1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại việt nam

73 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả Phạm Hồng Vy
Người hướng dẫn PGS.TS. Võ Xuân Vinh
Trường học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp định lượng, mô hình nghiên cứu được tiếp cận theo phương pháp VAR với hệ phương trình đồng thời và sử dụng phương pháp ước lư

Trang 1

của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017

Tác giả

Phạm Hồng Vy

Trang 2

hiện luận văn, giúp tôi hoàn thành luận văn với nội dung đạt yêu cầu và tốt nhất trong khả năng của tôi

Tôi cũng xin cám ơn đến Ban giám hiệu, Khoa sau đại học trường Đại học

Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập

và nghiên cứu tại trường Bên cạnh đó, tôi cũng biết ơn đối với tất cả Thầy, Cô trực tiếp đứng lớp đã truyền đạt những bài giảng giúp tôi củng cố đến kiến thức về Tài chính – Ngân hàng

Sau cùng, tôi xin chân thành cám ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đã luôn động viên, ủng hộ tôi hoàn thành luận văn này

Trang 3

pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp định lượng,

mô hình nghiên cứu được tiếp cận theo phương pháp VAR với hệ phương trình đồng thời và sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy OLS để kiểm định mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Luận văn sử dụng mô hình tương tự như Imbierowicz & Rauch (2014), các biến nghiên cứu gồm rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng; các biến kiểm soát gồm tỷ lệ giữa tài sản kinh doanh và tổng tài sản, tỷ lệ giữa cho vay nông nghiệp và tổng cho vay, tỷ lệ vốn, tỷ lệ thanh khoản của các khoản nợ, độ lệch chuẩn của ROA, tỷ số hiệu quả hoạt động, tăng trưởng tín dụng, các tài khoản phái sinh ngoài bảng cân đối, các tài khoản phái sinh ngoài bảng cân đối khác, logarit tự nhiên của tổng tài sản của ngân hàng, đòn bẩy tài chính của ngân hàng, chênh lệch lãi suất của trái phiếu chính phủ kỳ hạn 1 năm và 10 năm, lãi suất chính sách của ngân hàng nhà nước, logarit tự nhiên của tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam Tuy nhiên, Imbierowicz & Rauch (2014) không đề cập đến tác động cụ thể của các nhân tố đặc thù của ngân hàng lên rủi ro thanh khoản hay rủi ro tín dụng mà chỉ phân tích tác động qua lại giữa hai biến rủi ro này Do đó, luận văn này cũng không đi sâu vào phân tích các biến kiểm soát tác động lên các biến độc lập

Kết quả của nghiên cứu góp phần quan bổ sung cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ

2007 đến 2015 nhưng các biến trễ của từng rủi ro lại ảnh hưởng đến chính rủi

Trang 4

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 4

1.6 Kết cấu của luận văn 4

2 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Rủi ro thanh khoản 6

2.1.1 Khái niệm 6

2.1.2 Phân loại rủi ro thanh khoản 6

2.1.3 Các nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản 7

2.2 Rủi ro tín dụng 11

2.2.1 Khái niệm 11

2.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng 12

2.2.3 Đánh giá rủi ro tín dụng 13

2.2.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 14

2.2.5 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 15

2.3 Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng 15

Trang 5

3 CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 20

3.2 Mô hình nghiên cứu 21

3.2.1 Biến nghiên cứu 21

3.2.2 Các biến kiểm soát 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 26

3.3.1 Dữ liệu bảng 27

3.3.2 Mô hình VAR 28

4 CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

4.1 Phân tích thống kê mô tả 30

4.2 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 32

4.3 Phân tích kết quả hồi quy 34

5 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Khuyến nghị 43

5.2.1 Khuyến nghị đối với ngân hàng nhà nước 43

5.2.2 Khuyến nghị đối với các ngân hàng thương mại 44

5.3 Hạn chế của luận văn và định hướng cho nghiên cứu tiếp theo 44

5.3.1 Hạn chế của luận văn 44

5.3.2 Định hướng cho nghiên cứu tiếp theo 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 50

Trang 6

1 Bảng 3.1 Mô tả các biến trong nghiên cứu 25

5 Bảng 4.4 Kết quả hồi quy giai đoạn sau khủng hoảng 40

Trang 7

FDIC Federal Deposits Insurance Corporation

OCC Office of the Comptroller of the Currency

OLS Phương pháp ước lượng hồi quy bình phương bé nhất NHNN

NHTM

Ngân hàng nhà nước Ngân hàng thương mại

Trang 8

1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương đầu tiên của nghiên cứu sẽ giới thiệu tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được áp dụng để phân tích dữ liệu, và cuối cùng là ý nghĩa của của nghiên cứu

1.1 Đặt vấn đề

Ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhanh khi có một hệ thống ngân hàng vững mạnh Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngân hàng ngày càng mở rộng và phát triển các sản phẩm với nhiều tiện ích nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô cũng như đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro Khi rủi ro xảy ra, cũng là lúc NHTM phải đối mặt với những nguy cơ như: giảm uy tín, mất khả năng thanh khoản, thậm chí là đi tới phá sản Hai trong số những rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng của ngân hàng Chẳng hạn như: Bryant (1980) hay Diamond & Dybvig (1983) cho rằng, tài sản và cấu trúc nợ có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, đặc biệt đáng chú ý là những khoản nợ không đòi được và việc rút tiền đột ngột của khách hàng Điều đó không chỉ đúng với tài khoản nội bảng mà còn đúng với việc cho vay

và tài trợ vốn thông qua tài khoản ngoại bảng (Holmstrom & Tirole 1996; Kashyap

và cộng sự 1999)

Dựa trên những mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản

và rủi ro tín dụng, nội dung của một số nghiên cứu gần đây chủ yếu tập trung xem

Trang 9

xét sự tương tác của rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và tác động của sự tương tác

