1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose

75 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
Tác giả Trần Thị Phương Trang
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Minh Hà
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu (12)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (13)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (14)
    • 1.4 Đối tượng nghiên cứu (14)
    • 1.5 Phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.6 Dữ liệu và phương pháp nghiên c ứu (15)
    • 1.7 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài (16)
    • 1.8 Bố cục luận văn (16)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT (18)
    • 2.1 Một số khái niệm (18)
    • 2.2 Một số lý thuyết (24)
      • 2.2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (mô hình MM) (24)
      • 2.2.2 Lý thuyết về chí phí đại diện (25)
      • 2.2.3 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (26)
      • 2.2.4 Lý thuyết trật tự phân hạng (27)
    • 2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu (28)
    • 2.4 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất (32)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1 Quy trình nghiên cứu (36)
    • 3.2 Phương pháp và mô hình nghiên cứu (36)
      • 3.2.1 Phương pháp nghiên cứu (36)
      • 3.2.2 Mô hình nghiên cứu (37)
    • 3.3 Mẫu nghiên cứu (47)
      • 3.3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu (47)
      • 3.3.2 Lựa chọn mẫu (47)
  • CHƯƠNG 4. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (50)
    • 4.1 Thống kê mô tả các biến (50)
    • 4.2 Mô hình hồi quy thứ nhất (51)
      • 4.2.1 Ma trận hệ số tương quan (0)
      • 4.2.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập VIF (0)
      • 4.2.5 Kiểm định hiện tượng tự tương quan Wooldridge (55)
      • 4.2.6 Khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi mô hình REM (0)
      • 4.2.7 Thảo luận kết quả hồi quy (56)
    • 4.3 Mô hình hồi quy thứ hai (60)
      • 4.3.1 Kiểm định lựa chọn giữa các mô hình hồi quy (60)
      • 4.3.2 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình FEM (0)
      • 4.3.3 Kiểm tra hiện tượng tự tương quan bậc nhất bằng kiểm định (62)
      • 4.3.4 Khắc phục tự tương quan bậc nhất và phương sai sai số thay đổi trong mô hình thứ hai hồi quy theo FEM (62)
      • 4.3.5 Thảo luận kết quả mô hình thứ hai (63)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (71)
    • 5.1 Kết luận (71)
    • 5.2 Kiến nghị (72)
    • 5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu mới (72)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (74)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu

Né tránh thuế là việc hợp pháp sử dụng các quy định thuế để giảm số thuế phải nộp, thường thấy ở các doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa lợi nhuận bằng cách giảm thu nhập chịu thuế (Noor và cộng sự, 2010) Hành động này dẫn đến giảm thu nhập thuế của Chính phủ, nhưng thực chất, số thuế này chỉ bị tạm thời chiếm dụng bởi các doanh nghiệp.

Nhiều quan điểm cho rằng né tránh thuế là một hình thức chiếm dụng vốn, khiến doanh nghiệp có mức độ né tránh thuế cao ít cần nguồn tài trợ bên ngoài, từ đó giảm vay nợ và hệ số đòn bẩy Nợ là một đặc trưng của né tránh thuế, cho phép doanh nghiệp tiết kiệm thuế mà không cần vay mượn, giúp hạn chế sử dụng nợ vay và giảm chi phí sử dụng vốn trung bình Nếu né tránh thuế thay thế cho việc sử dụng nợ, nó sẽ tăng cường linh hoạt tài chính, giảm chi phí phá sản kỳ vọng, nâng cao chất lượng tín dụng và giảm rủi ro phá sản, qua đó làm giảm chi phí sử dụng nợ.

Né tránh thuế có thể gia tăng sự bất cân xứng thông tin trong doanh nghiệp, trong khi đó, tỷ lệ sở hữu của các tổ chức đầu tư tăng lên có thể làm giảm các vấn đề về đại diện giữa người quản lý và cổ đông (Chung và cộng sự).

Né tránh thuế, mặc dù được coi là một phương pháp hợp pháp giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí vay mượn, cũng có thể phản ánh ý muốn cá nhân của người quản lý, dẫn đến chi phí đại diện Việc tăng cường tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức có thể cải thiện chất lượng quản trị doanh nghiệp, từ đó hạn chế mối quan hệ giữa né tránh thuế và chi phí đại diện.

Tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến mối quan hệ giữa việc né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ.

Né tránh thuế giúp doanh nghiệp giảm chi phí nợ bằng cách tạm giữ nguồn vốn hợp pháp thay vì nộp cho Ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, điều này cũng liên quan đến chi phí đại diện, do cấu trúc tổ chức của các doanh nghiệp cổ phần thường tách bạch giữa người quản lý và chủ sở hữu, dẫn đến việc hành vi tránh thuế có thể phục vụ lợi ích riêng của người quản lý.

Nghiên cứu này nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa né tránh thuế, sở hữu tổ chức và chính sách nợ của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE tại Việt Nam Mặc dù chưa có nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này, nhưng bài viết sẽ cung cấp các kết quả thực nghiệm liên quan đến tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức đối với chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm khám phá tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức đối với chính sách nợ của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE tại Việt Nam, sử dụng dữ liệu từ giai đoạn 2008 đến 2016 Mục tiêu chính là phân tích ảnh hưởng của hai yếu tố này đến các khía cạnh quan trọng của chính sách nợ.

 Tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

 Tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp

 Đề xuất một số giải pháp giúp các doanh nghiệp tận dụng né tránh thuế và sở hữu tổ chức để tác động chính sách nợ doanh nghiệp.

Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tác động của việc né tránh thuế và sở hữu tổ chức đến chính sách nợ của doanh nghiệp Việt Nam Các khía cạnh phân tích bao gồm mối quan hệ giữa chiến lược né tránh thuế và quyết định vay nợ, cũng như ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đối với khả năng tài chính và rủi ro của doanh nghiệp.

 Né tránh thuế và sở hữu tổ chức tác động thế nào đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp?

 Né tránh thuế và sở hữu tổ chức tác động thế nào đến đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp?

Các doanh nghiệp có thể sử dụng các chiến lược né tránh thuế và sở hữu tổ chức để ảnh hưởng đến chính sách nợ, từ đó điều chỉnh chính sách nợ sao cho phù hợp với các mục tiêu đã đề ra.

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2008 – 2016, với mục tiêu đảm bảo tính đồng nhất, một số loại hình doanh nghiệp sẽ được loại trừ khỏi nghiên cứu.

Các doanh nghiệp tài chính đặc biệt như ngân hàng, công ty bảo hiểm và bất động sản sẽ được loại bỏ khỏi nghiên cứu để nâng cao tính đồng nhất của mẫu Điều này là cần thiết vì các doanh nghiệp này thường hoạt động với nguồn vốn huy động và tỷ lệ sử dụng nợ cao, dẫn đến hệ số đòn bẩy tài chính vượt trội so với các loại hình doanh nghiệp khác (Desai và Dharmapala, 2006).

