt động tín dụng nên các yếu tố nội tại của từng ngân hàng và đặc thù kinh doanh của ngành là cơ sở để tạo ra sự hiệu quả trong thu nhập lãi thuần của chính các ngân hàng đó Các yếu tố này sẽ làm tăng/giảm thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng cũng như làm tăng/giảm chi phí lãi cho hoạt động tín dụng Để duy trì và phát huy được lợi thế từ thu nhập lãi thuần này, các ngân hàng cần phải hiểu rõ các yếu tố tác động thu nhập lãi thuần từ hoạt động tín dụng Do đó, đề tài
nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là cần thiết
Chỉ tiêu Giá trị trung bình Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
Thu nhập lãi từ hoạt
Trang 101.2 Đặt vấn đề
Việc cạnh tranh nhau về khách hàng, lãi suất khiến cho nguồn thu từ tín dụng bị giảm sút hoặc tăng trưởng rất ít Thực trạng các ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) tại Việt Nam trong các năm vừa qua, thu nhập lãi thuần từ hoạt động tín dụng biến động khá nhiều
Bảng 1.3 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần từ hoạt động tín dụng của
một số ngân hàng trong năm 2014 và 2015
Ngân hàng
NIM
2014 (%)
NIM
2015 (%)
Biến động (%)
Trang 11Mặt khác, thu nhập lãi thuần xuất phát từ hoạt động tín dụng Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận từ lãi cho vay, hoạt động huy động vốn đòi hỏi phải chi trả chi phí lãi tiền gửi Do đó, các yếu tố thuộc về hoạt động tín dụng cần được quan tâm Trong đó, hai nhóm yếu tố cơ bản của hoạt động tín dụng liên quan trực tiếp đến cho vay và huy động vốn đó là các yếu tố nội tại tạo ra khả năng kinh doanh của mỗi ngân hàng và các yếu tố thể hiện đặc thù kinh doanh của ngành Mặc khác hình thức sở hữu vốn của mỗi ngân hàng cũng có thể tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của mỗi ngân hàng Đây cũng là những yếu tố quan trọng trong vấn đề nghiên cứu Đây là vấn đề nghiên cứu cần quan tâm
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Từ các vấn đề nghiên cứu đặt ra, các mục tiêu nghiên cứu của đề tài được đề ra như sau:
- Xác định tác động của các yếu tố nội tại và yếu tố ngành đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
- Xác định tác động của hình thức sở hữu đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
- Đưa ra một số kiến nghị để duy trì và ổn định tỷ lệ thu nhập lãi thuần cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Trang 121.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu nêu trên, đề tài trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây
- Các yếu tố nội tại có tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hay không?
- Các yếu tố ngành có tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam hay không?
- Hình thức sở hữu có tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam hay không?
1.5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam khi các ngân hàng thực hiện hoạt động tín dụng, bao gồm: yếu tố nội tại, yếu tố ngành và hình thức sở hữu
Nghiên cứu này chỉ kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trong phạm vi 26 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam có báo cáo tài chính được công bố trong giai
đoạn từ năm 2008 – 2015
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiến hành tổng kết các lý thuyết, các nghiên cứu trước liên quan đến vấn
đề nghiên cứu Từ đó đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu gồm các biến độc lập và biến phụ thuộc Đề tài sử dụng các phương pháp hồi quy dùng cho dữ liệu bảng như FEM (Fixed Effects Model), REM (Random Effects Model), sau đó tiến hành kiểm định sự phù hợp của các phương pháp này, nếu có khuyết tật xảy ra, phương phápGMM (Generalized Method of Moments) sẽ được áp dụng để kiểm định tác động giữa các yếu tố nội tại, yếu tố ngànhvà hình thức sở hữu đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Kết quả thực nghiệm của mô hình được sử dụng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu cũng như giải thích quan hệ giữa yếu tố nội tại và yếu tố ngành đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng
1.7 Dữ liệu nghiên cứu
Trang 13Mẫu nghiên cứu gồm 26 ngân hàng tại Việt Nam công bố báo cáo tài chính hàng năm 2008 đến năm 2015 Vì vậy có thể đánh giá mẫu đại diện tương đối đầy đủ cho môi trường ngành kinh doanh ngân hàng của Việt Nam Để đo lượng các chỉ số trong mô hình, số liệu từ báo cáo tài chính các ngân hàng nàysẽ được sử dụng Do đó,
dữ liệu bảng về các chỉ số tài chính qua các năm của các doanh nghiệp được thiết lập
Như vậy sẽ có 208 quan sát cho 26ngân hàng trong vòng 8 năm Dữ liệu này đảm bảo giá trị về mặt thống kê cho việc áp dụng mô hình hồi quy vào nghiên cứu
1.8 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được trình bày theo năm chương Các chương được bố cục như sau:
Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu Nội dung của chương nêu lên lý do cần phải nghiên cứu đề tài, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như mô tả dữ liệu, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương 2 là chương lý thuyết nền tảng để xây dựng nên mô hình nghiên cứu, chọn lọc các biến Các kết luận khoa học về các yếu tố nội tại, các yếu tố ngành và các hình thức sở hữu cùng với tác động của các yếu tố này đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng được phân tích kỹ lưỡng và cặn kẽ nhằm xác định các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất một mô hình nghiên cứu đúng đắn
Chương 3 thể hiện mô hình kinh tế lượng để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra Nội dung chương trình bày cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu Tiếp theo là trình bày cụ thể mô hình hồi quy, cách thức đo lường và lấy dữ liệu cho các biến trong mô hình cũng như cơ sở chọn lọc các biến này
Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và đưa ra các phân tích, nhận định dựa trên kết quả hồi quy Trước hết là các giá trị thống kê sẽ đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong mẫu nghiên cứu Tiếp đó, dựa vào các giá trị kiểm định, kết luận về các giả thuyết đặt ra trong Chương
2 sẽ được đưa ra
Chương 5 tóm tắt các kết quả nghiên cứu đạt được Trên cơ sở đó, đưa ra các khuyến nghị giúp nhà quản trị ngân hàng có những nhận định tốt hơn về tỷ lệ thu
Trang 14nhập lãi thuần thông qua các yếu tố thuộc về nội tại, yếu tố ngành và hình thức sở hữu Cuối cùng, nội dung chương trình bày các đóng góp của đề tài, chỉ ra hạn chế trong nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Rose (2010) khẳng định hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng trở nên
đa dạng Các ngân hàng đang thực hiện nhiều hơn các hoạt động kinh doanh phi truyền thống như cung cấp các dịch vụ ngân hàng để thu được lợi nhuận Tuy nhiên, hoạt động truyền thống: tín dụng – kinh doanh bằng cách huy động vốn và cho vay vẫn là hoạt động cơ bản và mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng Do đó, việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần từ hoạt động tín dụng rất được coi trọng
