Cùng với sự phát triển công nghiệp kéo theo rất nhiều vấn đề cần giải quyết như: tái định cư, ô nhiễm môi trường, nhà ở cho lao động nhập cư, kết cấu hạ tầng, y tế, giáo dục… Đây là nhữn
Trang 1932 ha, thu hút hơn 550 nhà đầu tư thứ cấp đăng ký vào các khu công nghiệp tập trung và
đã có khoảng 220 nhà máy đã đi vào hoạt động sản xuất, hàng năm đã đóng góp hàng trăm
tỷ đồng vào ngân sách huyện và tỉnh đã góp phần tăng trưởng kinh tế của tỉnh
Cụ thể, bao gồm các Khu: Khu công nghiệp Đức Hòa 1, xã Đức Hòa Đông; Khu công nghiệp Đức Hòa 2 (Xuyên á), xã Mỹ Hạnh Bắc và Mỹ Hạnh Nam; Khu công nghiệp Đức Hòa 3, xã Mỹ Hạnh Bắc và xã Đức Lập Hạ; Khu công nghiệp Tân Đô, xã Đức Hòa Hạ; Khu công nghiệp Hải Sơn, xã Đức Hòa Hạ; Khu công nghiệp Tân Đức, xã Đức Hòa Hạ; Khu Công nghiệp Nam Thuận, xã Đức Hòa Đông; Khu công nghiệp DNN Tân Phú, xã Tân Phú; Khu công nghiệp Thế kỹ, xã Hựu Thạnh; Khu công nghiệp IDICO, xã Hựu Thạnh (UBND huyện Đức Hòa, 2015)
Cùng với sự phát triển công nghiệp kéo theo rất nhiều vấn đề cần giải quyết như: tái định cư, ô nhiễm môi trường, nhà ở cho lao động nhập cư, kết cấu hạ tầng, y tế, giáo dục… Đây là những vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người công nhân,
Hiện nay trên địa bàn huyện Đức Hòa có tổng số lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp là 125.290 người, trong đó lao động nhập cư là 25.215
người (Chi cục thống kê Đức Hòa, 2015) Về điều kiện và hoàn cảnh sống của lao động
nhập cư phần lớn khó khăn hơn lao động tại chổ, khó hơn về chổ ở, sự thích nghi với môi trường, quan hệ với hàng xóm, quan hệ với chính quyền địa phương, đăng kí hộ khẩu…Vì vậy, nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống người dân nói chung và dân nhập cư nói riêng là điều cần thiết Qua đó chính quyền địa phương cần nghiên cứu đề ra các giải pháp để hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất cho thành phần lao động nhập cư Đồng
Tai Lieu Chat Luong
Trang 2HVTH: Giáp Thành Công-ME7 2
thời, làm cơ sở để điều chỉnh chính sách quản lý nhằm tiếp tục hướng đến sự phát triển bền vững, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nhập cư bởi vì thành phần lao động này cũng là một phần không nhỏ trong việc góp phần phát triển kinh tế của huyện nói riêng và cả tỉnh nói chung
Với lý do trên, tôi chọn đề tài “Đánh giá chất lượng cuộc sống của lao động
nhập cư làm việc tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa”, nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống người lao động theo thời gian
Đồng thời, đề tài còn xác định các yếu tố đang tác động xấu đến chất lượng cuộc sống người lao động, từ đó khuyến nghị các chính sách nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người lao động, cũng là mục tiêu của phát triển kinh tế bền vững
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống người lao động nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp
So sánh chất lượng cuộc sống trước và sau 2 năm của lao động nhập cư đến làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa
Gợi ý các chính sách nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống người lao động nhập cư tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Các yếu tố nào ảnh hưởng chất lượng cuộc sống người lao động nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa?
