1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2011 2015

101 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015
Tác giả Dương Thị Kim Hoàng
Người hướng dẫn TS. Dương Quỳnh Nga
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (11)
    • 1.1. Lý do nghiên cứu (11)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (12)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (12)
    • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (13)
    • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 1.6. Ý nghĩa (14)
    • 1.7. Kết cấu của luận văn nghiên cứu (15)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN … (17)
    • 2.1. Cơ sở lý thuyết (17)
      • 2.1.1. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (17)
      • 2.1.2. Khung lý thuyết Sức mạnh thị trường (18)
        • 2.1.2.1. Giả thuyết Cấu trúc - Ứng xử - Hiệu suất (SCP) (18)
        • 2.1.2.2. Giả thuyết Sức mạnh thị trường tương đối (RMP) (0)
      • 2.1.3. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES) (20)
      • 2.1.4. Hai cách tiếp cận phổ biến mô hình thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng (21)
      • 2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng (27)
    • 2.2. Các nghiên cứu trước (29)
      • 2.2.1. Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên xuyên quốc gia (0)
      • 2.2.2. Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của quốc gia riêng lẻ (0)
      • 2.2.3. So sánh với các nghiên cứu trước (33)
        • 2.2.3.1. Giống nhau (0)
        • 2.2.3.2. Khác nhau (33)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU (35)
    • 3.1. Giả thuyết nghiên cứu (35)
      • 3.1.1. Chỉ số sự tập trung thị trường (Herfindahl-Hirschman – HHI) (35)
      • 3.1.2. Chỉ số sự cạnh tranh của thị trường (Lerner – LI) (38)
      • 3.1.3. Thị phần (Market Share – MS) (39)
      • 3.1.4. Dự trữ (Reserves – RES) (41)
      • 3.1.5. Quy mô ngân hàng (SIZE) (42)
      • 3.1.6. Rủi ro tín dụng (Credit risk – CR) (44)
      • 3.1.7. Chi phí hoạt động (Operating cost – OC) (46)
    • 3.2. Mô hình nghiên cứu (48)
    • 3.3. Đo lường các biến (50)
      • 3.3.1. Biến phụ thuộc (50)
      • 3.3.2. Biến độc lập (51)
        • 3.3.2.1. Chỉ số HHI (HH) (0)
        • 3.3.2.2. Chỉ số Lerner (LI) (0)
        • 3.3.2.3. Thị phần (MS) (53)
        • 3.3.2.5. Quy mô ngân hàng (SIZE) (54)
        • 3.3.2.6. Rủi ro tín dụng (CR) (54)
        • 3.3.2.7. Chi phí hoạt động (OC) (55)
    • 3.4. Dữ liệu nghiên cứu (57)
    • 3.5. Phương pháp nghiên cứu (58)
      • 3.5.1. Xử lý số liệu nghiên cứu (58)
      • 3.5.2. Phương pháp ước lượng mô hình (59)
      • 3.5.3. Trình tự thực hiện phương pháp ước lượng mô hình (59)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (62)
    • 4.1. Phân tích thống kê mô tả (62)
    • 4.2. Phân tích ma trận hệ số tương quan (67)
    • 4.3. Kết quả ước lượng hồi quy (69)
      • 4.3.1. Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (69)
      • 4.3.2. Lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp với mô hình (69)
      • 4.3.3. Kiểm định các vi phạm của mô hình lựa chọn – mô hình FEM (70)
      • 4.3.4. Hồi quy mô hình PCSE để xử lý vi phạm của mô hình FEM (71)
    • 4.4. Phân tích kết quả thực nghiệm (73)
      • 4.4.1. Chỉ số HHI (HHI) (74)
      • 4.4.2. Chỉ số Lerner (LI) (75)
      • 4.4.3. Dự trữ (RES) (76)
      • 4.4.4. Quy mô ngân hàng (SIZE) (76)
      • 4.4.5. Chi phí hoạt động(OC) (77)
      • 4.4.6. Thị phần (MS) (77)
      • 4.4.7. Rủi ro tín dụng (CR) (78)
    • 5.1. Kết luận (80)
    • 5.2. Kiến nghị (81)
    • 5.3. Đóng góp của đề tài (82)
    • 5.4. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (83)
      • 5.4.1. Hạn chế (83)
      • 5.4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo (84)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (85)
  • PHỤ LỤC (95)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Lý do nghiên cứu

Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, đặc biệt ở những nước phụ thuộc vào ngân hàng như nguồn tài trợ chính cho các hoạt động kinh tế Ở cấp độ vĩ mô, ngân hàng là công cụ truyền tải chính sách tiền tệ, trong khi ở cấp độ vi mô, ngân hàng cung cấp nguồn vốn thiết yếu cho doanh nghiệp và cá nhân (Koch và MacDonald, 2000).