2.1 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại
Hầu hết các nghiên cứu về thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại đều xuất phát từ mô hình khung cơ bản của Ho & Saunders (1981) Ho&Saunders (1981) xem xét hoạt động kinh doanh thuần của ngân hàng là hoạt động nhận tiền gửi
và cho vay.Khi ngân hàng nhận tiền gửi, tức là huy động vốn, ngân hàng phải chi trả cho người gửi tiền một khoản tiền lãi với mức lãi suất rD (Deposit rate – Lãi suất tiền gửi) Khi ngân hàng cho vay, tức là thực hiện quyết định đầu tư, ngân hàng sẽ đòi hỏi những người vay tiền chi trả một khoản tiền lãi cho khoản nợ vay đó với mức lãi suất
là rL(Loans rate - Lãi suất cho vay) Trong mô hình cơ bản của Ho&Saunders, thu nhập lãi thuần của ngân hàng chính là sực khác biệt giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động: rL – rD
Khi rL lớn hơn rD, hoạt động tín dụng của ngân hàng là hiệu quả và mang lại thu nhập lãi thuần dương, và ngược lại nếu rD lớn hơn rL thì hoạt động tín dụng của ngân hàng lúc này không hiệu quả, thu nhập lãi thuần âm Vì mang tính chất cơ bản và lâu đời, mô hình của Ho & Saunders có một số khiếm khuyết được chỉ ra Thứ nhất là mô hình của Ho & Saunders chỉ quan tâm đến hoạt động cho vay và huy động vốn, tức là hoạt động kinh doanh truyền thống, trong khi xu hướng hiện đại, các ngân hàng đều
mở rộng sang các hoạt động kinh doanh phi truyền thống nên việc xác định thu nhập lãi thuần sẽ thay đổi; thứ hai là mô hình chỉ quan tâm đến sự sai khác về lãi suất, trong khi khối lượng giao dịch, giá trị tài sản để thực hiện các giao dịch cho vay và huy động vốn lại không được đề cập
Trang 16Do đó, các tác giả sau này đã tính đến giá trị của các tài sản để thực hiện hoạt động tín dụng và xây dựng khái niệm tỷ lệ thu nhập lãi thuần Angbazo (1997) định nghĩa tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net Interest Margins - NIM) là một số tương đối, được
đo lường bằng sự khác biệt giữa thu nhập lãi được tạo ra bởi hoạt động cho vay của các ngân hàng và số tiền lãi trả cho người gửi tiền vào ngân hàng trên tổng giá trị tài sản của ngân hàng đó NIM là một thước đo hiệu quả đầu tư để kiểm tra mức độ thành công của một quyết định đầu tư cho vay của một ngân hàngđể bù đắpcác khoản chi phí
do các khoản nợ phải trả do huy động vốn của các ngân hàng đó NIM thường được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm của công thức tổng giá trị tiền lãi kiếm được trừ đi tổng các chi phí trả lãi phát sinh trong một khoản thời gian, sau đó chia cho tổng giá trị tài sản của ngân hàng tại một thời điểm (tổng tài sản sinh lãi) Tỷ lệ thu nhập lãi thuần tương tự như chênh lệch lãi ròng (net interest spread) nhưng tỷ lệ thu nhập lãi thuần có quan tâm đến giá trị các tài sản tạo ra thu nhập lãi chứ không chỉ quan tâm tới sự khác biệt danh nghĩa giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động như chênh lệch lãi ròng
Tươnng tự, Brock & Suarez (2000), Addai & Latey (2016)cũng xác định tỷ lệ thu nhập lãi thuần là chênh lệch giữa thu nhập từ tiền lãi cho vay và chi phí lãi tiền gửi trên giá trị bình quân tổng tài sản của ngân hàng Các tác giả cũng nhận định rằng, trong khi mọi người đều thừa nhậnlãi ròng (chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn) là một thành phần quan trọng tạo ra lợi nhuận ngân hàng nhưng không phản ánh đầy đủ khối lượng và giá trị của các tài sản và khoản nợ phải trả của các ngân hàng Trong khi sự kết hợp của các tài sản và khoản nợ này tạo điều kiện để tạo
ra các giao dịch và khối lượng các giao dịch sẽ dẫn đến những khác biệt về mức thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Ngân hàng có một tỷ lệ thu nhập lãi thuần dươngcó nghĩa là chiến lược đầu tư của ngân hàng (tức hoạt động cho vay) mang lại lợi ích nhiều hơn so với chi phí lãi huy động vốn mà ngân hàng đó phải trả Điều này cũng có nghĩa là ngân hàng đang có được trạng thái lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động vốn Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập lãi thuần âm, có nghĩa là chi phí huy động vốn lớn hơn thu nhập từ hoạt động cho vay của ngân hàng Lúc đó các ngân hàng đang có những quyết định đầu tư hay cho vay không tối ưu, bởi vì chi phí lãi vaylà lớn hơn số tiền lợi nhuận được tạo ra bởi hoạt động đầu tư hoặc cho vay
Trang 17Vậy phương pháp được thừa nhận và sử dụng rộng rãi trong các lý thuyết và nghiên cứu trước để đo lường tỷ lệ thu nhập lãi thuần được sử dụng trong nghiên cứu này:
NIM = Thu nhập lãi − Chi phí lãi
Tổng tài sản
Brock &Suarez (2000), Aboagye& ctg (2008) cho rằng cách ước lượng này có những sai sót như bỏ qua các khoản phí hoa hồng, môi giới làm tăng chi phí của các khoản vay khi khách hàng vay tiền của ngân hàng cũng như làm giảmtiền lãi nhận được của những người gửi tiền cho ngân hàng Tuy nhiên, do sự dễ dàng thu thập dữ liệu từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối toán mà cách ước lượng này vẫn được thừa nhận và sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm về tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng
2.2 Lý thuyết về các yếu tố nội tại của ngân hàng tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Các yếu tố nội tại của mỗi ngân hàng như chi phí hoạt động (chi phí quản lý), quy mô ngân hàng,rủi ro tín dụngvà rủi ro thanh khoản là những yếu tố quan trọng quyết định tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Demirguc-Kunt & Huizinga, 1999).Saunders & Schumacher (2000) trong nghiên cứu về các ngân hàng tại sáu nước thuộc châu Âu và Hoa Kỳđãchỉ rasự đánh đổi giữa việc đảm bảo khả năng thanh toán (hay rủi ro phá sản) của một ngân hàng (tức tỉ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản cao) với một mức tỷ lệ thu nhập lãi thuần thấp Angbazo (1997) khi nghiên cứu về các ngân hàng Hoa Kỳ nhận thấy rằng tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại phản ánh cả phần lãi suất mặc định và phần bù rủi ro Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản làm tăng tỉ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại Carbo & Rodriguez (2007) cũng tìm thấy kết quả tương tự trong nghiên cứu của mình
2.2.1 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng (Credit risk) là một trong các yếu tố có tác động lớn nhất đến tỷ
lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng (Schweiger & Liebeg, 2009; Saad& Moussawi, 2010) Về cách đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng, Maudos &Guevara (2004), Kasman & ctg (2010) đều sử dụng thước đo kế toán để đo lường, cụ thể:
Trang 18El-Rủi ro tín dụng = Dư nợ cho vay
Tổng tiền gửi và nguồn vốn ngắn hạn