Chất lượng cuộc sống của dân nhập cư trước và sau hai năm đến làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa có thay đổi không?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng cuộc sống của lao động nhập cư làm việc tại doanh nghiệp thuộc các khucông nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa
Đối tượng phỏng vấn: Người lao động nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp huyện Đức Hòa liên tục 2 năm trở lên
Trang 3HVTH: Giáp Thành Công-ME7 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được thực hiện xung quanh các khu công nghiệp thuộc các xã trên địa bàn huyện, chủ yếu là các xã vùng trung và vùng hạ của huyện Đức Hòa nơi có nhiều lao động nhập cư tập trung, cụ thể: xã Đức Hòa Hạ, xã Đức Hòa Đông, xã Mỹ Hạnh Nam, xã Mỹ Hạnh Bắc và một số xã khác
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai giai đoạn, cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: Quá trình nghiên cứu sơ bộ: Nghiên cứu định tính nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng chất lượng cuộc sống Trên cơ sở phát triển hệ thống các khái niệm liên quan đến chất lượng cuộc sống và tham khảo một số nghiên cứu trước đây, luận văn xây dựng bảng câu hỏi, sau đó thực hiện phỏng vấn thử và trao đổi với chính quyền địa phương để hiệu chỉnh bảng câu hỏi cho phù hợp với thực tế
Giai đoạn 2: Sau khi thực hiện giai đoạn phỏng vấn thử, điều chỉnh bảng câu hỏi và tiến hành nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng, thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp người lao động nhập cư đang làm việc tại các khu công nghiệp thông qua bảng câu hỏi Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện, số lượng mẫu khoảng
250 lao động nhập cư
Sử dụng phần mềm MS Excel để nhập dữ liệu và phần mềm SPSS 22.0 để phân tích
dữ liệu
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Do hiện nay trên địa bàn huyện Đức Hòa, số lượng lao động nhập cư rất lớn với số lượng 25.215 người (Chi cục thống kê Đức Hòa, 2015), cho nên nghiên cứu nhằm đánh giá sự chuyển biến chất lượng cuộc sống người lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa trong những năm gần đây, để đóng góp một phần vào việc hoàn thiện khung lý thuyết cho việc nghiên cứu về chất lượng cuộc sống người lao động
Kết quả nghiên cứu tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, đó
sẽ là những bằng chứng khoa học có tính thuyết phục để những cơ quan có chức năng hoạch định chính sách, các cấp quản lý có thể sử dụng trong việc giải quyết, cải thiện
Trang 4HVTH: Giáp Thành Công-ME7 4
chất lượng cuộc sống người lao động nhập cư góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội ở địa phương
1.7.Kết cấu của luận văn
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu đề tài: Trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiển của nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết: Trình bày cơ sở lý thuyết, các khái niệm có liên quan, các lý thuyết về chất lượng cuộc sống, các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống, tác động của ô nhiểm môi trường và di cư tự do đến chất lượng cuộc sống, các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu: Quy trình nghiên cứu, xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi, phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu, kỹ thuật phân tích dữ liệu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu: Đây là nội dung chính của đề tài nghiên cứu, nội dung chương 4 chia thành nhiều phần: Thống kê mô tả đặc điểm cá nhân của đối tượng khảo sát; Kết quả so sánh sự thay đổi về chất lượng và môi trường sống ở Đức Hòa qua hai giai đoạn, phân tích cronbach’s alpha, phân tích EFA, phân tích tương quan, phân tích hồi quy và các kiểm định liên quan đến mô hình
