TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một phần quan trọng trong hệ thống doanh nghiệp Việt Nam, chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp và đóng góp 50% GDP quốc gia Ngoài ra, DNVVN cũng tạo ra 33% thu ngân sách nhà nước và 62% việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần 49% vào giá trị gia tăng của nền kinh tế.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh sự phát triển của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ với công nghệ phù hợp, đầu tư ít và tạo nhiều việc làm Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP để hỗ trợ DNVVN Tuy nhiên, các DNVVN vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn như quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu và khả năng quản trị yếu, cùng với những tác động vĩ mô từ bên ngoài như cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 Cuộc khủng hoảng này không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ mà còn gây ra suy thoái tại Châu Âu và tác động tiêu cực đến Việt Nam, nơi mà nền kinh tế phụ thuộc lớn vào thị trường quốc tế Những bài học từ cuộc khủng hoảng 2008 vẫn còn giá trị trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay.
Theo điều tra của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) năm 2013, 68.3% doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) cho biết khủng hoảng quốc tế ảnh hưởng tiêu cực đến điều kiện kinh doanh, tăng từ 62% trong năm 2011 Số liệu cho thấy khoảng cách giữa hai năm này cho thấy sự gia tăng rõ rệt trong tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động xấu từ cuộc khủng hoảng.
Bảng 1.1 : Khảo sát các DNVVN về ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
Năm Số quan sát Phần trăm trả lời
Nguồn: CIEM, DoE và ILSSA, 2013
Trước những biến động của nền kinh tế toàn cầu và trong nước, Chính phủ Việt Nam đã liên tục điều chỉnh mục tiêu kinh tế từ việc thắt chặt tài khóa và tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát vào năm 2008, sang kích cầu đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng vào năm 2009 Đến năm 2010, chính sách tài chính và tiền tệ được thực hiện một cách chặt chẽ và linh hoạt để ổn định kinh tế vĩ mô, và vào năm 2011, mục tiêu chuyển sang tăng trưởng ổn định và kiểm soát lạm phát Những thay đổi ưu tiên này đã dẫn đến việc doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thích nghi, góp phần vào sự gia tăng số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Năm 2013, có tới 60.737 doanh nghiệp phải dừng hoạt động, tăng 11.9% so với năm 2012, với tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ trong giai đoạn 2007 - 2010 gần 30%.
Từ năm 2011 đến 2014, tỷ lệ thua lỗ của doanh nghiệp trung bình đạt khoảng 38.7% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) thường có nguy cơ thua lỗ cao hơn, do tỷ lệ thua lỗ thường tỷ lệ nghịch với quy mô doanh nghiệp.
Dưới áp lực từ khó khăn nội tại và các tác động tiêu cực từ môi trường vĩ mô, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Việt Nam vẫn nỗ lực duy trì hoạt động, nhưng thường có xu hướng giảm quy mô lao động và vốn.
Quy mô lao động của các doanh nghiệp tại Việt Nam đang có xu hướng giảm, với số lượng lao động bình quân giảm từ 49 người năm 2007 xuống còn 29 người vào năm 2014, cho thấy sự chuyển mình về quy mô của doanh nghiệp nhỏ Một nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm này là tốc độ tăng trưởng lao động thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp, mặc dù tỷ lệ này không cao như những năm trước Bên cạnh yếu tố khách quan, còn nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đến việc thu hẹp quy mô lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Việt Nam.
Trong năm 2012, tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp giảm 5.26% so với năm 2011, chủ yếu do tình hình kinh tế khó khăn sau khủng hoảng, cùng với các chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Ngoài ra, việc tái cấu trúc doanh nghiệp cũng buộc các công ty phải tập trung vào ngành kinh doanh cốt lõi và giảm đầu tư ra ngoài lĩnh vực chính Tuy nhiên, còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến việc thu hẹp quy mô vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Việt Nam.
Việc nhận thức rõ vai trò quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong nền kinh tế là cần thiết, đặc biệt khi xem xét những hậu quả kéo dài từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 và các khó khăn nội tại mà DNVVN đang phải đối mặt Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự thu hẹp quy mô của DNVVN giai đoạn 2011 – 2014 là rất quan trọng, tuy nhiên, hiện tại chưa có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề này Do đó, nghiên cứu này sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm, góp phần làm luận cứ khoa học trong bối cảnh thực tiễn của Việt Nam Đây chính là lý do tác giả thực hiện đề tài “Những nhân tố tác động đến sự thu hẹp quy mô của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”.
Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Mặc dù doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Việt Nam, hiện nay vẫn thiếu các nghiên cứu về việc thu hẹp quy mô của chúng Các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trong khi vấn đề thu hẹp quy mô lại chưa được chú ý đúng mức Điều này đang gây ra nhiều tranh luận tại nhiều quốc gia, bởi nó ảnh hưởng sâu sắc đến người lao động và chính các doanh nghiệp thực hiện việc thu hẹp.