Chức năng trung gian tài chính của ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế quốc gia, do đó, ngân hàng thương mại cần đạt hiệu suất cao Ngược lại, hiệu suất kém có thể dẫn đến thất bại ngân hàng, gây khủng hoảng niềm tin vào hệ thống ngân hàng và làm giảm tăng trưởng kinh tế, thậm chí có thể dẫn đến tăng trưởng âm Nếu ngành ngân hàng phát triển mạnh và có khả năng sinh lợi, nó sẽ giúp hệ thống tài chính ổn định hơn trước những cú sốc Trong một quốc gia mà ngành tài chính chủ yếu do ngân hàng thương mại chi phối, sự thất bại trong lĩnh vực này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế Bất kỳ sự phá sản nào trong lĩnh vực ngân hàng đều có thể tạo ra hiệu ứng lây lan, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng và gây ra khủng hoảng tài chính toàn diện, đe dọa nền kinh tế.

Các ngân hàng thực hiện chức năng trung gian tài chính hiệu quả sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia (Levine, 1997) Một chỉ số quan trọng để đo lường hiệu quả của ngân hàng là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), với tỷ lệ cao thường chỉ ra sự thiếu hiệu quả trong hệ thống ngân hàng, đặc biệt tại các nước đang phát triển, khi chi phí phát sinh từ sự kém hiệu quả được chuyển sang khách hàng qua lãi suất cao (Fry, 1995; Barajas và ctg, 1999) Ngược lại, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên thấp cho thấy chi phí hiện tại cũng thấp hơn, phản ánh hiệu quả của chính sách tiền tệ và sự ổn định tài chính trong một hệ thống ngân hàng cạnh tranh Chi phí trung gian cao sẽ làm giảm lợi ích cho các chủ thể kinh tế (Hadad và ctg, 2003).

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của ngân hàng được tính bằng chênh lệch giữa doanh thu lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản, là thước đo hiệu quả và khả năng sinh lời của ngân hàng (Maudos và Guevara, 2004) NIM cho thấy năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì tăng trưởng nguồn thu, chủ yếu từ cho vay và phí dịch vụ, so với chi phí lãi (Rose, 1999) Tỷ lệ này thường chiếm 70-85% tổng thu nhập của ngân hàng; tỷ lệ cao hơn đồng nghĩa với lợi nhuận cao hơn (Phạm Hoàng Ân và Nguyễn Thị Ngọc Hương, 2013) Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các quyết định quản trị ngân hàng hiệu quả, đồng thời giúp các nhà quản lý chính sách đưa ra quyết định có lợi cho xã hội.

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015 chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố quan trọng Việc phân tích những yếu tố này không chỉ cần thiết mà còn mang lại ý nghĩa thực tiễn sâu sắc cho ngành ngân hàng.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này phân tích tác động của bảy yếu tố, bao gồm chỉ số HHI, chỉ số Lerner, thị phần, dự trữ, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí hoạt động, đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015.

Câu hỏi nghiên cứu

Trong giai đoạn 2011 - 2015, các yếu tố như chỉ số HHI, chỉ số Lerner, thị phần, dự trữ, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí hoạt động đã ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

• Các yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của các NHTM tại Việt Nam

Đề tài nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 5 năm từ 2011 đến 2015 Giai đoạn này được chọn vì tính khả dụng của dữ liệu và chất lượng nghiên cứu, giúp ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại có cơ sở để đưa ra quyết định liên quan đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên trong tương lai.