Chương 5 Kết luận và khuyến nghị: Dựa vào kết quả nghiên cứu khuyến nghị những chính sách để thực hiện trong thời gian tới nhằm cải thiện cuộc sống của người lao động
Trang 5từ đó rút ra được mô hình nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của lao động nhập cư tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa
2.1.Cơ sở lý thuyết
2.1.1.Các khái niệm có liên quan
Theo Bộ luật lao động (2012), người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động
Theo Sharma (1990), chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc (thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi
là quan trọng nhất đối với bản thân một con người Chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được Theo đó, mức sống của mỗi cá nhân, gia đình
và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS
Di cư, (hiểu theo nghĩa rộng) là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Hiểu theo nghĩa hẹp di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn
vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định (Đinh Văn Thông, 2010)
Quốc Hội (2003) định nghĩa di cư là sự di chuyển dân số từ quốc gia này đến cư trú ở quốc gia khác, từ đơn vị hành chính này tới cư trú ở đơn vị hành chính khác
Theo Tổng cục thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (2009), di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú
Một số quan điểm khác của Tổng cục thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (2009), như sau:
Trang 6- Người xuất cư hay còn gọi là người di cư đi là người rời nơi đang sinh sống để đi nơi khác
- Người nhập cư hay còn gọi là người di cư đến là người đến nơi mới để sinh sống
2.1.2 Đặc trưng chủ yếu của di dân
Theo Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số LHQ (2009), mỗi một hiện tượng (cá nhân, gia đình, nhóm, dòng ) di dân đều chứa đựng những nguyên nhân, những động cơ thúc đẩy di cư Bản chất xã hội và bản chất sinh học của con người trong di dân hòa huyện, tạo nên các đặc trưng mang tính quy luật Sau đây là một số đặc trưng chủ yếu:
Một là, con người có thuộc tính là vươn tới điều kiện sống tốt hơn về vật chất và tinh thần Đặc trưng này cho phép nhìn nhận lại động cơ và mục đích di dân Nơi người
ta dự định di cư đến, nhìn chung phải có điều kiện sống tốt hơn về phương diện này hay phương diện khác
Hai là, di dân liên quan chặt chẽ với độ tuổi Các nghiên cứu chỉ ra rằng những người trong khoảng tuổi từ 15 đến 30 chiếm đa số trong các dòng di dân Họ có cơ hội và triển vọng lớn hơn so với các độ tuổi còn lại trong đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm
Ba là, trong lịch sử trước đây, nam giới có xu hướng di dân nhiều hơn phụ nữ Đây có thể phần nào đó được giải thích do bản năng và sự phân công lao động theo giới tính Song trong điều kiện xã hội hiện nay, do cầu trong lĩnh vực dịch vụ tăng cao, xu hướng nữ hóa các dòng di dân đã xuất hiện Ở một số vùng, với một số độ tuổi, nữ giới
có xu hướng di dân nhiều và mạnh hơn nam
Bốn là, trước thời kỳ mở cửa người nào có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lành nghề cao hơn thì khả năng di cư lớn hơn Họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn
về việc làm với người sở tại, dể dàng tạo được các điều kiện định cư lâu dài tại nơi mới Nhưng hiện nay, ngoài những người có trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp cao,
Trang 7HVTH: Giáp Thành Công-ME7 7
còn có cả luồng di cư của những người có trình độ học vấn thấp đến tìm những việc mà người có trình độ học vấn cao không muốn làm hoặc không có thời gian làm, đặc biệt là
di cư nông thôn-thành thị
Năm là, người nào ít bị ràng buộc vào tôn giáo, các yếu tố văn hóa truyền thống, hoàn cảnh gia đình sẽ dể dàng thích nghi hơn với điều kiện sống ở nơi mới do đó khả năng di cư sẽ cao hơn so với bộ phận dân số còn lại
2.1.3 Các lý thuyết về chất lượng cuộc sống
2.1.3.1 Một số quan điểm về chất lượng cuộc sống
Theo nghiên cứu của Richard (2008) cho thấy, các nước phương Tây ngày nay giàu
có hơn trước đây rất nhiều, họ có nhiều thực phẩm hơn, nhiều quần áo hơn, xe cộ tốt hơn, nhà cửa to đẹp hơn, nhiều kì nghỉ nước ngoài hơn, tuần làm việc ngắn hơn, công việc thú
vị hơn và quan trọng là sức khỏe tốt hơn, nhưng người dân không hạnh phúc hơn so với trước đây 50 năm Vì thế ông đã cho rằng hạnh phúc là cảm thấy điều tốt lành Tuy nhiên, hạnh phúc bị ảnh hưởng bởi môi trường sống, ông nhấn mạnh là tính khí và thái độ của con người liên quan đến đặc tính chủ chốt của hoàn cảnh sống như: Các quan hệ, sức khỏe, các mối lo lắng về tiền bạc
Theo Bell (trích bởi Ủy ban dân số gia đình và trẻ em, 2002), chất lượng cuộc sống
gắn với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, sinh thái… đặc trưng bởi 12 điểm: (i) An toàn thể chất cá nhân; (ii) Sung túc về kinh tế; (iii) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật; (iv) An ninh quốc gia; (v) Bảo hiểm lúc già yếu và đau ốm; (vi) Hạnh phúc tinh thần; (vii)
Sự tham gia vào đời sống xã hội; (viii) Bình đẳng về giáo dục, nhà ở, nghỉ ngơi; (ix) Chất lượng đời sống văn hóa; (x) Quyền tự do công dân; (xi) Chất lượng môi trường kỹ thuật (giao thông vận tải, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, y tế); (xii) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm Trong đó, ông đã nhấn mạnh nội dung An toàn và
đã khẳng định CLCS được đặc trưng bằng sự an toàn của môi trường (nhân tạo) trong môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh
Lê Văn Thành (2005) cho rằng, chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố dựa trên sự tổng hòa của mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống con người từ chính trị,
Trang 8ưu hóa mức độ thoải mái được thể hiện trong sự đa dạng hóa các sản phẩm tiêu dùng mà mỗi cộng đồng xã hội, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân có được Sự "thoải mái tối ưu" đó
"không có sự phân biệt mức độ giữa các tầng lớp người có sự ngăn cách bởi sự sang hèn, hay địa vị trong xã hội" Đồng thời, CLCS còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường Một cuộc sống sung túc là cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết, như cơ sở hạ tầng hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy
đủ Đồng thời, con người phải được sống trong một môi trường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiễm; một môi trường xã hội lành mạnh và bình đẳng
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), CLCS được định nghĩa như một cảm nhận có tính cách chủ quan của cá nhân đặt trong bối cảnh môi trường xã hội và thiên nhiên, thể hiện ở mức độ sảng khoái của người dân trên sáu đề mục: về thể chất, ăn uống, ngủ nghỉ,