đó đến sự ổn định của ngân hàng từ nhiều góc độ khác nhau nhưng chủ yếu là từ một quan điểm lý thuyết, đó là không chỉ rủi ro thanh khoản hay rủi ro tín dụng tác động đến tính ổn định của ngân hàng mà cả sự tương tác giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng có ảnh hưởng đến tính ổn định của ngân hàng (Acharya et al 2010; Acharya & Viswanathan 2011; Cai & Thakor 2008; Gatev và cộng sự 2009; Goldstein & Pauzner 2005; Gorton & Metrick 2012; He & Xiong 2012a, 2012b; Wagner 2007)

Bằng chứng từ những thất bại của các ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính gần đây đã hỗ trợ cho các kết quả về lý thuyết và thực nghiệm Imbierowicz & Rauch (2014) dựa trên kết quả phân tích báo cáo của FDIC và OCC

về nguyên nhân thất bại của các NHTM trong suốt thời kỳ khủng hoảng gần đây là

do tác động đồng thời của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Các ngân hàng không phân biệt được sự khác nhau giữa tài sản có tính thanh khoản cao, tài sản có tính thanh khoản thấp, các nguồn tài trợ tương ứng, và cũng không quan tâm đến những RRTD của các tài sản Vì thế, các ngân hàng không có sự tính toán chuẩn bị cho sự xảy ra đồng thời của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng trong hệ thống quản lý rủi ro của ngân hàng

Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu phân tích sâu ở các khía cạnh khác nhau về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Để hiểu rõ về mối quan hệ chung cũng như chiều hướng tác động giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, tác giả chọn đề tài nghiên

cứu “Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng

thương mại Việt Nam” Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết và

bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Trang 10

giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, để đưa ra những chiến lược hoạch định quản lý rủi ro cho phù hợp

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Từ mục tiêu của đề tài, nghiên cứu này sẽ đi trả lời các câu hỏi sau:

- Có tồn tại mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng hay không?

- Nếu có tồn tại mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng thì chiều hướng của mối quan hệ này là như thế nào?

1.3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam

Dữ liệu được lấy từ các báo cáo tài chính của NHTM Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2015

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, tiếp cận khung biến bằng mô hình VAR để kiểm soát quan hệ tác động qua lại giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng và sử dụng phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS)

Dữ liệu được sử dụng phân tích trong luận văn được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến

Trang 11

năm 2015, với 30 ngân hàng và 203 quan sát Dữ liệu về các biến của nghiên cứu gồm rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và các biến kiểm soát đều được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại, website của ngân hàng nhà nước, tổng cục thống kê, World Bank và Investing1 Sau khi thu thập và sàng lọc dữ liệu, tác giả tính toán, đưa vào mô hình và phân tích với phần mềm Eviews, từ đó đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn

Về mặt khoa học, nghiên cứu góp phần vào bổ sung cơ sở lý thuyết về mối

quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng của ngân hàng Luận văn cũng đưa ra các bằng chứng thực nghiệm để kiểm chứng và bổ sung các nghiên cứu trước

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu sẽ đưa ra những bằng chứng thực nghiệm mang

tính chất tham khảo cho các nhà quản trị rủi ro của ngân hàng, từ đó các nhà quản trị

có cái nhìn bao quát hơn về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

để xây dựng chiến lược phù hợp để giảm thiểu rủi ro trong ngân hàng Điều này không chỉ góp phần duy trì sự ổn định của từng ngân hàng đơn lẻ mà còn giúp hạn chế được rủi ro trong toàn hệ thống ngân hàng trong bối cảnh kinh tế hiện nay

1.6 Kết cấu của luận văn

Nội dung của đề tài nghiên cứu gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu bao gồm: lý do nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu

Trang 12

Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu, các giải thuyết liên quan đến nội dung, và các nghiên cứu trước có liên quan

Chương 3: Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Trình bày cách đo lường các biến, thiết kế mô hình và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Thực hiện phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị Từ kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận cho

đề tài, từ đó nêu những mặt hạn chế của đề tài đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 13

2 CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương này sẽ trình bày các lý thuyết cơ bản xoay quanh vấn đề nghiên cứu Luận văn sẽ trình bày sơ lược lý thuyết về rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng; tiếp theo nghiên cứu trình bày tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về các chủ đề liên quan và các giả thuyết nghiên cứu

2.1 Rủi ro thanh khoản

2.1.1 Khái niệm

Theo Duttweiler (2008), rủi ro thanh khoản được định nghĩa là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó rủi ro thanh khoản sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn Vento & La Ganga (2009) định nghĩa rằng, rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không có đủ tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn hoặc phải sử dụng những nguồn tài chính khác với chi phí cao mặc dù ngân hàng vẫn có khả năng thanh toán Nikolaou (2009) định nghĩa rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi trong một khoảng thời gian nhất định, ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình ngay lập tức

2.1.2 Phân loại rủi ro thanh khoản

Theo Duttweiler (2008), khi nói đến đặc tính của các nguồn thanh khoản, người ta thường phân biệt theo: tính sẵn có, cơ cấu đáo hạn, cấu trúc chi phí và rủi

ro thanh khoản Về mặt cấu trúc, chúng thường được chia thành bốn nhóm sau:

Trang 14

Rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn: điều này liên quan đến tài sản và nợ

Những khoản tiền gửi có thể được rút sớm trước ngày tới hạn thay vì chờ đến thời gian đáo hạn

Rủi ro thanh khoản có kỳ hạn: điều kiện thanh toán khác đi so với các điều

kiện của hợp đồng Ví dụ việc trả nợ có thể bị trì hoãn

Rủi ro thanh khoản tài trợ: Nếu một tài sản không được tài trợ hợp lý, việc

tài trợ một thương phiếu (CP) theo sau đó có thể phải được thực hiện trong những điều kiện bất lợi, nghĩa là với giá chênh lệch cao hơn Trong trường hợp xấu, quỹ tiền thậm chí có thể bị rút nhiều như đã giải thích trong phần rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn

Rủi ro thanh khoản thị trường: một lần nữa thanh khoản thị trường lại có liên

quan đến tài sản và nợ Các điều kiện thị trường bất lợi có thể làm giảm khả năng chuyển các tài sản khả nhượng thành tiền hoặc để tài trợ cho số lượng cần thiết Cũng có thể kết hợp các hai tác động

2.1.3 Các nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản

Theo Nguyễn Bảo Huyền (2016), có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản và bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đó có thể là nguyên nhân chủ quan hoặc nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ có sự bất cân xứng, bắt nguồn từ chức năng chuyển hóa kỳ hạn của ngân hàng: huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn

từ dân chúng để cho vay các khoản tín dụng dài hạn Như vậy kỳ hạn của tài sản có dài hơn kỳ hạn của tài sản nợ khiến dòng tiền của tài sản có không cân xứng với

Trang 15

dòng tiền cần đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của các tài sản nợ, gây ra khó khan cho ngân hàng phải lo tìm nguồn bù đắp

Thứ hai, do các ngân hàng không dự tính được nhu cầu rút tiền hoặc các nghĩa vụ phải trả tiền Khi nhu cầu rút tiền và nghĩa vụ trả tiền vượt quá mức dự tính, các ngân hàng này sẽ gặp khó khăn về thanh khoản

Thứ ba, do tiềm lực tài chính của ngân hàng còn hạn chế Vốn điều lệ là số vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong điều lệ của ngân hàng, được hình thành khi ngân hàng thương mại mới được thành lập Nó phản ánh quy mô hay thực lực tài chính của ngân hàng thương mại Nếu vốn điều lệ của ngân hàng thương mại càng cao, chứng tỏ ngân hàng càng có tiềm lực tài chính và ngược lại nếu vốn điều lệ của ngân hàng thương mại càng ít thì quy mô hoạt động của ngân hàng càng nhỏ Các ngân hàng nhỏ thường khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn hoặc chỉ vay được với lãi suất cao, đặc biệt là đối với nguồn vốn vay Có thể nói áp lực rất lớn khi các ngân hàng này phải gánh chịu chi phí cao để có thể khắc phục khó khăn trong việc giải quyết vấn đề thanh khoản Quy mô vốn điều lệ nhỏ có thể là một trong những nguyên nhân đẩy ngân hàng thương mại đến tình trạng mất khả năng chi trả

và phá sản khi nhu cầu thanh khoản tăng đột ngột

Thứ tư, do kinh doanh nhiều loại tiền tệ, tạo nên rủi ro thanh khoản và yêu cầu tài trợ trong từng loại tiền tệ

Thứ năm, do uy tín của ngân hàng bị giảm khiến khách hàng gửi tiền nhanh chóng rút tiền gây nên rủi ro thanh khoản Đây là hệ quả của việc kinh doanh yếu kém, công tác quảng cáo chưa được đầu tư thỏa đáng

Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, do các tài sản tài chính có tính nhạy cảm với sự biến động của lãi

Trang 16

suất tăng, khách hàng sẽ rút tiền để gửi vào nơi có lãi suất cao hơn còn các khách hàng vay giảm tối đa việc vay mới để tránh trả lãi nhiều hơn Khi lãi suất giảm thì phản ứng ngược lại Trong cả hai trường hợp, biến động lãi suất ảnh hưởng đến cả dòng tiền gửi lẫn cho vay, cuối cùng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng Ngoài ra, việc thay đổi lãi suất sẽ ảnh hưởng đến thị giá của tài sản tài chính đem bán và ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng

Thứ hai, chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước để thực hiện chức năng của mình trong điều hành chính sách tiền tệ, ngân hàng nhà nước sử dụng ba công

cụ bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, quy định về dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, và tái chiết khấu các giấy tờ có giá

Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động của ngân hàng nhà nước mua

hoặc bán cho ngân hàng thương mại trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc nhà nước khi muốn tăng cung tiền, ngân hàng nhà nước nmua trái phiếu từ các ngân hàng thương mại , số tiền mà ngân hàng nhà nước trả cho ngân hàng thương mại làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh khoản cho ngân hàng thương mại Ngược lại, khi muốn giảm cung tiền, ngân hàng nhà nước bán trái phiếu cho ngân hàng thương mại, số tiền mà ngân hàng nhà nược thu về làm giảm lượng cung ứng tiền tệ của nền kinh tế đồng thời cũng làm giảm cung thanh toán của ngân hàng thương mại

Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc là biện pháp điều chỉnh mà ngân hàng nhà

nước bắt buộc các ngân hàng thương mại phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại ngân hàng nhà nước Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản của ngân hàng thương mại tăng và ngược lại

Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất ngân hàng nhà nước sử dụng

trong chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại

Trang 17

Nếu lãi suất này thấp, tức chi phí vay tiền từ ngân hàng nhà nước rẻ, đây sẽ là nguồn vốn giá rẻ mà các ngân hàng thương mại có thể dễ dàng huy động để đáp ứng nhu cầu thanh khoản

Thứ ba, khuôn khổ pháp lý về an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Các cơ chế chính sách, văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của ngân hàng được ban hành một cách rõ ràng, cụ thể như cách thức tổ chức hoạt động của

cơ quan giám sát ngân hàng, sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ sẽ góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng

Thứ tư, do chu kỳ kinh doanh của khách hàng Theo thời vụ ở những tháng cuối năm các doanh nghiệp thường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán công nợ cho những doanh nghiệp khác, chi trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên, thực hiện cam kết giải ngân cho các đối tác, giải quyết hàng tồn kho, nhập khẩu hàng hóa…tạo nên nhu cầu tiền nhiều vào những tháng cuối năm làm tăng cầu về thanh khoản cho ngân hàng thương mại

