TỔNG QUAN
Ly ́ do cho ̣n đề tài 1-5 1.2 Mu ̣c tiêu nghiên cứu
Ngày nay, du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu, phát triển nhanh chóng và thu hút đầu tư toàn cầu nhờ vào lợi ích to lớn mà nó mang lại Ngành du lịch Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo ra giá trị mới cũng như nguồn thu cho đất nước.
Theo Quốc hội (2005), kinh tế dịch vụ ngày càng chiếm ưu thế trong cơ cấu kinh tế toàn cầu, với du lịch là ngành công nghiệp không khói mang lại giá trị kinh tế cao Nguyễn Quyết và Võ Thanh Hải (2015) chỉ ra rằng, ở các quốc gia thu nhập thấp, nông nghiệp vẫn chiếm hơn 30% GNP, trong khi ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, dịch vụ đóng góp trên 70% GNP Tại Việt Nam, theo Tổng Cục Thống kê (2011), cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch rõ rệt, với nông nghiệp giảm từ 23,24% GDP năm 2001 xuống 21,76% GDP năm 2004, trong khi dịch vụ duy trì mức cao Du lịch không chỉ đóng góp hàng ngàn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác Sự phát triển du lịch thực sự có khả năng thay đổi bộ mặt kinh tế của Việt Nam.
Trong hơn 20 năm qua, ngành du lịch Bình Thuận đã có những bước phát triển quan trọng, góp phần vào sự phát triển chung của du lịch Việt Nam.
Bình Thuận là một trung tâm du lịch nổi tiếng, đã đầu tư mạnh mẽ và đa dạng hóa sản phẩm du lịch để nâng cao trình độ dân trí và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Ngành du lịch không chỉ góp phần phát triển kinh tế địa phương mà còn có ảnh hưởng tích cực đến các ngành kinh tế khác, hiện đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Du lịch Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển từ thập niên 60, nhưng chỉ thực sự bùng nổ trong khoảng 20 năm gần đây Năm 1990, Việt Nam đón khoảng 250.000 lượt khách quốc tế mỗi năm, nhưng đến năm 2009, con số này đã tăng lên khoảng 25 triệu lượt, đóng góp khoảng 5% vào GDP quốc gia Lực lượng lao động trong lĩnh vực du lịch đã tăng gấp 20 lần từ năm 1991 đến 2009, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch.
Từ năm 1995 đến 2014, lượng du khách đến Việt Nam đã tăng mạnh từ hơn 1,3 triệu lên gần 7,9 triệu lượt, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Biểu đồ 1.1: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam
Du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp ngày càng cao vào GDP và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Để phát triển du lịch một cách bền vững, cần tập trung vào chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam có sức cạnh tranh toàn cầu Đồng thời, cần chú trọng phát triển cả thị trường nội địa và quốc tế, nhằm thu hút lượng khách quốc tế đến Việt Nam Chính phủ đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, thu hút 7,5 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2015 và 14 triệu lượt vào năm 2025, với mong muốn tăng gấp đôi lượng khách trong vòng một thập kỷ.
Đến năm 2030, Việt Nam dự kiến thu hút 18 triệu lượt khách quốc tế Theo chiến lược này, tổng thu của ngành du lịch ước đạt 207 nghìn tỷ đồng vào năm 2015, sẽ tăng lên 372 nghìn tỷ đồng vào năm 2025 và đạt 708 nghìn tỷ đồng vào năm 2030.
Tình hình thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hiện nay không khả quan do nhiều hạn chế Ngành du lịch thiếu sức cạnh tranh trong khu vực, hệ thống chính sách và cơ chế đặc thù chưa đủ mạnh, và đầu tư cho quảng bá chưa tương xứng Sản phẩm du lịch còn trùng lặp giữa các vùng miền, liên kết hợp tác chưa được khai thác triệt để, và ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển du lịch Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch tại một số địa phương còn mỏng, nguồn nhân lực trình độ cao thiếu hụt, và các doanh nghiệp du lịch còn yếu về tiềm lực và quy mô, dẫn đến sức cạnh tranh kém.
Cơ sở hạ tầng du lịch ở nhiều địa phương còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành du lịch Công tác quản lý môi trường tự nhiên và xã hội tại các điểm đến chưa được chú trọng, dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng Ngoài ra, còn tồn tại nhiều trở ngại từ tính bền vững trong hoạt động du lịch.
Sản phẩm du lịch tại Việt Nam hiện đang gặp nhiều vấn đề thiếu chuyên nghiệp, với sự đơn điệu, chậm đổi mới và thiếu sáng tạo, dẫn đến sự trùng lặp giữa các vùng miền và thiếu tính liên kết Công tác xúc tiến quảng bá du lịch còn hạn chế, nghiên cứu thị trường thụ động và yếu kém, trong khi hoạt động phối hợp giữa các ngành và địa phương không thường xuyên và chưa hiệu quả Nhiều doanh nghiệp lữ hành chưa đủ khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, trong khi một số thị trường bị thao túng bởi người nước ngoài, gây ra cạnh tranh không lành mạnh và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cũng như hình ảnh điểm đến Việt Nam Nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp còn thiếu và yếu, trong khi áp lực cạnh tranh về giá, chất lượng dịch vụ và năng lực doanh nghiệp ngày càng gia tăng từ các điểm đến du lịch hàng đầu trong khu vực như Malaysia, Thái Lan và Singapore.
Bình Thuận là điểm đến du lịch hấp dẫn với tài nguyên phong phú từ biển, rừng và đảo Tỉnh có bờ biển dài 192 km, nổi bật với nhiều bãi biển đẹp và các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia như Núi Ông, núi Tà Cú, và khu bảo tồn biển đảo Phú Quý Đặc biệt, nơi đây còn có Cù Lao Câu với hệ sinh thái đa dạng Cảnh quan độc đáo như đồi cát bay Mũi Né cũng thu hút nhiều du khách.
Bàu Trắng, Mũi Kê Gà và các hồ thủy điện, suối khoáng nóng Vĩnh Hảo, Đà Kai là những điểm đến hấp dẫn với tài nguyên nhân văn phong phú Nơi đây nổi bật với nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia như tháp Chăm Pô Sah Inư, Trường Dục Thanh, Dinh Thầy Thím và Cổ Thạch, thu hút du khách tìm hiểu về văn hóa và lịch sử địa phương.
Tỉnh có 34 dân tộc sinh sống, bao gồm Kinh, Raglai, Hoa, Chăm, Giarai, Cơ Ho, Tày, Chơ Ro, Nùng, mỗi dân tộc mang đến những nền văn hóa, phong tục tập quán, ngành nghề truyền thống và lễ hội đặc sắc, tạo nên bản sắc văn hóa riêng cho tỉnh Những sản phẩm đặc trưng như nước mắm đầu tiên tại Việt Nam, đồi cát bay Mũi Né, và bãi đá cổ Thạch đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh du lịch và văn hóa địa phương.