Quan hệ giữa rủi ro tín dụng và thu nhập lãi thuần của các ngân hàng có mối quan hệ cũng chiều vì ba lý do Thứ nhất là rủi ro tín dụng tăng vì dư nợ cho vay tăng Khi dư nợ cho vay tăng, tiền lãi từ hoạt động cho vay của các ngân hàng sẽ gia tăng kéo theo làm tăng chênh lệch dương giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, cuối cùng làm tăng tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Thứ hai là rủi ro tín dụng tăng do tổng tiền gửi và nguồn vốn ngắn hạn giảm Điều này làm giảm các chi phí lãi phải trả do việc huy động vốn, kéo theo làm tăng chênh lệch dương giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, và làm tăng tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Lý do thứ ba là khi rủi ro tín dụng tăng, tức là dư nợ cho vay lớn hơn tổng tiền gửi và nguồn vốn ngắn hạn Điều này khiến yêu cầu bù đắp rủi ro cho các khoản đầu tư cho vay tăng lên Do đó các ngân hàng trong tình huống này sẽ dự kiến áp dụng một mức lãi suất cho vay cao hơn
để bù đắp lại phần bù rủi ro tăng thêm này Một mức lãi suất cho vay cao hơn sẽ dẫn đến một mức thu nhập lãi cao hơn, và rõ ràng sẽ làm tăng tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ngân hàng
Saunders& Schumacher (2000) khẳng định các lý do tương tự khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại tại sáu nước châu Âu (Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Ý, Thụy Sĩ) và Hoa Kỳ Trong nghiên cứu, một trong những yếu tố quyết định chính của tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ngân hàng là rủi ro tín dụng Tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần là tác động cùng chiều Thể hiện qua mối quan hệ: rủi ro tín dụng càng cao thì chênh lệch dương giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động càng cao Maudos & Guevara (2004) khi nghiên cứu về các yếu tố giải thích biến động tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thuộc Liên minh Châu Âu kết luận rằng sự suy giảm của tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu một phần do mức rủi ro tín dụng được
hạ thấp Các ngân hàng tập trung chủ yếu vào các kênh đầu tư, cho vay an toàn, phần
bù rủi ro đòi hỏi không nhiều và tăng cường lượng vốn nắm giữ, do đó thu nhập lãi của các ngân hàng không cao dẫn đến giảm tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Tương tự, Schweiger & Liebeg (2009) khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng trung tâm và đông châu Âu khẳng định
Trang 19rủi ro tín dụng là yếu tố quan trọng nhất tác động đến sự thay đổi tỷ lệ thu nhập lãi thuần Tác động này là cùng chiều, thể hiện nguyên tắc tài chính rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng cao Saad & Moussawi (2010) khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến
tỷ lệ thu nhập lãi thuần tại các ngân hàng thương mại tại Lebanon cũng đưa ra các kết luận như trên
Vậy, căn cứ vào kết luận của các tác giả Saunders & Schumacher (2000), Maudos & Guevara (2004), Schweiger & Liebeg (2009) cũng như nguyên lý tài chính
cơ bản khi rủi ro tăng đòi hỏi phải có phần bù lợi nhuận (lãi suất) cao hơn nên có được
Giả thuyết H 1 : Rủi ro tín dụng có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
2.2.2 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk) là một chỉ số thể hiện khả năng đảm bảo khả năng thực hiện các nghĩa vụ chi trả bằng tiền trong ngắn hạn của các ngân hàng (Angbazo, 1997) Tác giả đo lường rủi ro thanh khoản theo công thức:
Rủi ro thanh khoản = Tài sản ngắn hạn
Nguồn vốn ngắn hạn
Trong nghiên cứu về tác động của rủi ro mặc định, rủi ro lãi suất và và các yếu
tố ngoài bảng cân đối kế toán đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại, Angbazo (1997) kết luận rằng rủi ro thanh khoản có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Các yếu tố thuộc về rủi ro thanh khoản phản ánh các dòng tiền vào và dòng tiền ra của ngân hàng trong ngắn hạn Yếu tố tài sản có tính thanh khoản cao sẽ chuyển đổi thành chi phí đưa vào hoạt động kinh doanh, nên thể hiện các dòng tiền ra trong ngắn hạn Yếu tố nguồn vốn ngắn hạn thể hiện các nguồn tài trợ mà ngân hàng nhận được, nên thể hiện các dòng tiền vào trong ngắn hạn
Khi rủi ro thanh khoản tăng, tức là các dòng tiền đi ra cho hoạt động đầu tư, cho vay tăng Điều này làm tăng thu nhập lãi của ngân hàng Hoặc là do dòng tiền vào giảm, tức huy động vốn giảm hoặc các nguồn tài trợ giảm sẽ giảm các chi phí trả lãi cho các nguồn tài trợ này Do đó cũng làm tăng chênh lệch dương giữa thu nhập lãi và chi phí lãi Hơn nữa, ở trường hợp tổng quát, nếu rủi ro thanh khoản tăng, tức là dòng tiền ra cho các hoạt động cho vay, đầu tư trong ngắn hạn lớn hơn so với dòng tiền vào
để đảm bảo cho các hoạt động này Khi đó, ngân hàng đòi hỏi một phần lãi suất cho
Trang 20vay tăng thêm để bù đắp rủi ro thanh khoản này Từ đó làm tăng chênh lệch dương giữa thu nhập lãi và chi phí lãi Cuối cùng là làm tăng tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Heider& Holthausen (2009), Gabrielli (2010) khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thuộc liên minh châu Âu trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế cho thấy rủi ro thanh khoản có tác động rõ rệt đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Trong giai đoạn khủng hoảng, thị trường ngân hàng dường như đóng băng, các khoản tiền gửi của khách hàng hầu như được tích trữ, trong khi dòng tiền ra để thực hiện các hoạt động cho vay, đầu tư rất thấp khiến cho rủi
ro thanh khoản giảm Tuy nhiên tác động ngày có thể khác biệt ở từng ngân hàng Những ngân hàng không hạ thấp lãi suất huy động vốn sẽ gánh chịu thiệt hại là tỷ lệ thu nhập lãi thuần bị giảm, do thu nhập lãi xuống thấp trong khi chi phí lãi vẫn giữ nguyên hoặc tăng cao Những ngân hàng còn lại sẽ thực hiện các biện pháp điều chỉnh
hạ thấp mức lãi suất huy động vốn Điều này khiến cho chi phí lãi giảm và ngân hàng vẫn giữ được mức tỷ lệ thu nhập lãi thuần yêu cầu
Brock & Suarez (2000) trong nghiên cứu về hành vi thay đổi biên độ lãi suất của các ngân hàng khu vực Mỹ - Latinh cho thấy sự chênh lệch giữa mức lãi suất lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn biến động cùng chiều với rủi ro thanh khoản Một mức dự trữ vốn theo yêu cầu gia tăng sẽ tăng nguồn tài trợ cho các hoạt động đầu
tư, cho vay Do đó làm giảm rủi ro thanh khoản kéo theo việc các ngân hàng sẽ giảm mức lãi suất cho vay vì không cần phần bù đắp rủi ro thanh khoản Ngược lại, khi mức
dự trữ bắt buộc giảm, dòng tiền ra của các ngân hàng trở nên lớn hơn trong khi nguồn tài trợ giảm khiến cho rủi ro thanh khoản gia tăng Lúc này, biên độ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn được nới rộng thêm để bù đắp rủi ro thanh khoản
Vậy căn cứ vào kết luận của Angbazo (1997) và Brock & Suarez (2000) cũng như nguyên tắc tài chính cơ bản khi rủi ro gia tăng đòi hỏi phần bù lợi nhuận (lãi suất)
phải gia tăng nên có đượcGiả thuyết H 2 : Rủi ro thanh khoản có tác động cùng chiều
đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
2.2.3 Quy mô ngân hàng và khả năng thanh toán