Thứ năm, do tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi ngân hàng thương mại phải luôn sẵn sàng đáp ứng cầu chi trả tức thì Đối với lĩnh vực kinh doanh khác, các doanh nghiệp có thể trì hoãn nợ với khách hàng, chậm thanh toán với đối tác, thậm chí chủ động chiếm dụng vốn của đối tác kinh doanh…nhưng với ngân hàng thương mại kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ hết sức nhạy cảm, ngân hàng thương mại không thể trì hoãn chi trả Bất cứ một sự chậm trễ thanh toán nào đều có thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng và nếu ngân hàng thương mại không giải quyết ngay khó khăn này, khách hàng có thể kéo đến ngân hàng để rút tiền, khó khăn thanh khoản sẽ trở nên trầm trọng và ngân hàng thương mại có thể bị phá sản Mặt khác, trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại , bên tài sản nợ luôn

Trang 18

có một tỷ lệ nhất định các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng

có thể rút trước hạn Đây là những tài sản nợ mà ngân hàng thương mại có nghĩa vụ phải trả ngay lập tức nếu khách hàng có nhu cầu rút, vì thế ngân hàng thương mại luôn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản

Thứ sáu, do khủng hoảng kinh tế hoặc khủng hoảng tài chính Khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính dẫn tới chi phí huy động tăng cao, hiệu quả hoạt động cho vay đầu tư giảm sút Xét ở một khía cạnh khác, khủng hoảng xảy ra có thể làm giảm sút niềm tin vào hệ thống tài chính, các tổ chức và người dân sẽ rút tiền khỏi các ngân hàng thương mại gây ra áp lực về thanh khoản cho ngân hàng thương mại

Thứ bảy, do tin đồn thất thiệt Tin đồn thất thiệt sẽ gây mất lòng tin cá biệt vào một tổ chức tín dụng Cơ chế mất cân đối giữa giá trị phải trả và giá trị thu được

từ hoạt động đầu tư và cho vay sẽ xảy ra và ngân hàng thương mại đối mặt với rủi ro thanh khoản

2.2 Rủi ro tín dụng

2.2.1 Khái niệm

Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013, “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” Hiểu theo nghĩa rộng, rủi ro tín dụng là rủi ro trong quá trình cho vay của ngân hàng, khoản cho vay không được hoàn trả kịp thời như thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng hay trả không đủ vốn và lãi khi đến hạn Rủi ro tín dụng diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, của ngân hàng Đây là rủi ro liên quan đến chất lượng tín dụng của ngân hàng

Trang 19

Theo Gestel & Baesens (2009), rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người vay bị

vỡ nợ và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình Rủi ro này xảy ra khi người vay không có khả năng trả nợ hoặc trả nợ không đúng hạn

Heffernan (2005) cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay mất khả năng chi trả các khoản vay cho ngân hàng Hầu hết các ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản là do tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tăng cao

Rủi ro tín dụng phát sinh từ việc không thực hiện nghĩa vụ của người đi vay, tức là người đi vay không có thiện chí hay không có khả năng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã cam kết (Santomero 1997)

2.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng được phân loại theo tính khách quan và tính chủ quan

Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân như thiên tai, hỏa hoạn, sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế…gây ra tổn thất mặc dù người vay thực hiện đúng nghĩa vụ của mình

Rủi ro chủ quan: là rủi ro khi có sự vô tình hay cố ý làm tổn thất của bên vay

và bên cho vay vốn

Theo Trần Hoàng Ngân (2011), rủi ro tín dụng được phân loại theo nguyên nhân phát sinh thì được phân loại như sau:

Rủi ro giao dịch: là rủi ro xảy ra khi có hạn chế từ giao dịch, xét duyệt vay, đánh giá khách hàng vay Rủi ro giao dịch gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ

Rủi ro danh mục: là rủi ro phát sinh khi ngân hàng có những hạn chế trong việc quản lý danh mục cho vay Rủi ro danh mục gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung

Trang 20

2.2.3 Đánh giá rủi ro tín dụng

Ngân hàng dựa vào việc đánh giá rủi ro tín dụng để kiểm soát tốt hoạt động cấp tín dụng và có những giải pháp thích hợp nhằm hạn chế rủi ro xảy ra Trần Hoàng Ngân (2011) đánh giá rủi ro tín dụng thông qua các chỉ số sau:

Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa tổng các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của ngân hàng đối với các khoản vay Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng càng kém và ngược lại

Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa tổng các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ

ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý hay cuối năm Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại

Trang 21

Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro tín dụng

Tỷ lệ khả năng bù đắp RRTD = dự phòng RRTD được trích lập

2.2.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng

Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Khi ngân hàng huy động vốn ngân hàng phải trả lãi và vốn cho khoản tiền huy động được khi đến hạn, nếu gặp rủi ro tín dụng thì ngân hàng không thu được cả vốn gốc và lãi cho vay khi đó ngân hàng bị mất cân đối trong thu chi, vòng quay vốn tín dụng bị chậm lại làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả có thể mất khả năng thanh khoản từ đó làm giảm lòng tin của người gửi tiền từ đó ảnh hưởng đến

uy tín của ngân hàng đưa ngân hàng đến phá sản

Đối với nền kinh tế

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, có chức năng huy động vốn nhàn rỗi để cho vay lại, nên khi có rủi ro tín dụng xảy ra thì chẳng những ngân hàng

bị thiệt mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng Vả lại, khi một ngân

Trang 22

hàng gặp phải rủi ro tín dụng sẽ có tác động dây chuyền, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn

Khi uy tín của ngân hàng giảm sút, hệ thống ngân hàng không còn khả năng thực hiện chức năng trung gian tài chính thì nền kinh tế sẽ lâm vào tình trạng khó khăn tất yếu những hiện tượng tiêu cực trong xã hội sẽ diễn ra

2.2.5 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

Theo Nguyễn Minh Kiều (2012), rủi ro tín dụng xảy ra có thể là do nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, hoặc từ phía khách hàng và ngân hàng

Về phía khách hàng

Rủi ro tín dụng phát sinh là từ nguyên nhân chủ quan và khách quan

Về nguyên nhân chủ quan, là nguyên nhân liên quan đến hành vi và ý chí chủ quan của khách hàng, là những nguyên nhân xảy ra từ phía khách hàng như thiếu thiện chí trả nợ