cả việc lệ thuộc chuyện đi lại, thuốc men; về tâm thần thì gồm cả yếu tố tâm lý và yếu tố tâm linh (tín ngưỡng, tôn giáo), về xã hội gồm các mối quan hệ xã hội kể cả tình dục và môi trường sống bao gồm cả môi trường xã hội: an toàn, an ninh, kinh tế, văn hóa… và môi trường thiên nhiên (Đỗ Hồng Ngọc, 2007)
Nhìn chung, các quan điểm về CLCS về chi tiết có một số điểm khác nhau nhưng chủ yếu xoay quanh nội dung chính là CLCS gồm những khía cạnh thuộc về môi trường vật chất và tinh thần, giáo dục, y tế, giải trí (Nguyễn Quang Đại, 2012)
2.1.3.2 Một số tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống
Renwick (2002) định nghĩa, chất lượng cuộc sống là mức độ một người được hưởng những điều quan trọng trong cuộc sống, những điều này có được là kết quả từ những cơ hội và hạn chế của mỗi người trong cuộc sống phản ánh sự tương tác của các yếu tố cá nhân và môi trường Những cái mà họ được hưởng có hai thành phần: sự trãi nghiệm về sự hài lòng với cuộc sống và sở hữu đạt được một số đặc tính Ba nội dung
Trang 9(ii) Những yếu tố về tâm lý: sức khỏe tâm lý và sự thích nghi, sự nhận thức, những cảm xúc, những đánh giá về bản thân và khả năng tự kiểm soát bản thân
(iii) Những yếu tố về tinh thần phản ánh giá trị của cá nhân, tiêu chuẩn cá nhân của hành vi, niềm tin tâm linh mà niềm tin này có thể liên kết hoặc không liên kết với các
(iii) Những yếu tố thuộc về khả năng đáp ứng của cộng đồng về các vấn đề của cuộc sống cho các thành viên trong cộng đồng: thu nhập đầy đủ, các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ xã hội khác, việc làm, các chương trình giáo dục và giải trí
và các hoạt động cộng đồng
Nhóm thứ 3 đề cặp đến các hoạt động có mục đích thực hiện để đạt được mục tiêu
cá nhân, những hy vọng, những mong muốn
(i) Giải trí trở thành những hoạt động thúc đẩy thư giản và giảm stress
(ii) Sự phát triển bản thân bằng các hoạt động thúc đẩy cải thiện hoặc duy trì kiến thức và kĩ năng
(iii) Những hoạt động thường xuyên như hoạt động tình nguyện, hoạt động xã hội,
và những hoạt động bảo đảm nhu cầu về sức khỏe
Trang 10HVTH: Giáp Thành Công-ME7 10
Nguyễn Thị Kim Thoa (2003) tổng hợp phương pháp định lượng chất lượng cuộc sống tại Thái Lan: Theo đó, họ xây dựng hệ thống chỉ tiêu dựa vào các nội dung cốt lõi của CLCS là ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáo dục và thông tin, an toàn, việc làm Trên cơ sở những khảo sát và xác định 37 chỉ số theo các nhóm nhu cầu cơ bản của CLCS Người ta đưa ra những biện pháp thực hiện gắn liền với địa bàn dân cư, với trách nhiệm các ngành và vai trò cung cấp thông tin, kết cấu hạ tầng xã hội của Nhà nước Từ
đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống theo 3 mức: Yếu kém (một sao), trung bình (hai sao), khá (ba sao) Trong 9 chuẩn mực sống: Ăn đủ, nhà ở thích hợp, dịch
vụ xã hội, an toàn, thu nhập đầy đủ, kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần, bảo vệ môi trường Các chỉ tiêu CLCS ở Thái Lan rất coi trọng chuẩn mực các dịch vụ xã hội cơ bản cần thiết Có 10 chỉ tiêu để đánh giá mức độ phát triển của CLCS thuộc lĩnh vực dịch vụ xã hội cơ bản Đồng thời, các chỉ tiêu đánh giá CLCS rất phù hợp với đặc điểm của một quốc gia đang phát triển Và những vấn
đề xã hội như kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần được coi như là một chuẩn mực quan trọng của CLCS
