TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hiện đại hóa đất nước, dẫn đến nhu cầu xây dựng ngày càng tăng cao Theo Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng năm 2015, giá trị sản xuất ngành Xây dựng đạt 974,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% so với năm 2014 Nếu tính theo giá so sánh năm 2010, giá trị này khoảng 777,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm 2014 và 40,2% so với cuối năm 2010 Trung bình giai đoạn 2011-2015, ngành Xây dựng tăng trưởng khoảng 7% mỗi năm.
2015 đạt khoảng 172 nghìn tỷ đồng, tăng 10,82% so với năm 2014, chiếm tỷ trọng 5,9% GDP cả nước và là mức tăng cao nhất kể từ năm 2010
Trong lĩnh vực xây dựng, khảo sát địa chất (KSĐC) là công việc thiết yếu trong quá trình lập dự án, xin phép, thiết kế và hoàn công Kết quả của KSĐC cung cấp dữ liệu quan trọng cho kỹ sư trong việc thiết kế nền và móng công trình Theo Tiêu Chuẩn Quốc Gia TCVN 9363:2012, KSĐC bao gồm khoan khảo sát đất, thí nghiệm ngoài hiện trường và trong phòng để thu thập thông tin về đất nền Sản phẩm của KSĐC mang tính chất đặc thù, là dịch vụ kỹ thuật được kiểm định và đánh giá thông qua các thí nghiệm.
Theo Nghị định 46/2015/NĐ-CP, ký ngày 12 tháng 05 năm 2015, KSĐC là hồ sơ bắt buộc cho hầu hết các công trình xây dựng lớn nhỏ Sự gia tăng các sự cố công trình trên toàn quốc đã nâng cao nhận thức về vai trò của KSĐC đối với chủ đầu tư và đơn vị tư vấn thiết kế Vì vậy, nhu cầu về dịch vụ KSĐC đang gia tăng mạnh mẽ trong thời gian gần đây.
Trước đây, lĩnh vực KSĐC chủ yếu do các phòng thí nghiệm của Trường Đại học và Viện Nghiên cứu đảm nhận Tuy nhiên, với nhu cầu thị trường ngày càng tăng, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã tham gia vào lĩnh vực này Đến cuối năm 2015, trên toàn quốc có hơn 1400 phòng thí nghiệm được Bộ Xây dựng công nhận đủ năng lực, trong đó TP.HCM có hơn 150 phòng thí nghiệm đạt chứng nhận hợp chuẩn Ngoài ra, theo dữ liệu từ Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM, tính đến cuối năm 2015, có hơn 750 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực KSĐC.
Khách hàng của dịch vụ khảo sát địa chất chủ yếu là các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng, và họ có những tiêu chí riêng khi lựa chọn nhà thầu Do đó, các doanh nghiệp khảo sát địa chất cần phân tích và đánh giá các yếu tố này để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng kỹ thuật và dịch vụ Hơn nữa, nghiên cứu về sản phẩm dịch vụ này còn hạn chế cả trong và ngoài nước, vì vậy nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nhà thầu khảo sát địa chất của các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh” là cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu có các mục tiêu cơ bản sau:
- Thứ nhất xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nhà thầu KSĐC của các DN TV&TK XD tại TP.HCM
- Thứ hai, xác định mức độ quan trọng của từng yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn
Thứ ba, cần xác định sự khác biệt giữa các nhóm khách hàng trong việc đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của họ.
- Thứ tư, đề xuất hàm ý quản trị cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực KSĐC thỏa mãn các tiêu chí lựa chọn của khách hàng.
Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi cần phải giải đáp của đề tài:
1 Các yếu tố chính nào ảnh hưởng đến quyết định chọn nhà thầu về KSĐC của các DN TV&TK XD?
2 Mức độ quan trọng của các yếu tố trên như thế nào?
3 Có sự khác biệt trong việc đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn của các nhóm khách hàng như thế nào?
4 Các hàm ý quản trị nào cho doanh nghiệp KSĐC thỏa mãn các mong muốn của khách hàng, nhằm tăng sức cạnh tranh và gia tăng tỉ lệ trúng thầu?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà thầu khảo sát địa chất (KSĐC) cho các dự án xây dựng của các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng (TV&TK XD) Đối tượng khảo sát bao gồm các doanh nghiệp TV&TK XD đã từng thực hiện việc chọn nhà thầu KSĐC cho các dự án xây dựng của họ.
Phạm vi nghiên cứu: giới hạn nghiên cứu các DN TV&TK XD trong khu vực TP.HCM
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 05/2015 đến tháng 05/2016.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu
Thứ nhất, đóng góp nghiên cứu về quyết định chọn của khách hàng tổ chức trong lĩnh vực nhà thầu ngành xây dựng tại Việt Nam
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà thầu trong ngành dịch vụ khảo sát địa chất của các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng tại TP.HCM là rất quan trọng.
Nghiên cứu cung cấp cơ sở cho doanh nghiệp KSĐC xây dựng các chính sách hiệu quả, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong thị trường dịch vụ KSĐC tại TP.HCM.
Kết cấu nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, xác định mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận Trình bày các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước và sau cùng dựa ra được mô hình nghiên cứu đề xuất
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày về quy trình nghiên cứu, xây dựng thang đo và phương pháp thu thập dữ liệu liên quan đến đề tài
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày kết quả phân tích của mô hình nghiên cứu, xác định yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nhà thầu và thảo luận kết quả
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Kết luận các vấn đề đã nghiên cứu được, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị cho doanh nghiệp, trình bày những giá trị, những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu về quyết định lựa chọn của khách hàng đã được thực hiện rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, nhưng chưa có nghiên cứu nào tập trung vào sản phẩm dịch vụ của nhà thầu khảo sát địa chất Điều này tạo ra một khoảng trống trong nghiên cứu, dẫn đến việc đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nhà thầu khảo sát địa chất của các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng tại thành phố” trở nên cần thiết và quan trọng.