Về nguyên nhân khách quan, là những nguyên nhân khách hàng không lường trước được như việc thay đổi về pháp lý, giá cả hoặc chính sách của nhà nước, làm cho khách hàng không có khả năng trả nợ dù có thiện chí

Về phía ngân hàng

Rủi ro tín dụng xảy ra trong quá trình phân tích và thẩm định không kỹ dẫn đến quyết định cho vay sai Hơn thế nữa, mặc dù quá trình phân tích và thẩm định tốt nhưng không kiểm tra kiểm soát sau vay khi khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích dẫn đến ngân hàng không phát hiện để xử lý kịp thời

2.3 Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Trong những năm qua, có rất nhiều bài báo đề cập đến mối quan hệ giữa rủi

ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Một số nghiên cứu đại diện cho lý thuyết tài

Trang 23

chính trung gian cổ điển, nghiên cứu về cách thức làm việc với các nguồn rủi ro

và lợi nhuận của ngân hàng cho rằng ít nhất về mặt lý thuyết có tồn tại mối quan

hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng (Bryant 1980; Diamond 1997; Diamond & Dybvig 1983; Qi 1994) Imbierowicz & Rauch (2014) giả định có sự phụ thuộc giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng và mối quan hệ này là cùng chiều nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng ở Mỹ

Khi phân tích về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, một

số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hai loại rủi ro này có mối quan hệ cùng chiều Như Dermine (1986), một khoản vay không đòi được nợ làm tăng rủi ro thanh khoản vì khoản vay đó gây ra sự sụt giảm của dòng tiền và khấu hao Theo nghiên cứu này, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có sự tương quan dương Samartı́n (2003) và Iyer & Puri (2008) cho thấy các tài sản rủi ro của ngân hàng cùng với sự không chắc chắn về nhu cầu thanh khoản của nền kinh tế có thể dẫn đến sự thiếu hụt thanh khoản dựa trên sự hoảng loạn thông thường của người gửi tiền Dựa vào các mô hình này, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng là quan hệ đồng biến, hai loại rủi ro này cùng tạo ra sự bất ổn của ngân hàng

Mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng được giải thích bởi các nghiên cứu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính (Acharya & Viswanathan 2011; Diamond & Rajan 2005; Gorton & Metrick 2012; He & Xiong 2012a) Chẳng hạn như Diamond & Rajan (2001) và Diamond & Rajan (2005) giải thích nếu ngân hàng cho vay quá nhiều dự án rủi ro thì ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng Nếu các tài sản dùng để cho vay các dự án rủi ro này càng giảm giá trị thì càng có nhiều người đi rút tiền Kết quả là rủi ro tín dụng càng cao thì dẫn tới rủi ro thanh khoản càng cao do nhu cầu rút tiền của người gửi

Trang 24

ro tín dụng được nghiên cứu bởi (Gorton & Metrick 2012) Phân tích thực nghiệm của nghiên cứu này minh chứng rằng việc rút tiền đột ngột tại một ngân hàng như thế nào là dựa vào tâm lý hoảng loạn của nhà đầu tư, có thể xảy ra trong thời hiện đại – thời ngân hàng được chứng khoán hóa, trái ngược với việc rút tiền đột ngột tại một ngân hàng truyền thống Bằng chứng của nghiên cứu này cho thấy trong các cuộc khủng hoảng tài chính gần đây, việc nhận thức rủi ro tín dụng trong các hình thức cho vay dưới chuẩn đã gây ra tình trạng tái tài trợ và tỷ lệ chiết khấu (hair-cut) trên thị trường liên ngân hàng tăng lên đáng kể Nghiên cứu này cũng nhận thấy, rủi

ro tín dụng cảm nhận (perceived credit risk) khác với rủi ro tín dụng thực tế, dẫn đến RRTK trong các ngân hàng

Bên cạnh đó, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng có mối quan hệ ngược chiều với nhau Acharya và cộng sự (2010) cho rằng việc nắm giữ tiền mặt trong ngân hàng tăng lên rất nhanh trong giai đoạn khủng hoảng tài chính gần đây Nghiên cứu nhận định việc nắm giữ tiền mặt làm tăng thanh khoản cho ngân hàng, nhưng mục đích giữ tiền mặt là để các nhà quản lý chủ động trong việc mua sắm tài sản với giá rất thấp của các ngân hàng khác trong giai đoạn khủng hoảng, tài sản được bán với giá thấp đi kèm với rủi ro không lường trước Theo nghiên cứu này, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có mối tương quan âm Phân tích thực nghiệm của Acharya

& Naqvi (2012) cho thấy trong thời kỳ khủng hoảng các doanh nghiệp và hộ gia đình có xu hướng gửi tài sản của họ vào ngân hàng, điều này làm cho lượng tiền mặt trong ngân hàng phong phú và từ đó ngân hàng dễ giải trong việc cấp tín dụng các khoản vay mới, các khoản vay này ít có sự giám sát chặt chẽ từ ngân hàng nên rủi ro cho vay tăng cao Do đó, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có mối quan hệ ngược chiều

Trang 25

2.4 Một số nghiên cứu thực nghiệm xem xét mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Berger & Bouwman (2009) đã sử dụng dữ liệu gồm tất cả ngân hàng Mỹ từ năm 1993-2003 Kết quả cho thấy việc tạo ra thanh khoản của ngân hàng tăng lên mỗi năm và vượt quá 2,8 nghìn tỷ USD trong năm 2003 Các ngân hàng lớn, các thành viên của công ty sở hữu đa ngân hàng, ngân hàng bán lẻ và các ngân hàng sát nhập gần đây tạo ra tính thanh khoản nhiều nhất Mối quan hệ giữa vốn và việc tạo ra thanh khoản của ngân hàng có mối quan hệ dương đối với các ngân hàng lớn và quan hệ âm đối với các ngân hàng nhỏ;