Do hạn chế về thời gian và điều kiện, tác giả chỉ nghiên cứu NIM của 27 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, sau khi loại bỏ các ngân hàng có quá trình sáp nhập, hợp nhất hoặc không công bố thông tin đầy đủ Mẫu nghiên cứu bao gồm 135 quan sát từ các ngân hàng này Mặc dù khối ngân hàng nước ngoài đang phát triển tại Việt Nam, thị phần của họ vẫn ở mức thấp, trong khi các ngân hàng thương mại Việt Nam chiếm ưu thế trong huy động vốn và cho vay Kết quả định lượng của nghiên cứu có thể cung cấp những kết luận khái quát cho toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và phân tích hồi quy dữ liệu bảng cân bằng, sử dụng hai mô hình hồi quy phổ biến: mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 27 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015 Sau khi thu thập và tính toán dữ liệu, tác giả sẽ áp dụng mô hình hồi quy đa biến để xác định các yếu tố và mức độ tác động của chúng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng Dữ liệu sẽ được xử lý bằng phần mềm Stata - phiên bản 12 để rút ra kết luận về mối quan hệ và ý nghĩa thống kê của các biến.

Ý nghĩa

Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn

Nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) đã được thực hiện tại Việt Nam và quốc tế, trong đó có nghiên cứu của Nguyễn Kim Thu và Đỗ Thị Thanh Huyền (2014) từ 2008-2011 Nghiên cứu này không chỉ củng cố các yếu tố hiện tại mà còn khám phá thêm các yếu tố mới ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam Bằng cách phân tích các biến như chỉ số HHI, chỉ số Lerner, thị phần và dự trữ, nghiên cứu nhằm hoàn thiện mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến NIM Đồng thời, nghiên cứu cũng kiểm nghiệm lại các kết quả trước đây về tác động của quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí hoạt động Tập trung vào giai đoạn 2011-2015, nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến NIM trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) trong bối cảnh kinh tế Việt Nam Việc giảm NIM có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, cả trong nước lẫn nước ngoài Đầu tư cao trong nước không chỉ tạo ra việc làm mà còn giảm tỷ lệ nghèo đói, cải thiện trình độ sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững Nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở để các ngân hàng thương mại Việt Nam hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến NIM, từ đó xây dựng các giải pháp và chính sách nhằm phát huy các yếu tố tích cực và khắc phục các yếu tố tiêu cực, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đạt được mục tiêu lợi nhuận và phát triển bền vững.

Kết cấu của luận văn nghiên cứu

Luận văn có bố cục như sau:

Chương 1 của luận văn giới thiệu lý do và mục tiêu nghiên cứu, đồng thời đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cụ thể Ngoài ra, chương này cũng xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng, cùng với ý nghĩa của nghiên cứu và cấu trúc tổng thể của luận văn.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan trình bày tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng Nội dung này bao gồm những nghiên cứu trước đây của tác giả trong và ngoài nước, nhằm cung cấp cơ sở tham khảo cho mô hình và giả thuyết nghiên cứu.

Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, với mục tiêu mô tả mô hình nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết và giải thích các biến trong mô hình Chương này cũng đề cập đến quy trình thu thập và xử lý số liệu, cùng với các bước thực hiện hồi quy và các kiểm định cần thiết cho mô hình nghiên cứu.

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu trình bày các kết quả phân tích thống kê mô tả, đồng thời thực hiện phân tích tương quan giữa các biến và phân tích hồi quy Tác giả cũng đưa ra những nhận xét quan trọng trong quá trình phân tích, giúp làm rõ mối liên hệ và ảnh hưởng giữa các yếu tố nghiên cứu.

Chương 5 tổng kết các kết luận từ quá trình phân tích và đưa ra những đề xuất, kiến nghị cho các đối tượng liên quan Đồng thời, chương này cũng trình bày những đóng góp và hạn chế của nghiên cứu, cùng với những hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chương mở đầu của nghiên cứu giới thiệu lý do và tính cấp thiết của việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 Luận văn xác định mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, đồng thời trình bày đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu được sử dụng để phân tích dữ liệu Cuối cùng, chương mở đầu nêu rõ ý nghĩa và kết cấu của luận văn Các chương tiếp theo sẽ cung cấp bằng chứng để trả lời các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu ban đầu, trong đó chương 2 sẽ trình bày chi tiết về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây liên quan đến yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN …

Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM)

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thường được đánh giá qua các tỷ số như lợi nhuận trên vốn cổ phần, lợi nhuận trên tài sản và thu nhập lãi cận biên, giúp phản ánh khả năng sinh lời và quản lý tài sản hiệu quả của ngân hàng.

