1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam

98 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại: bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Tác giả Lê Thị Hạnh Nguyệt
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Minh Kiều
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1................................................................................................................ 1 (12)
    • 1.1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu (12)
    • 1.2. Vấn đề nghiên cứu (13)
    • 1.3. Mục tiêu nghiên cứu (14)
    • 1.4. Câu hỏi nghiên cứu (14)
    • 1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (14)
      • 1.5.1. Đối tượng nghiên cứu (14)
      • 1.5.2. Phạm vi nghiên cứu (14)
    • 1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu (15)
    • 1.7. Kết cấu của luận văn (15)
  • CHƯƠNG 2................................................................................................................ 6 (17)
    • 2.1. Tín dụng thương mại (17)
      • 2.1.1. Khái niệm (17)
      • 2.1.2. Đặc điểm của tín dụng thương mại (18)
    • 2.2. Các lý thuyết liên quan đến tín dụng thương mại (20)
      • 2.2.1. Lý thuyết về lợi thế tài trợ (20)
      • 2.2.2. Lý thuyết phương tiện phân định giá (22)
      • 2.2.3. Lý thuyết về chi phí giao dịch (23)
    • 2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại (24)
      • 2.3.1. Các yếu tố kinh tế vĩ mô (24)
      • 2.3.2. Các yếu tố của doanh nghiệp (25)
      • 2.3.3. Yếu tố tác động đến các khoản phải thu (28)
      • 2.3.4. Yếu tố tác động đến các khoản phải trả (31)
    • 2.4. Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây (33)
      • 2.4.1. Wilson và Summer (2002) (33)
      • 2.4.2. Danielson và Scott (2004) (34)
      • 2.4.3. Delannay và Weill (2004) (35)
      • 2.4.4. Gustafon (2004) (36)
      • 2.4.5. Ge và Qiu (2006) (38)
      • 2.4.6. Love và cộng sự (2007) (40)
      • 2.4.7. Bougheas và cộng sự (2009) (41)
      • 2.4.8. Vaidya (2011) (43)
      • 2.4.9. Santos và Silva (2014) (44)
  • CHƯƠNG 3.............................................................................................................. 36 (47)
    • 3.1. Phương pháp phân tích mô hình hồi quy với dữ liệu bảng (47)
      • 3.1.1. Giới thiệu (47)
      • 3.1.2. Mô hình hồi quy Pool OLS (48)
      • 3.1.3. Mô hình tác động cố định (FEM) (49)
      • 3.1.4. Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) (49)
      • 3.1.5. So sánh và lựa chọn giữa FEM và REM (50)
    • 3.2. Các biến số trong mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu (51)
      • 3.2.1. Dữ liệu nghiên cứu (51)
      • 3.2.2. Mô hình nghiên cứu và các biến số trong mô hình (52)
  • CHƯƠNG 4.............................................................................................................. 48 (59)
    • 4.1. Thống kê mô tả (59)
    • 4.2. Phân tích tương quan (64)
    • 4.3. Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy (67)
    • 4.4. Kết quả hồi quy robust (robust regression) (68)
  • CHƯƠNG 5.............................................................................................................. 64 (75)
    • 5.1. Kết luận (75)
    • 5.2. Hàm ý quản trị (77)
    • 5.3. Hạn chế của luận văn và các hướng nghiên cứu tiếp theo (78)
      • 5.3.1. Hạn chế của luận văn (78)
      • 5.3.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo (79)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (80)
  • PHỤ LỤC (86)

Nội dung

1

Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Tín dụng thương mại là một yếu tố quan trọng trong lịch sử kinh tế, đóng vai trò then chốt trong sản xuất và lưu thông tiền tệ, giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả Các công ty cần nguồn vốn huy động để đáp ứng các nhu cầu tài chính như đầu tư, mua sắm thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng Theo Brennan và cộng sự (1988), tín dụng thương mại không chỉ là nguồn vốn bổ sung cho tín dụng ngân hàng và các tổ chức tài chính, mà còn rất cần thiết cho những doanh nghiệp khó tiếp cận với nguồn tín dụng ngân hàng.

Sự phát triển của nghiên cứu về kênh tín dụng thương mại chứng tỏ nhu cầu tín dụng thương mại toàn cầu ngày càng gia tăng Tín dụng thương mại mang lại lợi ích cho cả nhà cung cấp và khách hàng từ góc độ tài chính, hoạt động và thương mại Theo Schwartz (1974) và Emery (1984), các công ty có thể tiếp cận thị trường tín dụng tốt hơn với chi phí sản xuất thấp hơn, đồng thời đóng vai trò trung gian tài chính cho những công ty gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng Biais và Gollier (1997) cũng chỉ ra rằng tín dụng thương mại có thể giúp các công ty thu hút vốn từ ngân hàng, vì nó cung cấp thông tin về tín nhiệm tín dụng của các công ty nhận hỗ trợ từ tín dụng thương mại.

Tín dụng thương mại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh, giúp nhà cung cấp tối ưu hóa hiệu quả hoạt động bằng cách giảm chi phí vận chuyển, lưu trữ và cải thiện quản lý hàng tồn kho Nó cũng được xem như một cơ chế hạ thấp chi phí giao dịch Theo Nilsen (2002) và Rodríguez-Rodríguez (2008), tín dụng thương mại mang lại sự linh hoạt trong thanh toán, cho phép khách hàng thanh toán định kỳ thay vì phải thực hiện nhiều giao dịch Hơn nữa, hình thức này giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí giao dịch ngân hàng và phí chênh lệch khi chuyển đổi ngoại tệ.

Theo Mian và Smith (1992), tín dụng thương mại không chỉ là một công cụ phân biệt giá mà còn có khả năng kích thích hoạt động kinh doanh Cụ thể, nó cho phép người mua kéo dài thời gian thanh toán, từ đó thúc đẩy doanh số Đồng thời, nhà cung cấp có thể điều chỉnh giá hàng hóa, như tăng giá cho những khách hàng chậm thanh toán hoặc giảm giá cho những khách hàng thanh toán ngay bằng tiền mặt.