- hotel nằ m ven biển nhiều nhất, lễ hội Nghinh Ông Quan thánh Đế Quân, Rồ ng
Năm địa điểm nổi bật tại tỉnh bao gồm Tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn dài nhất, diện tích trồng thanh long lớn nhất, và hoạt động nuôi trồng tảo quý Spirulina Với vị trí thuận lợi và nhiều tài nguyên du lịch phong phú, tỉnh đang trở thành động lực phát triển cho ngành du lịch, hướng tới việc xây dựng nền kinh tế mũi nhọn.
Câu ho ̉i nghiên cứu
Thực trạng tình hình du lịch Việt Nam và tỉnh Bình Thuận hiện nay như thế nào?
Ngành du lịch tỉnh Bình Thuận cần có những chiến lược gì? Giải pháp nào để phát triển ngành công nghiệp “không khói” này đến năm 2030?
Đố i tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài viết tập trung vào thực trạng ngành du lịch tỉnh Bình Thuận tính đến năm 2015, đồng thời nêu rõ các định hướng phát triển du lịch cho tỉnh này, bao gồm quy hoạch và chiến lược phát triển du lịch Bình Thuận trong tương lai.
Phạm vi nghiên cứu: Ngành du lịch Việt Nam và tỉnh Bình Thuâ ̣n.
Dư ̃ liê ̣u và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Tổng Cục Du lịch, Cục Thống kê và Sở Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Bình Thuận.
Nghiên cứu này còn sử dụng nhiều nguồn dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan như Cục thống kê các tỉnh/thành ở Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh & xã hội, UBND tỉnh Bình Thuận, và Sở Kế hoạch – Đầu tư Bình Thuận Những dữ liệu này được dùng làm cơ sở cho việc nhận định, phân tích, đánh giá và so sánh trong quá trình nghiên cứu.
1.5.2 Phương pháp phân tích dữ liê ̣u
Phương pháp nghiên cứu chính được áp dụng là sự kết hợp giữa định tính và định lượng, trong đó các phương pháp phân tích và so sánh được kết hợp để tìm ra lời giải cho các câu hỏi nghiên cứu Dưới đây là danh sách các kỹ thuật được sử dụng trong nghiên cứu.
Kỹ thuật so sánh được áp dụng để phân tích các yếu tố cung - cầu du lịch tại tỉnh Bình Thuận, so sánh với các địa phương du lịch biển tương tự như Ninh Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu và Nha Trang Qua đó, bài viết sẽ làm rõ những lợi thế, thách thức và cơ hội phát triển ngành du lịch của tỉnh Bình Thuận.
Kỹ thuật phân tích SWOT là một công cụ quan trọng trong việc đánh giá ngành du lịch tỉnh Bình Thuận Phân tích này giúp làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức mà ngành du lịch địa phương đang đối mặt Việc thực hiện phân tích SWOT sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề cần quan tâm, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm phát triển bền vững ngành du lịch tỉnh Bình Thuận.
Cung – Cầu) trong thời gian tới, nhằm đưa ra những định hướng phù hợp để phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận đến 2030
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Sau khi nghiên cứu, tác giả nhận thấy chưa có đề tài nào của các nhà nghiên cứu trong nước về định hướng phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận đến năm 2030, ngoại trừ các chiến lược chung từ các cơ quan chức năng Nghiên cứu này nhằm đưa ra định hướng chiến lược cụ thể, tập trung vào việc nâng cao năng lực cung ứng để đáp ứng nhu cầu, tức là tăng cường cung nhằm thỏa mãn cầu và thúc đẩy sự gia tăng cầu trong ngành du lịch.
Vì thế, viê ̣c xây dựng định hướng phát triển du lịch tỉnh Bình Thuâ ̣n đến năm
2030 là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận.
Kết cấu đề ta ̀i 7-8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Kết cấu nghiên cứu được trình bày theo 4 chương được trình bày như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm những nội dung như lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luâ ̣n của đề tài Ở chương này, các lý thuyết về du lịch, các yếu tố ảnh hưởng đến cung - cầu du li ̣ch Đồng thời, tác giả cũng trình bày tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương này
Chương 3: Phân tích Cung - Cầu du lịch tại Việt Nam và tỉnh Bình Thuận Nội dung chính của chương này là phân tích nhu cầu du lịch của khách du lịch đến Việt Nam và tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua, dự báo nhu cầu trong tương lai Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích khả năng cung du lịch của ngành du lịch Việt Nam và tỉnh Bình Thuận giai đoạn vừa qua và thời gian sắp đến để làm cơ sở đề ra những định hướng phát triển du lịch đến năm 2030
Chương 4: Định hướng phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận đến năm 2030
Chương này trình bày các định hướng phát triển du lịch nhằm thu hút và giữ chân khách du lịch tại tỉnh Bình Thuận và toàn quốc Đồng thời, chương cũng chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu và đưa ra các đề xuất, kiến nghị về giải pháp phát triển du lịch Bình Thuận đến năm 2030.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Ca ́c khái niê ̣m có liên quan
Theo Coltman (1991), du lịch được định nghĩa là sự kết hợp và tương tác giữa bốn yếu tố chính: du khách, nhà cung cấp dịch vụ du lịch, cư dân địa phương và chính quyền nơi tiếp đón du khách.
Nhà kinh tế học Picara - Edmod (trích từ Nguyễn Thị Lan Hương, 2010) định nghĩa rằng du lịch là tổng hòa của việc tổ chức và chức năng, không chỉ liên quan đến khách vãng lai mà còn về giá trị mà khách mang đến Khách du lịch với túi tiền đầy sẽ tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ, nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.
Theo Luật du lịch (2005), du lịch được định nghĩa là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Khách du lịch là những người tham gia hoạt động này, ngoại trừ những trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để kiếm thu nhập tại địa điểm đến Cơ sở lưu trú du lịch, chủ yếu là khách sạn, cung cấp dịch vụ cho thuê buồng, giường và các dịch vụ khác cho khách lưu trú Tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, và các giá trị nhân văn khác, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch và đô thị du lịch.
Trần Nhạn (1996), khái niệm về du lịch theo cách tiếp cận của các đối tượng liên quan đến hoạt động du li ̣ch như sau:
Du lịch là hành trình và trải nghiệm lưu trú tại những địa điểm khác ngoài nơi cư trú, nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng như hoà bình, hữu nghị và khám phá.
Du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Đối với người kinh doanh du lịch, mục tiêu chính là tổ chức các điều kiện sản xuất và phục vụ nhằm thu lợi nhuận Chính quyền địa phương cũng có trách nhiệm tạo điều kiện về hành chính và cơ sở hạ tầng để phục vụ khách du lịch, đồng thời tăng thu ngoại tệ và nâng cao đời sống cho cộng đồng Đối với cư dân địa phương, du lịch mang lại cơ hội hiểu biết văn hóa, tìm việc làm và phát triển nghề truyền thống, nhưng cũng tiềm ẩn những tác động tiêu cực đến môi trường và an ninh xã hội.