Thu nhập lãi cận biên là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả tài chính của các định chế nhận tiền gửi Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng, còn gọi là biên độ lãi suất, được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa tổng số tiền lãi từ hoạt động cho vay và tổng số tiền lãi phải trả cho các khoản nợ, chia cho tổng tài sản của ngân hàng.

Hempel, Coleman và Simonson (1986) nhấn mạnh rằng thu nhập lãi cận biên là công cụ hữu ích để đo lường sự thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất, cũng như để so sánh thu nhập lãi giữa các ngân hàng Thông thường, khi hệ số NIM của ngành ngân hàng cao, điều này cho thấy hiệu quả hoạt động của hệ thống trung gian tài chính có thể kém hơn.

Hệ số NIM cao thường liên quan đến lãi suất tiết kiệm thấp, điều này dẫn đến việc hạn chế nguồn tiền gửi Đồng thời, lãi suất cho vay cao cũng khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tín dụng.

Để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế, NIM của ngân hàng cần được duy trì ở mức thấp nhằm giảm chi phí cho dòng vốn qua hệ thống tài chính Tuy nhiên, nếu NIM quá thấp, điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng (Fungáčová và Poghosyan).

Năm 2009, đã xuất hiện xung đột lợi ích giữa người làm chính sách, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích xã hội, và hệ thống ngân hàng thương mại, có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.

2.1.2 Khung lý thuyết Sức mạnh thị trường (Market Power Framework)

Lý thuyết Sức mạnh thị trường dựa trên giả thuyết rằng sự tập trung của ngân hàng và các ràng buộc cạnh tranh tạo ra môi trường cản trở, ảnh hưởng đến hành vi và hiệu suất của ngân hàng Claeys và Vennet (2008) đã xác định hai giả thuyết trong lý thuyết này: Giả thuyết Cấu trúc - Ứng xử - Hiệu suất (SCP) và giả thuyết sức mạnh thị trường tương đối (RMP) Giả thuyết SCP khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa thu nhập lãi cận biên và cấu trúc thị trường, cho thấy hành vi định giá phi cạnh tranh trong các thị trường có mức độ tập trung cao hơn.

Giả thuyết SCP cho rằng mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ tập trung thị trường và hiệu suất lợi nhuận tồn tại, bất chấp hiệu quả của công ty được đo bằng thị phần Claeys và Vennet đã chỉ ra rằng sự tập trung thị trường ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Năm 2008, nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tập trung thị trường là mức độ mà một số lượng nhỏ ngân hàng chiếm lĩnh một tỷ lệ lớn của thị trường Kết quả cho thấy các ngân hàng hoạt động trong các thị trường có mức độ tập trung cao có khả năng phát huy sức mạnh thị trường và đạt lợi nhuận cao hơn so với các ngân hàng tại các thị trường ít tập trung, bất kể hiệu quả hoạt động của họ Lý thuyết SCP, được phát triển tại Đại học Harvard, bắt nguồn từ phân tích tân cổ điển về thị trường (American Agricultural Economics Association, 2006).

2.1.2.1 Giả thuyết Cấu trúc - Ứng xử - Hiệu suất (SCP)

Trong mô hình SCP, sự tập trung của ngân hàng được xem là chỉ số ngoại sinh phản ánh sức mạnh thị trường, đồng thời cũng là chỉ số trái ngược về mức độ cạnh tranh Giá cả và lợi nhuận của ngân hàng được coi là chỉ số nội sinh, đại diện cho hành vi và hiệu suất hoạt động của các ngân hàng.

Theo Berger, Demirguc-Kunt, Levine và Haubrich (2003), trong những năm 1990, mô hình thực nghiệm SCP chủ yếu mang tính tĩnh khi so sánh giữa các phần, hoặc ít nhất là có tính chất ngắn hạn Tuy nhiên, các mô hình đã phát triển vượt ra ngoài phương pháp đơn giản này, bao gồm các phân tích động về cạnh tranh ngân hàng, xem xét tác động của hành vi ngân hàng theo thời gian.