Nghiên cứu về các công ty không công bố thông tin tài chính cho thấy hoạt động né tránh thuế thường kéo dài qua nhiều năm Việc thiếu dữ liệu trong nghiên cứu có thể dẫn đến đánh giá sai lệch về hành vi né tránh thuế, cũng như tác động của nó và sở hữu tổ chức đối với chính sách nợ của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có chi phí thuế thu nhập âm hoặc thua lỗ vào cuối năm tài chính sẽ được loại trừ, vì những doanh nghiệp này có thể chuyển lỗ thuế ngược trong vòng 3 năm hoặc chuyển lỗ thuế tới 15 năm sau Điều này có thể ảnh hưởng đến ước lượng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp (Manzon và Plesko, 2002).

Sau tất cả những trường hợp loại trừ trên, các doanh nghiệp còn lại sẽ là các doanh nghiệp được nghiên cứu chính thức.

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này phân tích tác động của hai yếu tố chính là né tránh thuế và sở hữu tổ chức đối với chính sách nợ của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE tại Việt Nam Để tăng độ tin cậy của mô hình, nghiên cứu cũng xem xét một số yếu tố phụ khác có ảnh hưởng đến chính sách nợ theo các nghiên cứu trước đó Dữ liệu được sử dụng là dữ liệu bảng trong giai đoạn 2008 – 2016, chỉ tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE, loại trừ các doanh nghiệp có tính chất tài chính đặc thù như ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty bất động sản, cùng với những công ty không công bố thông tin liên tục trong giai đoạn nghiên cứu hoặc có chi phí thuế thu nhập âm và thua lỗ vào cuối năm tài chính.

Dữ liệu và phương pháp nghiên c ứu

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong bài viết này là phương pháp nghiên cứu định lượng, với việc sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để kiểm định bốn giả thuyết đã được đề ra.

 Né tránh thuế có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ

 Sở hữu tổ chức có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ

 Né tránh thuế có mối quan hệ nghịch biến với hệ số đòn bẩy tài chính

Sở hữu tổ chức có mối quan hệ tích cực với hệ số đòn bẩy tài chính, cho thấy rằng sự gia tăng trong sở hữu tổ chức thường đi kèm với việc tăng cường sử dụng nợ Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính, nhằm phân tích ảnh hưởng của sở hữu tổ chức đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Trong giai đoạn 2008 – 2016, có 207 doanh nghiệp với 1,863 quan sát được công khai niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE Dữ liệu này được thu thập từ trang web Vietstock.vn.

Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài

Đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa về cả hai mặt: khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của việc né tránh thuế và sở hữu tổ chức đối với chính sách nợ của doanh nghiệp tại Việt Nam, một lĩnh vực còn chưa được khai thác nhiều.

Nghiên cứu này giúp các doanh nghiệp Việt Nam đánh giá tác động của hành vi né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chính sách nợ, từ đó cân bằng các yếu tố này để hoạch định chính sách nợ phù hợp Đồng thời, nghiên cứu cũng xem xét tác động của các yếu tố đặc trưng của doanh nghiệp đối với chính sách nợ, giúp doanh nghiệp cải thiện và phát huy các yếu tố này nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Bố cục luận văn

Luận văn gồm 5 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Mở đầu Chương này đặt vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và ứng dụng của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về khái niệm né tránh thuế, lợi ích và chi phí của hành vi né tránh thuế, thuế suất hiệu lực truyền thống, chênh lệch thuế, các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu như: lý thuyết dòng tiền tự do và quản lý dòng tiền, tổng quan tình hình nghiên cứu và tông quan về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ

Chương 3: Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, trình bày phương pháp nghiên cứu, cách thức lựa chọn mẫu và đo lường các biến

Chương 4: Trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm, qua đó chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết được xây dựng Đánh giá tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức và một số nhân tố phụ trợ khác đến chính sách nợ doanh nghiệp

Chương 5: Kết luận và kiến nghị giải pháp, chương này nêu ra một số hạn chế trong đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Một số khái niệm

a Khái niệm về né tránh thuế

Né tránh thuế là hành động giảm số thuế phải nộp trên mỗi đơn vị tiền tệ của lợi nhuận kế toán trước thuế, như đã được nghiên cứu bởi Hanlon và Heitzman (2009).

Sự khác biệt giữa thu nhập chịu thuế và thu nhập kế toán chịu ảnh hưởng từ hai hệ thống chính: tiêu chuẩn kế toán tài chính theo GAAP và quy định thuế mang tính chính trị Các tiêu chuẩn GAAP nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, trong khi quy định thuế có thể khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh tế Việc tính toán thu nhập chịu thuế là một quá trình phức tạp, kết hợp giữa kế toán dồn tích và kế toán dựa trên dòng tiền, không cho phép doanh nghiệp ước lượng chính xác chi phí tiền mặt Luật thuế tập trung vào thu nhập có thể đánh thuế, trong khi kế toán tài chính ghi nhận tất cả thu nhập và lỗ mà không phân biệt nguồn gốc Sự khác biệt giữa thu nhập kế toán và thu nhập chịu thuế cũng có thể xuất phát từ việc quản lý thu nhập, nơi mà các nhà quản lý có thể lựa chọn báo cáo thu nhập chịu thuế cao hơn hoặc thấp hơn để điều chỉnh nghĩa vụ thuế Điều này có thể dẫn đến việc ghi nhận chênh lệch thuế sổ sách, ảnh hưởng đến độ tin cậy của báo cáo tài chính.

Né tránh thuế là hành động chuyển giá trị từ chính phủ đến cổ đông, được định nghĩa là việc tận dụng hợp pháp các quy định thuế hiện hành để giảm số thuế phải nộp (Desai và Dharmapala, 2009) Các nhà cầm quyền thường gặp khó khăn trong việc xác định cơ sở tính thuế do phải đối mặt với chi phí khi thực hiện đánh thuế Họ thường chọn cách đơn giản hơn để tránh những quy định pháp luật phức tạp, dẫn đến việc không quan sát chính xác các hoạt động kinh tế Do đó, thuế thực chất được đánh dựa trên thông tin ghi chép trong báo cáo thuế, thay vì trên cơ sở hoạt động kinh tế thực tế.

Các thông tin trong báo cáo mà các nhà cầm quyền nhận được thường là không đầy đủ, mang tính chất quá khứ và không trực tiếp Thông thường, các nhà cầm quyền chỉ yêu cầu xem báo cáo thuế sau khi kết thúc một chu kỳ tính thuế (Pasternak và Rico, 2008).

Né tránh thuế thường được hiểu là chuyển nguồn tài chính từ chính phủ sang cổ đông, nhằm tăng giá trị sau thuế của công ty Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc né tránh thuế không chỉ không làm tăng giá trị công ty sau thuế mà còn có thể dẫn đến giảm giá trị do các chi phí liên quan đến việc lập kế hoạch thuế, như chi phí thích nghi và chi phí đại diện (Wang, 2010).