Hô Chí Minh” được thực hiện Ngoài ra, chương một còn trình bày về mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Các từ ngữ chuyên ngành
Chủ đầu tư xây dựng, bao gồm cơ quan, tổ chức và cá nhân, là những đơn vị sở hữu hoặc vay vốn để thực hiện các hoạt động đầu tư xây dựng, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Công trình xây dựng là sản phẩm hình thành từ sức lao động của con người, kết hợp với vật liệu xây dựng và thiết bị lắp đặt, được định vị với đất Nó bao gồm các phần dưới mặt đất, trên mặt đất, dưới mặt nước và trên mặt nước, được thực hiện theo thiết kế Các loại công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, nông nghiệp, phát triển nông thôn, hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất liên quan đến việc sử dụng vốn cho hoạt động xây dựng, bao gồm xây mới, sửa chữa và cải tạo công trình nhằm phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian và chi phí xác định Trong giai đoạn chuẩn bị, dự án được thể hiện qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Giấy phép xây dựng là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư, cho phép thực hiện các hoạt động như xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo hoặc di dời công trình, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Hoạt động đầu tư xây dựng bao gồm các hoạt động như xây dựng mới, sửa chữa và cải tạo công trình, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Hoạt động xây dựng bao gồm nhiều bước quan trọng như lập quy hoạch, dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao công trình, và bảo trì Tất cả những hoạt động này đều liên quan mật thiết đến quá trình xây dựng công trình theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014.
Hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm nhiều lĩnh vực quan trọng như lập quy hoạch, lập dự án đầu tư, khảo sát và thiết kế xây dựng Ngoài ra, còn có các công việc thẩm tra, kiểm định, thí nghiệm, quản lý dự án và giám sát thi công Tất cả những hoạt động này đều liên quan mật thiết đến quy định trong Luật Xây dựng năm 2014.
Nhà thầu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng là tổ chức hoặc cá nhân có đủ điều kiện và năng lực hoạt động xây dựng, đồng thời có khả năng hành nghề xây dựng khi tham gia vào các hợp đồng liên quan đến hoạt động này, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Nhà ở riêng lẻ là công trình xây dựng trên đất ở thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình hoặc cá nhân, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Sự cố công trình xây dựng xảy ra khi có hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép, dẫn đến nguy cơ sập đổ hoặc đã sập đổ một phần hoặc toàn bộ công trình trong quá trình thi công và khai thác sử dụng Điều này được quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Tổng thầu xây dựng là nhà thầu trực tiếp ký hợp đồng với chủ đầu tư để thực hiện một hoặc nhiều loại công việc, hoặc toàn bộ công việc của dự án đầu tư xây dựng, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Thiết kế sơ bộ là giai đoạn quan trọng trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, thể hiện các ý tưởng ban đầu về thiết kế công trình và lựa chọn công nghệ, thiết bị Đây là cơ sở để xác định chủ trương đầu tư xây dựng theo Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Thiết kế cơ sở là một phần quan trọng trong Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, được xây dựng dựa trên phương án thiết kế đã được lựa chọn Nó thể hiện các thông số kỹ thuật chính, tuân thủ các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, và là cơ sở để tiến hành các bước thiết kế tiếp theo, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014.
Thiết kế kỹ thuật là bước cụ thể hóa thiết kế cơ sở sau khi dự án xây dựng được phê duyệt, nhằm thể hiện đầy đủ các giải pháp, thông số kỹ thuật và vật liệu phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Đây là cơ sở quan trọng để triển khai thiết kế bản vẽ thi công, theo quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng.
Khảo sát xây dựng bao gồm nhiều loại hình như khảo sát địa hình, khảo sát địa chất công trình, khảo sát địa chất thủy văn, và khảo sát hiện trạng công trình Những hoạt động này được thực hiện nhằm phục vụ cho các quyết định đầu tư xây dựng của người quyết định đầu tư.
73 của Luật Xây dựng năm 2014)
Lý thuyết về hành vi mua của người tiêu dùng
2.2.1 Thị trường và mô hình hành vi của người tiêu dùng
Theo Kotler và Armstrong (2012), thị trường người tiêu dùng bao gồm tất cả cá nhân và hộ gia đình mua hàng hóa và dịch vụ nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Mô hình kích thích – phản ứng là hình thức đơn giản nhất của hành vi mua hàng, trong đó các yếu tố tiếp thị như sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị kết hợp với các yếu tố kinh tế, công nghệ, xã hội và văn hóa tác động vào quyết định của người tiêu dùng Những yếu tố này tạo ra những phản ứng từ phía người mua, bao gồm việc lựa chọn sản phẩm, thương hiệu, thời gian mua và khối lượng mua.
Hình 2.1: Mô hình hành vi của người mua
Môi trường Hộp đen của người mua
Phản ứng của người mua
Yếu tố marketing kích thích:
Các đặc điểm của người mua
Quy trình quyết định của người mua
Quan điểm và sở thích mua hàng
Hành vi mua hàng: mua gì, khi nào, ở đâu và bao nhiêu
Quan điểm về mối liên hệ giữa thương hiệu và công ty
Nguồn: Kotler và Armstrong, 2012, Nguyên lý tiếp thị, tr.164
Hộp đen của người tiêu dùng chuyển hóa các kích thích thành phản ứng thông qua hai yếu tố chính: các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm và quy trình quyết định mua hàng.
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua
Theo Kotler và Armstrong (2012), hành vi mua hàng của con người bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố đa dạng, từ các yếu tố văn hóa và xã hội rộng lớn đến những động lực, niềm vui và quan điểm sâu sắc bên trong mỗi cá nhân.
Hành vi mua của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi bốn yếu tố chính: văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý Trong đó, yếu tố văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành mong muốn và hành vi của người tiêu dùng Bên cạnh đó, yếu tố xã hội, bao gồm các nhóm tham khảo, gia đình, vai trò và vị thế, cũng có tác động lớn đến việc lựa chọn sản phẩm và thương hiệu.
Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua của người tiêu dùng
Vai trò và vị thế
Tuổi và giai đoạn trong vòng đời Nghề nghiệp Tình hình kinh tế Phong cách sống
Tính cách và nhận thức về bản thân
Tâm lý Động lực Nhận thức Học hỏi
Niềm tin và quan điểm
Nguồn: Kotler và Armstrong, 2012, Nguyên lý tiếp thị, tr.165
2.2.3 Quy trình ra quyết định của người mua
Theo Kotler và Armstrong (2012), quy trình ra quyết định của người mua bao gồm năm giai đoạn: nhận diện nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn, quyết định mua hàng và ứng xử sau khi mua Quyết định mua hàng cuối cùng là một phần quan trọng trong quy trình mua hàng, bắt đầu từ rất sớm trước khi hành vi mua diễn ra và tiếp tục kéo dài lâu sau đó.
Hình 2.3: Mô hình quy trình ra quyết định của người mua
Tìm kiếm thông tin Đánh giá các lựa chọn
Quyết định mua hàng Ứng xử sau khi mua hàng
Nguồn: Kotler và Armstrong, 2012, Nguyên lý tiếp thị, tr.186
Khi mua sắm, người tiêu dùng thường trải qua năm giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, đối với các mặt hàng thông thường, họ thường bỏ qua hoặc thay đổi thứ tự của một số giai đoạn này.