Chỉ số phát triển con người HDI của Liên Hợp Quốc (Human Development Index – HDI) lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo phát triển con người 1990 của UNDP dựa trên 3 yếu tố là thu nhập quốc dân tính trên đầu người, mức học vấn trung bình và tuổi thọ trung bình Hàng năm Liên Hiệp Quốc sử dụng chỉ số phát triển con người HDI như một công cụ để đánh giá chất lượng cuộc sống tại từng quốc gia Ngoài ra thời gian gần đây tổ chức này còn đưa ra chỉ số mềm, chỉ số này không phụ thuộc vào thu nhập quốc dân, mà bị ảnh hưởng qua cách cảm nhận mức độ đầy đủ vật chất, thỏa mãn với sức khỏe, cuộc sống riêng tư, an toàn, an tâm, hòa hợp với xã hội, thỏa mãn cảm xúc (Vũ Thị Thanh, 2005)
Tổ chức Y tế thế giới (WHO, trích bởi Đỗ Hồng Ngọc, 2007) đã tổng hợp quan điểm của tổ chức y tế thế giới về khái niệm và thước đo Theo đó họ sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát trên từng cá nhân, tổng hợp phân loại rồi làm so sánh dựa trên tuổi tác, giới tính, khu vực địa lý… rồi dần dần cụ thể hóa CLCS Một số tiêu chí của chất lượng cuộc sống là:
Trang 11Tổ chức News Economics Foundation (NEF), cho rằng chỉ số hạnh phúc (HPI) là mức độ thỏa mãn cuộc sống của người dân, so với mức độ tiêu hao tài nguyên và khả năng tái tạo của hệ sinh thái Theo đánh giá của các chuyên gia, HPI được xem là cách đánh giá tích cực và hiệu quả hơn so với chỉ số GDP (Thu nhập bình quân đầu người) và HDI (Chỉ số phát triển con người) bởi HPI nhấn mạnh tới yếu tố như tuổi thọ, mức độ thỏa mãn cuộc sống của người dân, thay vì chú trọng tới khía cạnh giàu có về kinh tế (Hà Lê, 2009)
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra bảng chỉ số “Sáng kiến cuộc sống tốt hơn” (better life initiative), là thước đo mới ngoài số liệu về tổng sản phẩm quốc nội GDP, hàng năm thực hiện so sánh 34 quốc gia thành viên của OECD dựa trên 11 chỉ tiêu, gồm có nhà cửa, thu nhập, việc làm, cộng đồng, giáo dục, môi trường, quản lý, y tế, mức độ hài lòng trong cuộc sống, độ an toàn, và sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống (Tạ Linh, 2011)
Việc xếp hạng các thành phố dựa trên 39 tiêu chí, bao gồm các yếu tố về chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hệ thống giao thông, chăm sóc sức khỏe, an ninh, giáo dục : Nhóm về môi trường chính trị xã hội: có 5 tiêu chí là xuất nhập cảnh dễ dàng, quan hệ với các quốc gia khác, tuân thủ pháp luật, sự ổn định, và tội phạm Nhóm về môi trường kinh tế: có 2 tiêu chí là các dịch vụ ngân hàng và những quy định trao đổi tiền tệ Nhóm
về môi trường văn hóa xã hội: Có 2 tiêu chí là truyền thông đại chúng và kiểm duyệt, những giới hạn trong quyền tự do cá nhân Nhóm về y tế và chăm sóc sức khỏe: có 8 tiêu chí là ô nhiễm không khí, động vật và côn trùng gây hại, các dịch vụ bệnh viện, các nguồn cung cấp y tế, các bệnh truyền nhiễm, nước uống việc thu gom rác thải và nước
Trang 12HVTH: Giáp Thành Công-ME7 12
thải Nhóm về giáo dục và đào tạo có 1 tiêu chí là tổng số các trường học Nhóm về dịch
vụ công và vận chuyển có 7 tiêu chí là nguồn cấp nước, ách tắc giao thông, cấp điện, dịch
vụ điện thoại, dịch vụ thư tín, vận chuyển công cộng và sân bay Nhóm về vui chơi giải trí có 4 tiêu chí: số lượng và chủng loại nhà hàng, rạp chiếu bóng, biểu diễn sân khấu và
ca nhạc và các hoạt động thể thao, giải trí Nhóm về cung cấp sản phẩm tiêu dùng có 5 tiêu chí: thực phẩm (trái cây và rau xanh), thực phẩm (thịt và cá), đồ dùng hàng ngày, thức uống có cồn, và xe ô tô Nhóm về nhà ở có 3 tiêu chí là đồ đạc và dụng cụ gia dụng, bảo trì và sửa chữa nhà ở, số lượng và quy mô nhà ở Nhóm về môi trường tự nhiên có 2 tiêu chí là khí hậu thời tiết và thiên tai (Nguyễn Quang Đại, 2012)