Bài nghiên cứu này nhằm khám phá tình hình sử dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại tại Việt Nam Để cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho vấn đề này, luận văn thạc sĩ "Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại: bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam" là rất cần thiết.

Vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về cấu trúc vốn doanh nghiệp đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tối ưu hóa giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu nhằm giảm thiểu chi phí tài chính Bài viết này sẽ làm rõ hơn về tín dụng thương mại của doanh nghiệp, tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại tại các doanh nghiệp Việt Nam và mối quan hệ giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng Mục tiêu nghiên cứu sẽ được trình bày trong phần tiếp theo.

Mục tiêu nghiên cứu

Để hỗ trợ nhà quản lý trong việc xây dựng chiến lược tín dụng thương mại hiệu quả, bài nghiên cứu này cũng nhằm đề xuất các chính sách giúp doanh nghiệp Việt Nam phát triển bền vững Mục tiêu chính của đề tài là cung cấp những hướng dẫn và giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp.

 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại của doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam

 Xác định mối quan hệ giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam

 Đề xuất một số hàm ý quản trị cho các nhà quản lý nhằm gia tăng tín dụng thương mại phục vụ hoạt động doanh nghiệp.

Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sẽ trả lời những câu hỏi sau:

 Các nhân tố nào ảnh hưởng đến tín dụng thương mại của doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam?

 Mối quan hệ như thế nào giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng?

 Các hàm ý quản trị nào được rút ra nhằm gia tăng tín dụng thương mại phục vụ hoạt động doanh nghiệp?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại của doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX từ năm 2009 đến năm 2015

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài loại trừ những doanh nghiệp là ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm Nguyên nhân loại trừ xuất phát từ môi trường kinh doanh đặc thù của các công ty hoạt động trong lĩnh vực này Do đó, kết quả nghiên cứu sẽ bị sai lệch nếu mẫu bao gồm các công ty này Các dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn từ năm 2009 đến 2015.

Ý nghĩa của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định cơ cấu tín dụng thương mại của doanh nghiệp Doanh nghiệp dựa vào tình hình tài chính của khách hàng và bản thân để xác định chính sách tín dụng phù hợp Ngân hàng có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để đưa ra quyết định cho vay đối với doanh nghiệp sử dụng tín dụng thương mại Nhà đầu tư cũng nhận được thông tin hữu ích để dự đoán cơ cấu nợ vay của doanh nghiệp khi có sự thay đổi về cơ cấu tài sản và cơ hội tăng trưởng trong tương lai, đồng thời có cái nhìn sâu sắc về tình hình tín dụng thương mại của các nhóm ngành được nghiên cứu.

Kết cấu của luận văn

Nội dung nghiên cứu được cấu trúc thành các phần và chương nhằm đạt mục tiêu nghiên cứu và trả lời các câu hỏi đặt ra Nghiên cứu bao gồm phần tổng quan và lý thuyết phục vụ cho việc xác định mô hình lý thuyết, xây dựng và kiểm định mô hình, thảo luận kết quả ước lượng, cùng với việc gợi ý các chính sách Đề tài cũng rút ra các kết luận, nhận diện những hạn chế và xác định hướng nghiên cứu tiếp theo Cụ thể, nội dung nghiên cứu bao gồm năm chương chính.

Chương 1 nhằm mục đích giới thiệu về lý do chọn đề tài nghiên cứu và vấn đề được nghiên cứu, đồng thời nêu các mục tiêu chính của nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu để đạt được các mục tiêu nghiên cứu Tiếp theo đó là trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu Quan trọng nhất của chương này là tác giả trình bày ý nghĩa kinh tế mà nghiên cứu đạt được

Chương 2 có thể coi là khá quan trọng vì nội dung của chương này được sử dụng làm cơ sở, nền tảng của đề tài Trong chương này sẽ khảo sát cơ sở lý thuyết về tín dụng thương mại, cùng với những nghiên cứu thực nghiệm trước đây về tín dụng thương mại sẽ được đúc kết Ngoài ra, căn cứ vào những luận điểm, những nghiên cứu trước đã được lược khảo sẽ làm cơ sở xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra mô hình nghiên cứu của đề tài trong chương tiếp theo

Chương 3 từ cơ sở lý thuyết có liên quan được rút ra từ chương trước sẽ đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Đồng thời, cũng trình bày phương pháp hồi quy được sử dụng trong bài nghiên cứu và cách đo lường các biến nghiên cứu sẽ được trình bày rõ trong chương này

Chương 4 sẽ trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm và thảo luận kết quả từ mô hình nghiên cứu Dựa trên nhũng kết quả đó, các giả thuyết sẽ được chấp nhận hay bác bỏ

Chương 5 là chương cuối cùng sẽ tóm tắt lại các kết quả nghiên cứu chính trước đó và trình bày những đóng góp quan trọng từ kết quả nghiên cứu Ngoài ra, chương này cũng chỉ ra những giới hạn trong nghiên cứu và khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo.

6

Tín dụng thương mại

Brennan và cộng sự (1988) chỉ ra rằng ngoài sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức tài chính, việc thanh toán sau và cung cấp hàng hóa, dịch vụ cũng là kênh hỗ trợ tài chính quan trọng Nhiều công ty thường trì hoãn thanh toán cho nhà cung cấp để giảm áp lực nợ tạm thời Boyery và Gobert (2007) nhấn mạnh rằng tín dụng thương mại là một loại nợ ngắn hạn quan trọng cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa Do tín dụng thương mại không thuộc lĩnh vực ngân hàng, nó không bị kiểm soát bởi chính quyền Tín dụng thương mại xuất hiện trên cả hai phần của bảng cân đối kế toán: các khoản phải thu (tài sản ngắn hạn) và các khoản phải trả (nợ ngắn hạn).

Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp thông qua hình thức mua bán chịu hàng hóa, cho phép người mua sử dụng vốn tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định Khi đến hạn, người mua phải hoàn trả vốn cùng lãi suất cho người bán Mỗi khi công ty mua hàng từ nhà cung cấp với quyền trả chậm, họ được cấp tín dụng thương mại Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn phổ biến, tự động gia tăng qua các giao dịch kinh doanh thông thường.

2.1.2 Đặc điểm của tín dụng thương mại

Nguồn vốn cho vay trong tín dụng thương mại không phải là tiền nhàn rỗi mà là nguyên vật liệu đầu vào hoặc hàng hóa thành phẩm được mua bán giữa các doanh nghiệp Khối lượng tín dụng phụ thuộc vào tổng giá trị hàng hóa được giao dịch Tín dụng thương mại phát triển theo chu kỳ sản xuất kinh doanh, giúp rút ngắn chu kỳ sản xuất và giảm chi phí Thông thường, tín dụng thương mại không phát sinh chi phí sử dụng vốn, và bên mua hàng có thể nhận chiết khấu khi thanh toán sớm.

Hình thức thể hiện tín dụng thương mại chủ yếu là hợp đồng trả chậm và thương phiếu, bao gồm hối phiếu và lệnh phiếu Hối phiếu là giấy đòi tiền vô điều kiện do người bán phát hành, trong khi lệnh phiếu là cam kết trả tiền vô điều kiện do người mua phát hành Theo Smith (1987) và Ng cùng cộng sự (1999), tín dụng thương mại có hai loại điều khoản: điều khoản đơn giản, như "net 30" yêu cầu thanh toán trong 30 ngày kể từ ngày lập hóa đơn, và điều khoản phức tạp hơn, ví dụ như 2/10 net 30, cho phép chiết khấu 2% nếu thanh toán trong 10 ngày Ramey (1992) chỉ ra rằng các công ty có tính thanh khoản thấp thường kéo dài thời gian thanh toán hơn 30 ngày.

Theo nghiên cứu của Petersen và Rajan (1997), chi phí chi trả cho tín dụng thương mại cao hơn so với vay ngân hàng, với lãi suất trung bình ngân hàng là 11.3% và chính sách tín dụng thương mại 2/10 net 30 cho phép chiết khấu 2% nếu thanh toán trong 10 ngày, tương đương với lãi suất hàng năm 44.6% Mặc dù chi phí cao, nhiều doanh nghiệp vẫn chọn tín dụng thương mại vì nó giúp giảm sự không chắc chắn trong giao dịch và quản lý tiền mặt hiệu quả hơn Tín dụng thương mại thường được sử dụng bởi các công ty khó tiếp cận nguồn tài chính truyền thống, đặc biệt trong giai đoạn thắt chặt tiền tệ Các nhà cung cấp có thể dễ dàng đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng và kiểm soát việc cung cấp hàng hóa, đồng thời giảm chi phí giao dịch và đảm bảo chất lượng sản phẩm Hơn nữa, lý thuyết phân biệt giá cho thấy nhà cung cấp thường giảm giá cho khách hàng thanh toán sớm theo điều khoản 2/10 net 30, tạo ra sự khác biệt giá giữa các khách hàng.

Tín dụng thương mại mang lại nhiều ưu điểm cho cả nhà cung cấp và người mua hàng Theo Wilson và Summers (2002), tín dụng thương mại là công cụ tiếp thị hiệu quả, giúp nhà cung cấp thu hút khách hàng mới và xây dựng mối quan hệ bền vững, đặc biệt cho những doanh nghiệp mới chưa có nhiều mối quan hệ kinh doanh Doanh nghiệp mới có thể sử dụng tín dụng thương mại để tiếp cận khách hàng tiềm năng, đặc biệt khi khách hàng gặp khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng Bên cạnh đó, Schwartz (1974) chỉ ra rằng tín dụng thương mại cho phép người mua có thời gian chuẩn bị tài chính cho các giao dịch ngoài kế hoạch, đồng thời giúp họ dự đoán nhu cầu mua sắm trong tương lai và quản lý tiền mặt hiệu quả hơn thông qua việc thanh toán định kỳ.

Các lý thuyết liên quan đến tín dụng thương mại

Lý thuyết về tín dụng thương mại được khởi xướng bởi Goff (1957) và sau đó được phát triển bởi nhiều nhà nghiên cứu những năm sau này như: Schwartz

Trong nghiên cứu tín dụng thương mại, các lý thuyết chính được đề cập bao gồm lý thuyết về lợi thế tài trợ, lý thuyết phương tiện phân định giá và lý thuyết về chi phí giao dịch Các tác giả như Schwartz và Whitcomb (1978), Ferris (1981), Smith (1987), Biais và Gollier (1997), cùng với Petersen và Rajan (1997) đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển của những lý thuyết này từ năm 1974.

2.2.1 Lý thuyết về lợi thế tài trợ

Khi nói về ý thuyết tài trợ, ba lợi thế chính được nhấn mạnh bao gồm lợi thế thu thập thông tin, điều khiển người mua và thu hồi tài sản Lợi thế thu thập thông tin xuất phát từ sự hiểu biết sâu sắc của nhà cung cấp về lĩnh vực kinh doanh, cho phép họ đánh giá độ tin cậy của khách hàng tốt hơn so với các tổ chức tài chính khác Nhà cung cấp có thể thu thập thông tin nhanh chóng và chính xác từ hành động của người mua, điều này giúp giảm chi phí thu thập thông tin Theo nghiên cứu của Petersen và Rajan, Burkart và Ellingsen, tín dụng thương mại được coi là một hợp đồng để giảm thiểu thông tin không cân xứng trong thị trường hàng hóa Lợi thế giám sát từ tín dụng thương mại cũng xuất phát từ sự khác biệt giữa hàng hóa sản xuất và tiền mặt, khi hàng hóa sản xuất khó bị sử dụng sai mục đích Do đó, tín dụng thương mại không chỉ giảm rủi ro đạo đức mà còn mang lại lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp Ngân hàng có thể sẵn sàng cho vay nếu biết công ty đang sử dụng tín dụng thương mại, làm cho nó trở thành lựa chọn khả thi cho các công ty gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn bên ngoài Các nhà cung cấp có thể hỗ trợ khách hàng vượt qua khủng hoảng thanh khoản tạm thời thông qua việc cung cấp tín dụng thương mại.