Trang 21Aboagye & ctg (2008) cho rằng một sự gia tăng quy mô ngân hàng có khả năng làm gia tăng tỷ lệ thu nhập lãi thuần rất lớn Tác giả lập luận khi một ngân hàng gia tăng quy mô, nguồn tài trợ cho các hoạt động đầu tư, cho vay sẽ tăng, chi phí hoạt động của ngân hàng cũng sẽ tăng theo Ngân hàng sẽ có xu hướng gia tăng mức thu nhập lãi để bù đắp lại các khoản chi phí và phần bù rủi ro này Do đó, kết luận tỷ lệ thu nhập lãi thuần là một hàm số của quy mô ngân hàng mang tính logic cao Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng giá trị logarit của tổng tài sản làm biến đo lường quy
mô ngân hàng
Tuy nhiên càng về sau, các tác giả khác càng cho thấy quy mô của ngân hàng
có tác động ngược chiều đến thu nhập lãi thuần của các ngân hàng đó Dietrich& Wanzenried (2011) quan sát các ngân hàng trong mẫu dưới dạng biến dummy khi chia
372 ngân hàng tại Thuỵ Điển ra thành ngân hàng có quy mô lớn (có tổng tài sản trên
512 triệu đô la), ngân hàng có quy mô trung bình (có tổng tài sản từ 212 triệu đô la đến
512 triệu đô la) và ngân hàng hàng nhỏ (dưới 212 triệu đô la) Các tác giả nhận thấy một quy mô ngân hàng lớn hơn sẽ dẫn đến một mức lợi nhuận thấp hơn (với mức ý nghĩa 10%) Các tác giả này cho rằng một ngân hàng lớn và đang ở giai đoạn trưởng thànhsẽ có lợi nhuận thấp Vì lúc này thị trường ngành và sự hiệu quả theo quy mô đã đạt đến ngưỡng bão hòa và bắt đầu suy giảm nên dẫn đến việc gia tăng các chi phí, kéo theo lợi nhuận sẽ suy giảm Kasman & Okan (2010)khi nghiên cứu về sự khác biệt thu nhập lãi thuần của các ngân hàng trước khủng hoảng kinh tế và trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế cũng cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa thu nhập lãi thuần và quy mô ngân hàng (đo lường bằng giá trị logarit tổng tài sản của mỗi ngân hàng) ở 2 giai đoạn Có vẻ như khi quy mô ngân hàng suy giảm, các biện pháp kéo giảm chi phí hoạt động được thực hiện triệt để sẽ làm gia tăng thu nhập lãi thuần đến từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Vậy căn cứ vào kết luận của Dietrich & Wanzenried (2011), Kasman & Okan
(2010) có được Giả thuyết H 3 : Quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều đến tỷ lệ
thu nhập lãi thuần
Một trong những khía cạnh quan trọng cũng thể hiện được quy mô của ngân hàng là vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, vốn chủ sở hữu của ngân hàng được quan tâm dưới khía cạnh đảm bảo khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ, tức
Trang 22thể hiện rủi ro phá sản của một ngân hàng Saunders &Schumacher (2000) khẳng định rằng có sự đánh đổi giữa việc đảm bảo khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ bằng vốn chủ sở hữu và thu nhập lãi thuần mong muốn Việc gia tăng vốn chủ sở hữu sẽ tăng khả năng thanh toán, nhưng các chi phí tài chính để tạo ra nguồn vốn chủ sở hữu sẽ gia tăng cũng như chi phí sử dụng (chi phí cơ hội) các nguồn vốn chủ sở hữu này cao hơn vốn vay Điều này làm giảm thu nhập lãi thuần của ngân hàng Mặt khác, khi sử dụng vốn chủ sở hữu làm nguồn tài trợ, áp lực chi trả lãi cho người gửi tiền sẽ giảm, chi phí cho việc quản lý, sử dụng nguồn tài trợ hiệu quả cũng sẽ giảm do không phải chịu rủi
ro lãi suất hay rủi ro thanh khoản Do đó, ngân hàng sẽ không có cơ sở để tăng lãi suất cho vay nhằm bù đắp các chi phí và rủi ro vừa nêu, dẫn đến kết quả sau cùng là tỷ lệ thu nhập lãi thuần sẽ giảm Công thức xác định khả năng thanh toán (hay rủi ro phá sản) dựa trên vốn chủ sở hữu được Saunders & Schumacher (2000) trình bày như sau:
Khả năng đảm bảo thanh toán = Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sảnTương tự, Brock & Suarez (2000) cũng dùng chỉ số trên để đo lường tác động của khả năng thanh toán đến biên độ lãi suất của các ngân hàng khu vực Mỹ - Latinh Kết quả cho thấy một tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao làm giảm khoảng chênh lệch biên độ lãi suất giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn Việc sử dụng nhiều hơn vốn chủ sở hữu đảm bảo năng lực hoạt động, phòng ngừa sự sụp đổ hoặc khủng hoảng cho các ngân hàng nhưng kéo theo việc sử dụng vốn chủ sở hữu không hiệu quả, các khoản chi phí tài chính cho việc sử dụng vốn chủ sở hữu là cao hơn so với vốn huy động từ người gửi tiền
Giả thuyết H 4 : Khả năng thanh toán có tác động ngược chiều đến tỷ lệ thu
nhập lãi thuần
2.2.4 Mức phi hiệu quả hoạt động
Carbo & Rodriguez (2007), Ahmet & Hakan (2010) khẳng định chi phí hoạt động (chi phí quản lý) có mối tương quan trực tiếp đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Hoạt động tín dụng của mỗi ngân hàng đòi hỏi phải có hệ thống cơ sở hạ tầng, đội ngũ nhân lực và các thiết bị chuyên ngành cũng như các chi phí phụ trợ khác
để thực hiện, quản lý các nghiệp vụ liên quan đến người gửi tiền, lãi suất huy động, dòng tiền, người vay tiền và lãi suất cho vay Do đó, để bù đắp các khoản chi phí hoạt
Trang 23động này, các ngân hàng sẽ biến thể chi phí hoạt động phản ánh vào trong biên độ lãi suất cho vay ở mức cao hơn so với mức lãi suất trung bình không tính đến chi phí hoạt động
Brock & Suarez (2000) cũng kết luận rằng chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn có tương quan tích cực với chi phí hoạt động của ngân hàng Nghĩa là khi chi phí hoạt động của ngân hàng gia tăng đòi hỏi ngân hàng phải bù đắp khoản chi phí này bằng cách gia tăng lãi suất cho vay hoặc giảm lãi suất huy động vốn, dẫn đến gia tăng chênh lệch giữa hai mức lãi suất Schweiger & Liebeg (2009) trong nghiên cứu của mình cho thấy chi phí hoạt động thấp đồng nghĩa với việc gia tăng hiệu quả quản lý dẫn đến kết quả là làm giảm tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ngân hàng Các tác giả trên đều sử dụng công thức đo lường độ lớn của chi phí hoạt động như sau:
Mức phi hiệu quả hoạt động = Chi phí hoạt động
Tổng tài sản
Do chi phí hoạt động cao hơn được xem là kém hiệu quả hơn và là giá trị nằm trên tử số nên tên biến trên là mức phi hiệu quả hoạt động sẽ phù hợp với cách hiểu chung về tỉ số này Trong một nghiên cứu mới, Addai & Latey (2016) cũng khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa chi phí hoạt động và tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng và tổ chức tài chính vi mô tại Ghana
Giả thuyết H 5 :Mức phi hiệu quả hoạt động có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu
& Levine (2009); Demirguc -Kunt (2011) Kết quả chỉ ra rằng các ngân hàng có niêm yết có mức độ rủi ro thấp hơn so với các ngân hàng không niêm yết với mức ý nghĩa
Trang 245% Với các ngân hàng niêm yết, mức độ minh bạch thông tin cao hơn cũng như hoạt động quản trị ngân hàng là tốt hơn, điều này dẫn đến lợi nhuận của các ngân hàng trong thời đoạn nghiên cứu gia tăng một cách tương đối ổn định so với các ngân hàng không niêm yết