2.1.2 Phân loa ̣i khách du li ̣ch: Luật du lịch (2005), khách du lịch bao gồ m: Khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế (i) Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam (ii) Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
2.1.3 Phân loa ̣i cơ sở lưu trú: Luật du lịch (2005), các loại cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: Khách sạn; làng du lịch; biệt thự du lịch; căn hộ du lịch; bãi cắm trại du lịch; nhà nghỉ du lịch; nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê; các cơ sở lưu trú du lịch khác
2.1.4 Các loại hình du lịch: Trần Đứ c Thanh (2000), đã chia ra các loại hình du lịch như sau:
Phân chia theo môi trường tài nguyên: Du lịch thiên nhiên và du lịch văn hoá
Du lịch có thể được phân loại theo nhiều mục đích khác nhau, bao gồm du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch thể thao, du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo, du lịch nghiên cứu, du lịch hội nghị, du lịch thể thao kết hợp, du lịch chữa bệnh, du lịch thăm thân và du lịch kinh doanh Mỗi loại hình du lịch mang đến những trải nghiệm và lợi ích riêng, phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách.
Phân loại theo lãnh thổ hoạt động: Du lịch quốc tế, du lịch nội địa và du lịch quốc gia
Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: Du lịch miền biển, du lịch núi, du lịch đô thị và du lịch thôn quê
Phân loại theo phương tiện giao thông: Du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịch bằng tàu hoả, du lịch bằng tàu thuỷ và du lịch máy bay
Phân loại theo loại hình lưu trú: Khách sạn, nhà trọ thanh niên, camping, Bungaloue và làng du lịch
Phân loại theo lứa tuổi du lịch: Du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch trung niên và du lịch người cao tuổi
Phân loại theo độ dài chuyến đi: Du lịch ngắn ngày và du lịch dài ngày
Phân loại theo hình thức tổ chức: Du lịch tập thể, du lịch cá thể và du lịch gia đình
Phân loại theo phương thức hợp đồng: Du lịch trọn gói và du lịch từng phần
2.1.5 Những tác động của du lịch đến kinh tế
Tham gia tích cực vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng trong một quốc gia không chỉ tạo ra tác động tích cực mà còn góp phần làm tăng GDP và mở rộng nguồn lực kinh tế.
Việc thu ngân sách cho các địa phương và quốc gia là cần thiết để cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Điều này không chỉ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác mà còn khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Hơn nữa, nó góp phần củng cố sức khỏe cho năng suất lao động, từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội.
Phát triển du lịch quốc tế thụ động có thể gây ra những tác động tiêu cực, như mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế và áp lực lạm phát Quản lý du lịch kém sẽ ảnh hưởng đến môi trường, cân bằng sinh thái, cũng như các giá trị văn hóa của quốc gia Việc tàn phá rừng để xây dựng khu du lịch và đáp ứng nhu cầu ẩm thực dẫn đến khai thác tài nguyên không kiểm soát, bao gồm đất, nước, không khí, tài nguyên biển và rừng Hơn nữa, ô nhiễm môi trường từ nước thải, khí thải và thuốc trừ sâu ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước, không khí và đất Tiếng ồn từ phương tiện và hoạt động của con người cũng có thể làm tổn hại đến môi trường sống của động vật hoang dã.
2.2 Cá c lý thuyết về kinh tế du li ̣ch
Nguyễn Văn Đính (2006) cho rằng con người có những nhu cầu khác nhau vào những thời điểm khác nhau, và nhu cầu du lịch vẫn tồn tại bất kể hoàn cảnh kinh tế Nhu cầu du lịch xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau như nghỉ ngơi, công việc, trăng mật, thăm người thân, công tác và chữa bệnh Nhu cầu du lịch có thể được chia thành ba nhóm chính: (i) nhu cầu cơ bản thiết yếu bao gồm ăn uống, lưu trú và di chuyển; (ii) nhu cầu đặc trưng liên quan đến nghỉ ngơi, giải trí, tham quan và giao tiếp; và (iii) nhu cầu bổ sung như thẩm mỹ, làm đẹp và thông tin.
Nguyễn Văn Đính (2006) cho rằng hiệu quả kinh tế du lịch được thể hiện qua mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất và tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và tiêu thụ dịch vụ chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Điều này có nghĩa là hiệu quả kinh tế du lịch phản ánh khả năng sử dụng nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả kinh doanh cao với chi phí thấp.
Ngành du lịch thường sử dụng các chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả, trong đó những chỉ tiêu phổ biến liên quan đến khách du lịch bao gồm tổng số khách, số ngày lưu trú, tổng doanh thu, tổng chi phí, công suất sử dụng buồng/phòng và chi phí bình quân cho mỗi khách.
1 khách du li ̣ch,…
2.3 Cá c yếu tố ảnh hưởng đến thời gian lưu trú của khách du li ̣ch
Cifuentes (1992) đã phát triển công thức để tính toán tải lượng vật lý và khả năng chịu tải tự nhiên, giúp đánh giá sức chứa tại các điểm tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch Võ Quế (2015) đã tóm tắt phương pháp tính toán này.
Phân tích cung - cầu du lịch tại Việt Nam
3.1.1 Phân tích cung du lịch tại Việt Nam
Chính phủ Việt Nam đang thực hiện cam kết cho phép thành lập pháp nhân trong lĩnh vực dịch vụ đại lý lữ hành và kinh doanh lữ hành, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch lữ hành khai thác khách du lịch quốc tế hiệu quả hơn Việc cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ sẽ gia tăng năng lực khai thác khách du lịch, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đăng cai các sự kiện quốc tế lớn, làm tăng lượng khách du lịch công vụ và hội nghị Sự hội nhập trong lĩnh vực du lịch đặt ra áp lực buộc các doanh nghiệp trong nước phải cải cách mạnh mẽ để nâng cao sức cạnh tranh, đồng thời học hỏi từ các doanh nghiệp lớn trên thế giới Chính phủ cũng áp dụng nhiều ưu đãi như miễn thị thực cho khách nước ngoài, khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức tour du lịch đa dạng và giá cả hợp lý Tuy nhiên, Việt Nam vẫn gặp khó khăn về cơ sở hạ tầng, dịch vụ vệ sinh, và giao thông, khiến ngành du lịch gặp thách thức lớn Điểm yếu lớn nhất của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam là năng lực tài chính yếu kém, ít kinh nghiệm, và khả năng khai thác nguồn tài nguyên hạn chế, dẫn đến việc dễ dàng mất thị trường.