Lợi thế điều khiển người mua xuất hiện khi hàng hóa được cung cấp bởi một nhà cung cấp độc quyền, và giá trị hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh số của người bán Trong tình huống này, nhà cung cấp có khả năng đe dọa ngừng cung cấp hàng hóa nếu khách hàng không tuân thủ hợp đồng Theo nghiên cứu của Petersen và Rajan (1997), điều này buộc người mua phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn như đã thỏa thuận.

Lợi thế thu hồi tài sản của nhà cung cấp khi người mua phá sản là một yếu tố quan trọng trong mọi lĩnh vực và hàng hóa Petersen và Rajan (1997) chỉ ra rằng nhà cung cấp thường có lợi thế hơn các tổ chức tín dụng, vì khi khối lượng hàng hóa bán ra lớn, nguy cơ sử dụng sai mục đích giảm, dẫn đến khả năng thu hồi cao hơn Cunat (2007) cũng cho rằng các công ty cung cấp tín dụng thương mại có thể mạnh hơn ngân hàng trong việc thu hồi nợ, do người mua gặp khó khăn trong việc tìm nhà cung cấp phù hợp và nhà cung cấp phải đầu tư chi phí để tìm khách hàng mới Tình trạng này càng rõ ràng khi sản phẩm của nhà cung cấp có công nghệ đặc trưng, vì họ có thể ngừng cung cấp nguyên vật liệu cho khách hàng, tăng cường khả năng thu hồi tài sản.

2.2.2 Lý thuyết phương tiện phân định giá

Nghiên cứu của Schwartz và Whitcomb (1978) cùng với Petersen và Rajan (1997) chỉ ra rằng tín dụng thương mại được áp dụng khi việc định giá công khai không được phép theo luật pháp Theo Brennan và cộng sự (1988) cùng Danielson và Scott (2004), nhà độc quyền có thể sử dụng các điều khoản tín dụng để phân biệt giá giữa khách hàng mua chịu và trả tiền mặt bằng cách đưa ra các điều khoản tín dụng hấp dẫn cho thanh toán chậm Tín dụng thương mại cũng được các nhà cung cấp sử dụng như một phương thức tài trợ cho khách hàng không vay được từ các định chế tài chính Nếu thị trường không hoàn hảo và có sự lựa chọn nghịch trên thị trường tín dụng, giá cả sẽ bị phân biệt thông qua tín dụng thương mại, từ đó có khả năng mang lại lợi nhuận Các công ty thanh toán bằng tiền mặt hoặc sớm sẽ nhận được chiết khấu, trong khi các công ty có rủi ro lại thấy lợi ích từ tín dụng thương mại do chi phí vốn khác có thể cao hơn Điều này dẫn đến thực tiễn rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận cao hơn có khả năng cấp tín dụng thương mại nhiều hơn.

2.2.3 Lý thuyết về chi phí giao dịch

Lý thuyết chi phí giao dịch, được phát triển bởi Schwartz (1974) và Ferris (1981), cho rằng tín dụng thương mại có thể giảm chi phí giao dịch bằng cách cho phép khách hàng tích lũy nghĩa vụ thanh toán và hoàn trả sau Điều này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp có nhu cầu đầu vào theo mùa, khi họ cần duy trì hàng tồn kho để đảm bảo sản xuất liên tục Việc cung cấp tín dụng thương mại không chỉ giúp khách hàng mua hàng sớm hơn mà còn cải thiện quản lý hàng tồn kho, từ đó giảm áp lực về tài chính và chi phí giao dịch (Petersen và Rajan, 1997; Burkart và Ellingsen, 2004; Danielson và Scott, 2004).

Nhà cung cấp có thể giảm chi phí lưu trữ hàng tồn kho nếu chi phí của khách hàng thấp hơn Khi đối mặt với giảm nhu cầu sản phẩm, công ty có thể chọn giữa việc lưu trữ hàng tồn kho hoặc cung cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có hạn chế về tín dụng Sự đánh đổi giữa hàng tồn kho và tín dụng thương mại cho phép nhà cung cấp giảm thiểu thiệt hại khi nhu cầu sụt giảm, đồng thời giảm chi phí hoạt động Người mua chấp nhận tín dụng thương mại để nhận mức giá thấp hơn nếu thanh toán đúng hạn.

Tín dụng thương mại không chỉ là phương thức tài trợ hiệu quả cho nhà cung cấp mà còn là nguồn tín dụng thiết yếu cho doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn Nó là một phần không thể thiếu trong cơ cấu tài chính của các doanh nghiệp ở mọi quy mô và lĩnh vực trong nền kinh tế thị trường Với vai trò quan trọng này, nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại.

Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại

Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại, bao gồm phát triển kinh tế của quốc gia như GDP, lãi suất thị trường và chính sách tiền tệ Hệ thống tài chính và cơ cấu pháp lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tín dụng thương mại Theo Demirguc-Kunt và Maksimovic (2001), những yếu tố này thuộc về kinh tế vĩ mô, nằm ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp Bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến tín dụng thương mại.