Kết quả nghiên cứu trên đưa ra hàm ý rằng các ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán có biến động về lợi nhuận ít hơn so với so với các ngân hàng không niêm yết (vì rủi ro được đo lường qua biến động lợi nhuận, biến động lợi nhuận càng nhiều thì mức độ rủi ro càng gia tăng) Do đó, có thể xem xét tác động của tình trạng niêm yết đến thu nhập lãi thuần của các ngân hàng vì đây là thành phần chủ yếu tạo nên lợi nhuận của doanh nghiệp
Tại thị trường Việt Nam, hệ thống ngân hàng thương mại cũng gồm những ngân hàng đã niêm yết (NHTMCP Công thương Việt Nam – mã chứng khoán CTG, NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – mã chứng khoán BIDV, NHTMCP Quân đội – mã chứng khoán MBB ) cũng như các ngân hàng không niêm yết (NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, NHTMCP An Bình, NHTMCP Bưu điện Liên Việt ) Đây là cơ sở dữ liệu phù hợp để xây dựng dạng biến dummy phân loại các ngân hàng thành ngân hàng niêm yết (listed) và không niêm yết (unlisted) để đánh giá tác động đến thu nhập lãi thuần của các ngân hàng tại thị trường Việt Nam tương tự như nghiên cứu của Klomp & Haan (2015)
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của Klomp & Haan (2015) có thể thiết lập Giả thuyết H 6 : Tình trạng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán có tác động cùng chiều
đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
2.3 Lý thuyết về các yếu tố ngành
Tầm quan trọng của cấu trúc thị trường ngành và các quy định hoạt động kinh doanh của ngành được nhấn mạnh trong nhiều nghiên cứu gần đây Carbo & Rodríguez (2007) dựa trên khung lý thuyết của Ho & Saunders (1981) để phân tích tác động của sức mạnh thị trường đến tỉ lệ thu nhập lãi thuần tại bảy quốc gia thuộc liên minh châu Âu Tác giả phát hiện ra rằng mối quan hệ giữa tỷ lệ thu nhập lãi thuần và quyền lực thị trường khác nhau đáng kể giữa các quốc gia có mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng khác nhau, nhưng có một điểm chung là khi sức mạnh thị
Trang 25trường của các ngân hàng tăng lên khi hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trở nên
đa dạng và hướng vào các hoạt động phi truyền thống hơn là hoạt động tín dụng
Các quy định gia nhập thị trường, cấu trúc thị trường, tính minh bạch của thị trường, và chia sẻ thông tin khách hàng với nhau cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại (Demirguc-Kunt& Levine, 2011) Một thị trường ngành ngân hàng có nhiều phân khúc sẽ liên quan với sức mạnh thị trường cao, dẫn đến làm tăng
tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng (Saunders & Schumacher, 2000)
Thị phần của ngân hàng i = Tổng tài sản của ngân hàng i
Tổng tài sản của tất cả các ngân hàng trong ngànhCách đo lường trên tiếp tục được Claeys & Vander (2008) áp dụng trong nghiên cứu đánh giá tác động của các yếu tố đến thu nhập lãi thuần của các ngân hàng châu
Âu Trong nghiên cứu này, tác giả giải thích cụ thể hơn tác động của thị phần đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần Một mặt, các ngân hàng có thị phần thấp làm cho chi phí hoạt động (chi phí quản lý) của ngân hàng giảm (do ít khách hàng, ít người gửi tiền, giá trị dòng tiền không lớn) Vì vậy, ngân hàng không đòi hỏi phần lãi bù đắp cho các chi phí này, dẫn đến thu nhập lãi của các ngân hàng này thấp và có xu hướng giảm theo thời gian nếu không gia tăng thị phần Mặt khác, khi chi phí hoạt động thấp, các ngân hàng không có khả năng mở rộng thị phần (do không có nguồn lực để đầu tư vào các hoạt động chăm sóc khách hàng, mở rộng cơ sở hạ tầng công nghệ, quản lý thông tin, tạo dựng và quảng bá hình ảnh ) từ đó dẫn đến số lượng và khối lượng giao dịch tín dụng
Trang 26giảm và mất dần vào các đối thủ cạnh tranh trong ngành Từ đó làm suy giảm tỷ lệ thu nhập lãi thuần của chính các ngân hàng này
Đối với các ngân hàng có thị phần lớn hơn trong ngành, các chi phí hoạt động
để duy trì thị phần như cơ sở hạ tầng công nghệ, chi phí quản lý thông tin khách hàng, chi phí đào tạo nhân viên cũng phải gia tăng Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải tìm kiếm phần lợi nhuận từ lãi vay để bù đắp cho các chi phí này Hơn nữa, tận dụng
vị thế sức mạnh thị trường, các ngân hàng lớn có thể tạo ra sự thay đổi biên độ lãi suất nhỏ nhưng với lượng khách hàng nhiều và giá trị các giao dịch lớn có thể tạo ra mức thu nhập lãi thuần cao hơn rất nhiều so với các ngân hàng có thị phần nhỏ
Vậy, theo kết luận của Claeys & Vander (2008) có thể thiết lập Giả thuyết H 7 :
Thị phần của mỗi ngân hàng có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Chỉ số HHI (Herfindahl-Hirschman Index): chỉ số HHI được được tính toán
dựa trên tổng bình phương giá trị tài sản của các ngân hàng
Trang 27hàng…Chỉ số HHI có giá trị từ 0 đến 1 đại diện cho mức độ tập trung của ngành ngân hàng Chỉ số HHI dưới 0.01 được đánh giá là cạnh tranh gay gắt, từ 0.01 đến 0.1 được đánh giá là thị trường phi tập trung, từ 0.1 đến 0.18 được đánh giá là mức độ tập trung trung bình, từ 0.18 trở lên được xem là mức độ tập trung cao (Haaf, 2002)
Maudos & Guevara (2004) kết luận rằng mức độ tập trung của thị trường càng cao thì càng làm giảm tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Theo đó, do mức độ tập trung cao, sự cạnh tranh không còn gay gắt, các ngân hàng không phải tốn các chi phí hoạt động để duy trì cạnh tranh thị phần Do đó, phần lãi suất tăng thêm để bù đắp chi phí là không cần thiết và kéo theo suy giảm tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Mặt khác, đối với đề tài nghiên cứu này, trong các loại thu nhập của ngân hàng, chỉ có thu nhập lãi được quan tâm Vì vậy, chỉ số Lerner dùng đề đo lường mức độ tập trung của ngân hàng là không phù hợp vì giá trị P (doanh thu) trong công thức tính chỉ
số Lerner bao gồm tất cả các loại doanh thu (gồm thu nhập lãi và thu nhập phi truyền thống) Điều này khiến cho chỉ số Lerner sẽ không đồng nhất về ý nghĩa tính toán so với tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) Thay vào đó, chỉ số HHI – mức độ tập trung của thị trường sẽ được áp dụng do sự đồng nhất về phạm vi ý nghĩa tính toán so với NIM
Claeys & Vander (2008) cũng khẳng định mối quan hệ ngược chiều giữa mức
độ tập trung thị trường và tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Tác giả sử dụng chỉ số HHI để đo lường mức độ tập trung của các ngân hàng, và nhận thấy sự gia tăng chỉ số HHI sẽ làm giảm tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý là kết luận này chưa hẳn đúng với các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài Lý do là các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài thường hoạt động hiệu quả hơn hẳn các ngân hàng nội địa hoàn toàn và sự có mặt của các ngân hàng này trong thực tế làm gia tăng sự cạnh tranh trong ngành Do đó, sự giảm tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng là do chi phí hoạt động của họ không cao chứ không hẳn do tác động trực tiếp của mức độ tập trung thị trường
Giả thuyết H 8 : Mức độ tập trung thị trường có tác động ngược chiều đến tỷ lệ
thu nhập lãi thuần.