Lý thuyết về hành vi mua của tổ chức
2.3.1 Thị trường và mô hình hành vi mua của tổ chức
Theo Kotler và Armstrong (2012), thị trường tổ chức bao gồm các tổ chức mua hàng hóa và dịch vụ nhằm sản xuất sản phẩm và dịch vụ khác hoặc để bán lại và cho thuê với mục đích kiếm lời.
Theo Kotler và Armstrong (2012), thị trường tổ chức hoạt động âm thầm, ảnh hưởng đến hầu hết các quyết định mua sắm của người tiêu dùng Hầu hết những sản phẩm bạn mua đều trải qua nhiều tổ chức mua hàng trước khi đến tay bạn.
So với thị trường người tiêu dùng, thị trường tổ chức có số lượng người mua ít hơn nhưng lại có quy mô và số lượng hàng hóa mua lớn hơn Nhu cầu của người mua tổ chức thường phát sinh từ nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng và thường biến động mạnh mẽ và nhanh chóng.
Trong quá trình ra quyết định mua sắm của tổ chức, số lượng người tham gia thường lớn hơn so với quyết định mua của người tiêu dùng Hơn nữa, quy trình mua sắm của các tổ chức thường mang tính chuyên nghiệp hơn so với thị trường tiêu dùng.
Người mua tổ chức thường đối mặt với những quyết định mua phức tạp hơn so với người mua cá nhân, với quy trình mua hàng mang tính chính thức hơn Trong thị trường tổ chức, mối quan hệ giữa người bán và người mua trở nên chặt chẽ, tạo điều kiện cho việc xây dựng các mối quan hệ lâu dài.
Theo Kotler và Armstrong (2012), quyết định mua sắm của tổ chức có thể đơn giản hoặc phức tạp, liên quan đến nhiều người ra quyết định và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình mua hàng.
Hình 2.4: Mô hình hành vi mua của tổ chức
Môi trường Khách hàng tổ chức Các phản ứng của người mua
Kinh tế Công nghệ Chính trị Văn hóa
Cạnh tranh (Những ảnh hưởng qua lại giữa các cá nhân)
Chọn sản phẩm, dịch vụ Chọn nhà cung cấp Khối lượng hàng mua Điều kiện và thời gian giao hàng Điều kiện dịch vụ Điều kiện thanh toán
Nguồn: Kotler và Armstrong, 2012, Nguyên lý tiếp thị, tr210
Trong tổ chức, hoạt động mua sắm gồm hai phần chính: Trung tâm mua, bao gồm tất cả những người tham gia vào quyết định mua, và Quá trình quyết định mua Mô hình này cho thấy rằng cả Trung tâm mua và Quá trình quyết định mua đều bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nội bộ của tổ chức, mối quan hệ giữa các cá nhân, cũng như các yếu tố môi trường bên ngoài.
2.3.1.1 Những tình huống mua hàng chủ yếu:
Theo Kotler và Armstrong (2012) có ba dạng tình huống mua chủ yếu: mua lại không có thay đổi, mua lại có thay đổi và mua mới
Mua lại không có thay đổi là tình huống trong đó các tổ chức thực hiện việc đặt hàng lại những sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ đã từng mua trước đó, mà không có bất kỳ điều chỉnh nào về thông số hay điều kiện.
Mua lại là tình huống mua hàng mà các tổ chức tìm cách thay đổi các chi tiết kỹ thuật của sản phẩm, điều chỉnh giá cả, thay đổi các điều khoản, hoặc thay thế nhà cung cấp.
Mua mới là tình huống mua hàng, trong đó các tổ chức lần đầu tiên mua sản phẩm, dịch vụ
(Những ảnh hưởng về mặt tổ chức)
Quá trình quyết định mua
Theo Webster và Wind (1972), hành vi mua của tổ chức bao gồm tất cả các hành động của các thành viên trong tổ chức Trung tâm mua sắm là nhóm người trong tổ chức đảm nhận ít nhất một trong năm nhiệm vụ quan trọng liên quan đến quá trình mua hàng.
Nguồn: Webster và Wind, 1972, Organizational Buying Behavior, tr 89
Người mua là người trực tiếp thực hiện mua, chính thức lựa chọn nhà cung cấp, liên hệ, thương lượng và giao dịch
Người sử dụng là người trực tiếp sử dụng sản phẩm dịch vụ, đây là người đề xuất quy cách sản phẩm dịch vụ
Người ảnh hưởng là những cá nhân có khả năng tác động mạnh mẽ đến quan điểm và quyết định của cộng đồng, thường đóng vai trò quan trọng trong việc định hình xu hướng kỹ thuật và cung cấp thông tin cần thiết để đánh giá và lựa chọn.
Người gác cổng là người ngăn chặn sự tiếp cận đến các thành viên khác trong mô hình Trung tâm mua
Người quyết định là người sau cùng có quyết định mua hay không mua, mua thế nào và ở đâu
Trong doanh nghiệp lớn, Trung tâm mua sắm thường bao gồm nhiều cá nhân và tổ chức tham gia vào quá trình ra quyết định mua hàng, với mỗi người có thể đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Ngược lại, trong doanh nghiệp nhỏ, vai trò của từng cá nhân trong Trung tâm mua sắm thường không rõ ràng, và một người có thể đảm nhiệm nhiều vai trò cùng lúc.
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng hành vi mua của tổ chức
Theo Kotler và Armstrong (2012) có 04 nhóm yếu tố ảnh đến quyết định mua, đó là các yếu tố môi trường, tổ chức, quan hệ và yếu tố cá nhân
Yếu tố môi trường bao gồm các yếu tố chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa và các yếu tố bên ngoài tổ chức Những yếu tố này thể hiện sự ảnh hưởng của chính phủ, các tổ chức chính phủ và xã hội, nhà cung cấp, khách hàng, cũng như các đối thủ cạnh tranh Các yếu tố môi trường cung cấp thông tin quan trọng, xác định giá trị, quy định và các điều kiện chung cho hoạt động kinh doanh.
Hình 2.6: Những ảnh hưởng của tổ chức mua
Các điều kiện cung cấp
Phong tục và văn hóa
Sự ảnh hưởng Ý kiến chuyên môn
Tuổi tác/trình độ học vấn
Vị trí công tác Động cơ Nhân cách
Xu hướng Phong cách mua
Nguồn: Kotler và Armstrong, 2012, Nguyên lý tiếp thị, tr214
Yếu tố tổ chức bao gồm các nhóm yếu tố như công nghệ, cơ cấu tổ chức, mục đích, nhiệm vụ và nhân viên Những yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ trong các tình huống mua sắm cụ thể, ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của Trung tâm mua Việc phân tích tầm ảnh hưởng của các yếu tố này cần xem xét mối tương quan giữa mức độ tập trung và phân tán trong hoạt động mua sắm.