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự khác biệt trong việc tránh thuế giữa các doanh nghiệp, với các lý do được đưa ra dựa trên đặc điểm của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, quy mô và tuổi thọ Một số nghiên cứu khác, như của Graham và Tucker (2006) cùng với Desai và Dharmapala (2005, 2006, 2009), lại tập trung vào cấu trúc sở hữu và đặc điểm tổ chức để giải thích hành động này.

Nghiên cứu này sử dụng khác biệt giá trị sổ sách của thuế (BTD) để đo lường hành vi né tránh thuế Khác biệt này được định nghĩa là sự chênh lệch giữa thu nhập công bố trên thị trường vốn và thu nhập báo cáo với cơ quan thuế.

Gia tăng né tránh thuế dẫn đến hai quan điểm chính về hậu quả của hành động này Thứ nhất, né tránh thuế được xem như việc tận dụng các ưu đãi thuế, ví dụ như sử dụng nợ theo nghiên cứu của Graham và Tucker (2006), với mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ, đặc biệt khi tỷ lệ sở hữu tổ chức cao, như Lim (2011) đã chỉ ra Thứ hai, né tránh thuế liên quan đến chi phí đại diện, khi nó trở thành công cụ che đậy cho các hành động làm sai lệch lợi nhuận thực của các nhà quản lý.

Né tránh thuế là hành động hợp pháp mà doanh nghiệp sử dụng để giảm thiểu số thuế phải nộp, khác với trốn thuế, là việc cung cấp thông tin sai lệch nhằm hạn chế nghĩa vụ thuế với Chính phủ.

Sự khác nhau trong hành vi né tránh thuế và trốn thuế được Agnar Sandmo

Theo nghiên cứu năm 2004, có sự khác biệt rõ rệt giữa né tránh thuế và trốn thuế dựa trên tính hợp pháp của hành vi người đóng thuế Trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật, khi người đóng thuế không báo cáo thu nhập phải chịu thuế, dẫn đến các hoạt động phi pháp và sự quản lý của pháp luật Ngược lại, né tránh thuế là hoạt động hợp pháp, cho phép người đóng thuế tận dụng quy định của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế, chẳng hạn như chuyển đổi thu nhập lao động thành thu nhập vốn để chịu mức thuế thấp hơn mà không lo ngại về khả năng bị phát hiện.

Nếu né tránh thuế là hợp pháp, thì sự khác biệt giữa né tránh thuế và phản ứng ngược làm thuế tăng bởi hiệu ứng giá lên cung và cầu là gì? Ví dụ, khi thuế hàng không cao khiến hành khách chuyển sang du lịch bằng xe lửa, hoặc khi biên độ thuế thu nhập lao động tăng làm người lao động dành nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn Liệu đây có phải là hành vi né tránh thuế? Định nghĩa đơn giản về né tránh thuế là nhằm giảm thiểu số thuế phải trả theo ý đồ của nhà làm luật, do đó, hiệu ứng giá không được coi là né tránh thuế.

Né tránh thuế là hoạt động hợp pháp nhằm tối thiểu hóa thuế phải nộp bằng cách tận dụng các quy định pháp luật, khác với hành vi trốn thuế, vốn vi phạm pháp luật và chiếm đoạt ngân sách Nhà nước.

Chính sách tài trợ, hay còn gọi là quyết định về các hình thức tăng vốn, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Theo "Giáo trình tài chính doanh nghiệp căn bản" của Nguyễn Minh Kiều (2012), các nguồn vốn tài trợ cho doanh nghiệp được phân tích và trình bày chi tiết.

 Nguồn vốn cổ phần thường

 Nguồn vốn cổ phần ưu đãi

Đòn bẩy tài chính được định nghĩa là mức độ sử dụng chứng khoán có thu nhập cố định như nợ và cổ phiếu ưu đãi trong cơ cấu nguồn vốn của công ty Hệ số đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp thể hiện mức độ sử dụng nợ và vốn cổ phần để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, từ đó phản ánh chính sách tài trợ của doanh nghiệp, cho thấy doanh nghiệp đang thiên về việc sử dụng nợ hay vốn cổ phần.

Khi lựa chọn nguồn vốn tài trợ, cần cân nhắc kỹ lưỡng các thuận lợi và bất lợi của việc huy động nguồn vốn Tiếp theo, doanh nghiệp cần xem xét ngân lưu kỳ vọng để trang trải chi phí huy động vốn Cuối cùng, một yếu tố cực kỳ quan trọng là chi phí sử dụng nguồn vốn, đặc biệt là chi phí sử dụng nợ.

Một số lý thuyết

2.2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (mô hình MM)

Lý thuyết về cơ cấu vốn của công ty được MM đưa ra từ năm 1958 được tóm lược thành hai trường hợp không thuế và có thuế như sau:

Trong trường hợp không thuế

Trong điều kiện có thuế, giá trị của một công ty có vay nợ tương đương với giá trị của công ty không vay nợ Điều này có nghĩa là, khi không có thuế, giá trị của công ty có vay nợ và không vay nợ là giống nhau, cho thấy rằng cơ cấu nợ và vốn chủ sở hữu không ảnh hưởng đến giá trị của công ty.

Mệnh đề II về chi phí sử dụng vốn chỉ ra rằng lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần tỷ lệ thuận với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hoặc tỷ số nợ Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, trong điều kiện không có thuế, chi phí sử dụng vốn trung bình vẫn giữ nguyên bất kể sự thay đổi trong cơ cấu vốn.

𝑟 𝐸 : lợi nhuận yếu cầu hay lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần

𝑟 𝐷 : lãi suất vay hay chi phí sử dụng nợ

𝑟 𝑈 : chi phí sử dụng vốn nếu công ty sử dụng 100% vốn cổ phần

𝐷: giá trị nợ vay hay trái phiếu công ty phát hành

𝐸: giá trị vốn cổ phần của công ty

Chi phí sử dụng vốn trung bình rWACC được xác định bởi công thức:

Trong trường hợp có thuế

Mệnh đề I về giá trị công ty trong trường hợp có thuế cho thấy sự thay đổi giá trị công ty khi hệ số đòn bẩy thay đổi Cụ thể, khi có thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị công ty có vay nợ được xác định bằng tổng giá trị công ty không vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế.

Mệnh đề II – Chi phí sử dụng vốn trong trường hợp có thuế:

Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần tăng khi sử dụng đòn bẩy tài chính gia tăng Mặc dù lợi ích từ tấm chắn thuế giúp giảm chi phí sử dụng vốn trung bình (WACC), nhưng tỷ suất sinh lợi yêu cầu trên vốn cổ phần lại tăng do rủi ro vốn cổ phần gia tăng.

Lý thuyết này giải thích lý do tại sao doanh nghiệp không tối đa hóa nợ để tận dụng lợi ích từ tấm chắn thuế, vì việc sử dụng đòn bẩy tài chính quá cao làm tăng rủi ro vốn cổ phần và chi phí sử dụng vốn Do đó, các nhà quản trị công ty có thể xem xét các nguồn tài trợ khác ngoài nợ, và việc né tránh thuế có thể được coi là một trong những nguồn tài trợ cho công ty.