2.4.Hình thức sở hữu
Trang 28Schweiger & Liebeg (2009) cho rằng tính chất vốn chủ sở hữu tạo ra những khác biệt trong tỷ lệ thu nhập lãi thuần của mỗi ngân hàng Tính chất vốn chủ sở hữu thể hiện qua tỷ lệ phần trăm vốn do cổ đông lớn như nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ hoặc tỷ lệ phần trăm vốn do nhà nước nắm giữ để kiểm soát ngân hàng Tương tự, Dietrich & Wanzenried (2011) cũng quan tâm đến tính chất vốn chủ sở hữu để phân các ngân hàng trong nghiên cứu thành ngân hàng do nhà nước kiểm soát và ngân hàng
do nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát Các nghiên cứu này áp dụng mức tỉ lệ nắm giữcao hơn trong vốn chủ sở thuộc của nhà nước hay nhà đầu tư nước ngoài sẽ giúp người năm giữ nắm giữ có những tác động đáng kể vào hoạt động của ngân hàng
Dietrich & Wanzenried (2011) kết luận rằng các ngân hàng có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có mức tỷ lệ thu nhập lãi thuần cao hơn các ngân hàng thương mại nhà nước trong giai đoạn kinh tế suy thoái Nhưng sau khi trải qua giai đoạn suy thoái, kinh tế tăng trưởng trở lại thì các ngân hàng thương mại nhà nước lại
có sự vượt trội về tỷ lệ thu nhập lãi thuần hơn các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài Các ngân hàng thương mại nhà nước với lợi thế về thị phần nội địa và được đảm bảo bởi nhà nước nên trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng sẽ thu được lợi nhuận cao hơn so với các ngân hàng còn lại Nhưng trong giai đoạn suy thoái, các ngân hàng
có vốn đầu tư nước ngoài thường có lợi thế về năng lực quản lý rủi ro, thực hiện được các hoạt động đầu tư, cho vay sinh lời cao hơn và ít chịu ràng buộc nghiệp vụ chặt chẽ như các ngân hàng thương mại nhà nước, do đó sẽ có tỷ lệ thu nhập lãi thuần cao hơn Các kết luận này tương tự như của Schwaiger & Liebig (2009) về các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài Trong nghiên cứu, các tác giả khẳng định các ngân hàng có vốn của nhà đầu tư nước ngoài thì có ảnh hưởng rất tích cực đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần trong khi các ngân hàng thương mại do nhà nước làm chủ sở hữu thì không tạo
ra được sự khác biệt nào trong tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Đối với thị trường Việt Nam, hoạt động của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm
2010 Theo đó, các cổ đông được xem là cổ đông lớn khi nắm giữ từ 5% vốn cổ phần của ngân hàng trở lên Mặt khác, các ngân hàng đều hoạt động dưới hình thức công ty
cổ phần (trừ một số ngân hàng hoạt động dưới dạng công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu) nên một tỷ lệ vốn chủ sở hữu chắc chắn chi
Trang 29phối được mọi quyết định của ngân hàng phải đảm bảo từ 65% trở lên (Luật Doanh nghiệp năm 2014) Các cổ đông nước ngoài hoặc nhà nước có thể không nắm quyền biểu quyết tuyệt đối nhưng khi họ tham gia vào công tác quản trị ngân hàng, các chuyên môn và chuẩn mực mà họ áp dụng có thể tác động đáng kểđến phạm vi và các điều kiện hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và qua đó tạo ra
sự khác biệt trong tỷ lệ tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Giả thuyết H 9 :Tỷ lệ vốn cổ phần thuộc sở hữucủa cổ đông nước ngoài tác động
cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ngân hàng
Giả thuyết H 10 : Tỷ lệ vốn cổ phần thuộc sở hữu của nhà nước có tác động
ngược chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Trang 30và Hoa Kỳ
1988-1995 NIM
Rủi ro tín dụng, Rủi ro mặc định, Rủi ro phá sản, Giá trị giao dịch, Biên độ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn, Chi phí tài chính trung gian,
Một trong những yếu tố chính tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần rủi ro tín dụng Có sự đánh đổi giữa việc đảm bảo khả năng thanh toán (không xảy ra phá sản) với mức tỷ lệ thu nhập lãi thuần cao.Một mức rủi ro tín dụng cao sẽ dẫn đến yêu cầu tỷ lệ thu nhập lãi thuần cao
Mexico, Peru và Uruaguay
Đầu thập niên 1990
Chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động
Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, Chi phí hoạt động/tổng tài sản, Rủi
ro thanh khoản, Biến thời đoạn, Tỉ lệ lạm phát, GDP
Biên độ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn có tương quan dương với Chi phí hoạt động/tổng tài sản và Rủi ro thanh khoản
Trang 31Claeys & Vander
(2008): Các yếu tố tác
động đến tỷ lệ thu nhập
lãi thuần của các ngân
hàng thương mại thuộc
Trung và Đông Âu: So
sánh kết quả với các
ngân hàng Tây Âu
Các ngân hàng tại 36 quốc gia châu Âu, gồm các quốc gia Trung, Đông và Tây Âu
1994-2001 NIM
Mức độ tập trung thị trường, Lạm phát, Tăng trưởng kinh tế theo GDP thực, Chi phí hoạt động, Vốn/tổng tài sản, thị phần, dư nợ cho vay/tổng tài sản, Xếp loại ngân hàng
Các yếu tố quan trọng tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần là mức độ tập trung thị trường, chi phí hoạt động, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản Chi phí hoạt động càng giảm thì NIM càng giảm Các ngân hàng
có vốn đầu tư nước ngoài làm tăng cạnh tranh trong thị trường ngành và có NIM
ở mức cao
Maudos & Guevara
(2004): Các yếu tố giải
thích tỷ lệ thu nhập lãi
thuần tại các ngân hàng
thuộc liên minh châu Âu
EU – Đức, Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha
1993-2000 NIM
Chỉ số HHI, Chỉ số Lerner, Rủi ro tín dụng, Chi phí hoạt động, Chi phí trung gian tài chính, Chi phí cơ hội
do dự trữ thanh khoản, Biến động lãi suất thị trường
Thị phần và mức độ tập trung thị trường gia tăng làm suy giảm tỷ lệ thu nhập lãi thuần Chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng
có ảnh hưởng đồng biến đối với tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Tiền khủng hoảng:
1999-2006;
ROA, ROE, NIM
Vốn/tổng tài sản, Chi phí hoạt động, Mức tăng trưởng tiền gửi, Quy mô ngân hàng,