Foos và cộng sự (2010) đã nghiên cứu về tăng trưởng tín dụng và rủi ro ngân hàng, bằng cách phân tích sự tăng trưởng có ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của các ngân hàng tại 14 nước phương Tây Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu Bankscope của hơn 10.000 ngân hàng tư nhân từ năm 1997 đến năm 2005 và đưa

ra ba giả thuyết về mối quan hệ giữa sự tăng trưởng tín dụng trong quá khứ với tổn thất cho vay, lợi nhuận ngân hàng và khả năng thanh toán của ngân hàng Kết quả, nghiên cứu của Foos và cộng sự ủng hộ quan điểm rằng sự tăng trưởng cho vay sẽ dẫn đến tổn thất cho vay trong ba năm tiếp đó, giảm thu nhập lãi suất tương đối và giảm tỷ lệ vốn;

Imbierowicz & Rauch (2014) đã sử dụng dữ liệu từ các ngân hàng ở Mỹ từ năm 1998 đến năm 2010 để phân tích mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi

ro tín dụng và mối quan hệ này ảnh hưởng đến xác suất vỡ nợ của các ngân hàng Kết quả của nghiên cứu cho thấy cả hai rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng không có mối quan hệ đối ứng về mặt kinh tế ở cả quá khứ và hiện tại Tuy nhiên, mối quan hệ này ảnh hưởng đến xác suất vỡ nợ của ngân hàng Hiệu ứng này có hai phần: từng rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng riêng biệt làm tăng xác suất vỡ

Trang 26

nợ của ngân hàng và ảnh hưởng của sự tương tác mối quan hệ này phụ thuộc vào mức tổng thể của rủi ro ngân hàng, có thể làm tăng hoặc giảm rủi ro vỡ nợ của ngân hàng;

Iyer & Puri (2008) nghiên cứu về tầm quan trọng của mối quan hệ giữa người gửi tiền và ngân hàng Nghiên cứu này cho thấy hiệu quả của bảo hiểm tiền gửi, vai trò của các mạng xã hội và tầm quan trọng của ngân hàng được gửi tiền ảnh hưởng đến người gửi tiền trong giai đoạn phá sản của ngân hàng Nghiên cứu nhận thấy bảo hiểm tiền gửi chỉ có hiệu quả một phần trong việc ngăn ngừa sự phá sản của ngân hàng và hiệu ứng mạng xã hội là quan trọng nhưng cũng bị giảm nhẹ bởi các yếu tố khác, đặc biệt là mối quan hệ giữa ngân hàng và người gửi tiền Tóm lại, nghiên cứu nhận định người gửi tiền có ảnh hưởng đến sự phá sản của ngân hàng và kết quả của nghiên cứu chứng minh rằng, người gửi tiền có ảnh hưởng cơ bản đến

sự phá sản của một ngân hàng

2.5 Giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên kết quả nghiên cứu của Imbierowicz & Rauch (2014) và hoàn cảnh thực tiễn của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam, giả thuyết của nghiên cứu là:

Giả thuyết H1: Có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa rủi ro thanh khoản và rủi

ro tín dụng;

và giả thuyết H2: Rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có mối quan hệ cùng chiều, tức là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cùng tăng hoặc cùng giảm

Trang 27

3 CHƯƠNG 3

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dựa vào lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm được trình bày trong chương 2, chương 3 sẽ trình bày mô hình nghiên cứu được đề xuất, phương pháp ước lượng mô hình, mô tả các biến và mô tả phương pháp thu thập, tính toán dữ liệu

3.1 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu là các ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn từ 2007-2015 Dữ liệu gồm 30 ngân hàng, 203 quan sát, trong đó dữ liệu để tính rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và các biến kiểm soát vi mô được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng, website của Ngân hàng nhà nước, Vietstock Trong quá trình thu thập số liệu, các ngân hàng thương mại chỉ công bố báo cáo tài chính không đồng nhất trong cách lập báo cáo tài chính, do đó số lượng dữ liệu của ngân hàng thu thập được còn hạn chế Bên cạnh đó, biến tổng sản phẩm quốc nội được lấy từ website của tổng cục thống kê, lãi suất chính sách của ngân hàng nhà nước được lấy từ dữ liệu của International Financial Statistics (IFS) thuộc Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), chênh lệch lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 1 năm và 10 năm được lấy từ trang investing.com Số liệu các biến vĩ mô khác như tổng tiết kiệm cá nhân, tỷ số tiết kiệm không tìm thấy được nên nghiên cứu bỏ qua tác động của các biến kiểm soát vĩ mô này trong mô hình kiểm định mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ở các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Trang 28

3.2 Mô hình nghiên cứu

Luận văn sử dụng mô hình tương tự như Imbierowicz & Rauch (2014), với

độ trễ là một do tính chất đặc thù của dữ liệu Cụ thể, mô hình được trình bày như sau:

𝐶𝑅𝑖,𝑡 = 𝐿𝑅𝑖,𝑡 + 𝐿𝑅𝑖,𝑡−1+ 𝐶𝑅𝑖,𝑡−1 + 𝑐𝑜𝑛𝑡𝑟𝑜𝑙 𝑣𝑎𝑟𝑖𝑎𝑏𝑙𝑒𝑠𝑖,𝑡

𝐿𝑅𝑖,𝑡 = 𝐶𝑅𝑖,𝑡 + 𝐶𝑅𝑖,𝑡−1+ 𝐿𝑅𝑖,𝑡−1 + 𝑐𝑜𝑛𝑡𝑟𝑜𝑙 𝑣𝑎𝑟𝑖𝑎𝑏𝑙𝑒𝑠𝑖,𝑡

trong đó, CRi,t là rủi ro tín dụng của ngân hàng i tại thời điểm t; LRi,t là rủi ro thanh khoản của ngân hàng i - tại thời điểm t

3.2.1 Biến nghiên cứu

CR là biến rủi ro tín dụng Trong nghiên cứu này, RRTD được tính bằng tỷ

lệ giữa các tổn thất cho vay ròng trung bình (nợ đã xử lý – các khoản xử lý đã thu hồi được)2 trong năm nay và dự phòng các khoản khó đòi ghi nhận trong năm trước