Đề tài này nhằm cung cấp một đánh giá định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thu hẹp quy mô của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) tại Việt Nam, tập trung vào hai khía cạnh: thu hẹp quy mô lao động và thu hẹp quy mô vốn (tổng nguồn vốn hoặc tổng tài sản) Kết luận và gợi ý từ nghiên cứu sẽ hỗ trợ các chủ doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các giải pháp và chiến lược nhằm giúp DNVVN Việt Nam tồn tại và phát triển bền vững.
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, khảo sát các doanh nghiệp tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước trong khoảng thời gian 4 năm (2011 – 2014) Sau khi lọc ra các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) phù hợp với tiêu chí nghiên cứu, đã thu được 1.524 quan sát cho hướng nghiên cứu về thu hẹp quy mô lao động và 309 quan sát cho hướng nghiên cứu về thu hẹp quy mô vốn, đảm bảo cỡ mẫu đủ lớn để đưa ra các ước lượng đáng tin cậy.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm các mục tiêu sau đây:
Phân tích các nhân tố tác động đến thu hẹp quy mô lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Phân tích các nhân tố tác động đến thu hẹp quy mô vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Dựa vào các kết quả nghiên cứu đề xuất các chính sách khuyến khích, hỗ trợ, nâng đỡ DNVVN.
Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
(1) Những nhân tố nào tác động đến sự thu hẹp quy mô lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam?
Sự thu hẹp quy mô lao động có ảnh hưởng đáng kể đến quy mô vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Các nhân tố như tình hình kinh tế, chính sách hỗ trợ, và thị trường lao động đều góp phần làm giảm quy mô lao động, từ đó tác động trực tiếp đến khả năng huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi quy mô lao động giảm, doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất, dẫn đến việc thu hẹp quy mô vốn và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững.
(3) Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ, nâng đỡ DNVVN?
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến sự thu hẹp quy mô lao động và quy mô vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này sử dụng dữ liệu thứ cấp từ cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê tại 63 tỉnh, thành trên toàn quốc Bên cạnh đó, các số liệu liên quan như tỷ lệ tăng trưởng GDP và chỉ số giá tiêu dùng CPI được lấy từ World Bank, trong khi tỷ giá VND/USD được tham khảo từ Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Vietcombank.
Phương pháp nghiên cứu
Phân tích thống kê mô tả các biến số
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đánh giá tác động của các yếu tố như tuổi doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, ngành, hình thức sở hữu, xuất khẩu, tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), hệ số nợ (Lev), chi phí lao động (Labcost), năng suất (Prod) và tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đến sự thu hẹp quy mô lao động và vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam Mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) được sử dụng, kèm theo kiểm định Hausman để xác định mô hình phù hợp nhất.
Sau khi xác định mô hình nghiên cứu phù hợp, đề tài tiến hành các kiểm định như kiểm định sự phù hợp của các hệ số hồi quy, kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm định tương quan chuỗi Dựa vào kết quả của các kiểm định này, đề tài sẽ lựa chọn các mô hình nghiên cứu khác phù hợp hơn để tiếp tục nghiên cứu.
Kết cấu của luận văn
Đề tài “Những nhân tố tác động đến sự thu hẹp quy mô của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam” được chia thành 5 chương, bao gồm phần tóm tắt, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo Chương 2 giới thiệu khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), tiêu chí đo lường sự thu hẹp quy mô, vai trò của vốn và lao động qua hàm sản xuất Cobb – Douglas, lý thuyết vòng đời doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp tối ưu và tóm lược các nghiên cứu trước đây Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu, dữ liệu, nguồn dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và mô hình thực nghiệm cùng các biến số liên quan Chương 4 cung cấp kết quả nghiên cứu, thống kê mô tả các biến số và lựa chọn mô hình hồi quy với các kiểm định phù hợp Cuối cùng, Chương 5 đưa ra kết luận, gợi ý chính sách, nêu hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Chương 1 giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, sự cần thiết của đề tài nghiên cứu cũng như mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu Chương 1 cũng giới thiệu thêm về phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được lựa chọn cho phù hợp với đề tài nghiên cứu Qua đó nêu lên ý nghĩa thực tiễn, một số điểm nổi bật và kết cấu gồm 5 chương của luận văn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trên thế giới, các quốc gia có quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) do các tiêu chí phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển kinh tế - xã hội Cụ thể, theo Cộng đồng chung Châu Âu, DNVVN là công ty độc lập có dưới 250 lao động và tổng giá trị tài sản không quá 27 triệu euro Ngược lại, Ngân hàng Thế Giới định nghĩa doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có dưới 50 lao động và tổng giá trị tài sản không quá 3 triệu USD, trong khi doanh nghiệp vừa có không quá 300 lao động và tổng giá trị tài sản không quá 15 triệu USD Hai tiêu chí chính được nhiều nước công nhận để phân loại doanh nghiệp là tiêu chí vốn và lao động.
Bảng 2.1 : Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước
Nước Tiêu chí áp dụng
Số lao động Tổng vốn hoặc giá trị tài sản