Nhu cầu của khách quốc tế đối với các sản phẩm du lịch chuyên biệt như du lịch khám phá thiên nhiên, thể thao và từ thiện đang gia tăng, nhưng chương trình du lịch này tại Việt Nam lại rất hiếm Hơn nữa, sự thiếu hụt các sản phẩm đi kèm cũng là một vấn đề Mặc dù Việt Nam có hàng trăm làng nghề truyền thống, du khách quốc tế gặp khó khăn trong việc tìm kiếm quà lưu niệm “Made in Vietnam” Điều này góp phần giải thích tại sao chi tiêu của du khách quốc tế tại Việt Nam thấp hơn so với các nước khác, với trung bình khoảng 100 USD so với 500 USD ở Thái Lan.
Ngành du lịch Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức, nhưng những nỗ lực từ các doanh nghiệp và cơ quan chức năng đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành này.
3.1.2 Phân tích cầu du lịch tại Việt Nam
Từ năm 2000, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhưng vẫn còn nghèo nàn so với các quốc gia khác, dẫn đến nhu cầu đi du lịch quốc tế của người Việt Nam còn hạn chế Tuy nhiên, sau khi gia nhập WTO, sự hội nhập kinh tế đã làm thay đổi tư tưởng và nhu cầu du lịch của người dân, đặc biệt là những người có thu nhập cao Thị trường du lịch của Việt Nam chủ yếu đến từ các quốc gia như Mỹ, Nga và Nhật Bản, trong đó khách du lịch Nga rất thích đến Việt Nam để tận hưởng khí hậu ấm áp và du lịch biển Mặc dù nhu cầu du lịch của người Nga rất lớn, nhưng việc tiếp thị và giới thiệu du lịch Việt Nam đến với họ vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc hình ảnh Việt Nam chưa được ghi nhớ rõ ràng trong tâm trí du khách Nga.
Người Nga thường dành thời gian trong năm để du lịch trong và ngoài nước, với xu hướng chi tiêu không kém gì khách phương Tây Trong khi đó, du khách Nhật Bản rất nhạy cảm với tin tức tiêu cực, dẫn đến sự giảm sút lượng khách đi du lịch nước ngoài sau các sự kiện như 11/9 và cuộc chiến Iraq Việt Nam hấp dẫn du khách Nhật nhờ thiên nhiên đẹp, di sản thế giới và ẩm thực phong phú, nhưng họ ít quay lại do thiếu thông tin, sự không hài lòng về mua sắm và hệ thống chăm sóc sức khỏe Hạ tầng yếu kém và thiếu định hướng cho khách du lịch giàu có cũng là vấn đề Đối với khách du lịch Mỹ, họ được chia thành bốn nhóm dựa trên sở thích, từ những người thích du lịch sinh thái chi tiêu cao đến những người đi du lịch ba lô và tham gia sự kiện thể thao Dù thuộc nhóm nào, an toàn luôn là yếu tố quan trọng nhất với du khách Mỹ Nhu cầu du lịch của người Việt Nam đang ngày càng tăng cao, đặc biệt khi đời sống ngày càng cải thiện.
27 hiếu cũng như tâm lý của du khách, để có hướng đi đúng đắn nhất cho sự phát triển của ngành du lịch nước ta
3.2 Phân tích cung - cầu du lịch tại Bình Thuận
3.2.1 Phân tích cung du lịch tại Bình Thuận
Bình Thuận, với lợi thế bờ biển đẹp, đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách quốc tế trong nhiều năm qua Theo số liệu từ Cục Thống kê Bình Thuận (2015), lượng khách du lịch đến tỉnh này đã tăng đều qua các năm, từ hơn 250 ngàn lượt người vào năm 2010.
2015 tăng lên hơn 450 ngàn lượt người Bình quân tăng trưởng giai đoạn 2010 -
2015 đối với du khách quốc tế là 12,7%
Bình Thuận đã trở thành một điểm đến du lịch trọng điểm của quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch nghỉ dưỡng biển, nhờ vào sự thu hút mạnh mẽ các dự án đầu tư lưu trú tại các khu vực ven biển như Hàm Tiến, Mũi Né và Tiến Thành Tỉnh hiện có 119 resort hoạt động, chiếm gần 50% tổng số cơ sở lưu trú, trong đó 39 resort đạt tiêu chuẩn từ 3 - 5 sao, và tại thành phố Phan Thiết, tỷ lệ resort lên đến 80% Sự hấp dẫn của du lịch biển Bình Thuận đã thu hút ngày càng nhiều du khách, với tỷ lệ khách nội địa quay lại lần thứ 3 đạt 21,87% và khách quốc tế quay lại lần thứ 2 là 30,6% Hoạt động kinh doanh du lịch nghỉ dưỡng biển tại đây đã ghi nhận sự tăng trưởng ổn định về lượng khách và doanh thu, đồng thời Mũi Né đã trở thành một thương hiệu du lịch nổi tiếng cả trong nước và quốc tế.
Loại hình du lịch nghỉ dưỡng kết hợp chơi thể thao: Những năm gần đây,
Bình Thuận đã khai thác tối đa lợi thế về bãi biển, khí hậu và gió để phát triển du lịch nghỉ dưỡng kết hợp thể thao, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước Các hoạt động thể thao như lướt ván buồm, lướt ván diều, thuyền buồm, dù lượn, golf, lặn biển, mô tô nước và ca nô kéo dù ngày càng phổ biến Hiện tại, tỉnh có 28 cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao biển, trong đó 11 cơ sở chuyên huấn luyện lướt ván Mô hình du lịch này không chỉ đáp ứng nhu cầu của du khách mà còn kéo dài thời gian lưu trú của khách quốc tế.
Du lịch dã ngoại và giải trí tại các khu ven biển như Bình Thạnh, Hòn Rơm, Gành, Đồi Dương - Thương Chánh, Ngãnh Tam Tân, và Cam Bình đang thu hút đông đảo khách du lịch nội địa vào mùa hè, lễ tết và cuối tuần Những điểm tham quan nổi bật như Đồi Cát Bay, tháp Pôsah Inư, Bàu Trắng và Chùa Núi Tà Cú đã được đầu tư phát triển dịch vụ, góp phần gia tăng lượng du khách đến vui chơi và khám phá.
Bình Thuận không chỉ nổi tiếng với du lịch biển mà còn khai thác tài nguyên du lịch nhân văn để phát triển du lịch tín ngưỡng Các lễ hội truyền thống như lễ hội Trung Thu, lễ hội Dinh Thầy Thím, lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân của người Hoa Phan Thiết, và lễ hội Ka Tê tại tháp Pô sah Inư được tổ chức quy mô lớn, thu hút đông đảo khách hành hương và du lịch, đặc biệt ở thị xã La Gi và Bình Thạnh - Tuy Phong Bên cạnh đó, du lịch hội nghị (MICE), du lịch sinh thái và chữa bệnh cũng đang được các doanh nghiệp đầu tư khai thác, mở rộng thêm các sản phẩm du lịch đa dạng cho khu vực.