2.3.1 Các yếu tố kinh tế vĩ mô Ở góc độ kinh tế vĩ mô, tín dụng thương mại bị ảnh hưởng nhiều bởi chính sách tiền tệ, sự phát triển của hệ thống tài chính và cơ sở pháp lý của một quốc gia Metzler (1960) có thể là người đầu tiên cho rằng các công ty lớn sử dụng tín dụng thương mại thay vì giảm giá trực tiếp để thúc đẩy doanh số bán hàng trong thời kỳ chính sách tiền tệ thắt chặt Thêm nữa, theo tác giả Metzler (1960) lập luận rằng các công ty sẽ tích lũy tính thanh khoản trong giai đoạn chính sách tiền tệ nới lỏng và sử dụng mở rộng tín dụng thương mại trong thời kỳ chính sách tiền tệ thắt chặt Những tác động của kinh tế vĩ mô đến tín dụng thương mại gần đây đã được tiếp tục nghiên cứu bởi Guariglia và Mateut (2006); Mateut và cộng sự (2006) Nghiên cứu kết luận rằng tại Anh quốc, tín dụng thương mại tăng trong giai đoạn chính sách tiền tệ chặt chẽ và tỷ lệ ngân hàng cho vay giảm Huyghebaert (2006), Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2010b) chứng minh rằng sự suy giảm trong nền kinh tế vĩ mô dẫn đến các doanh nghiệp gia tăng các khoản phải trả bởi vì cơ hội tiếp cận tín dụng ngân hàng bị hạn chế và khả năng tạo ra tiền mặt nội bộ cũng giảm Nilsen (2002) chứng tỏ rằng các công ty vừa và nhỏ phụ thuộc nhiều hơn vào tín dụng thương mại khi chính sách tiền tệ thắt chặt vì khi đó các doanh nghiệp phải đối mặt với các vấn đề tài chính

Theo Demirguc-Kunt và Maksimovic (2001), trong một quốc gia có thị trường tài chính phát triển, các trung gian tài chính dễ dàng giám sát người vay, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn thuận lợi Ngược lại, ở những quốc gia với hệ thống tài chính không hoàn hảo, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận tài chính và thường phải tìm đến các tổ chức phi tài chính.

Năm 2001, nghiên cứu cho thấy rằng trong một quốc gia có hệ thống pháp lý phát triển với nhiều quy định bảo vệ người cho vay, sẽ hình thành mối quan hệ tiêu cực giữa việc sử dụng tín dụng thương mại và hiệu quả của hệ thống pháp luật.

Ng và cộng sự (1999) cùng Fisman và Love (2003) đã chỉ ra rằng việc sử dụng tín dụng thương mại khác nhau giữa các ngành, với ít sự đa dạng hóa trong các ngành công nghiệp Nhiều ngành như công ty dịch vụ công nghệ và nhà hàng không cần tín dụng thương mại do không có hàng tồn kho (Niskanen, 2006) Smith (1987) cũng nhấn mạnh rằng trong cùng một ngành, các điều khoản tín dụng thương mại thường không thay đổi, vì cả nhà cung cấp và khách hàng đều phải đối mặt với các điều kiện thị trường giống nhau Do đó, việc cấp tín dụng thương mại cho người mua trong cùng ngành là tương tự nhau.

2.3.2 Các yếu tố của doanh nghiệp

Petersen và Rajan (1997) đã chỉ ra rằng tín dụng thương mại có hai chiều, với các công ty đóng vai trò vừa là người mua vừa là nhà cung cấp Tương tự, Wilson và Summers (2002) cũng nhấn mạnh rằng mối quan hệ tín dụng thương mại là mối quan hệ hai chiều có sự tác động lẫn nhau.

Tín dụng thương mại được xác định thông qua cả khoản phải thu và khoản phải trả, và nghiên cứu này tập trung vào phân tích riêng biệt hai yếu tố này.

Cầu Cầu Khoản phải trả Khoản phải thu Cung Cung

Mức độ tín dụng thương mại không chỉ phụ thuộc vào khách hàng mà còn do nhà cung cấp quyết định Các khoản phải thu chịu ảnh hưởng từ khả năng mở rộng của công ty và sự sẵn sàng cung cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Đồng thời, nhu cầu của khách hàng và mức độ sẵn sàng sử dụng tín dụng thương mại cũng là yếu tố quan trọng trong việc xác định các khoản phải thu, như đã được nêu bởi Petersen và Rajan (1997), Wilson và Summers.

(2002), Garcia-Teruel và Mar tinez-Solano (2010a), một số đặc điểm của doanh nghiệp được coi là yếu tố tác động đến tín dụng thương mại như:

Mức độ tín nhiệm phản ánh uy tín và khả năng tín dụng của doanh nghiệp, đồng thời cho thấy khả năng tiếp cận nguồn tài chính thay thế Bài nghiên cứu này phân tích mức độ tín nhiệm dựa trên độ tuổi và quy mô của công ty, theo quan điểm của Schwartz.

Nghiên cứu của 1974 cho thấy các công ty lớn và lâu đời có uy tín tín dụng tốt hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ Petersen và Rajan (1997) cũng khẳng định rằng những công ty này cung cấp nhiều tín dụng thương mại hơn và dễ dàng tiếp cận tín dụng ngân hàng hơn so với các doanh nghiệp nhỏ và mới Mặc dù các công ty nhỏ có thể tiếp cận nguồn tài chính, nhưng chúng không thể cung cấp nhiều tín dụng thương mại do hạn chế về kinh tế quy mô Điều này được xác nhận bởi các nghiên cứu của Ng và cộng sự (1999), Danielson và Scott (2004), cho thấy các công ty lớn dễ dàng đạt yêu cầu tín dụng thương mại Các nghiên cứu trước đó của Petersen và Rajan (1997), Deloof và Jegers (1999), Miwa và Ramseyer (2005), Bougheas và cộng sự (2009) cũng chỉ ra mối quan hệ đồng biến giữa tài khoản phải trả và phải thu với quy mô công ty, thường được đo bằng tổng tài sản hoặc logarit của tổng tài sản.

Khách hàng của doanh nghiệp

Nhà cung cấp của doanh nghiệp

Hình 2.1 Mối quan hệ tín dụng thương mại

Quy mô công ty ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ tín nhiệm của nó; vì vậy, các công ty lớn thường sử dụng và cung cấp tín dụng thương mại nhiều hơn.