Các yếu tố về quan hệ cá nhân đóng vai trò quan trọng trong khái niệm Trung tâm mua, theo mô hình hành vi mua của Wesber và Wind (1972) Chức năng của Trung tâm mua được hình thành từ sự tương tác giữa các cá nhân, bao gồm vai trò của các thành viên, mong muốn và hành vi của họ Sự kết hợp giữa mục đích cá nhân, tính cách, vai trò lãnh đạo trong nhóm, cấu trúc và nhiệm vụ của nhóm, cùng với các ảnh hưởng bên ngoài như yếu tố tổ chức và môi trường, tạo nên chức năng của Trung tâm mua.
Đặc điểm thị trường sản phẩm dịch vụ khảo sát địa chất
2.4.1 Thị trường sản phẩm dịch vụ khảo sát địa chất
Trong thị trường tổ chức ngành dịch vụ KSĐC, các DN TV&TK XD mua dịch vụ KSĐC để sử dụng vào các mục đích như sau:
- Hồ sơ KSĐC dùng làm cơ sở dữ liệu để tư vấn kỹ thuật và tài chính cho khách hàng là chủ đầu tư dự án xây dựng
- Hồ sơ KSĐC dùng làm cơ sở dữ liệu cho việc thiết kế kỹ thuật nền móng và lập dự toán công trình xây dựng
- Hồ sơ KSĐC dùng làm hồ sơ pháp lý bắt buộc trước khi lập dự án và xin phép xây dựng công trình
Khách hàng trong lĩnh vực tư vấn và thiết kế xây dựng (DN TV&TK XD) thường không tham gia thi công, dẫn đến đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao nhưng số lượng lại ít Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, hầu hết các doanh nghiệp TV&TK XD được phân loại là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Khách hàng DN TV&TK XD đã sử dụng dịch vụ KSĐC để phát triển các dịch vụ tư vấn kỹ thuật, pháp lý, tài chính và hồ sơ thiết kế kỹ thuật cho dự án xây dựng.
DN TV&TK XD bán lại dịch vụ đã tạo ra cho các chủ đầu tư dự án xây dựng
Thị trường dịch vụ KSĐC đang nổi lên và phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây Theo đánh giá chủ quan của nhiều doanh nghiệp trong ngành, tình huống mua chủ yếu hiện nay vẫn là Mua mới và Mua lại, không có sự thay đổi đáng kể.
Mặc dù đa phần là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, nhưng cấu trúc tổ chức của các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng (TV&TK XD) thường rất đa dạng, dẫn đến sự khác biệt trong quy trình ra quyết định chọn nhà thầu khảo sát địa chất (KSĐC) Theo thông tin từ các cuộc điều tra và khảo sát, mô hình trung tâm mua sắm của các doanh nghiệp TV&TK XD thường được xác định rõ ràng.
Người mua trong dự án xây dựng thường là phòng dự án, phòng kinh doanh hoặc phòng thiết kế, có trách nhiệm chọn lọc các nhà thầu đạt yêu cầu kỹ thuật Sau khi lựa chọn, các phòng này sẽ thương lượng các điều khoản, giá thầu, thanh toán và hợp đồng với nhà thầu.
Người sử dụng chính của sản phẩm dịch vụ KSĐC là các kỹ sư xây dựng, bao gồm những người phụ trách thiết kế và các kỹ sư quản lý dự án, có nhiệm vụ tư vấn kỹ thuật, tài chính và hỗ trợ pháp lý cho các dự án xây dựng.
Người ảnh hưởng trong lĩnh vực kỹ thuật thường là trưởng phòng thiết kế, chủ trì thiết kế hoặc kỹ sư phụ trách kỹ thuật Họ có vai trò quan trọng trong việc lập đề cương kỹ thuật, trong đó xác định các tiêu chuẩn yêu cầu về khối lượng, tiến độ và chất lượng cho công việc kiểm soát thiết kế công trình.
Người gác cổng, thường là thư ký dự án hoặc nhân viên phòng kinh doanh, đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm và tổng hợp thông tin từ các nhà thầu Họ là cầu nối thông tin giữa doanh nghiệp và các nhà thầu, đảm bảo sự liên lạc hiệu quả và hỗ trợ trong quá trình hợp tác.
Ban giám đốc doanh nghiệp là người quyết định cuối cùng sau khi tổng hợp thông tin và ý kiến từ các phòng ban Trong nhiều trường hợp, trưởng phòng thiết kế hoặc chủ trì thiết kế đóng vai trò quyết định chính Ngoài ra, trưởng phòng kinh doanh, trưởng phòng dự án, cũng như nhân viên phụ trách thiết kế, nhân viên kinh doanh và nhân viên dự án cũng có thể tham gia vào quyết định lựa chọn nhà thầu KSĐC Đây là nhóm đối tượng khảo sát chính trong đề tài nghiên cứu.
Trong quá trình mua sản phẩm dịch vụ KSĐC, các DN TV&TK XD thường trãi qua các giai đoạn:
Các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng thường nhận yêu cầu báo giá hoặc ký hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn và thiết kế từ chủ đầu tư dự án, bao gồm cả yêu cầu về công tác kiểm soát dự án.
- Phòng kinh doanh hoặc phòng dự án yêu cầu phòng thiết kế lập đề cương kỹ thuật KSĐC đáp ứng đúng yêu cầu của dự án
Phòng kinh doanh, phòng dự án và phòng thiết kế tiến hành thu thập thông tin về các nhà thầu KSĐC phù hợp với các tiêu chí đã được xác định.
Phòng kinh doanh, dự án và thiết kế đã gửi thư yêu cầu các nhà thầu KSĐC cung cấp báo giá kèm theo hồ sơ chứng minh năng lực đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Phòng kinh doanh, dự án và thiết kế sẽ lựa chọn các nhà thầu phù hợp với các tiêu chí đã đề ra, sau đó trình bày lên ban giám đốc để đưa ra quyết định cuối cùng.
- Ban giám đốc tổng hợp ý kiến từ các phòng có liên quan và ra quyết định chọn nhà thầu sau
- Phòng kinh doanh/dự án/thiết kế tiến hành làm các thủ tục cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng
- Ban giám đốc ký kết hợp đồng và nhà thầu tiến hành triển khai công việc
Sau khi hoàn tất việc bàn giao hồ sơ kiểm soát điều chỉnh (KSĐC), thanh lý và quyết toán hợp đồng, phòng kinh doanh/dự án/thiết kế sẽ tiến hành đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ Dựa trên kết quả đánh giá này, phòng sẽ đưa ra đề xuất về việc có nên lựa chọn lại nhà thầu KSĐC cho các dự án tiếp theo hay không.