Lợi nhuận của ngân hàng chịu tác động của các yếu tố: chi phí hoạt động Các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài có lợi nhuận cao hơn trong giai đoạn khủng
Trang 32đoạn khủng hoảng:
Bằng chứng từ các ngân
hàng Thụy Sĩ
Sau khủng hoảng:
2007-2009
tuổi ngân hàng, Tính chất vốn chủ sở hữu, Thuế suất, Tăng trưởng kinh tế theo GDP, Chỉ
số HHI, Mức tăng trưởng dư nợ cho vay
hoảng Tuy nhiên, sau giai đoạn này, các ngân hàng thương mại nhà nước có lợi nhuận cao hơn
Saad & Moussawi
(2010): Các yêu tố tác
động đến tỷ lệ thu nhập
lãi thuần của các ngân
hàng thương mại tại
Lebanon
Các ngân hàng thương mại tại Lebanon
2000-2010 NIM
Cấu trúc thị trường, Rủi ro tín dụng, Chi phí hoạt động, Vốn/chủ
sở hữu, Chi phí cơ hội, Quy mô ngân hàng, Tăng trưởng kinh tế, Lạm phát
Các yếu tố quan trọng tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng là: rủi ro tín dụng, cấu trúc thị trường
Nguyễn Thanh Xuân
(2013): Các yếu tố ảnh
hưởng đến khả năng
sinh lợi của các ngân
hàng thương mại Việt
Nam
37 ngân hàng thương mại tại Việt Nam
2007 -2012 ROA,
ROE, NIM
Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, Tiền gửi/tổng tài sản, Dư nợ/tổng tài sản, Trích lập dự phòng/dư nợ cho vay, Quy mô, Chi phí hoạt động, Tăng trưởng kinh
Vốn chủ sở hữu là yếu tố quan trọng tác động cùng chiều đến NIM; Thành phần tài sản có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM)
Trang 332002-2008 Z – Score
Khả năng thanh khoản, Vốn đầu tư tư nhân, Quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tiền gửi
Có sự khác biệt về rủi ro giữa các ngân hàng niêm yết và không niêm yết trên thị trường Các ngân hàng niêm yết có mức độ rủi ro thấp hơn thể hiện qua biến động lợi nhuận ít cũng như các yếu tố tác động đến rủi ro được giữ ổn định
Trang 342.6 So sánh nghiên cứu này với nghiên cứu trước
Đối với các nghiên cứu nước ngoài, nghiên cứu này mang tính chất kế thừa và kiểm định lại các lý thuyết và kết quả thực nghiệm tại thị trường Việt Nam Do đó, điểm chung có thể thấy là nghiên cứu này sử dụng lại định nghĩa các biến và các cách thức đo lường biến đã được thực hiện trong các nghiên cứu trước Cụ thể đối với biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM), đối với biến độc lập là rủi ro tín dụng, rủi
ro thanh khoản, quy mô ngân hàng, khả năng thanh toán, mức độ phi hiệu quả hoạt động, thị phần, mức độ tập trung của ngành, tỉ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông nước ngoài, tỉ lệ sở hữu cổ phần của Nhà nước
Tuy nhiên điểm khác biệt có thể thấy rõ so với các nghiên cứu nước ngoài trước đây là các biến độc lập được tập hợp đầy đủ theo 2 thành phần tại thị trường Việt Nam: yếu tố nội tại, yếu tố ngành vào một mô hình Mô hình được đo lường, kiểm định dựa trên bộ dữ liệu tại thị trường Việt Nam trong một thời đoạn dài hơn (8 năm,
từ năm 2008 đến năm 2015) Mặt khác, dựa trên lập luận rằng tình trạng niêm yết/không niêm yết của ngân hàng có ảnh hưởng đến biến động lợi nhuận của ngân hàng nên trong nghiên cứu này đây là một biến mới được đề xuất vào mô hình Các nghiên trước, các tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp hồi quy OLS, FEM trên từng nhóm biến (hoặc yếu tố nội tại, hoặc yếu tố ngành, hoặc yếu tố vĩ mô) để xem xét tác động của từng nhóm biến Nghiên cứu này tập trung vào các phương pháp hồi quy FEM, REM và GMM để kiểm định cho một mô hình và tăng độ tin cậy cho các kiểm định đối với dữ liệu bảng
Đối với nghiên cứu trong nước, khác với Nguyễn Thanh Xuân (2013), đối với biến phụ thuộc, nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu NIM Đối với biến độc lập, nghiên cứu này thực hiện kiểm định vào hai nhóm yếu tố: nhóm yếu tố nội tại và yếu
tố ngành, trong khi Nguyễn Thanh Xuân (2013) tập trung vào các yếu tố nội tại Đối với các yếu tố nội tại, nghiên cứu này chỉ tập trung vào số ít các biến mà lý thuyết và các nghiên cứu trước cho thấy thật sự quan trọng, có tác động rõ rệt đến NIM cũng như phù hợp với việc thu thập dữ liệu được trình bày trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Mặt khác, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Xuân (2013) sử dụng phương pháp hồi quy OLS, FEM và GLS Trong khi nghiên cứu này
sử dụng các phương pháp hồi quy FEM, REM và GMM nên có thể dẫn đến những
Trang 35khác biệt trong kết quả kiểm định dựa trên bộ dữ liệu có thời gian dài hơn (từ năm
2008 đến năm 2015)
Tóm lại, điểm khác biệt của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đây là được thực hiện trên bộ dữ liệu tại thị trường Việt Nam và sử dụng phương pháp hồi quy GMM để đảm bảo độ tin cậy tốt hơn cho giá trị kiểm định của mô hình nghiên cứu
2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Xuất phát từ khung nghiên cứu cơ bản của Ho & Saunders (1981) về mô hình đơn thể hiện tác động của một số yếu tố nội tại đến thu nhập lãi của các ngân hàng thương mại, các nhà nghiên cứu sau này đã phát triển thêm các yếu tố khác và phương pháp hồi quy cho mô hình nghiên cứu để có được những kết quả đáng tin cậy Từ các nghiên cứu của Saunders & Schumacher (2000), Brock & Suarez (2000), Maudos & Guevara (2004), Claeys & Vander (2008), Saad & Moussawi (2010) và Dietrich & Wanzenried (2011), các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) của các ngân hàng thương mại có thể được chia làm ba nhóm: nhóm các yếu tố nội tại; nhóm các yếu tố ngành; nhóm các yếu tố vĩ mô
Căn cứ vào mức độ phù hợp với tình hình các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, khả năng thu thập dữ liệu tính toán một cách đáng tin cậy trên báo cáo tài chính cũng như lựa chọn những biến thực sự quan trọng tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần được kết luận ở các nghiên cứu trước và thể hiện được đặc trưng của các nhóm yếu tố, một mô hình nghiên cứu mới sẽ được đề xuất Mô hình của nghiên cứu này tập trung vào hai nhóm yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập đó là các yếu tố nội tại và các yếu tố ngành Đối với các yếu tố nội tại, dựa vào cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước, các yếu