đó

Cách tính:

𝐶𝑅 =(𝑛ợ đã 𝑥ử 𝑙ý − 𝑛ợ đã 𝑥ử 𝑙ý đã 𝑡ℎ𝑢 ℎồ𝑖 đượ𝑐)𝑡

𝑑ự 𝑝ℎò𝑛𝑔 𝑐á𝑐 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝑛ợ 𝑘ℎó đò𝑖𝑡−1với, t là thời điểm nghiên cứu

Đây là một biến đại diện tốt vì tổn thất cho vay ròng trung bình được chuẩn hóa với các dự phòng các khoản khó đòi trong năm trước đó Nếu tỷ lệ này là lớn hơn một, ngân hàng có thể được giả định có tổn thất cho vay không lường trước được Như vậy, tỷ lệ này cao thì rủi ro về tín dụng cao Nghiên cứu này chọn biến trên như là biến đại diện chính của RRTD bởi vì các biến cho phép chúng ta nắm bắt quản lý rủi ro cho vay của ngân hàng Chúng ta có thể quan sát chính xác những tổn

2 kế thừa từ nghiên cứu của Angbazo (1997) và Dick (2006)

Trang 29

thất cho vay được dự đoán và những gì ngân hàng phải đối mặt với những tài sản rủi

ro do tổn thất cho vay nhiều và bất ngờ

LR là biến rủi ro thanh khoản Trong nghiên cứu này, rủi ro thanh khoản

được tính toán bằng cách lấy khối lượng các tài sản của ngân hàng có thanh khoản thấp trừ đi khối lượng của tất cả các tài sản của ngân hàng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng và với chi phí thấp, để trang trải số tiền rút ngắn hạn có thể từ khối lượng của khoản nợ phải trả Ngoài ra, rủi ro thanh khoản còn bao gồm số lượng cho vay liên ngân hàng, thị trường phái sinh và các tài khoản ngoại bảng thông qua các cam kết cho vay không sử dụng Tất cả những yếu tố trên được chuẩn hóa bằng tổng tài sản Giá trị cuối cùng của biến rủi ro thanh khoản có thể là dương hay âm

Cách tính:

LR = [(Tiền gửi không kỳ hạn + Cam kết cho vay chưa sử dụng) - (Tiền mặt và Tiền gửi tại các tổ chức khác + Chứng khoán kinh doanh + Tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước + Thương phiếu+chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán +cho vay liên ngân hàng + Chứng khoán phái sinh ròng)]/Tổng tài sản

3.2.2 Các biến kiểm soát

TRADE_RATIO (trading assets/total assets) là tỷ lệ giữa tài sản kinh doanh

và tổng tài sản Tỷ lệ giữa tài sản kinh doanh và tổng tài sản được tính bằng cách lấy

số lượng tài sản nắm giữ cho mục đích kinh doanh chia cho tổng tài sản

TRADE_RATIO = tài sản kinh doanh

tổng tài sản

AGR_RATIO (agricultural/total loans) là tỷ lệ giữa cho vay nông nghiệp và

tổng cho vay Tỷ lệ giữa cho vay nông nghiệp và tổng tài sản được tính bằng cách

Trang 30

AGR RATIO = cho vay nông nghiệp

tổng cho vay

CA (capital ratio) là tỷ lệ vốn Tỷ lệ vốn được tính bằng cách lấy vốn chủ sở

hữu chia cho tổng tài sản

CA =vốn chủ sở hữu

tổng tài sản

DE_RATIO (short-term/long-term deposits) là tỷ lệ thanh khoản của các

khoản nợ Tỷ lệ thanh khoản của các khoản nợ được tính bằng cách lấy số lượng tiền gửi ngắn hạn chia cho tiền gửi dài hạn

DE_RATIO = tiền gửi ngắn hạn

tiền gửi dài hạn

ROA (return on assets) là suất sinh lợi trên tổng tài sản Suất sinh lợi trên

tổng tài sản được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản trung bình theo năm của ngân hàng

tổng tài sản trung bình theo năm của ngân hàng

STD_ROA (standard deviation of ROA) là độ lệch chuẩn của ROA Độ lệch

chuẩn của ROA là sự biến thiên của suất sinh lợi trên tổng tài sản,

EFF_RATIO (efficiency ratio) là tỷ số hiệu quả hoạt động Tỷ số hiệu quả

hoạt động được tính bằng cách lấy chi phí hoạt động chia cho doanh thu thuần

EFF_RATIO = chi phí hoạt động

doanh thu thuần

LOAN_GROWTH là tăng trưởng tín dụng Tăng trưởng tín dụng được tính

bằng cách lấy hiệu số giữa số lượng cho vay năm nay và năm trước chia cho số

Trang 31

lượng cho vay năm trước,

LOAN_GROWTH = số lượng cho vay𝑡− số lượng cho vay𝑡−1

số lượng cho vay𝑡−1

NET_OBS (net off-balance sheet derivative exposure) là các tài

khoản phái sinh ngoài bảng cân đối Các tài khoản phái sinh ngoài bảng cân đối được tính bằng cách lấy số lượng các tài khoản phái sinh ngoài bảng cân đối mà ngân hàng được thụ hưởng trừ đi các khoản ngân hàng bảo lãnh, đơn vị tính là nghìn

tỷ đồng,

OTHER_OBS (other net off-balance sheet exposure) là các tài khoản

phái sinh ngoài bảng cân đối khác, đơn vị tính là nghìn tỷ đồng,

LOG(ASSETS) là logarit tự nhiên của tổng tài sản của ngân hàng, đơn vị tính

của tổng tài sản là triệu đồng,

LEVERAGE (leverage in the banking industry) là đòn bẩy tài chính của ngân

hàng Đòn bẩy tài chính của ngân hàng được tính bằng cách lấy trung bình theo năm

tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam,

YIELD (yield spread) là chênh lệch lãi suất của trái phiếu chính phủ kỳ hạn

1 năm và 10 năm,

INTEREST (interest rate) là lãi suất chính sách của ngân hàng nhà nước,

LOG(GDP) là logarit tự nhiên của tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam,