Mặc dù là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ với đội ngũ nhân sự hạn chế, các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng vẫn tham gia đầy đủ vào 5 thành phần của mô hình Trung tâm mua và 8 giai đoạn trong mô hình Quá trình mua khi quyết định mua sản phẩm dịch vụ KSĐC.
2.4.2 Đặc điểm sản phẩm dịch vụ khảo sát địa chất
Các nghiên cứu trước có liên quan
2.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Fagbenle và cộng sự (2011)
Nghiên cứu của Fagbenle và cộng sự (2011) tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nhà thầu phụ xây dựng tại Nigeria, với đối tượng khảo sát là Chủ đầu tư và Tổng thầu xây dựng từ ba trung tâm lớn: Lagos, Abuja và Port Harcourt.
Bảng 2.1: Xếp hạng các yếu tố tác động (1)
Stt Các yếu tố tác động Giá trị trung bình
3 Các vấn đề liên quan khác 3,46 3
5 Sự thuận lợi dự án 3,11 5
6 Quy mô của nhà thầu phụ 2,80 6
Nguồn: Fagbenle và cộng sự, 2011, tr 259
Nghiên cứu đã xác định 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà thầu phụ của chủ đầu tư và nhà tổng thầu xây dựng Kết quả cho thấy 5 yếu tố quan trọng nhất được phân loại theo thứ tự như sau: (1) Kinh nghiệm quá khứ.
The evaluation criteria include (1) experience, (2) management capabilities, (3) other related issues such as customer relationships, (4) past performance, and (5) project facilitation Following these factors are (6) the scale of subcontractors' organizations and (7) financial considerations.
Nghiên cứu của Idrus và cộng sự (2011)
Nghiên cứu của Idrus và cộng sự (2011) về “Yếu tố quyết định chọn nhà tổng thầu xây dựng tại Malaysia” đã chỉ ra các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà thầu chính Đối tượng khảo sát trong nghiên cứu này là các yếu tố tác động đến quy trình lựa chọn nhà thầu xây dựng.
150 chuyên gia trong ngành xây dựng đang hoạt động tại Malaysia
Bảng 2.2: Xếp hạng các yếu tố tác động (2)
Stt Các yếu tố tác động Chỉ số mức độ quan trọng
5 Kinh nghiệm trong các dự án tương tự 86,13 5
6 Hiệu quả trong quản lý 85,87 6
8 Sức khỏe & an toàn lao động 82,93 8
9 Tiến độ dự án hiện có 82,80 9
10 Quan hệ với chủ đầu tư 81,47 10
11 Dự án đang thực hiện 80,93 11
Nguồn: Idrus và cộng sự, 2011, tr1362
Kết quả nghiên cứu đã xếp hạng 14 yếu tố theo thứ tự giảm dần mức độ quan trọng như sau (Bảng 2.2): (1) Hiệu suất (Track Performance), (2) Năng lực tài chính
(Financial capacity), (3) Năng lực công nghệ (Technical capacity), (4) Giá thầu (Bid price), (5) Kinh nghiệm trong các dự án tương tự (Experience in similar projects),
(6) Hiệu quả trong quản lý (Management efficiency), (7) Thời gian hoàn thành (Time of completion quoted), (8) Sức khỏe & an toàn lao động (Occupational health
The current project progress is crucial, alongside maintaining strong relationships with clients and managing the number of ongoing projects Emphasizing a high level of technology is essential for success, while fostering friendships and considering political factors can also impact outcomes.
Nghiên cứu của Bakhshia và Bioki (2013)
Bakhshia và Bioki (2013) trong nghiên cứu “Cách tiếp cận tích hợp mới đối với các yếu tố lựa chọn nhà thầu thông qua phương pháp A2” đã khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhà thầu Đối tượng nghiên cứu bao gồm các chuyên gia trong ngành xây dựng tại Iran, đại diện cho nhiều nhóm khác nhau như chủ đầu tư, quản lý dự án, nhà tư vấn và nhà thầu.
Bảng 2.3: Xếp hạng các yếu tố tác động (3)
Stt Các yếu tố tác động Điểm số đánh giá
6 Sức khỏe và an toàn 0.109 5
Nguồn: Bakhshia và Bioki, 2013, tr 594
Nghiên cứu tổng hợp từ nhiều nguồn trước đây đã xác định 8 yếu tố, với 25 biến quan sát, có ảnh hưởng đến quyết định chọn nhà thầu Kết quả nghiên cứu phân loại các yếu tố này thành 8 bậc theo mức độ quan trọng giảm dần.
The key factors for successful project execution include Experience, Management, Financial considerations, Quality assurance, Resource allocation, Health & Safety measures, Reputation management, and Completion Time.
Nghiên cứu của Marzouk và cộng sự (2013)
Nghiên cứu của Marzouk và cộng sự (2013) tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhà thầu phụ trong các dự án xây dựng Đối tượng khảo sát bao gồm 129 chuyên gia trong ngành xây dựng đang làm việc tại Ai Cập Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định trong quá trình lựa chọn nhà thầu phụ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý dự án xây dựng.
Bảng 2.4: Các nhóm yếu tố chính
Stt Các yếu tố chính
6 Tranh chấp và rủi ro
11 Các yếu tố khác: nguồn lực, số dự án, vị trí dự án
Nguồn:Marzouk và cộng sự,2013, tr.153-154
The study compiled 46 criteria from previous research, categorizing them into 11 main factors: (1) Cost, (2) Quality, (3) Staff's behavior and experiences, (4) Safety, (5) Insurance, including repair and warranty for employees and equipment, (6) Disputes and risks, and (7) Risk avoidance.