Theo Berger, Demirguc-Kunt, Levine, và Haubrich (2003), chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) là phương pháp phổ biến nhất để đo lường cạnh tranh trong ngành Maudos và Guevara (2004) định nghĩa HHI, hay còn gọi là chỉ số tập trung, là tổng bình phương của thị phần của năm mươi doanh nghiệp lớn nhất, hoặc tổng của tất cả nếu số lượng doanh nghiệp ít hơn năm mươi Chỉ số này đánh giá quy mô của các doanh nghiệp trong ngành và phản ánh mức độ cạnh tranh giữa chúng, với thị phần cá nhân được thể hiện dưới dạng phân số.

Các nghiên cứu gần đây đã mở rộng giả thuyết SCP bằng cách kiểm tra nhiều mô hình năng lực cạnh tranh khác nhau Nhiều tác giả đã sử dụng phương pháp HHI để đo lường năng lực cạnh tranh, dẫn đến sự xuất hiện của các thước đo thay thế, bao gồm cả các thước đo cấu trúc thị trường, xem xét ảnh hưởng của quy mô và loại hình ngân hàng thương mại đến điều kiện cạnh tranh (Berger, Demirguc-Kunt, Levine, và Haubrich, 2003) Berger và các cộng sự cũng chỉ ra rằng các thước đo mới về ứng xử và hiệu suất trong khuôn khổ SCP hiện nay bao gồm các chỉ số về hiệu quả, chất lượng dịch vụ, rủi ro của ngân hàng, cũng như tác động của hành vi ngân hàng đối với nền kinh tế.

Theo Berger, Demirguc-Kunt, Levine, và Haubrich (2003), HHI là thước đo năng lực cạnh tranh của ngân hàng nhưng có hạn chế trong việc phát hiện độc quyền, phụ thuộc vào định nghĩa cụ thể của thị trường Việc lựa chọn phạm vi địa lý để xác định mức độ và quy mô của thị trường gặp nhiều thách thức trong việc mô tả rõ ràng Chẳng hạn, một ngân hàng có thể chiếm thị phần lớn trong một khu vực nhất định, nhưng lại có thể không cạnh tranh với các ngân hàng khác ở những khu vực khác trong quốc gia, nơi nó thực thi quyền lực độc quyền.

Chỉ số Lerner (LI) là một chỉ số thay thế quan trọng để đo lường mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng, theo Maudos và Guevara (2004) Được đặt theo tên nhà kinh tế Abba Lerner, chỉ số này phản ánh sức mạnh thị trường của một công ty Chỉ số Lerner được định nghĩa là tỷ lệ giữa sự chênh lệch giữa giá và chi phí cận biên với giá, và có thể được biểu diễn bằng công thức toán học cụ thể.

Các nghiên cứu trước

Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã thực hiện các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, bao gồm cả các nghiên cứu xuyên quốc gia và nghiên cứu riêng lẻ tại từng quốc gia.

2.2.1 Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên xuyên quốc gia

Nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) phân tích dữ liệu ngân hàng từ 80 quốc gia trong giai đoạn 1988 – 1995, chỉ ra rằng sự khác biệt trong biên độ lãi suất và lợi nhuận ngân hàng được quyết định bởi nhiều yếu tố, bao gồm đặc điểm của ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ mô, thuế ngân hàng ngầm và mức độ minh bạch.

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại, lấy từ cơ sở dữ liệu Bankscope do IBCA cung cấp, với khoảng 7900 quan sát Phân tích hồi quy sử dụng hồi quy trọng số bình phương tối thiểu (WLS), trong đó trọng số là nghịch đảo số ngân hàng của quốc gia trong một năm nhất định, nhằm khắc phục sự khác biệt về số lượng ngân hàng giữa các quốc gia.