Khả năng tiếp cận nguồn tài chính bên ngoài của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, tương tự như mức độ tín nhiệm Các nhà cung cấp có khả năng huy động vốn tốt hơn có thể cung cấp tín dụng thương mại cho khách hàng, đặc biệt là những doanh nghiệp không có khả năng tiếp cận nguồn vốn tương tự Theo Schwartz (1974), việc cung cấp tín dụng này không chỉ hỗ trợ khách hàng mà còn truyền tải thông tin cá nhân của người bán cho ngân hàng, giúp giảm thiểu rủi ro cắt giảm tín dụng trong các tình huống khó khăn Biais và Gollier (1997) nhấn mạnh rằng nếu người bán sẵn sàng cung cấp tín dụng thương mại, điều này cho thấy họ có thông tin đáng tin cậy về khách hàng Hơn nữa, Jain (2001) lập luận rằng các nhà cung cấp có lợi thế giám sát so với ngân hàng, vì trong quá trình giao dịch, họ có thể thu thập thông tin mà ngân hàng không có.

Chi phí của khoản nợ tài chính, được xác định bằng chi phí tài chính chia tổng nợ trừ khoản phải trả, ảnh hưởng lớn đến quyết định tín dụng thương mại của doanh nghiệp (Garcia-Teruel và Martinez-Solano, 2010a) Khi chi phí tài chính cao, doanh nghiệp thường cung cấp ít tín dụng thương mại nhưng lại có nhu cầu cao hơn từ các nhà cung cấp Nilsen (2002) cho rằng trong bối cảnh chính sách tiền tệ thắt chặt, chi phí vay ngân hàng có thể vượt mức tín dụng thương mại, dẫn đến việc gia tăng sử dụng tín dụng thương mại.

Yếu tố thứ tư liên quan đến sự tăng trưởng doanh thu, được định nghĩa là doanh thu năm hiện tại trừ đi doanh thu năm trước và chia cho doanh thu năm trước Petersen và Rajan (1997) cho rằng các doanh nghiệp muốn đạt doanh thu cao cần chấp nhận giao dịch tín dụng thương mại nhiều hơn, từ đó tạo ra mối liên hệ tích cực giữa tăng trưởng doanh thu và khoản phải thu Emery (1984) chỉ ra rằng công ty có doanh số thấp có thể sử dụng tín dụng thương mại như một công cụ tiếp thị để gia tăng doanh thu Ngoài ra, Wilson và Summers (2002) nhận thấy rằng tín dụng thương mại thường được áp dụng bởi những công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh.

Nợ vay ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể đến tín dụng thương mại Petersen và Rajan (1997) chỉ ra rằng doanh nghiệp có khả năng nhận tín dụng từ tổ chức tín dụng thường có khoản phải trả thấp hơn, cho thấy tín dụng thương mại là một lựa chọn thay thế cho tín dụng tài chính Nghiên cứu của Kohler và cộng sự (2000) cùng Nilsen (2002) cũng xác nhận điều này qua các bộ dữ liệu khác nhau Deloof và Jegers (1999) cung cấp bằng chứng rằng tín dụng ngân hàng ngắn hạn có thể thay thế cho các khoản phải trả Bougheas và cộng sự (2009) nhận thấy rằng các khoản phải thu bổ sung cho các khoản vay ngân hàng, trong khi các khoản phải trả lại thay thế cho chúng Điều này cho thấy chi phí tín dụng thương mại cao hơn chi phí tín dụng ngân hàng, phù hợp với lý thuyết trật tự Do đó, các công ty có khả năng tiếp cận vốn từ ngân hàng thường chuyển nguồn vốn đó cho người mua thông qua tín dụng thương mại và ít nhận tín dụng từ khách hàng hơn.

2.3.3 Yếu tố tác động đến các khoản phải thu

Bảng 2.1 Tóm tắt dự đoán giả thuyết và kết quả thực nghiệm cho mối quan hệ giữa các nhân tố quyết định và các khoản phải thu

Các yếu tố tác động của doanh nghiệp tác động đến các khoản phải thu Dự đoán giả thuyết Kết quả thực nghiệm

Mối quan hệ cùng chiều:

Mối quan hệ cùng chiều:

Petersen và Rajan (1997), Niskanen và Niskanen

Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2010a)

Mối quan hệ cùng chiều:

(1997), Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2010a), Bougheas và cộng sự (2009),Vaidya (2011)

Mối quan hệ cùng chiều:

Petersen và Rajan (1997), Garcia-Teruel và

Martinez-Solano (2010a), Bougheas và cộng sự (2009)

Nợ tài chính Mối quan hệ cùng chiều:

Mối quan hệ cùng chiều:

Chi phí tài chính Mối quan hệ ngược chiều: Petersen và Rajan

Mối quan hệ ngược chiều: Petersen và Rajan

Mối quan hệ cùng chiều:

(1997), Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2010a)

Mối quan hệ cùng chiều:

Mối quan hệ ngược chiều: Garcia-Teruel và

Doanh thu Mối quan hệ ngược chiều: Garcia-Teruel và

Mối quan hệ cùng chiều:

Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2010a) Nguồn: từ các nghiên cứu trước

Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây

Tín dụng thương mại đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có Wilson và Summer (2002) khi họ sử dụng thông tin từ

655 doanh nghiệp được khảo sát bằng thư điện tử ở nước Anh, Wilson và Summer

Nghiên cứu năm 2002 về nhu cầu tín dụng thương mại của các doanh nghiệp sản xuất cùng một loại sản phẩm chính cho thấy tín dụng thương mại là lựa chọn tài trợ ngắn hạn phổ biến Nhu cầu tín dụng thương mại được đo bằng tỷ lệ khoản phải trả so với tổng giá trị tài sản và phụ thuộc vào chi phí giao dịch cùng các phương thức tài trợ Phân tích hồi quy Tobit chỉ ra rằng nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này, trong đó có các yếu tố tác động thuận như rủi ro hoạt động, tỷ lệ hàng tồn kho trên tổng tài sản, luân chuyển hàng tồn kho, mức độ bị giới hạn tín dụng ngân hàng, ưu đãi từ nhà cung cấp, số lượng nhà cung cấp và doanh thu doanh nghiệp Ngược lại, số năm kinh doanh sản phẩm chính lại có tác động nghịch Wilson và Summer (2002) kết luận rằng nhu cầu tín dụng thương mại bị ảnh hưởng bởi chi phí giao dịch, quy mô sản xuất, chi phí đầu tư, phương thức tài trợ, hoạt động của doanh nghiệp và hoạt động marketing của nhà cung cấp.