(8) Thời gian (Time), (9) Kinh nghiệm công ty (Experiences of the company), (10) Đấu thầu (Tender) và (11) Các yếu tố khác (Others): nguồn lực, số lượng, vị trí dự án
Bảng 2.5: Xếp hạng các yếu tố tác động (4)
Stt Yếu tố Tiêu chí Giá trị trung bình
1 Thời gian Tính linh hoạt và hợp tác khi giải quyết sự chậm trễ 4,38
2 Kinh nghiệm công ty Danh tiếng 4,38
3 Thời gian Chậm tiến độ 4,34 2
4 Tranh chấp và rủi ro Việc không tuân thủ các thông số kỹ thuật chất lượng 4,31
6 Tranh chấp và rủi ro Nhà cung cấp không đủ khả năng giao vật tư đúng hạn 4,28
7 Giá thầu Không hoàn tất hợp đồng 4,28
8 Các yếu tố khác Nguồn lực hữu hình 4,21 5
9 Giá thầu Giá đấu thầu 4,17 6
10 Giá thầu Khó khăn của nhà thầu phụ trong hoàn trả 4,03
11 Thời gian Tính linh hoạt trong hoạt động quan trọng 4,03
12 An toàn Ý thức an toàn lao động trên công trường 4,00 8
Nguồn: Marzouk và cộng sự, 2013, tr 158
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 13 tiêu chí không quan trọng, trong khi các tiêu chí còn lại với giá trị trung bình lớn hơn 4 được đánh giá là quan trọng nhất (Bảng 2.5).
(1) Tính linh hoạt và hợp tác khi giải quyết sự chậm trễ (Flexibility and cooperation when resolving delays) và (2) Danh tiếng (Reputation), (3) Chậm tiến độ (Delay),
Failure to comply with quality specifications and inadequate supplier capabilities to deliver materials on time can lead to significant issues, including the inability to complete contracts Physical resources and tender prices also play crucial roles in project success Additionally, contractors may face difficulties in reimbursement, which can hinder operations Maintaining flexibility in critical activities and fostering a strong safety consciousness on the job site are essential for ensuring overall project efficiency and worker safety.
Nghiên cứu của Alzober và Yaakub (2014)
Alzober và Yaakub (2014) đã nghiên cứu đề tài “Mô hình tích hợp cho việc lựa chọn các yếu tố sơ tuyển nhà thầu”, trong đó họ đề xuất một mô hình nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn sơ tuyển nhà thầu Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các hoạt động đấu thầu của các dự án tại Malaysia.
Bảng 2.6: Các nhóm yếu tố tác động
Stt Nhóm yếu tố Số lượng thang đo
8 An toàn và sức khỏe lao động 6
12 Kế hoạch và kiểm soát 5
Nguồn: Alzober và Yaakub, 2014, tr 234
Nghiên cứu có đề nghị ra 12 nhóm yếu tố, trong đó có 62 tiêu chí đánh giá
The research model by Alzober and Yaakub (2014) encompasses twelve key factors essential for success: (1) Financial stability, (2) Management ability, (3) Technical capacity, (4) Experience, (5) Past performance, (6) Reputation, (7) Resources, (8) Occupational health and safety, (9) Quality, (10) Environmental considerations, (11) Organizational capability, and (12) Planning and control.
2.5.2 Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Phan Kim Oanh (2012)
Nghiên cứu của Phan Kim Oanh (2012) tập trung vào việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp bê tông trộn sẵn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành xây dựng tại miền Nam Việt Nam Đối tượng khảo sát bao gồm các khách hàng tổ chức trong ngành xây dựng tại TP.HCM, Bình Dương và Đồng Nai.
Bảng 2.8: Xếp hạng các yếu tố tác động (6)
Stt Các yếu tố tác động Giá trị trung bình
5 Dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật 2,0344 5
Nguồn: tổng hợp từ kết quả nghiên cứu của Phan Kim Oanh (2012)
Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa trên lý thuyết về sự lựa chọn và hành vi của khách hàng tổ chức, cùng với các mô hình nghiên cứu trước đó, bài viết xem xét đặc điểm thị trường tổ chức và sản phẩm dịch vụ khách sạn tại TP.HCM Tác giả đề xuất tham khảo mô hình nghiên cứu của Marzouk và cộng sự (2013) để làm cơ sở cho nghiên cứu này.
Năm 2013, Marzouk và cộng sự đã nghiên cứu quyết định lựa chọn nhà thầu phụ cho dự án xây dựng, đặc biệt là trong lĩnh vực kiểm soát dự án (KSĐC) Mô hình nghiên cứu của họ đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định này, với mức độ ý nghĩa cao, tạo nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu định tính trong tương lai.
Tổng hợp các nghiên cứu trước, đối chiếu với các yếu tố được đề xuất trong mô hình nghiên cứu của Marzouk và cộng sự (2013) có Bảng 2.10
Bảng 2.10: Tổng hợp các nghiên cứu trước
Tranh chấp và rủi ro √
Kinh nghiệm công ty √ √ √ √ √ √ Đấu thầu √
Yếu tố khác: nguồn lực √ √ √ √ √ √
Yếu tố khác: số dự án, vị trí dự án √
Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu trước
Bảng tổng hợp chỉ ra rằng các yếu tố như Bảo hiểm, Phòng tránh rủi ro, Đấu thầu và các yếu tố khác liên quan đến Số dự án và Vị trí dự án không có tác động đáng kể trong mô hình nghiên cứu của các nghiên cứu khác Kết quả nghiên cứu của Marzouk và cộng sự (2013) cũng cho thấy các yếu tố này không quan trọng, với giá trị trung bình nhỏ hơn 4 Do đó, đề xuất loại bỏ các yếu tố này khỏi mô hình nghiên cứu được đề xuất.
Yếu tố tranh chấp và rủi ro, mặc dù không được xem xét trong các mô hình nghiên cứu khác, lại có ảnh hưởng đáng kể trong kết quả nghiên cứu của Marzouk và cộng sự.
Năm 2013, yếu tố này được đánh giá qua nhiều tiêu chí và được coi là một trong những yếu tố quan trọng (xem bảng 2.5) Vì vậy, yếu tố này được khuyến nghị nên được giữ lại trong mô hình nghiên cứu đề xuất.
Trong các nghiên cứu trước đây, yếu tố Kinh nghiệm nhân viên và Kinh nghiệm công ty thường được kết hợp thành một yếu tố duy nhất là Kinh nghiệm Bên cạnh đó, yếu tố Nguồn lực cũng thường xuyên xuất hiện trong nhóm Các yếu tố khác của mô hình nghiên cứu Do đó, yếu tố Kinh nghiệm, yếu tố Nguồn lực, cùng với các yếu tố khác trong mô hình nghiên cứu của Marzouk và các cộng sự là những thành phần quan trọng cần xem xét.
(2013) được đề nghị đưa vào mô hình nghiên cứu đề xuất của đề tài
Tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu gồm 7 yếu tố chính: (1) Giá thầu, (2) Chất lượng, (3) Kinh nghiệm, (4) An toàn, (5) Tranh chấp và rủi ro, (6) Thời gian, và (7) Nguồn lực Các yếu tố này sẽ được khảo sát thêm trong giai đoạn nghiên cứu định tính nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu chính thức.
Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Chương này trình bày các thuật ngữ chuyên ngành và cơ sở lý thuyết về hành vi khách hàng, đặc điểm sản phẩm dịch vụ khảo sát địa chất Nghiên cứu đã phân tích các công trình nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 7 yếu tố quan trọng: Giá thầu, Chất lượng, Kinh nghiệm, An toàn, Tranh chấp và rủi ro, Thời gian và Nguồn lực, phù hợp với đặc điểm của dịch vụ KSĐC tại Việt Nam.
Tranh chấp và rủi ro
Quyết định chọn nhà thầu
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của đề tài được mô tả theo Hình 3.1
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận và các nghiên cứu trước Đặc điểm thị trường, khách hàng và sản phẩm KSĐC Đề xuất mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu định tính Thảo luận nhóm chuyên gia (n) Điều chỉnh mô hình nghiên cứu và xây dựng thang đo Xây dựng bảng câu hỏi
Nghiên cứu định lượng Mẫu khảo sát (n = 200)
Kiểm định, phân tích, thảo luận nhóm
Kết luận và kiến nghị
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng Đầu tiên, nghiên cứu định tính được thực hiện để điều chỉnh mô hình nghiên cứu, xây dựng thang đo và bảng câu hỏi Tiếp theo, nghiên cứu định lượng thu thập và phân tích dữ liệu khảo sát để đưa ra kết quả Nguồn dữ liệu bao gồm hai nguồn chính.
Nguồn thứ cấp bao gồm các bài báo và nghiên cứu đã được thực hiện cả trong nước và quốc tế, tập trung vào quyết định lựa chọn của khách hàng doanh nghiệp liên quan đến sản phẩm và dịch vụ trong ngành xây dựng.
- Nguồn sơ cấp: thu thập bằng phương pháp phỏng vấn với bảng câu hỏi được thiết kế cho nghiên cứu.
Nghiên cứu định tính
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính
Mục tiêu của giai đoạn nghiên cứu định tính là khám phá và loại bỏ các yếu tố không ảnh hưởng đến quyết định chọn nhà thầu KSĐC, từ đó điều chỉnh mô hình nghiên cứu Qua nghiên cứu định tính, các thang đo dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu sẽ được hiệu chỉnh và bổ sung, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, làm cơ sở cho việc thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn định lượng.
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương pháp thảo luận nhóm, bao gồm 10 giám đốc của các doanh nghiệp TV&TK XD đã từng sử dụng dịch vụ KSĐC và là những người có quyền quyết định trong việc lựa chọn dịch vụ cho doanh nghiệp.
Thời gian thảo luận nhóm khoảng 90 phút Ngày thảo luận: lần 1 ngày 28/11/2015 và lần 2 ngày 05/03/2016 Địa điểm : Giảng đường Hòa Bình – Đại học Bách Khoa Tp.HCM
Nội dung dàn bài thảo luận nhóm (Phụ lục 1), gồm 3 phần chính:
- Giới thiệu lý do, mục đích, nội dung cần thảo luận
- Tiến hành thảo luận theo dàn bài đã thiết kế
- Tổng hợp các ý kiến của các chuyên gia tham dự
3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính đã chỉ ra các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà thầu khảo sát địa chất của các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng Các yếu tố này bao gồm uy tín của nhà thầu, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự, chất lượng dịch vụ, và mức độ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật Sự tin tưởng vào năng lực của nhà thầu cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định.
Yếu tố bảo hiểm và phòng tránh rủi ro đã được loại trừ khỏi mô hình nghiên cứu, vì tất cả các chuyên gia đều thống nhất rằng chúng không nên được xem xét khi lựa chọn nhà thầu phụ cho công việc kiểm soát chất lượng Đa số ý kiến cho rằng điều này là do tính chất ngắn hạn và rủi ro thấp của công việc này.
Trong mô hình nghiên cứu, yếu tố Đấu thầu đã được khẳng định sẽ bị loại bỏ Qua thảo luận trong nghiên cứu định tính, các chuyên gia nhận định rằng KSĐC là một gói thầu nhỏ với chi phí thấp, do đó không cần thực hiện đấu thầu để lựa chọn nhà thầu, mà chỉ tiến hành xét chọn trực tiếp.
Trong nghiên cứu, các yếu tố như số lượng dự án và vị trí dự án sẽ được loại bỏ khỏi mô hình Các chuyên gia trong thảo luận định tính nhất trí rằng do thời gian và khối lượng công việc của KSĐC rất hạn chế, nên những tiêu chí này không được xem xét trong quá trình chọn thầu.
Trong nghiên cứu về KSĐC, yếu tố an toàn thường bị loại bỏ do quy trình thực hiện đơn giản, thời gian ngắn và rủi ro tai nạn lao động thấp Các chuyên gia nhấn mạnh rằng trong bối cảnh kinh tế xã hội còn hạn chế tại Việt Nam, yếu tố an toàn trong lao động thường không được đánh giá cao khi lựa chọn nhà thầu phụ.
Trong mô hình nghiên cứu chính thức, yếu tố tranh chấp và rủi ro được đề nghị loại bỏ, vì tất cả các chuyên gia đều cho rằng công việc kiểm soát dự án có thời gian thi công ngắn hạn, nhân lực ít, tổng chi phí thấp và tính chất công việc đơn giản Do đó, những yếu tố này hoàn toàn không được xem xét.
Trong nghiên cứu của Marzouk và cộng sự (2013), yếu tố Kinh nghiệm của nhân viên và Kinh nghiệm của công ty được xác định là một yếu tố chung mang tên Kinh Nghiệm Qua nghiên cứu định tính, tất cả các chuyên gia đều nhất trí rằng Kinh nghiệm, bao gồm cả Kinh nghiệm của nhân viên và Kinh nghiệm của công ty, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chọn thầu.
Trong nghiên cứu của Marzouk và cộng sự (2013), yếu tố Nguồn lực được xác định là một trong những yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn nhà thầu cho công tác khảo sát địa chất Qua nghiên cứu định tính, hầu hết các chuyên gia đều nhất trí rằng yếu tố này cần được xem xét một cách riêng biệt trong quá trình tuyển chọn nhà thầu.
Các yếu tố còn lại trong mô hình nghiên cứu, bao gồm Giá thầu, Chất lượng và Thời gian, được đánh giá là hoàn toàn phù hợp và sẽ được giữ lại để tiếp tục nghiên cứu và đánh giá.
Kết quả của mô hình nghiên cứu chính thức xác định 5 yếu tố ảnh hưởng, được sắp xếp theo thứ tự từ quan trọng đến ít quan trọng: (1) Giá thầu, (2) Chất lượng, (3) Kinh nghiệm, (4) Thời gian và (5) Nguồn lực Mô hình này được minh họa trong Hình 3.2.