3.2.2 Phân tích cầu du lịch tại Bình Thuận
Theo Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh, lượng khách du lịch đến tỉnh tăng trưởng ổn định, với mức tăng trưởng bình quân 10,94%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015, trong đó khách quốc tế tăng 12,7% Năm 2015, tỉnh ước đón khoảng 4.200.100 lượt khách, tăng 11,2% so với năm 2014, trong đó có khoảng 455.000 lượt khách quốc tế Khách quốc tế chủ yếu đến từ Nga (25,62%), Trung Quốc (17,38%), và Đức (7,53%) Doanh thu từ khách du lịch ước đạt 7.642 tỷ đồng, tăng 18,46% so với năm 2014, và GRDP du lịch chiếm 7,62% tổng GRDP của tỉnh Chi tiêu bình quân của khách nội địa là 850.000 đồng/ngày, trong khi khách quốc tế chi tiêu khoảng 2,25 triệu đồng/ngày, với mức tăng 4% so với năm 2014 Công suất sử dụng buồng phòng trung bình toàn tỉnh đạt khoảng 57 - 58,5%, với sự chênh lệch giữa các khu vực; khu vực phía Nam Phan Thiết và thị xã LaGi có lượng khách tăng nhưng chưa đồng đều, trong khi khu vực Long Sơn - Suối Nước vẫn chưa khởi sắc.
Bảng 3.1: Số lượng khách du lịch đến Bình Thuận từ 2010 - 2015
- Số khách do các cơ sở lưu trú phục vụ (1000 lượt) 2.001 2.205 2.649 3.054 3.659 3.700 13,1
- Số ngày khách lưu trú 3.400 3.834 4.600 5.323 5.685 6.163 12,6
- Số ngày ở lại bq/ lượt.kh 1,70 1,74 1,74 1,74 1,60 1,74
(Nguồn: Cục thống kê Bình Thuận, 2015)
3.3 Phân tích SWOT về ngành du lịch tại tỉnh Bình Thuận
Bình Thuận nằm ở vị trí thuận lợi với quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam, kết nối tỉnh này với các tỉnh phía Bắc, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và ngành du lịch của địa phương.
Bình Thuận là tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú với bờ biển dài 192 km, nhiều bãi biển đẹp và khu bảo tồn thiên nhiên nổi tiếng Vị trí thuận lợi cùng với tài nguyên nhân văn đa dạng là động lực quan trọng thúc đẩy du lịch phát triển, hướng tới việc trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Tỉnh Bình Thuận nổi bật với tài nguyên nhân văn phong phú và nhiều di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia nổi tiếng, bao gồm Trường Dục Thanh, Mộ cụ Nguyễn Thông, Tháp Po Sah Inư, Dinh Vạn Thủy Tú, và Đình làng Đức Nghĩa tại Phan Thiết Ngoài ra, Hải đăng Kê Gà ở Hàm Thuận Nam, Dinh Thầy Thím tại La Gi, Chùa Linh Quang ở Phú Quý, Vạn An Thạnh tại Tuy Phong, cùng Đình làng Võ Đắt ở Đức Linh cũng là những điểm đến không thể bỏ qua.
Bình Thuận nổi bật với những sản phẩm đặc trưng được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công nhận, như thương hiệu nước mắm đầu tiên tại Việt Nam, đồi cát bay Mũi Né, bãi đá Cổ Thạch, và resort - khách sạn ven biển nhiều nhất Địa danh Phan Thiết - Mũi Né đã trở thành thương hiệu du lịch quốc tế, được mệnh danh là “thủ đô resort” của Việt Nam, là điểm dừng chân lý tưởng cho du khách.
31 bỏ qua của du khách và đã được nhiều tạp chí có uy tín bình chọn, công nhận là điểm đến lý tưởng
Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Bình Thuận
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TỈNH BÌNH THUẬN ĐẾN NĂM 2030
4.1 Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Bình Thuận
4.1.1 Thực trạng kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch
Hệ thống giao thông vận tải phục vụ du lịch biển đang ngày càng hoàn thiện với các tuyến đường huyện, tỉnh và quốc lộ kết nối với TP Hồ Chí Minh, các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên Các dự án nâng cấp và xây dựng như đường trục ven biển Hòa Thắng - Hòa Phú, nâng cấp quốc lộ 1A, và xây dựng trục đường mới từ Ngã 2 (Hàm Mỹ) đến Tiến Thành đang được triển khai Ngoài ra, công tác giải phóng mặt bằng cho đường bộ cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết, xây dựng sân bay Phan Thiết tại xã Thiện Nghiệp, cùng với cảng tổng hợp Vĩnh Tân và cảng vận tải Phan Thiết cũng đang được thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch biển.
Mạng lưới điện 220Kv đã được triển khai rộng rãi tại các khu du lịch Phan Thiết, Hàm Thuận Nam, Tuy Phong và Bắc Bình, cùng với việc hoàn thiện hệ thống đường điện chiếu sáng cho các tuyến đường như Phan Thiết - Tiến Lợi, Tiến Thành - Kê Gà, Mũi Né và QL1A - Tà Cú Tất cả các khu du lịch đều được trang bị sóng di động 3G, internet cáp quang và dịch vụ truyền hình cáp Ngoài ra, hệ thống kè biển chống sạt lở tại Đồi Dương - Phan Thiết và Hàm Tiến - Mũi Né cũng đã được đầu tư và hoàn thiện.
4.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ khách du lịch
Ngành du lịch đã có sự phát triển mạnh mẽ, với số lượng du khách và doanh thu tăng trưởng hàng năm Cụ thể, lượng du khách đến năm 2014 đạt hơn 3.765 ngàn lượt, và dự kiến năm 2015 sẽ đạt khoảng 4.200 ngàn lượt khách Trung bình trong giai đoạn 2011 - 2015, tỷ lệ tăng trưởng du khách đạt 11,2% mỗi năm.
Bảng 4.1: Số liệu khách quốc tế đến Bình Thuận từ 2010 - 2015
STT Số lượt khách phục vụ
(Nguồn: Cục thống kê Bình Thuận, 2015)
Mặc dù lượng khách quốc tế đến tỉnh Bình Thuận còn thấp, nhưng tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 12,7% mỗi năm, với 450 ngàn lượt khách quốc tế vào năm 2015, chiếm 10,7% tổng lượt khách Phần lớn du khách là người trong nước, chiếm khoảng 89,3% Chất lượng dịch vụ du lịch ngày càng được cải thiện, cùng với các hoạt động xúc tiến du lịch được đẩy mạnh Đầu tư phát triển du lịch cũng đạt kết quả khả quan, trong khi vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm và an ninh trật tự tại các khu du lịch trọng điểm được đảm bảo.
Bảng 4.2: Cơ sở lưu trú du lịch của Bình Thuận từ 2010 - 2015
Cơ sở lưu trú (cơ sở) 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Đến năm 2015, tỉnh Bình Thuận có 190 khách sạn và 560 nhà nghỉ, cung cấp tổng cộng 14.500 phòng cho khoảng 3,7 triệu lượt khách.