2.2.2 Lý thuyết về chí phí đại diện

Theo Jensen và Meckling, chi phí đại diện không chỉ bao gồm chi phí hợp đồng giữa người chủ và người đại diện mà còn phản ánh sự thiếu năng lực lãnh đạo của nhà quản lý Khi người chủ ủy quyền cho người đại diện thực hiện nhiệm vụ, họ phải chịu thêm chi phí quản lý giám sát để theo dõi hoạt động của đại diện Do đó, việc quản lý không hiệu quả có thể dẫn đến những chi phí không cần thiết cho tổ chức.

Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong các công ty dẫn đến việc chủ sở hữu thường thuê nhà quản lý chuyên nghiệp để điều hành hoạt động Điều này tạo ra tình trạng bất cân xứng thông tin, khi mà nhà quản lý nắm rõ giá trị thực của tài sản, tiềm năng và rủi ro của công ty hơn so với các cổ đông.

Việc phân quyền cho nhà quản lý trong doanh nghiệp có thể dẫn đến những tổn thất nghiêm trọng, khi họ có khả năng thực hiện hành vi nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân Hơn nữa, tình trạng thông tin bất cân xứng tạo điều kiện cho nhà quản lý đưa ra các quyết định có thể gây hại cho lợi ích của nhà đầu tư.

Né tránh thuế có thể tạo ra xung đột giữa người quản lý và chủ nợ do sự chênh lệch lợi nhuận thực, dẫn đến thông tin không đối xứng và rủi ro đạo đức Tuy nhiên, các nhà đầu tư tổ chức đóng vai trò quan trọng trong quản lý Do đó, khi tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức tăng lên, các hoạt động quản lý sẽ được kiểm tra chặt chẽ hơn, giúp giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích giữa người quản lý và chủ nợ.

Nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí đại diện do bất cân xứng thông tin có thể dẫn đến hành vi né tránh thuế của các nhà quản lý vì lợi ích cá nhân, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín doanh nghiệp và làm tăng chi phí nợ Đối với các doanh nghiệp có cổ đông tổ chức, sự kiểm soát mạnh mẽ từ các cổ đông này giúp giảm chi phí đại diện, đồng thời yêu cầu quản trị minh bạch hơn, từ đó hạn chế hành vi lạm dụng trong việc né tránh thuế.

2.2.3 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn

Lý thuyết tài chính doanh nghiệp giải thích rằng các doanh nghiệp thường sử dụng kết hợp giữa nợ vay và vốn cổ phần để tài trợ hoạt động của mình Một trong những lý do chính là mặc dù nợ vay mang lại lợi ích thuế, nhưng việc tài trợ hoàn toàn bằng nợ cũng gây ra nhiều chi phí, đặc biệt là chi phí kiệt quệ tài chính và các chi phí liên quan đến khả năng phá sản.

Khi tỷ lệ nợ tăng lên, lợi ích từ tấm chắn thuế cũng gia tăng, nhưng chi phí kiệt quệ tài chính sẽ tăng theo Đến một thời điểm nhất định, nếu lợi ích từ tấm chắn thuế không còn cao hơn chi phí kiệt quệ tài chính, việc vay nợ sẽ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Các công ty luôn nỗ lực tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp bằng cách áp dụng nguyên tắc cân bằng để quyết định tỷ lệ nợ và vốn cổ phần trong cấu trúc vốn Cấu trúc vốn tối ưu được xác định tại điểm mà giá trị hiện tại của tấm chắn thuế bằng với giá trị hiện tại của chi phí kiệt quệ tài chính khi nợ gia tăng.

Lý thuyết cấu trúc vốn chỉ ra rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ, như được nghiên cứu bởi Lim (2011) Khi doanh nghiệp đạt đến một mức độ tài trợ nợ nhất định, các nhà quản trị sẽ không tiếp tục gia tăng đòn bẩy tài chính để tận dụng lợi ích từ tấm chắn thuế, vì điều này có thể dẫn đến chi phí kiệt quệ tài chính Do đó, né tránh thuế nhằm giảm số tiền phải nộp cho Nhà nước cũng có thể được coi là một biện pháp để giảm thiểu lượng nợ vay mượn.

2.2.4 Lý thuyết trật tự phân hạng

Theo lý thuyết trật tự phân hạng của Myers (1984), doanh nghiệp ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ trước, chỉ khi lợi nhuận giữ lại đã được sử dụng hết, họ mới xem xét đến nguồn tài trợ bên ngoài Quá trình này bắt đầu với việc phát hành các chứng khoán nợ an toàn như nợ vay, tiếp theo là các chứng khoán lai tạp như trái phiếu có thể chuyển đổi, và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần.

Thứ tự ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ của doanh nghiệp theo thuyết trật tự phân hạng như sau:

 Nợ có thể chuyển đổi

 Cổ phần ưu đãi không chuyển đổi

 Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Desai và Dharmapala (2006) đã phát triển một mô hình lý thuyết về quyết định của nhà quản lý liên quan đến việc né tránh thuế Các nhà sở hữu tổ chức, nhờ vào vốn góp lớn của họ, thường có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn trong việc quản trị doanh nghiệp Điều này giúp giảm chi phí đại diện và hạn chế khả năng của người quản lý trong việc thực hiện các hành động né tránh thuế theo lợi ích cá nhân, từ đó làm giảm sự chênh lệch lợi nhuận thực.

Nghiên cứu của Desai và Dharmapala (2006) chỉ ra rằng sở hữu tổ chức có thể làm giảm hành vi né tránh thuế của doanh nghiệp Điều này xảy ra nhờ vào việc sở hữu tổ chức giúp hạn chế các vấn đề đại diện, từ đó tạo ra một cơ sở vững chắc cho giả thuyết về mối quan hệ nghịch biến giữa sở hữu tổ chức và hành vi né tránh thuế.

Nghiên cứu của Lim (2011) phân tích mối quan hệ giữa việc né tránh thế và chi phí sử dụng nợ, đồng thời xem xét ảnh hưởng của hành vi cổ đông tổ chức đối với mối quan hệ này Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước.

Tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ, đồng thời xem xét tác động của yếu tố đại diện thông qua sở hữu của cổ đông tổ chức lên mối quan hệ này.

Nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của các cổ đông có thể giảm chi phí sử dụng nợ, cho thấy rằng các công ty với chất lượng quản trị tốt có khả năng giảm thiểu chi phí vốn từ rủi ro quản lý.

DeAngelo và Masulis (1980) cho rằng doanh nghiệp chọn mức nợ có quan hệ nghịch biến với tấm chắn thuế từ khấu hao Nghiên cứu của Mackie-Mason (1990) chỉ ra rằng khấu hao và tín dụng thuế đầu tư có thể thay thế cho nợ Graham và Tucker (2006) cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy tấm chắn thuế có thể thay thế việc sử dụng nợ, dựa trên mẫu 44 doanh nghiệp né tránh thuế từ 1975 đến 2000 Họ phát hiện rằng các đặc tính doanh nghiệp như quy mô và khả năng sinh lời có mối tương quan dương với việc sử dụng tấm chắn thuế.