đơn vị tính của GDP là tỷ đồng,

CRISIS (crisis dummy) là biến giả về khủng hoảng Biến giả này trong giai

đoạn khủng hoảng (2007-2009) sẽ có giá trị là 1, và không phải giai đoạn khủng khoảng thì sẽ nhận giá trị là 0

Trang 32

Bảng 3.1 Mô tả các biến trong nghiên cứu

4 AGR_RATIO tỷ lệ giữa cho vay nông

nghiệp và tổng cho vay

Báo cáo tài chính NHTM

Trang 33

11 OTHER_OBS các tài khoản phái sinh ngoài

16 LOG(GDP) logarit tự nhiên của tổng sản

phẩm quốc nội của Việt Nam Tổng cục thống kê

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp định lượng, phương pháp này sử dụng mô hình tự hồi quy dạng vectơ (VAR), là một dạng tổng quát của mô hình tự hồi quy đơn biến trong một tập hợp nhiều biến theo thời gian

Trang 34

3.3.1 Dữ liệu bảng

Dữ liệu bảng (panel data) là dữ liệu kết hợp dữ liệu cho theo không gian (cross – section, tức là giá trị của các biến được thu thập cho một đơn vị mẫu tại cùng một thời điểm) và dữ liệu theo chuỗi thời gian (time series, tức là giá trị của các biến được quan sát theo thời gian) Dữ liệu bảng khác với dữ liệu chéo gộp chung bởi vì dữ liệu chéo gộp chung gộp những quan sát trong nhiều năm nhưng chỉ

là các quan sát dữ liệu thuần túy và bỏ qua yếu tố thời gian Việc kết hợp hai loại dữ liệu có nhiều thuận lợi trong phân tích các mối quan hệ kinh tế, đặc biệt khi muốn quan sát, phân tích sự biến động của các đối tượng nghiên cứu sau các biến cố hay theo thời gian, cũng như phân tích sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng nghiên cứu

Có hai loại dữ liệu bảng: dữ liệu bảng cân bằng (balaned panels) và dữ liệu bảng không cân bằng (unbalaned panels) Dữ liệu bảng cân bằng khi các đơn vị chéo có cùng số quan sát theo thời gian, dữ liệu bảng không cân bằng khi các đơn vị chéo không có cùng số quan sát theo thời gian Trong luận án này, tác giả sử dụng dữ liệu bảng cân bằng cho các quốc gia theo chuỗi thời gian (năm) Việc nghiên cứu các mô hình với dữ liệu bảng có những ưu điểm theo (Baltagi 2008):

Nhờ kết hợp dữ liệu chuỗi thời gian của các quốc gia khác nhau, dữ liệu bảng sẽ chứa nhiều thông tin hữu ích hơn, tính biến thiên nhiều hơn, giảm hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến, tăng số quan sát - từ đó tăng số bậc tự do, và có thể đem lại ước lượng vững, hiệu quả và không chệch;

Dữ liệu bảng có liên quan đến nhiều doanh nghiệp, quốc gia theo thời gian, mỗi doanh nghiệp, quốc gia lại có những đặc trưng riêng Tuy nhiên, các kỹ thuật ước lượng dựa trên dữ liệu bảng có thể tính đến sự không đồng nhất này, cho phép kiểm soát sự khác biệt không quan sát được giữa các thực thể, ví dụ như khả năng quản lý, triết kinh doanh, văn hoá, khoáng sản giữa các doanh nghiệp

Trang 35

Như vậy, nhờ những lợi thế trên, việc sử dụng dữ liệu bảng trong các mô hình nghiên cứu của luận án được kỳ vọng có thể đem lại hiệu quả cao hơn so với phân tích dữ liệu chéo hay dữ liệu chuỗi thời gian

3.3.2 Mô hình VAR

Trong mô hình VAR, một biến không những chịu ảnh hưởng từ tác động hiện tại của các biến khác mà còn chịu ảnh hưởng bởi độ trễ của chính biến đó và độ trễ của các biến khác trong quá khứ Mô hình VAR về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình) và có các trễ của các biến số VAR là mô hình động của một số biến thời gian Mô hình VAR tổng quát đối với hai biến số Y1, Y2 và trễ p bước có dạng sau đây:

Với Y1t , Y2t là biến nội sinh, U1t và U2t là các nhiễu trắng Vai trò các biến số Y1t ,

Y2t hoàn toàn tương đương nhau trong mô hình

Ứng dụng của mô hình VAR

Về bản chất VAR là sự kết hợp của 2 phương pháp: tự hồi quy đơn chiều (univariate autoregression - AR) và hệ phương trình ngẫu nhiên (simultanous equations - SEs) VAR có được ưu điểm của AR là dễ ước lượng bằng phương pháp tối thiểu hóa phần dư (OLS) và ưu điểm của SEs là ước lượng nhiều biến trong cùng một hệ thống Đồng thời khắc phục nhược điểm của SEs là không cần lưu tâm đến tính nội sinh của các biến kinh tế Tức là các biến kinh tế vĩ mô thường mang tính

Trang 36

nội sinh khi chúng tác động qua lại lẫn nhau Thuộc tính này làm cho phương pháp

cổ điển hồi quy bội dùng một phương trình hồi quy nhiều khi bị sai lệch khi ước lượng Đây là những lý do cơ bản khiến VAR trở nên phổ biến trong nghiên cứu kinh tế

Ở bài nghiên cứu này tác giả kiểm định mô hình nghiên cứu theo phương pháp của mô hình VAR với hệ phương trình đồng thời và sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy bình phương bé nhất (OLS) Phương pháp ước lượng hồi quy bình phương bé nhất là phương pháp được dùng rất phổ biến trong lĩnh vực kinh tế lượng Ưu điểm của phương pháp này không quá phức tạp nhưng hiệu quả

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w