2015, toàn tỉnh có 398 dự án du lịch được chấp thuận đầu tư còn hiệu lực, với
Tổng diện tích đất cấp đạt 7.741,8 ha với tổng vốn đăng ký đầu tư lên tới 60.329 tỷ đồng, bao gồm 32 dự án đầu tư nước ngoài và 366 dự án đầu tư trong nước.
Bảng 4.3: Tổng thu từ khách du lịch của Bình Thuận từ 2010 - 2015
Tổng thu từ khách DL (tỷ đ) 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Tăng (%)
1 Các cơ sở lưu trú 909,5 1.119,4 1.527,2 1.714,7 1.957,1 2.388,0 21,3
2 Các cơ sở lữ hành 65,9 44,8 58,4 61,8 71,9 88,0 5,9
3 Các HĐ du lịch khác 1.562,6 2.224,8 2.785,4 3.697,5 4.430,0 5.165,0 27,0
(Nguồn: Cục thống kê Bình Thuận, 2015)
Tỉnh hiện có 271 cơ sở lưu trú du lịch hoạt động, cung cấp tổng cộng 10.401 phòng Trong số đó, có 3 cơ sở đạt tiêu chuẩn 5 sao và 25 cơ sở đạt tiêu chuẩn 4 sao.
Trong lĩnh vực lưu trú, có 3 sao với 11 cơ sở, 2 sao với 34 cơ sở, 1 sao với 30 cơ sở, cùng 51 nhà nghỉ du lịch và 18 nhà ở cho khách thuê Tổng doanh thu từ các cơ sở lưu trú đạt 1.957 tỷ đồng Bên cạnh đó, các dịch vụ thể thao giải trí như lướt ván buồm, lướt ván diều, lặn biển, golf, Spa và các dịch vụ bổ trợ khác đang phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách.
Tổng thu từ khách du lịch có mức tăng trưởng khá cao, bình quân trong
Từ năm 2011 đến 2015, ngành du lịch ghi nhận mức tăng trưởng 24,7% mỗi năm, với tổng thu từ khách du lịch năm 2015 đạt 7,641 tỷ đồng, tăng 18,3% so với năm 2014 Trong năm 2015, thời gian lưu trú trung bình của khách nội địa là 1,55 ngày, trong khi khách quốc tế là 3,4 ngày Chi tiêu bình quân của khách nội địa đạt 0,778 triệu đồng/ngày/người, còn khách quốc tế là 2,185 triệu đồng/ngày/người, tăng 7,2% so với năm trước.
4.1.3 Thực trạng nguồn nhân lực du lịch
Ngành du lịch và dịch vụ du lịch đang phát triển mạnh mẽ, thu hút một lượng lớn lao động trực tiếp và gián tiếp Số lượng lao động trong lĩnh vực này tăng trung bình trên 10% mỗi năm, cho thấy sự bùng nổ của thị trường lao động trong du lịch.
Lĩnh vực du lịch hiện có hơn 12.500 người lao động, trong đó 56% đã được đào tạo chuyên sâu về du lịch Đội ngũ lao động bao gồm các quản lý và nhân viên nghiệp vụ có tay nghề cao, làm việc chuyên nghiệp Ngoài ra, có 29 hướng dẫn viên du lịch quốc tế và 51 hướng dẫn viên du lịch nội địa đã được cấp thẻ.
Chất lượng lao động trong ngành du lịch hiện nay còn thấp và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Đội ngũ cán bộ quản lý du lịch thiếu hụt, trong khi chất lượng nhân viên nghiệp vụ tại các doanh nghiệp du lịch vẫn còn nhiều hạn chế Ngoài ra, trình độ ngoại ngữ của nhân viên cũng gặp nhiều bất cập, đặc biệt là trong việc phục vụ thị trường khách quốc tế, nhất là khách Nga.
4.1.4 Hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch
Trong những năm qua, công tác thông tin tuyên truyền và hoạt động quảng bá du lịch đã được thực hiện thường xuyên với tính chuyên nghiệp ngày càng cao, đồng thời có sự xã hội hóa mạnh mẽ.
Bình Thuận không chỉ tham gia các hội chợ, triển lãm du lịch trong và ngoài nước mà còn tổ chức nhiều sự kiện quốc tế nổi bật như Giải lướt ván buồm Cúp thế giới PWA 2011, Festival Thuyền Buồm quốc tế 2011 và Lễ hội Khinh khí cầu Quốc tế lần thứ I năm 2012 Những sự kiện này đã giúp nâng cao thương hiệu và hình ảnh du lịch Bình Thuận, thu hút ngày càng nhiều du khách, đặc biệt là khách quốc tế và nội địa có thu nhập cao, kéo dài thời gian lưu trú và mang đến những trải nghiệm mới mẻ, hấp dẫn.
Thực trạng khai thác lợi thế du lịch tỉnh Bình Thuận 37 1 Khai thác lợi thế, phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch biển
4.2.1 Khai thác lợi thế, phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch biển - loại hình du lịch nghỉ dưỡng
Trong những năm gần đây, Bình Thuận đã thu hút nhiều dự án đầu tư kinh doanh lưu trú du lịch, đặc biệt tại các khu vực ven biển như Hàm Tiến, Mũi Né và Tiến Thành Khu vực này nhanh chóng trở thành một trong những điểm du lịch trọng điểm của quốc gia, góp phần phát triển ngành du lịch bền vững.
Tỉnh hiện có 119 resort đang hoạt động, chiếm gần 50% tổng số cơ sở lưu trú du lịch, với 39 resort từ 3-5 sao Đặc biệt, tại thành phố Phan Thiết, loại hình resort chiếm hơn 80%, cho thấy sự đầu tư mạnh mẽ vào du lịch nghỉ dưỡng biển với quy mô và thiết kế đa dạng.
Du lịch biển Bình Thuận ngày càng thu hút đông đảo du khách, với tỷ lệ khách nội địa quay lại lần thứ 3 đạt 21,87% và khách quốc tế quay lại lần thứ 2 là 30,6%, lần thứ 3 trở lên là 16,6% theo Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh (2015) Sức hấp dẫn của vùng biển này không chỉ mang đến trải nghiệm tham quan mà còn là điểm đến lý tưởng cho nghỉ dưỡng.
Ngành du lịch nghỉ dưỡng biển đang chứng kiến sự tăng trưởng ổn định, thể hiện qua sự gia tăng lượng khách, doanh thu, giá trị gia tăng và đóng góp vào ngân sách nhà nước.
Mũi Né đã trở thành một điểm đến du lịch nổi tiếng cả trong và ngoài nước, thu hút du khách bởi những bãi biển đẹp, khí hậu lý tưởng và ít mưa bão Bình Thuận đã khai thác những lợi thế này để phát triển các sản phẩm du lịch hấp dẫn, bao gồm nghỉ dưỡng kết hợp với các hoạt động thể thao như lướt ván buồm, lướt ván diều, thuyền buồm, dù lượn, golf, lặn biển, mô tô nước và ca nô kéo dù, từ đó thu hút đông đảo du khách.