Trong nghiên cứu năm 2010, Lim đã chỉ ra rằng việc tham gia vào né tránh thuế có liên quan đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại Hàn Quốc Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tác động thay thế của né tránh thuế đối với việc sử dụng nợ ở hầu hết các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu.

Chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như rủi ro phá sản, chi phí đại diện và bất cân xứng thông tin (Bhojraj và Sengupta, 2003) Việc tích lũy tránh thuế thay cho việc sử dụng nợ có thể gia tăng thặng dư tài chính, giảm chi phí phá sản kỳ vọng, nâng cao chất lượng tín dụng và giảm rủi ro phá sản, từ đó làm giảm chi phí sử dụng nợ.

Desai và cộng sự (2007) đã phát triển một mô hình cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa việc né tránh thuế và hành vi làm lệch lợi nhuận của nhà quản lý Hai hành động này có thể bổ sung cho nhau, vì việc sử dụng các phương pháp phức tạp để che giấu thu nhập khỏi cơ quan thuế sẽ làm giảm khả năng quản lý của cổ đông.

Lý thuyết về người đại diện chỉ ra rằng, doanh nghiệp có hệ thống quản lý hiệu quả có thể giảm thiểu bất cân xứng thông tin và hành động gây chênh lệch lợi nhuận của người quản lý Nghiên cứu của Ashbbaugh-Skaifea và cộng sự (2006) cho thấy, trái chủ thường đối mặt với hai loại chi phí đại diện, làm tăng nguy cơ phá sản Đầu tiên, xung đột giữa người quản lý và chủ nợ xảy ra do hành vi cá nhân của người quản lý gây ra bất cân xứng thông tin và rủi ro đạo đức Thứ hai, cổ đông của doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy có khả năng quyết định chuyển tài sản từ chủ nợ về phía mình.

Nghiên cứu của Chung và cộng sự (2002) chỉ ra rằng, các nhà đầu tư tổ chức thường nắm giữ một tỷ lệ lớn cổ phần trong các doanh nghiệp, điều này giúp hạn chế việc thực hiện các phép toán dồn tích một cách tùy ý trong báo cáo tài chính và giảm thiểu vấn đề đại diện giữa người quản lý và cổ đông.

Nghiên cứu của Bhojraj và Sengupta (2003) chỉ ra rằng tỷ lệ sở hữu của các cổ đông tổ chức trong doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến khả năng giảm chi phí nợ vay Cụ thể, doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu cao từ các cổ đông tổ chức thường có khả năng hạ thấp lãi suất phải trả cho trái chủ.

Nghiên cứu thực nghiệm này dựa trên dữ liệu từ 5530 quan sát của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hàn Quốc trong giai đoạn 1994 – 2003 Tác giả sử dụng mô hình hồi quy để chứng minh mối quan hệ nghịch biến giữa chi phí sử dụng nợ và né tránh thuế, điều này củng cố lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Kết quả nghiên cứu trái ngược với những phát hiện của Utkir Kholbadalovn (2012) tại thị trường Malaysia.

Nghiên cứu của Lim (2011) chỉ ra rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa việc né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ, đặc biệt khi tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức gia tăng Cụ thể, khi sở hữu tổ chức cao, hành vi né tránh thuế gia tăng và chi phí sử dụng nợ giảm, điều này củng cố lập luận rằng sở hữu tổ chức có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ trong doanh nghiệp.

Utkir Kholbadalov (2012) đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường Malaysia nhằm khám phá mối quan hệ giữa né tránh thuế, chi phí sử dụng nợ và sở hữu tổ chức Nghiên cứu này tập trung vào việc trả lời hai câu hỏi chính liên quan đến các yếu tố này.

 Khi nào hoạt động né tránh thuế của doanh nghiệp có liên quan đến chi phí sử dụng nợ?

 Mức độ tác động của sở hữu tổ chức đến mối quan hệ của né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất

Nghiên cứu này nhằm phân tích ảnh hưởng của việc né tránh thuế và sở hữu tổ chức đến chính sách nợ của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE Dựa trên những kết quả từ các nghiên cứu trước, bài viết xây dựng và kiểm định các giả thuyết liên quan đến mối quan hệ này.

Sự tương quan giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ

Theo nghiên cứu của Bhojraj và Sengupta (2003), chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như rủi ro phá sản, chi phí đại diện và bất cân xứng thông tin Do đó, nhiều doanh nghiệp thường tìm cách né tránh thuế nhằm tăng cường thặng dư tài chính và cải thiện chất lượng tín dụng, từ đó giảm chi phí sử dụng nợ.

Nghiên cứu của Graham và Tucker (2006) cho thấy rằng hành vi né tránh thuế của 44 doanh nghiệp trong giai đoạn 1975 – 2000 có mối liên hệ chặt chẽ với các đặc tính của doanh nghiệp Qua phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, họ phát hiện rằng các doanh nghiệp này thường sử dụng né tránh thuế như một cách thay thế cho việc sử dụng nợ và tiết giảm chi phí liên quan đến nợ.

Từ các kết quả nghiên cứu trên, xây dựng giả thuyết thứ nhất:

H1: Né tránh thuế có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ

Sự tương quan giữa sở hữu tổ chức và chi phí sử dụng nợ

Desai và cộng sự (2007) đã phát triển một mô hình thể hiện mối liên hệ giữa hành vi né tránh thuế và hành vi làm lệch lợi nhuận của nhà quản lý Mục tiêu của việc này là che giấu hành vi né tránh thuế khỏi cơ quan thuế, trong khi nhà quản lý thực hiện các hành động nhằm hạn chế khả năng kiểm soát của cổ đông.

Theo Ashbbaugh-Skaifea và cộng sự (2006), chi phí sử dụng nợ liên quan đến lý thuyết chi phí đại diện, trong đó chủ nợ có thể gặp rủi ro từ bất cân xứng thông tin do hành vi của người quản lý hoặc cổ đông Desai và Dharmapala (2009) chỉ ra rằng sở hữu tổ chức có mối tương quan nghịch biến với việc né tránh thuế, khi các cổ đông tổ chức sử dụng quyền lực của mình để kiểm soát hành vi né tránh thuế của người quản lý và giảm thiểu bất cân xứng thông tin Nghiên cứu của Chung và cộng sự cũng khẳng định kết quả này.

Nghiên cứu năm 2002 chỉ ra rằng sở hữu tổ chức có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng nợ gián tiếp thông qua việc giảm chi phí đại diện Cụ thể, khi tỷ lệ sở hữu tổ chức của công ty cao, chi phí đại diện sẽ giảm, từ đó dẫn đến giảm chi phí sử dụng nợ.

Nghiên cứu của Bhojraj và Sengupta (2003) cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy sở hữu tổ chức ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sử dụng nợ của công ty Cụ thể, các công ty có tỷ lệ sở hữu tổ chức cao thường trải qua chi phí sử dụng nợ thấp hơn nhờ vào sự tín nhiệm cao hơn từ các nhà đầu tư.