tố thực sự quan trọng và có tác động rõ ràng đến NIM được đưa vào mô hình bao gồm: Rủi ro tín dụng; Rủi ro thanh khoản; Quy mô ngân hàng; Khả năng đảm bảo thanh toán; Mức độ phi hiệu quả hoạt động Đồng thời quan tâm đến xu hướng đánh giá hiệu quả kinh doanh giữa ngân hàng niêm yết và không niêm yết, yếu tố Tình trạng niêm yết/không niêm yết của ngân hàng được đưa vào mô hình như một yếu tố nội tại của chính ngân hàng để đánh giá tác động đến thu nhập lãi thuần (NIM)
Trang 36Đối với các yếu tố ngành, những yếu tố thực sự quan trọng và có tác động rõ ràng đến NIM được đưa vào mô hình gồm: Thị phần; Mức độ tập trung của ngành Các biến khác thể hiện được các khía cạnh liên quan rõ ràng đến NIM và mang tính giải thích thêm sẽ đóng vai trò là biến kiểm soát: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông nước ngoài; Tỷ lệ sở hữu cổ phần của Nhà nước
Dựa trên các luận điểm đã trình bày, mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Biến độc lập:
- Rủi ro tín dụng
- Rủi ro thanh khoản
- Quy mô ngân hàng
- Khả năng đảm bảo thanh toán
- Mức độ phi hiệu quả hoạt động
- Tình trạng niêm yết/không niêm
yết của ngân hàng
Trang 37CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng phương trình hồi quy dựa trên mô hình nghiên cứu đề xuất trong Chương 2 và sử dụng dữ liệu trích từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước
3.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được thực hiện như sau:
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Tổng quan cơ sở lý thuyết
Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu
Kết quả mô hình nghiên cứu Thống kê mô tả; Kiểm định mô hình; Thực hiện mô hình hồi quy được chọn; Phân tích kết quả hồi quy
Kết luận và kiến nghị Đưa ra đề xuất hướng nghiên cứu mới
Trang 383.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để kiểm định các giả thuyết vừa nêu Theo đó, mô hình hồi quy với biến tỷ lệ thu nhập lãi thuần là biến phụ thuộc, các biến rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, khả năng đảm bảo thanh toán, mức độ phi hiệu quả hoạt động,thị phần và mức độ tập trung ngành của hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam là các biến độc lập chính và các biến tăng trưởng kinh tế, lạm phát và tính chất vốn chủ sở hữu đóng vai trò là các biến kiểm soát được xây dựng Tiếp theo, dữ liệu bảng của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu được sử dụng kết hợp với các phương pháp hồi quy FEM (Fixed Effect Method), REM (Random Effect Method) Kiểm định VIF trước hết được sử dụng để xem xét hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình, có cần thiết phải loại các biến bị đa cộng tuyến hay không Tiếp theo kiểm định Hausman được thực hiện để xem xét phương pháp hồi quy FEM hay REM phù hợp hơn Kiểm định Pagan Lagrangian và kiểm định Wooldridge tiếp tục được sử dụng để xem xét FEM hay REM có tồn tại các khuyết tật không
Sau cùng, nếu tồn tại các khuyết tật, phương pháp GMM (Generalize Method of Moment) được sử dụng để tiến hành kiểm định mô hình và xác định các giá trị hồi quy Giá trị kiểm định Sargan được áp dụng để đánh giá độ tốt của GMM
3.3 Mô hình kinh tế lượng
Từ nghiên cứu cơ bản của Ho & Sauders (1981) về mô hình đơn thể hiện tác động của một số yếu tố nội tại đến thu nhập lãi của các ngân hàng thương mại, các nhà nghiên cứu sau này đã phát triển thêm các yếu tố khác vào mô hình nghiên cứu để kiểm định các biến tác động đến NIM Từ các nghiên cứu của Sauders & Schumacher (2000), Brock & Suarez (2000), Maudos & Guevara (2004), Claeys & Vander (2008), Saad & Moussawi (2010) và Dietrich & Wanzenried (2011), các yếu tố tác động đến
tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) của các ngân hàng thương mại có thể được chia làm ba nhóm: nhóm các yếu tố nội tại như rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng, rủi ro phá sản, chi phí hoạt động ; nhóm các yếu tố ngành như thị phần, mức độ độc quyền ; nhóm các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát Đồng thời nghiên cứu của Klomp & Haan (2015) cũng chỉ ra hướng quan tâm mới về tình trạng
Trang 39niêm yết/không niêm yết của ngân hàng có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng đó
Dựa trên các lý thuyết và các biến được xây dựng từ các nghiên cứu trước nêu trên cùng với mô hình nghiên cứu đề xuất được trình bày tại hình 2.1, mô hình kinh tế lượng để thực hiện kiểm định hồi quy được trình bày như sau:
NIMit = α i + β 1CRit + β 2LRit+β 3lnASSETit+ β 4EQUITYit + β 5INOPit
+β 6LISTEDit + β 7MKit+ β 8HHIt+ β 9FOREIGNit +β 10STATEit+ εit
Mô hìnhgiải quyết các câu hỏi nghiên cứu về tác động của các yếu tố nội tại và các yếu tố ngành đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam (đương nhiên là có sự giải thích thêm của các biến kiểm soát quan trọng)
Giải thích các biến trong mô hình như sau:
NIM: Net Interest Margins, Tỷ lệ thu nhập lãi thuần;
CR: Credit risk, Rủi ro tín dụng;
LR: Liquidity risk, Rủi ro thanh khoản;
lnASSET: Quy mô ngân hàng
EQUITY: Rủi ro phá sản hay Khả năng đảm bảo thanh toán;
INOP: Inefficient Operationing cost, mức độ phi hiệu quả hoạt động;
LISTED: Tình trạng niêm yết/không niêm yết của ngân hàng
MK: Market Share, thị phần;
HHI: HHI Index, Mức độ tập trung của ngành;
FOREIGN: Tỉ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông nước ngoài;
STATE: Tỉ lệ sở hữu cổ phần của nhà nước;
ε itlà sai số của mô hình;
3.4 Đo lường các biến trong mô hình
3.4.1 Đo lường biến phụ thuộc