4.2.2 Xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch biển
Bình Thuận, mặc dù không có lợi thế về hạ tầng giao thông như các trung tâm du lịch khác, đang nỗ lực tạo sự khác biệt để thu hút du khách trong bối cảnh cạnh tranh du lịch hiện nay Tỉnh đang xây dựng thương hiệu du lịch độc đáo dựa trên những sự kiện đặc trưng và thế mạnh về biển, bao gồm nắng, gió, cát và những bãi biển đẹp, nhằm phát triển các sản phẩm du lịch hấp dẫn cho cả du khách trong và ngoài nước.
Mũi Né - Bình Thuận không chỉ tổ chức các giải lướt ván diều và lướt ván buồm quốc tế hàng năm mà còn nỗ lực tổ chức những sự kiện quy mô lớn như Giải Lướt ván buồm Cup thế giới PWA, Festival Thuyền buồm quốc tế, và Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Những sự kiện này đã góp phần nâng cao hình ảnh du lịch biển Bình Thuận, thu hút ngày càng nhiều du khách, đặc biệt là khách quốc tế và khách nội địa có thu nhập cao, với thời gian lưu trú ngày càng dài hơn.
Bình Thuận nổi bật trong lòng du khách với hình ảnh "Biển xanh - cát trắng - nắng vàng" Thương hiệu du lịch biển Mũi Né - Bình Thuận đã được khẳng định và ngày càng lan tỏa ra toàn cầu Khi nghĩ đến du lịch biển, du khách ngay lập tức liên tưởng đến Mũi Né - Bình Thuận, Việt Nam.
4.2.3 Vai trò, vị trí của tỉnh đối với việc phát triển du lịch
Theo Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh, ngành du lịch đóng góp 8 - 9% vào Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh, thu hút hơn 4,2 triệu du khách Dự kiến đến năm 2020, tỷ lệ này sẽ tăng lên 10 - 11% GRDP, với mục tiêu thu hút 7,5 triệu du khách.
Tích cực thu hút đầu tư vào khai thác tiềm năng du lịch biển và đảo, với đa dạng các loại hình và sản phẩm du lịch phong phú, bao gồm cả phát triển du lịch sinh thái rừng.
Bình Thuận sẽ phát triển mạnh mẽ du lịch biển với các khu nghỉ dưỡng cao cấp, khu điều dưỡng và chữa bệnh suối khoáng nóng Đồng thời, cần chú trọng đến việc phát triển sản phẩm du lịch mới và khai thác hiệu quả thế mạnh thể thao biển và thể thao trên cát Mũi Né sẽ trở thành trung tâm thuyền buồm nổi tiếng, trong khi thành phố Phan Thiết sẽ được nâng cấp thành đô thị du lịch Khu du lịch Hàm Tiến - Mũi Né sẽ được công nhận là khu du lịch quốc gia, và Phú Quý sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách.
Để phát triển du lịch quốc gia, cần rà soát và thúc đẩy triển khai các dự án vui chơi giải trí và khu phức hợp du lịch tại các khu vực như Tiến Thành, Thuận Quý, Tân Thành, La Gi, Hòa Thắng, và Cù Lao Câu Khuyến khích đầu tư vào những vùng tiềm năng như Hòa Thắng, Hòa Phú và đảo Phú Quý, đồng thời phát triển du lịch cộng đồng và khai thác giá trị lễ hội văn hóa truyền thống để thu hút du khách Cần tăng cường bảo vệ trật tự, an ninh và vệ sinh môi trường tại các điểm du lịch cộng đồng, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch, đặc biệt là nâng cao nhận thức của cư dân ven biển về du lịch Hoạt động quảng bá và xúc tiến du lịch cần được chuyên nghiệp hóa, đồng thời thúc đẩy hợp tác du lịch biển và kết nối các tuyến dịch vụ trong và ngoài nước, đặc biệt với các quốc gia có quan hệ truyền thống Cuối cùng, cần hoàn thiện cơ chế quản lý và chính sách đầu tư để thúc đẩy du lịch phát triển, củng cố Ban chỉ đạo phát triển du lịch và nâng cao vai trò của Hiệp hội và các câu lạc bộ ngành nghề du lịch tại tỉnh.
4.2.4 Về tài nguyên biển phục vụ du lịch
Bãi biển Đồi Dương - Thương Chánh và Đồi Dương - Tiến Thành nổi bật với nước biển trong xanh và bãi cát trắng mịn, tạo nên điểm đến hấp dẫn cho du khách Khu vực này đã phát triển với nhiều khu nghỉ dưỡng và công viên biển, thu hút đông đảo khách tham quan và người dân đến vui chơi giải trí.
Bãi biển Mũi Né - Hòn Rơm là một điểm du lịch hấp dẫn, thu hút du khách trong và ngoài nước với nhiều hoạt động phong phú như tắm biển, nghỉ dưỡng, du thuyền, cắm trại, câu cá, trượt cát và ca nô Du khách cũng có thể tham quan Suối Hồng, Suối Tiên và thưởng thức các món hải sản tươi ngon tại đây.
Khu vực Long Sơn - Suối Nước - Hòa Thắng sở hữu cảnh quan đa dạng với núi, đồi, động cát và bãi biển, đồng thời có quỹ đất rộng lớn cho phát triển du lịch Khu vực này dự kiến sẽ trở thành một đô thị du lịch đặc trưng, mang tầm cỡ quốc tế.
Một số giải pháp phát triển du lịch Bình Thuận đến năm 2030
Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt và tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, Bình Thuận cần nghiên cứu và tìm ra giải pháp phù hợp để phát huy lợi thế du lịch, đặc biệt là du lịch - thể thao biển, nhằm phát triển bền vững Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác tiềm năng này.
4.3.1 Nhóm giải pháp nhằm đảm bảo cung du lịch
Về kết cấu hạ tầng, quy hoạch
Để phát triển du lịch tại Bình Thuận, cần kết hợp nhiều phương thức đầu tư và nguồn vốn, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Trung ương nhằm đẩy mạnh phát triển hạ tầng đồng bộ và hiện đại Việc tăng tốc triển khai các dự án như đường Cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết, Cảng tổng hợp Vĩnh Tân, sân bay Phan Thiết và các tuyến Quốc lộ 55, 28, 28B sẽ rút ngắn thời gian di chuyển từ TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đến Bình Thuận Hiện tại, Bình Thuận chưa có sân bay và bến cảng, việc di chuyển chủ yếu bằng đường bộ mất từ 5 - 6 giờ, trong khi các tuyến đường đã xuống cấp, ảnh hưởng lớn đến lượng du khách.
Triển khai các dự án du lịch FDI đã được cấp chứng nhận đầu tư với quy mô lớn, kêu gọi sự tham gia của các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp mạnh trên toàn quốc Cần có những biện pháp tích cực để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai xây dựng và hoạt động kinh doanh hiệu quả Hiện nay, các dự án du lịch FDI và đầu tư từ các doanh nghiệp mạnh đang gặp nhiều thách thức cần được giải quyết.