Vì vậy, xây dựng giả thuyết thứ hai về mối tương quan giữa sở hữu tổ chức và chi phí sử dụng nợ như sau

H2: Sở hữu tổ chức có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ

Sự tương quan giữa né tránh thuế và hệ số đòn bẩy tài chính

Christine và Walter Smith (2008) đã nghiên cứu tác động của việc né tránh thuế đối với cấu trúc vốn doanh nghiệp, dựa trên lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Doanh nghiệp có thể tận dụng lợi ích từ tấm chắn thuế để giảm thiểu chi phí liên quan đến rủi ro kiệt quệ tài chính.

Nghiên cứu của Lim (2011) và Utkir Kholbadalov (2012) chỉ ra rằng, né tránh thuế ảnh hưởng tiêu cực đến hệ số đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Hành động né tránh thuế được coi là một phương thức tìm kiếm nguồn vốn cho doanh nghiệp, từ đó làm giảm sự phụ thuộc vào đòn bẩy tài chính.

Nghiên cứu trước đây đã đưa ra hai quan điểm trái ngược về mối quan hệ giữa né tránh thuế và đòn bẩy tài chính Tuy nhiên, hầu hết các kết quả cho thấy né tránh thuế có mối tương quan âm với đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp, từ đó xây dựng giả thuyết thứ ba.

H3: Né tránh thuế có mối quan hệ nghịch biến với hệ số đòn bẩy tài chính

Sự tương quan giữa sở hữu tổ chức và hệ số đòn bẩy tài chính

Nghiên cứu của Graham và Tucker (2006) chỉ ra rằng việc né tránh thuế mang lại cho doanh nghiệp khả năng linh hoạt tài chính cao hơn, giảm thiểu việc sử dụng nợ vay, cải thiện xếp hạng tín dụng, từ đó giúp giảm chi phí vay mượn.

Desai và Dharmapala (2006) đã phát triển một mô hình lý thuyết về quyết định của các nhà quản lý trong việc né tránh thuế Các nhà sở hữu tổ chức có ảnh hưởng lớn hơn trong quản trị doanh nghiệp nhờ vào vốn góp đáng kể, giúp giảm chi phí đại diện và hạn chế khả năng của người quản lý trong việc thực hiện hành vi né tránh thuế theo ý muốn cá nhân, từ đó làm giảm chênh lệch lợi nhuận thực tế Do đó, hành vi né tránh thuế bị kiểm soát bởi các cổ đông tổ chức.

Nghiên cứu cho thấy có mối tương quan giữa sở hữu tổ chức và việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Sở hữu tổ chức không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định sử dụng đòn bẩy mà còn gián tiếp thông qua việc tác động lên hành vi né tránh thuế Việc né tránh thuế được xem là một phương pháp giúp doanh nghiệp tăng cường tích lũy tài chính và giảm phụ thuộc vào nợ Do đó, sở hữu tổ chức cao có thể dẫn đến việc giảm né tránh thuế, từ đó làm gia tăng hệ số đòn bẩy tài chính Giả thuyết thứ tư được xây dựng để nghiên cứu mối quan hệ này.

H4: Sở hữu tổ chức có mối quan hệ đồng biến với hệ số đòn bẩy tài chính

Chương này tập trung vào việc xây dựng cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu về tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức đối với chính sách nợ của doanh nghiệp, dựa trên kết quả từ các nghiên cứu trước và thực tiễn tại Việt Nam Các chương tiếp theo sẽ phân tích vấn đề này thông qua hai mô hình nghiên cứu đã được phát triển.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu

Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Bước 2: Cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu, đưa ra giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Bước 3: Thu thập dữ liệu và xử lý số liệu

Bước 4: Phân tích dữ liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu.

Phương pháp và mô hình nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu áp dụng trong bài viết này là phương pháp định lượng, dựa trên dữ liệu thứ cấp từ Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên sàn HOSE Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu bảng nhằm kiểm định các giả thuyết đã được đề ra.

Quy trình phân tích dữ liệu

Dựa trên thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan, bài viết xem xét mối tương quan giữa các biến thông qua các thông số như tên biến, giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn và số quan sát Kết quả khảo sát cho thấy những cặp biến có hệ số tương quan cao, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa các biến trong nghiên cứu.

 Sử dụng kiểm định VIF (Variance Inflation Factor) để phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến

 Bằng kiểm định Hausman, có thể đưa ra quyết định lựa chọn giữa mô hình tác động có định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM)

 Cuối cùng, nghiên cứu tiến hành kiểm định các giả định hồi quy để đảm bảo sự phù hợp của mô hình:

- Kiểm định White: phát hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi và khắc phục (nếu có)

- Kiểm định Wooldridge: phát hiện tự tương quan giữa các phần dư

- Hồi quy FGLS để khắc phục phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan trong mô hình

Sau khi hoàn tất các bước kiểm định, nghiên cứu tiến hành phân tích và bình luận các kết quả thực nghiệm

3.2.2 Mô hình nghiên cứu Để kiểm định giả thuyết nghiên cứu H1và H2, ta dùng phương pháp hồi quy mô hình được đề xuất bởi Lim (2011) Qua phân tích đánh giá các tác động đến chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp, mô hình nghiên cứu như sau:

Mô hình thứ nhất: đánh giá tác động né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chi phí sử dụng nợ

 𝐶𝑂𝐷 𝑖,𝑡 : Chi phí sử dụng nợ/ lãi suất phải trả khi sử dụng nợ của doanh nghiệp

 𝐵𝑇𝐷 𝑖,𝑡 : Khác biệt thuế sổ sách

 𝑇𝐴 𝑖,𝑡 : Tổng tích lũy thu nhập

 𝐶𝐹𝑂 𝑖 ,𝑡 : Dòng tiền hoạt động chia tổng tài sản

 𝑢 𝑖 : Cố định tác động doanh nghiệp

 𝜇 𝑡 : Cố định tác động năm

Dùng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên

 Mô tả và giải thích các biến đối với mô hình thứ nhất

Chi phí sử dụng nợ (COD)

Chi phí sử dụng nợ là lãi suất doanh nghiệp phải trả cho các khoản nợ hiện tại, được tính bằng chi phí lãi suất trong năm chia cho tổng nợ ngắn hạn và dài hạn của năm đó (Pittman và Fortin, 2004) Công thức tính toán này giúp doanh nghiệp xác định mức chi phí tài chính liên quan đến việc vay mượn.

Né tránh thuế được hiểu là sự chuyển dịch giá trị từ chính phủ đến cổ đông, trong khi Hanlon và Heitzman (2009) định nghĩa nó là việc giảm chi phí thuế trên mỗi đơn vị lợi nhuận kế toán trước thuế Nghiên cứu này sử dụng biến đại diện cho né tránh thuế là BTD, dựa trên phương pháp tính của Desai và Dharmapala (2006).

Cấu trúc đo lường né tránh thuế có hai phần

Sự khác biệt trong giá trị sổ sách thuế (BTD) là chênh lệch giữa doanh thu ghi nhận trên báo cáo tài chính và doanh thu hàm ý tính từ số tiền thuế phải nộp cùng với thuế suất tương ứng.