Danielson và Scott (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của vay nợ ngân hàng đến nhu cầu tín dụng thương mại và thẻ tín dụng của doanh nghiệp nhỏ Họ phát hiện rằng khi gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng, các công ty có xu hướng tăng nhu cầu về tín dụng thương mại và nợ thẻ tín dụng Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ cuộc khảo sát của Hiệp hội Quốc gia những doanh nghiệp độc lập (NFIB) năm 1995, nhằm tìm hiểu yêu cầu tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và mối quan hệ với ngân hàng Nghiên cứu đặt ra câu hỏi liệu sự sẵn có của khoản vay ngân hàng có ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng thương mại hay không Tác giả tập trung vào các nguyên nhân gây ra hạn chế tín dụng, dẫn đến việc một số doanh nghiệp phải sử dụng tín dụng thương mại thay thế cho khoản vay ngân hàng Mô hình nghiên cứu chỉ ra rằng nhu cầu tín dụng thương mại phụ thuộc vào sự sẵn có của khoản vay ngân hàng, giá sử dụng tín dụng thương mại, và các đặc điểm của công ty cũng như ngành nghề.

Trade credit demand = ɵ{Credit Availability, Price, Control Variables} (1)

Tác giả phân tích mô hình tín dụng hiện tại của doanh nghiệp trước khi đánh giá chính sách tín dụng thương mại, xem xét các yếu tố như rủi ro công ty, mối quan hệ với ngân hàng và cấu trúc thị trường.

Credit Availability = ɵ{Risk, Banking Relationship Strength, Market

Danielson và Scott (2004) đã sử dụng dữ liệu khảo sát về doanh nghiệp nhỏ, bao gồm cả doanh nghiệp nông nghiệp, để phân tích mối quan hệ giữa khả năng vay vốn ngân hàng và nhu cầu tín dụng thương mại tại Hoa Kỳ Nghiên cứu cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa khả năng vay vốn ngân hàng và nhu cầu tín dụng thương mại, với kết luận rằng các doanh nghiệp có hạn chế về tín dụng ngân hàng có nhu cầu sử dụng tín dụng thương mại cao hơn Nhu cầu tín dụng thương mại được đánh giá là quan trọng hơn so với các nguồn tín dụng khác Qua phân tích hồi quy, các tác giả chỉ ra rằng nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng thương mại của doanh nghiệp nhỏ, trong đó giới hạn tín dụng ngân hàng có tác động tích cực, trong khi không có chiết khấu thanh toán sớm lại có tác động tiêu cực Kết quả cũng chỉ ra rằng nhu cầu tín dụng thương mại của doanh nghiệp nông nghiệp thấp hơn so với một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác.

Delannay và Weill (2004) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định tín dụng thương mại ở các quốc gia đang chuyển đổi, chỉ ra rằng các công ty phi tài chính đóng vai trò trung gian tài chính do động cơ tài chính và thương mại Trong bối cảnh tài chính đặc biệt của các công ty này, tín dụng thương mại trở thành yếu tố quan trọng trong cơ cấu tài chính Nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ 9,273 công ty ở chín quốc gia Trung và Đông Âu, thành viên của Liên minh Châu Âu, với thông tin từ bảng cân đối kế toán không hợp nhất năm 1999 và 2000, lấy từ cơ sở dữ liệu Amadeus Các công ty trong mẫu phải có doanh thu trên 10 triệu euro, số nhân viên lớn hơn 150 hoặc tổng tài sản lớn hơn 10 triệu euro, loại trừ các công ty rất nhỏ Để phân tích các yếu tố quyết định tín dụng thương mại, nghiên cứu sử dụng hai biến giải thích: tỷ lệ các khoản phải trả trên tổng tài sản (TP) và tỷ lệ các khoản phải thu trên doanh thu (TR).

Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu bao gồm quy mô công ty (ASSETS), lợi nhuận (PROFIT), mức tăng trưởng doanh thu (GROWTH), nợ ngân hàng ngắn hạn (LEVERAGE) và biến giả cho sáu nhóm ngành: bán sỉ, bán lẻ, dịch vụ khác, sản xuất, xây dựng và nông nghiệp Hai mô hình nghiên cứu được trình bày trong bài viết.

TR = α +β 1 ASSETS + β 2 PROFIT + β 3 GROWTH + β 4 EQUITY +

TP = α +β 1 ASSETS + β 2 PROFIT + β 3 GROWTH + β 4 LEVERAGE +

Nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ và tác động khác nhau giữa các quốc gia, với động lực tài chính và thương mại đóng vai trò quan trọng trong hành vi tín dụng của doanh nghiệp Cụ thể, nhà cung cấp hoạt động như trung gian tài chính, giúp doanh nghiệp tiếp cận tín dụng ngân hàng hạn chế, cho thấy động cơ tài chính trong việc mở rộng tín dụng thương mại Hơn nữa, nghiên cứu cũng xác nhận sự thay thế giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng, làm nổi bật động cơ thương mại trong việc phát triển tín dụng thương mại.

Theo nghiên cứu của Gustafson (2004), tín dụng thương mại đóng vai trò quan trọng không chỉ là nguồn tín dụng ngắn hạn chủ yếu cho doanh nghiệp nông nghiệp ở các quốc gia đang phát triển mà còn là một nguồn tài trợ thiết yếu tại các quốc gia phát triển.

Kết quả phân tích hồi quy OLS mô hình nhu cầu vốn của Gustafson cho thấy nhu cầu tín dụng thương mại của doanh nghiệp nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Doanh thu và chi phí sản xuất kinh doanh có tác động tích cực, trong khi giá trị tài sản thế chấp, nợ vay ngân hàng và thu nhập khác lại tác động tiêu cực đến nhu cầu tín dụng thương mại trong lĩnh vực này Mặc dù giá trị tài sản có ảnh hưởng, nhưng mức độ ảnh hưởng chưa đạt ý nghĩa thống kê đối với nhu cầu vốn tín dụng thương mại của các doanh nghiệp nông nghiệp.