Như vậy, chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu xã hội, trước hết là những nhu cầu vật chất cơ bản tối thiểu của con người Sau đó, là điều kiện nảy sinh các nhu cầu tinh thần Mức đáp ứng đó càng cao thì CLCS càng cao Một cuộc sống thoải mái, an toàn, sung túc gắn với liền với môi trường tự nhiên sạch xanh, ít ô nhiễm, cơ cở hạ tầng hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ, xã hội bình đẳng, không ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội (Nguyễn Quang Đại, 2012)
Có rất nhiều khái niệm về chất lượng cuộc sống đã trình bày của nhiều tác giả, tuy nhiên trong luận văn này tôi chọn khái niệm của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) vì hàng năm thực hiện so sánh 34 quốc gia thành viên của OECD dựa trên 11 chỉ tiêu, gồm có nhà cửa, thu nhập, việc làm, cộng đồng, giáo dục, môi trường, quản lý, y
tế, mức độ hài lòng trong cuộc sống, độ an toàn, và sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, trong đó có nhiều chỉ tiêu mà đề tài này đang nghiên cứu chất lượng cuộc sống của lao động nhập cư làm việc tại huyện Đức
2.2.Các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống
Mục này nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan các phương pháp tiếp cận khác nhau để đo lường chất lượng cuộc sống để trên cơ sở đó xác định phương pháp tốt nhất cho nghiên cứu
Theo Robert L (2004), chủ trương tiếp cận bằng đa phương pháp bởi vì nó đề cặp đến tính chất đa chiều của chất lượng cuộc sống và thừa nhận rằng các tính chất khác nhau của chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể được đo bằng cách sử dụng một loạt các kĩ
Trang 13HVTH: Giáp Thành Công-ME7 13
thuật, do đó chất lượng cuộc sống có thể đo lường, đồng thời từ những quan điểm chủ quan và khách quan, bao gồm cả đánh giá chủ quan và khách quan của các yếu tố khách quan Sự kết hợp của nhiều nghiên cứu về đo lường chất lượng cuộc sống, khắc phục những phương pháp đo lường yếu kém và kết hợp để đưa ra phương pháp đo lường hiệu quả hơn
Để đánh giá chính xác chất lượng cuộc sống của cá nhân đòi hỏi một sự kết hợp của phương pháp tiếp cận chủ quan và các chỉ số xã hội (Diener và Suh, 1997), thông qua các chỉ số xã hội để đánh giá phúc lợi của cá nhân và ngoài ra đánh giá chủ quan về chất lượng cuộc sống cũng có liên quan với một loạt các yếu tố khách quan bên ngoài liên quan đến cuộc sống của một người (Taillefer và ctg, 2003)
Đánh giá chủ quan về chất lượng cuộc sống là sự đánh giá khác nhau về chất lượng cuộc sống giữa các cá nhân, nó thể hiện mức độ của sự hài lòng và đặc điểm của bản thân và xã hội nơi họ đang sống (Bell, 2002) Khi nghiên cứu tâm lý cá nhân thể hiện
sự hài lòng với cuộc sống phản ánh một số khía cạnh khác nhau về nhận thức của họ, nó liên quan đến cơ hội trong cuộc sống và kết quả họ đạt được Đây có thể là cả phản ứng chủ quan và điều kiện khách quan tuy nhiên mức độ mà mỗi cá nhân đánh giá đều có thể khách nhau, (Mourn, 1996) Các chuyên gia về chất lượng cuộc sống ủng hộ việc sử dụng các phương pháp kết hợp, thì nghiên cứu chủ quan có xu hướng dựa trên các phân tích thống kê dữ liệu định lượng của riêng các chỉ tiêu này (trích bởi Đoàn Thị Thủy, 2013)
Đánh giá chất lượng cuộc sống theo phương pháp tiếp cận thực dụng hoặc dựa trên nhu cầu, chất lượng cuộc sống liên quan tới việc thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân, và một xã hội tốt là một xã hội cung cấp sự hài lòng tối đa cho người dân của nó, (Cobb, 2000)