Tại tỉnh, số lượng mô hình lớn còn hạn chế, và chính quyền chưa áp dụng các biện pháp mạnh mẽ để giải quyết những khó khăn, vướng mắc, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai xây dựng và hoạt động kinh doanh của các dự án.
Nhiều dự án du lịch hiện nay đang trong tình trạng bỏ ngỏ, với hàng trăm dự án resort đã đăng ký nhưng không còn chỗ trống Thực tế cho thấy, nhiều dự án chỉ tồn tại trên giấy tờ hoặc dừng lại ở giai đoạn thi công ban đầu, dẫn đến tình trạng hoang phế hoặc kinh doanh không hiệu quả Một số dự án chậm đi vào hoạt động do vướng mắc trong công tác giải tỏa đền bù, thiếu năng lực tài chính của chủ đầu tư, hoặc chỉ xin cấp phép để sang nhượng kiếm lời Hơn nữa, việc bố trí các cơ sở lưu trú còn nhiều bất cập khi có sự chồng lấn quy hoạch với khu dân cư và các cơ sở công nghiệp, khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc triển khai dự án.
Cần khắc phục những vướng mắc và bất cập giữa các quy hoạch bằng cách rà soát và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi quỹ đất tiềm năng sang đất phát triển du lịch Đồng thời, triển khai lập quy hoạch phân khu và chi tiết, cũng như dự án đầu tư cho các khu, điểm du lịch theo định hướng không gian du lịch Cần kiên quyết thu hồi những dự án chậm triển khai không có lý do chính đáng Giải quyết những vấn đề này sẽ giúp các dự án du lịch được thực hiện đúng tiến độ và tránh những khó khăn hiện tại.
Phát triển nguồn nhân lực
Tăng cường hợp tác với các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và cơ sở dạy nghề uy tín trong và ngoài nước để mở rộng liên kết giáo dục.
Có 48 lớp đào tạo tu nghiệp tại nước ngoài và trong tỉnh về ngành du lịch, cùng với chính sách khuyến khích xã hội hóa đầu tư giáo dục, nhằm hình thành các trường học ngoài công lập chất lượng và uy tín Chính sách này cũng bao gồm việc sử dụng và thu hút nhân tài, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong ngành du lịch Tác giả đề xuất xây dựng Trường Đại học Bình Thuận liên kết với Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh để hình thành chuyên khoa đào tạo du lịch, phục vụ nhu cầu nhân lực tại địa phương Đồng thời, cần tăng cường đầu tư và phát huy hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch tại Trường Cao đẳng Cộng đồng, Trường Trung cấp Nghề tỉnh và Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Công đoàn Bình Thuận.
Nguồn nhân lực trong ngành du lịch của tỉnh đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về trình độ ngoại ngữ và kỹ năng chuyên môn Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng khai thác tiềm năng từ khách du lịch quốc tế Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch không chỉ yếu về số lượng mà còn thiếu chất lượng, trong khi công tác đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đa dạng của ngành Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo cho ngành du lịch cần được coi là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước và các doanh nghiệp, với sự phối hợp liên tục trong việc mở các lớp đào tạo ngắn hạn và dài hạn để nâng cao kiến thức và tay nghề cho nhân lực du lịch.
4.3.2 Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy cầu du lịch Đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Trong bối cảnh du lịch bùng nổ hiện nay, nhu cầu của khách du lịch ngày càng đa dạng và phong phú Họ không chỉ dừng lại ở những yêu cầu cơ bản như ăn, ở và tham quan mà còn mong muốn trải nghiệm những dịch vụ chất lượng cao và tiện nghi hơn Vì vậy, việc phát triển các loại hình du lịch mới là rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.
49 đi sâu và tìm hiểu các tầng lớp văn hóa nhân văn cùng với các nơi “sơn cùng thủy tận” của trái đất
Để phát triển du lịch hiệu quả, các doanh nghiệp cần nghiên cứu và thiết kế những sản phẩm du lịch phù hợp hơn, chú trọng vào việc tạo ra các điểm đến lý tưởng cho du khách Các xu hướng cần quan tâm bao gồm việc trở thành trung tâm tổ chức hội nghị, hội thảo hiện đại cho thị trường MICE, đa dạng hóa nguồn khách, đặc biệt là khách quốc tế, và mở rộng các loại hình sản phẩm du lịch Đồng thời, cần cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ như vui chơi giải trí, mua sắm và nghỉ dưỡng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.
Cần phát triển các khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp tại Phan Thiết và đảo Cù Lao Câu, kết hợp với dịch vụ vui chơi giải trí như casino và thể thao cao cấp như sân golf Đồng thời, các khu du lịch điều dưỡng chữa bệnh nên được xây dựng, tích hợp dịch vụ spa cao cấp và mua sắm mỹ phẩm chiết xuất từ thảo mộc, bùn khoáng và nước khoáng, tạo nên nét đặc trưng riêng cho tỉnh.
Bình Thuận sẽ được phát triển thành trung tâm thể thao biển quốc gia và quốc tế, với Mũi Né trở thành điểm đến nổi tiếng cho kinh doanh giải trí thuyền buồm Festival thuyền buồm quốc tế Mũi Né sẽ trở thành thương hiệu riêng, nằm trong hệ thống giải đấu hàng năm của Hiệp hội lướt ván buồm thế giới (PWA) Để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, Bình Thuận cần xúc tiến và quảng bá mạnh mẽ, mở rộng thị trường du lịch, đồng thời thu hút các sự kiện quốc tế như các cuộc thi thể thao, liên hoan âm nhạc, phim ảnh, và các Festival Hợp tác với các phương tiện truyền thông và các tổ chức quốc tế, cùng với việc làm việc với các đại sứ quán và lãnh sự quán Việt Nam ở nước ngoài, sẽ giúp giới thiệu Bình Thuận như một điểm đến hấp dẫn cho du khách quốc tế.
Tham gia các hội chợ và hội nghị du lịch trong và ngoài nước giúp tìm kiếm đối tác và mở rộng thị trường Xuất bản ấn phẩm du lịch và tạo website quảng cáo cùng với báo điện tử chứa thông tin hấp dẫn và được cập nhật liên tục về các chương trình du lịch, khuyến mãi, điểm tham quan, nghỉ dưỡng và ẩm thực Điều này giúp khách hàng hình dung rõ hơn về những gì đang chờ đón họ, từ đó tạo sự an tâm khi bỏ tiền ra để nhận lại giá trị xứng đáng.
Nhóm giải pháp bảo vệ môi trường, phát triển du lịch bền vững
Để phát triển du lịch bền vững, cần chú trọng bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội Điều này bao gồm việc tôn tạo và bảo vệ cảnh quan môi trường, đồng thời đảm bảo trật tự xã hội và an toàn vệ sinh thực phẩm.