Bài nghiên cứu dựa trên dữ liệu khảo sát từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang, thu thập thông tin nhân khẩu học và tài chính của 3,561 doanh nghiệp nhỏ tại Mỹ vào cuối năm 1998 Gustafson (2004) đã xây dựng hai mô hình riêng biệt: mô hình AR đo lường mức độ sử dụng các khoản phải thu và mô hình AP đánh giá mức độ sử dụng các khoản phải trả Mô hình AR phản ánh mức độ mà các doanh nghiệp nông nghiệp cấp tín dụng thương mại cho các công ty và nông dân, trong khi mô hình AP xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng thương mại của doanh nghiệp nông nghiệp Hình thức chung của hai mô hình hồi quy được trình bày rõ ràng.

ARt và APt là các biến phụ thuộc chính trong nghiên cứu này Các biến X1-X5 đại diện cho các chỉ số tài chính tổng quát về hiệu suất và quy mô của công ty X6-X14 thể hiện tính thanh khoản cùng với các hình thức tín dụng khác nhau Biến X15 đo lường mức độ tập trung của ngân hàng thông qua chỉ số Herfindahl X16 phản ánh các nguồn thu nhập khác của công ty, trong khi X17-X23 xác định số lượng máy tính mà công ty sử dụng cho các dịch vụ tài chính Các biến X24-X28 đánh giá mức độ công ty áp dụng các dịch vụ tài chính khác nhau Cuối cùng, X29 là điểm tín dụng Bradstreet và X30-X34 đo lường lịch sử khủng hoảng tài chính của công ty.

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các công ty thường vay tiền và cho vay lại dưới hình thức tín dụng thương mại, với mối quan hệ mạnh mẽ giữa các hình thức vay nợ và mức độ các khoản phải thu Mức cho vay lại thực tế khác nhau giữa các doanh nghiệp, phụ thuộc vào việc sử dụng công nghệ quản lý tiền mặt và dịch vụ tín dụng Các khoản phải thu còn bị ảnh hưởng bởi doanh thu, chi phí hoạt động và thu nhập khác Nguồn vốn chủ yếu cho vay lại đến từ thế chấp và nợ cổ phần, tạo ra sự liên tục và sẵn có cho tín dụng thương mại Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu mở rộng tín dụng thương mại cho doanh nghiệp nông nghiệp từ các khoản phải trả, cho thấy tín dụng thương mại là nguồn vốn thay thế Mối quan hệ ngược chiều giữa tài khoản phải trả và các nguồn tín dụng khác cho thấy tín dụng thương mại có thể làm giảm nhu cầu về các khoản phải trả, mặc dù không hoàn toàn thay thế Nhu cầu của các khoản phải trả cũng biến đổi theo doanh thu, chi phí kinh doanh, thu nhập khác và ứng dụng công nghệ.

Nghiên cứu này chỉ ra rằng cho vay lại đóng vai trò quan trọng trong các công ty nông nghiệp, ảnh hưởng đến rủi ro và khả năng đánh giá tín nhiệm của họ Chủ sở hữu và nhân viên có thể quan tâm hơn đến hoạt động cho vay lại, từ đó tăng cường giám sát Hơn nữa, các nhà cho vay cần điều chỉnh mô hình đánh giá tín dụng nếu doanh nghiệp vay vốn không còn tập trung vào hoạt động kinh doanh chính của mình.

Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ mặc dù nhận được sự hỗ trợ hạn chế từ các ngân hàng, dẫn đến việc cần kiểm tra cơ hội tăng trưởng của họ trong môi trường tài chính kém phát triển Bài nghiên cứu so sánh việc sử dụng tín dụng thương mại, một kênh tài chính không chính thức quan trọng, giữa các công ty nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2000, khu vực ngoài quốc doanh chỉ nhận được dưới 1% tổng nợ vay ngân hàng vào cuối những năm 1990, trong khi họ lại chiếm ưu thế trong sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước Từ năm 1995 đến 2000, sản lượng công nghiệp của khu vực ngoài quốc doanh tăng 19% mỗi năm, so với 4,6% của khu vực nhà nước, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng và tốc độ tăng trưởng giữa hai loại hình doanh nghiệp này tại Trung Quốc.

36

48

64

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Mối quan hệ tín dụng thương mại - Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại   bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam
Hình 2.1 Mối quan hệ tín dụng thương mại (Trang 26)
Bảng 2.2.  Tóm tắt dự đoán giả thuyết và kết quả thực nghiệm cho mối quan - Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại   bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam
Bảng 2.2. Tóm tắt dự đoán giả thuyết và kết quả thực nghiệm cho mối quan (Trang 31)
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến số quan sát - Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại   bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến số quan sát (Trang 59)
Hình 4.1. Mức độ sử dụng các khoản phải thu của từng lĩnh vực - Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại   bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam
Hình 4.1. Mức độ sử dụng các khoản phải thu của từng lĩnh vực (Trang 62)
Hình 4.2. Mức độ sử dụng các khoản phải trả của từng lĩnh vực - Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại   bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam
Hình 4.2. Mức độ sử dụng các khoản phải trả của từng lĩnh vực (Trang 62)
Bảng 4.2. Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình - Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại   bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam
Bảng 4.2. Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình (Trang 66)
Bảng  4.6.  Kết  quả  hồi  quy  mô  hình  RECEIV  bằng  phương  pháp  hồi  quy  robust - Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại   bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam
ng 4.6. Kết quả hồi quy mô hình RECEIV bằng phương pháp hồi quy robust (Trang 68)
Bảng  4.7.  Kết  quả  hồi  quy  mô  hình  PAYAB  bằng  phương  pháp  hồi  quy  robust - Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại   bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam
ng 4.7. Kết quả hồi quy mô hình PAYAB bằng phương pháp hồi quy robust (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w