Nghiên cứu này phân tích hồi quy thực hiện theo mô hình đại lý một bước với phương trình như sau:

Iijt = α0 + αi Bijt + βj Xjt + γt Tt + δjCj + ɛijt

Iijt là biến phụ thuộc, thể hiện NIM hoặc BTP/TA của ngân hàng i trong nước j tại thời điểm t Bijt đại diện cho các đặc điểm của ngân hàng i tại thời điểm t, trong khi Xjt phản ánh đặc điểm của quốc gia j tại thời điểm t Tt và Cj là các biến giả thời gian và biến giả quốc gia, còn ɛijt là sai số nhiễu trắng.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tài sản ngân hàng so với tổng sản phẩm quốc nội cao hơn và tỷ lệ tập trung thị trường thấp hơn dẫn đến biên độ lãi suất và lợi nhuận thấp hơn, trong khi kiểm soát các yếu tố như hoạt động ngân hàng, đòn bẩy và môi trường kinh tế vĩ mô Các ngân hàng nước ngoài tại các nước đang phát triển có biên độ lãi suất và lợi nhuận cao hơn so với ngân hàng nội địa, ngược lại với tình hình tại các nước công nghiệp Hơn nữa, có bằng chứng cho thấy gánh nặng thuế doanh nghiệp được chuyển hoàn toàn cho khách hàng ngân hàng, trong khi yêu cầu dự trữ cao hơn không được chuyển giao, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.

Nghiên cứu của Abreu và Mendes (2008) tập trung vào các yếu tố quyết định biên độ lãi suất và lợi nhuận ngân hàng tại một số quốc gia châu Âu trong thập kỷ qua, sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu OLS với 477 quan sát Các tác giả phân tích ảnh hưởng của các biến đặc điểm ngân hàng, kinh tế vĩ mô, và chỉ tiêu quy định đến hiệu suất ngân hàng Nghiên cứu cũng xem xét liệu các yếu tố như quy mô, vốn hóa ngân hàng, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, chính sách tỷ giá hối đoái, tự do hóa tài chính và bất ổn tỷ giá có thể giải thích hiệu suất ngân hàng hay không Hơn nữa, tác giả đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng EMS 1992/3/4 đến thu nhập lãi cận biên và lợi nhuận ngân hàng, cùng với ảnh hưởng của tự do hóa dòng vốn đến các ngân hàng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

2.2.2 Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của quốc gia riêng lẻ

Nghiên cứu của Fungáčová và Poghosyan (2009) tập trung vào việc phân tích các yếu tố quyết định biên độ lãi suất trong ngành ngân hàng Nga, đặc biệt là ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu ngân hàng Sử dụng dữ liệu cấp ngân hàng từ toàn bộ khu vực ngân hàng Nga trong giai đoạn 1999 - 2007, nghiên cứu áp dụng hiệu ứng cố định để đánh giá tác động của các yếu tố khác nhau đến biên độ lãi suất, được đặc trưng bởi sự đa dạng trong cấu trúc sở hữu.

Mô hình hồi quy được trình bày như sau:

NIMit = αi + β1.HERFit + β2.PERit + β3.CAPit + β4.CRit + β5.LAit + β6.LIQit + γ1.Dseas + γ2.Dtime + ɛit

Chỉ số i và t đại diện cho ngân hàng và quý tương ứng, trong khi NIMit là thu nhập lãi cận biên của ngân hàng i trong khoảng thời gian t Biến đổi theo mùa và thời gian trong lợi nhuận lãi biên được phản ánh bởi các biến giả Dseas và Dtime Kết quả cho thấy rằng các yếu tố quyết định như cấu trúc thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và quy mô hoạt động khác nhau giữa các ngân hàng nhà nước, ngân hàng tư nhân trong nước và ngân hàng nước ngoài Đồng thời, sự ảnh hưởng của chi phí hoạt động và độ lo ngại rủi ro ngân hàng là đồng nhất giữa các nhóm quyền sở hữu Các kết quả này đề nghị cần xem xét các hình thức sở hữu ngân hàng khi phân tích các yếu tố quyết định biên độ lãi suất.

Nghiên cứu của Nguyễn Kim Thu và Đỗ Thị Thu Huyền (2014) tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2011 thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng Để ước lượng tác động giữa các biến, nghiên cứu đã áp dụng 3 mô hình hồi quy bao gồm Pooled OLS, FEM và REM.