Hình 3.2 : Mô hình nghiên cứu chính thức
Quyết định chọn nhà thầu
3.2.2.2 Thang đo và bảng câu hỏi định lượng
Thang đo được phát triển dựa trên các mô hình nghiên cứu chính thức và tham khảo từ các nghiên cứu của Marzouk và cộng sự (2013), Bakhshia và Bioki (2013), Alzober và Yaakub (2014), cùng với Lê Huỳnh Phúc (2013) Cuối cùng, thông qua kết quả nghiên cứu định tính, thang đo đã được điều chỉnh để phù hợp với sản phẩm dịch vụ khách sạn và khách hàng doanh nghiệp trong lĩnh vực thiết kế và xây dựng tại TP.HCM.
Trong nghiên cứu, thang đo được sử dụng là thang đo khoảng 5 mức độ quen thuộc và phổ biến, bao gồm: 1 - Rất không quan trọng, 2 - Không quan trọng, 3 - Hơi quan trọng, 4 - Quan trọng, và 5 - Rất quan trọng.
Giá thầu là yếu tố quan trọng nhất theo đánh giá từ nghiên cứu định tính, với thang đo giá thầu phản ánh mức giá hợp lý, phù hợp với ngân sách dự án Nó cũng xem xét tính rõ ràng của các hạng mục và điều khoản thanh toán linh động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Thang đo này bao gồm 4 biến quan sát như được trình bày trong Bảng 3.1.
Bảng 3.1: Thang đo yếu tố Giá thầu
Mã Thang đo Thang đo gốc Nguồn
Nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn nhằm đánh giá các thang đo và xác định mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà thầu KSĐC của các doanh nghiệp TV&TK XD.
3.3.1 Phương pháp lấy mẫu và kích thước mẫu
Do giới hạn về thời gian, nhân lực và ngân sách, nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Quá trình thu thập mẫu diễn ra từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 02 năm 2016.
Kích thước mẫu trong nghiên cứu phân tích nhân tố khám phá EFA được xác định dựa trên yêu cầu tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát Theo nghiên cứu của Hair và cộng sự (1998), quy tắc này được khẳng định, và Hoàng Trọng cùng Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) cũng đồng tình với quan điểm của Bollen (1989) rằng cỡ mẫu tối thiểu cần phải đạt ít nhất 5 lần số biến trong phân tích nhân tố.
Với 20 biến quan sát, cỡ mẫu khảo sát tối thiểu cần đạt 5x200, tức là ít nhất 100 mẫu Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, ngân sách và mối quan hệ, nghiên cứu đề xuất chọn kích thước mẫu ban đầu là n0, với tỷ lệ mẫu hợp lệ mong đợi lớn hơn 50% so với tổng số mẫu thu được.
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ khách hàng đã từng sử dụng dịch vụ KSĐC tại sáu đơn vị cung cấp dịch vụ, bao gồm: Công ty TNHH Địa chất Nền móng Xây dựng Phan Trần (30% mẫu), Công ty TNHH Địa chất Xây dựng Phú Nguyên (10% mẫu), Công ty cổ phần Khảo sát Xây dựng số 4 (10% mẫu), Công ty CP Tư vấn Kiến trúc và Xây dựng Sài Gòn (10% mẫu), Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ và Thiết bị Công nghiệp – ĐH Bách Khoa TP.HCM (20% mẫu), và Liên hiệp Địa chất Nền móng Công trình – Hội Địa chất Việt Nam (20% mẫu) Việc thu thập thông tin được thực hiện với sự tuân thủ các yêu cầu về bảo mật và mối quan hệ hạn chế.
Do sự thuận tiện, phương pháp thu thập dữ liệu chủ yếu được thực hiện qua khảo sát trực tuyến, chiếm khoảng 80% tổng số mẫu 20% mẫu còn lại sẽ được khảo sát trực tiếp tại địa điểm và thời gian do khách hàng lựa chọn.
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Phiếu phỏng vấn thu nhập sẽ được chọn lọc để loại bỏ những bảng không đạt yêu cầu Đối với khảo sát trực tuyến, sẽ loại bỏ các phiếu trả lời trùng lặp, trong khi khảo sát trực tiếp sẽ loại bỏ những đối tượng không phù hợp và những phiếu không ghi đầy đủ thông tin cá nhân Tất cả số liệu sẽ được mã hóa và nhập liệu vào phần mềm SPSS 20 để tiến hành phân tích.
Nghiên cứu tiến hành thống kê, phân tích dữ liệu theo trình tự như sau:
- Thống kê mô tả các yếu tố và tỷ lệ phần trăm của thông tin mẫu
Để kiểm định độ tin cậy của thang đo, hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng nhằm loại bỏ các biến không phù hợp Theo Nunally và Burnstein (1994), các biến có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item - Total Correlation) nhỏ hơn 0,3 và các thành phần có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn 0,6 sẽ được xem xét để loại bỏ.
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) được thực hiện nhằm kiểm định sự hội tụ của thang đo và rút gọn biến, với mục đích xác định lại các nhóm biến trong mô hình nghiên cứu Theo Hair và cộng sự (1998), các biến có hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5 sẽ bị loại bỏ Phương pháp trích hệ số áp dụng là phương pháp Principal Component, kết hợp với phép quay Varimax, và quá trình dừng lại khi trích các yếu tố có Eigenvalue bằng 1 Thang đo được coi là chấp nhận khi tổng phương sai trích đạt 50% trở lên.
Phương pháp kiểm định ANOVA được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn, bao gồm các nhóm Quy mô doanh nghiệp, Chức vụ, Lĩnh vực chuyên môn và Kinh nghiệm làm việc, theo nghiên cứu của Hair và cộng sự.
(1998), hệ số tải nhân tố (Factor loading) lớn hơn 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn Đây là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA,
Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu của đề tài, các giai đoạn nghiên cứu gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Kết quả nghiên cứu định tính đã điều chỉnh lại mô hình nghiên cứu phù hợp, xây dựng thang đo và bảng câu hỏi hoàn chỉnh cho nghiên cứu định lượng Kết quả mô hình nghiên cứu bao gồm 5 yếu tố sắp xếp theo thứ tự mức độ quan trọng giảm dần: (1) Giá thầu, (2) Chất lượng, (3) Kinh nghiệm, (4) Thời gian và (5) Nguồn lực Nghiên cứu định lượng tiếp tục được thực hiện thu thập dữ liệu qua bảng câu hỏi khảo sát và kết quả sẽ được trình bày trong chương tiếp theo.