Tổng tích lũy (TA) là một chỉ số quan trọng trong nghiên cứu của Desai và Dharmapala (2006) để đo lường việc né tránh thuế trên các khoản dồn tích Nghiên cứu này lập luận rằng việc tiết kiệm thuế có thể xuất phát từ cả hành vi quản lý thu nhập và hành vi né tránh thuế Do đó, việc đo lường thuế cần loại bỏ những tác động do hành vi quản lý thu nhập gây ra để có được kết quả chính xác hơn.

 BTD it : khác biệt giá trị sổ sách thuế

 FI it : doanh thu trên báo cáo tài chính

 TI it : doanh thu hàm ý

𝑡ℎ𝑢ế 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑡ℎ𝑢ế 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑛𝑔ℎ𝑖ệ𝑝 Phương trình đo lường tổng tích lũy:

 𝑇𝐴 𝑖𝑡 : tổng tích lũy của doanh nghiệp i trong năm t

 𝑂𝐼 𝑖𝑡 : thu nhập bình thường trước thuế và lãi vay

 𝐶𝐹𝑂 𝑖𝑡 : dòng tiền từ hoạt động

Mức độ sở hữu của các tổ chức tài chính được đo lường thông qua chất lượng quản trị công ty, như đã được nghiên cứu bởi Desai và Dharmapala (2009) Quyền sở hữu vốn góp trong doanh nghiệp được nắm giữ bởi các tổ chức này thường có ảnh hưởng lớn đến quản trị công ty, do họ thường xuyên giao dịch cổ phiếu với số lượng lớn.

Inst được xác định bằng phần trăm vốn cổ phần được nằm giữ bởi các tổ chức tài chính tại doanh nghiệp

Các biến độc lập khác ảnh hưởng đến giá khoản nợ bao gồm tuổi doanh nghiệp, đòn bẩy và quy mô Tuổi doanh nghiệp được sử dụng như một biến độc lập, với lãi suất cho vay có xu hướng giảm nếu doanh nghiệp có lịch sử tín dụng tốt (Lim, 2011) Biến này được đo lường bằng số năm từ khi doanh nghiệp thành lập đến hiện tại Đòn bẩy cũng có mối tương quan dương với lãi suất cho vay.

(Petersen và Rajan, 1994) Được đo lường bằng tỷ số tổng nợ ngắn hạn và dài hạn trên tổng tài sản

CFO: là dòng tiền từ hoạt động, là một biến thể hiện khả năng sinh lời

Doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ hiệu quả hơn khi có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh ổn định Chỉ số này được đánh giá thông qua tỷ lệ dòng tiền từ hoạt động so với tổng tài sản.

Quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc định giá khoản nợ, khi các nhà cung cấp tín dụng nhận thấy rằng các công ty lớn có ít rủi ro hơn và hưởng lợi từ quy mô kinh tế trong việc gánh chịu chi phí nợ Nghiên cứu của Carey và cộng sự (1993) chỉ ra rằng có mối tương quan âm giữa lãi suất cho vay và quy mô doanh nghiệp Để đo lường quy mô doanh nghiệp, người ta sử dụng Ln của tổng tài sản (Lim, 2011).

Hình 3.1: Sơ đồ mô hình nghiên cứu thứ nhất

Biến số Giải thích biến số

Kỳ vọng dấu với chi phí sử dụng nợ

𝐵𝑇𝐷 𝑖,𝑡 Khác biệt thuế sổ sách -

𝐿𝑒𝑣𝑒𝑟𝑎𝑔𝑒 𝑖 ,𝑡 Hệ số đòn bẩy +  (Petersen và Rajan, 1994)

𝐶𝐹𝑂 𝑖 ,𝑡 Dòng tiền hoạt động trên tổng tài sản +  Lim (2011)

Chi phí sử dụng nợ (COD)

Khác biệt thuế sổ sách (BTD) Tổng tích lũy thu nhập (TA) Tuổi doanh nghiệp (AGE)

Hệ số đòn bẩy (LEVERAGE) Dòng tiền hoạt động chia tổng tài sản (CFO)

Quy mô doanh nghiệp (SIZE)

Sở hữu tổ chức (INST)

𝑆𝑖𝑧𝑒 𝑖,𝑡 Quy mô doanh nghiệp -  (Carey và cộng sự, 1993)

 Ashbbaugh-Skaifea và cộng sự (2006)

Mô hình thứ hai tập trung vào việc đánh giá tác động của việc né tránh thuế và sở hữu tổ chức đối với hệ số đòn bẩy tài chính Để kiểm định giả thiết H3 và H4, chúng tôi áp dụng mô hình hồi quy được đề xuất bởi Christine và Walter Smith (2008), nhằm phân tích cấu trúc vốn của doanh nghiệp thông qua hệ số đòn bẩy tài chính.

 𝑜𝑝𝑒𝑟𝑎𝑡𝑖𝑛𝑔 𝑅𝑂𝐴 𝑖𝑡−1 : Tỷ suất sinh lợi từ hoạt động chia cho tổng tài sản

 ln (𝑎𝑠𝑠𝑒𝑡) 𝑖𝑡−1 : Quy mô doanh nghiệp

 𝑚𝑎𝑟𝑘𝑒𝑡 − 𝑡𝑜 − 𝑏𝑜𝑜𝑘 𝑖𝑡 −1 : Hệ số giá thị trường trên giá sổ sách của tài sản

 𝑅&𝐷 𝑖𝑡−1 : Chi phí nghiên cứu và phát triển

 𝑚𝑖𝑠𝑠𝑖𝑛𝑔 𝑅&𝐷 𝑖𝑡−1 : Chi phí nghiên cứu và phát triển không được báo cáo

 𝑃𝑃𝐸 𝑖𝑡−1 : Tài sản cố định hữu hình

 𝑍 − 𝑆𝑐𝑜𝑟𝑒 𝑖𝑡 −1 : Hệ số nguy cơ phá sản

 𝑦𝑖𝑒𝑙𝑑 𝑠𝑝𝑟𝑒𝑎𝑑 𝑡 : Chênh lệch suất sinh lợi trái phiếu

 𝑑𝑒𝑣𝑖𝑎𝑡𝑖𝑜𝑛 𝑓𝑟𝑜𝑚 𝑡𝑎𝑟𝑔𝑒𝑡 𝑖𝑡 −1 : Độ lệch khỏi mục tiêu

Để điều chỉnh mô hình hồi quy cho phù hợp với phạm vi nghiên cứu và nhu cầu của các doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam, cần thực hiện một số đề xuất chỉnh sửa cụ thể.

Thêm vào biến thể hiện sở hữu của cổ đông tổ chức (Inst) giúp phân tích tác động của sở hữu tổ chức đối với đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.