Dựa trên mô hình của Ho và Saunders (1981) nhưng bài viết này sử dụng các phát triển tiếp theo trong nghiên cứu của McShane và Sharpe (1985) và Angbazo

Biến giả được áp dụng để phân tích sự khác biệt trong tỷ lệ thu nhập lãi thuần giữa ngân hàng nhà nước và ngân hàng cổ phần.

Phương trình biểu thị mối tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập:

NIMit = α + β1MPOit + β2MRVit + β3CRit +β4CRIRit + β5IPit + β6MQUit

MPO đại diện cho vị thế của ngân hàng, trong khi MRV thể hiện mức độ ngại rủi ro CR là chỉ số rủi ro tín dụng, và CRIR là biến tương tác giữa rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất IP phản ánh chi phí lãi suất ngầm, còn MQU thể hiện chất lượng quản lý Biến giả được ký hiệu là Dum, và i cùng t tương ứng với công ty và năm, trong khi εit là sai số ngẫu nhiên với E(εit) = 0.

Nghiên cứu cho thấy mức độ ngại rủi ro của ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí lãi suất ngầm có mối quan hệ tỷ lệ thuận và ý nghĩa thống kê với tỷ lệ thu nhập lãi thuần Ngược lại, chất lượng quản lý lại có mối quan hệ tỷ lệ nghịch và ý nghĩa thống kê với tỷ lệ thu nhập lãi thuần Biến tương tác giữa rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất không ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần Hơn nữa, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong tỷ lệ thu nhập lãi thuần giữa các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.

Nghiên cứu của Phạm Hoàng Ân và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2013) tập trung phân tích các yếu tố quyết định đến thu nhập lãi cận biên (NIM) của ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh loại hình sở hữu ngân hàng Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ 30 ngân hàng thương mại với 150 quan sát trong giai đoạn 2008 – 2012 và áp dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng, cụ thể là phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để ước lượng các hệ số hồi quy.

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tác động của các yếu tố như loại hình sở hữu, quy mô hoạt động cho vay, chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và tỷ lệ vốn chủ sở hữu Dựa trên lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, mô hình nghiên cứu được áp dụng để phân tích các yếu tố này.

NIMit = β0 + β1*OWNERSHIPit + β2*SIZEit + β3*OCit + β4*CRit + β5*LIQit + β6*CAPit +  it

Các biến trong nghiên cứu bao gồm: OWNERSHIP (quyền sở hữu), SIZE (quy mô hoạt động cho vay), OC (chi phí hoạt động), CR (rủi ro tín dụng), LIQ (rủi ro thanh khoản), và CAP (tỷ lệ vốn chủ sở hữu).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến NIM từ các nghiên cứu trước - Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến NIM từ các nghiên cứu trước (Trang 28)
Hình 3.1: Khung tiếp cận mô hình nghiên cứu - Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2011 2015
Hình 3.1 Khung tiếp cận mô hình nghiên cứu (Trang 49)
Bảng 3.1: Bảng mô tả các biến  BIẾN  CÁCH ĐO LƯỜNG - Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 3.1 Bảng mô tả các biến BIẾN CÁCH ĐO LƯỜNG (Trang 55)
Bảng 4.2 dưới đây trình bày ma trận hệ số tương quan nhằm xác định mức độ  quan hệ tuyến tính giữa các cặp biến số trong quan sát - Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 4.2 dưới đây trình bày ma trận hệ số tương quan nhằm xác định mức độ quan hệ tuyến tính giữa các cặp biến số trong quan sát (Trang 67)
Bảng 4.3 thể hiện chỉ số VIF của các biến số độc lập trong mô hình, dựa vào  VIF có thể nhận biết khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến - Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 4.3 thể hiện chỉ số VIF của các biến số độc lập trong mô hình, dựa vào VIF có thể nhận biết khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (Trang 69)
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM - Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM (Trang 70)
Bảng 4.7: Bảng kết quả hồi quy mô hình PCSE xử lý vi phạm của mô hình FEM - Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 4.7 Bảng kết quả hồi quy mô hình PCSE xử lý vi phạm của mô hình FEM (Trang 72)
Bảng 4.8: Tóm tắt giả thuyết nghiên cứu và kết quả thực nghiệm - Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại việt nam trong giai đoạn 2011 2015
Bảng 4.8 Tóm tắt giả thuyết nghiên cứu và kết quả thực nghiệm (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w