 𝑚𝑖𝑠𝑠𝑖𝑛𝑔 𝑅&𝐷 𝑖𝑡−1 : chi phí nghiên cứu và phát triển không được báo cáo

Chênh lệch suất sinh lợi trái phiếu (yield spread t) phản ánh sự khác biệt giữa các loại trái phiếu và được coi là một yếu tố quan trọng trong việc giải thích hệ số đòn bẩy tài chính Theo Frank và Goyal (2009), lạm phát kỳ vọng là một trong những biến ảnh hưởng đến chính sách nợ và đòn bẩy tài chính, vì nó báo hiệu các điều kiện vĩ mô Christine và Walter (2009) đã đo lường chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu Mỹ hạng BAA và AAA bằng cách sử dụng số liệu hằng ngày, sau đó tính trung bình để có dữ liệu tháng và năm.

 Vì hạn chế trong việc thu thập số liệu, không thể thu thập số liệu đo lường hai biến trên

 Mô hình hồi quy sau điều chỉnh:

 Giải thích và mô tả các biến đối với mô hình thứ hai

Leverage: hệ số đòn bẩy

Mẫu nghiên cứu

3.3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp được công khai niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE trong giai đoạn 2008 – 2016

Báo cáo tài chính của các công ty được thu thập từ vietstock.com, với chu kỳ nghiên cứu từ năm 2008 đến 2016 Để đảm bảo tính đồng nhất cho mẫu nghiên cứu, một số doanh nghiệp có đặc điểm tài chính khác biệt, như các công ty tài chính, bảo hiểm, ngân hàng và bất động sản, sẽ được loại bỏ khỏi mẫu (Desai và Dharmapala, 2006).

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiếp tục loại bỏ các công ty không công bố thông tin tài chính Đồng thời, những doanh nghiệp có chi phí thuế thu nhập âm hoặc thua lỗ vào cuối năm tài chính cũng sẽ bị loại trừ Nguyên nhân là do các công ty thua lỗ có thể dẫn đến khả năng chuyển lỗ thuế ngược trong 3 năm hoặc chuyển lỗ thuế tới 15 năm sau, điều này có thể ảnh hưởng đến ước lượng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp (Manzon và Plesko).

Sau tất cả những trường hợp loại trừ trên, các doanh nghiệp còn lại sẽ là mẫu nghiên cứu chính thức

Bảng tóm tắt lựa chọn mẫu

Số lượng các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE

Trừ: doanh nghiệp bảo hiểm và tài chính

Trừ: các doanh nghiệp không công bố số liệu

Trừ: các doanh nghiệp có chi phí thuế âm

Trừ: các doanh nghiệp thua lỗ khi kết thúc năm

Mẫu cuối cùng 207 doanh nghiệp

Trong giai đoạn nghiên cứu từ 2008 đến 2016, biểu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam đã trải qua nhiều biến động đáng kể, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc tính toán thu nhập tiềm ẩn (thu nhập chịu thuế) Thuế suất đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức thu nhập này.

Thời gian áp dụng Cách xác định Thuế suất Văn bản hướng dẫn

Tất cả các doanh nghiệp loại trừ các trường hợp quy định khác 25%

Thông tư 123/2012/TT- BTC ngày 27/07/2012

Các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí tại Việt Nam

Hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác các mỏ tài nguyên quý hiếm trừ dầu khí

Các mỏ tài nguyên quý hiếm có từ 70% diện tích được giao trở lên ở địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn

07/01/2013 đến khi có văn bản hướng dẫn mới

Doanh nghiệp tại Việt Nam, bao gồm cả hợp tác xã và đơn vị sự nghiệp, được thành lập theo quy định pháp luật và có tổng doanh thu hàng năm không vượt quá 20 tỷ đồng.

16/10/2013 Tổng doanh thu năm trên 20 tỷ đồng 25%

Doanh nghiệp mới thành lập kể từ ngày 01/07/2013 (trừ trường hợp thuộc diện được hưởng ưu đãi về thuế)

Doanh nghiệp được thành lập theo quy định pháp luật Việt Nam, bao gồm cả hợp tác xã và đơn vị sự nghiệp, có tổng doanh thu hàng năm không vượt quá 20 tỷ đồng.

Thông tư 78/2014/TT- BTC ngày 18/06/2014 và thông tư 96/2015/TT- BTC ngày 22/06/2015

Tổng doanh thu năm trên 20 tỷ đồng 22%

Tất cả doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế

Để đơn giản hóa quá trình tính toán, đề xuất áp dụng mức thuế chung nhất cho các doanh nghiệp trong từng giai đoạn.

Thời gian Đối tượng Thuế suất

2013 Doanh thu không quá 20 tỷ 20%

2014 – 2016 Doanh thu không quá 20 tỷ 20%

Trong chương này, chúng tôi đã xây dựng và chọn lọc phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và mẫu nghiên cứu để chuẩn bị cho nghiên cứu thực nghiệm Những nội dung này sẽ là nền tảng cho chương tiếp theo, nơi chúng tôi sẽ thực hiện và phân tích kết quả nghiên cứu nhằm kiểm định các giả thuyết đã đặt ra.

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  3.1: Sơ đồ mô hình  nghiên  cứu thứ nhất - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
nh 3.1: Sơ đồ mô hình nghiên cứu thứ nhất (Trang 40)
Hình  3.2: Sơ đồ mô hình  nghiên  cứu thứ hai - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
nh 3.2: Sơ đồ mô hình nghiên cứu thứ hai (Trang 45)
Bảng  tóm tắt lựa chọn mẫu - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
ng tóm tắt lựa chọn mẫu (Trang 47)
Bảng  4.1: Thống  kê mô tả các biến - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
ng 4.1: Thống kê mô tả các biến (Trang 50)
Bảng  4.2: Ma trận hệ số tương quan - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
ng 4.2: Ma trận hệ số tương quan (Trang 51)
Bảng  4.3: Kết quả  kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập VIF - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
ng 4.3: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập VIF (Trang 52)
Bảng  4.5: Kết quả  kiểm định Hausman  cho mô hình  thứ nhất - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
ng 4.5: Kết quả kiểm định Hausman cho mô hình thứ nhất (Trang 54)
Bảng  4.9: kết quả  kiểm định lựa chọn OLS và  REM của mô hình thứ hai - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
ng 4.9: kết quả kiểm định lựa chọn OLS và REM của mô hình thứ hai (Trang 60)
Bảng  4.11: Kiểm định phương  sai thay đổi mô hình thứ hai - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
ng 4.11: Kiểm định phương sai thay đổi mô hình thứ hai (Trang 62)
Bảng  4.14: Trích xuất  kết quả  hồi quy mô hình thứ hai theo sau khi khắc  phục bằng  phương  pháp  FGLS - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
ng 4.14: Trích xuất kết quả hồi quy mô hình thứ hai theo sau khi khắc phục bằng phương pháp FGLS (Trang 63)
Bảng 4.16: Tóm tắt kết quả hồi quy và kiểm định giả thuyết H 3,  H 4  theo mô  hình thứ hai - Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến đòn bẩy tài chính và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose
Bảng 4.16 Tóm tắt kết quả hồi quy và kiểm định giả thuyết H 3, H 4 theo mô hình thứ hai (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w