- Các chỉ số khách quan (McMurrer và Sawhill, 1998): Mức độ của các phúc lợi; Điều kiện tốt và xấu; Hướng phát triển của xã hội như giảm thất nghiệp, giảm tội phạm, tăng thu nhâp trung bình và giáo dục
- Các chỉ số chủ quan (Lane, 1996): Cảm giác hay sự đánh giá về cuộc sống; Năng lực phát triển cá nhân
Trang 14HVTH: Giáp Thành Công-ME7 14
Qua các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống nêu trên, nghiên cứu này, để
đo lường chất lượng cuộc sống của cá nhân, tác giả sẽ kết hợp giữa hai phương pháp, phương pháp tiếp cận thực dụng để thống kê định lượng các tiêu chí liên quan tới việc thỏa mãn nhu cầu của cá nhân và phương pháp tiếp cận chủ quan để từ sự khác biệt về đặc điểm cá nhân sẽ có sự đánh giá khác nhau về chất lượng cuộc sống
2.3 Tác động của ô nhiễm môi trường và di cư tự do đến chất lượng cuộc sống
2.3.1.Tác động của ô nhiễm môi trường đến chất lượng cuộc sống
Báo cáo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) ngày 16/8/2012 cho rằng, đô thị hóa nhanh chóng tại châu Á khiến cơ sở hạ tầng đô thị quá tải, làm gia tăng ô nhiễm môi trường và đẩy hàng chục triệu người châu Á đối mặt với nguy cơ ADB (2012) cho rằng, tốc độ tăng trưởng khí thải carbon tại các thành phố châu Á hiện gấp năm lần mức trung bình của thế giới Đến năm 2050, lượng khí thải carbon của các thành phố châu Á sẽ tăng gấp ba lần so với hiện tại Lượng khí thải carbon được cho là nguyên nhân chính gây biến đổi khí hậu toàn cầu Nền kinh tế đang bùng nổ của châu Á làm cho hàng chục triệu người thoát nghèo, đồng thời cũng khiến số lượng đáng kể người lao động đổ về thành phố để tìm kiếm công việc tốt hơn ADB (2012) cho biết hiện nay, trong hơn 10 triệu dân
số tại các siêu thành phố của thế giới có hơn một nửa tại châu Á, 60% cư dân khu ổ chuột của thế giới cũng ở châu Á
2.3.2 Di cư và những hệ lụy ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
Theo Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số liên hiệp quốc (2004) khi đề cập đến hậu quả các luồng dân di cư ngày càng gia tăng tại Hà Nội, Đông Bắc, Tây Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực công nghiệp Đông Nam Bộ, khẳng định: Di cư tự do tích cực là: gần 90% dân di cư tìm được việc, thu nhập được cải thiện (hơn 50% dân di cư tự
do gửi được tiền về giúp đỡ người thân phục vụ nhu cầu chi tiêu thiết yếu hằng ngày); gần 60% dân di cư gửi tiền về đã gửi 1-6 triệu đồng/12 tháng Tuy nhiên, di dân tự do cũng gây ra nhiều hậu quả xấu: mục tiêu phát triển KT-XH của nhiều địa phương bị ảnh hưởng xấu (Đồng Nai, Bình Dương rất thiếu lao động, song chổ ở của dân lao động gặp nhiều khó khăn); môi trường (xã hội và tự nhiên) bị ô nhiễm, sức khỏe và đời sống tinh thần suy giảm…
Trang 15HVTH: Giáp Thành Công-ME7 15
Theo Nga My (1997), có 61,9% những người nhập cư tự do sống tụ tập ở những nơi không bị kiểm soát như bãi rác, gầm cầu, các khu chợ tạm, xuất hiện hàng loạt các khu dân cư cho người lao động ngoại tỉnh thuê với giá rẻ (Phúc Xá, Chương Dương…) Điều này đã tạo nên một cảnh vô cùng hỗn độn, vô trật tự: nhà cửa bị xuống cấp, hiện tượng lấn chiếm đất công, tranh chấp kiện cáo ngày càng phổ biến, nhà đất trở thành hàng hoá để người ta sang nhượng, trao đổi, mua bán, không kể đến tình trạng như thiếu nước sinh hoạt, môi trường ô nhiễm, an ninh khó kiểm soát …
Như vậy có thể thấy sự tăng trưởng một mặt từng bước cải thiện thu nhập của các tầng lớp dân cư nhưng mặt khác cũng gây ra những tác động tiêu cực hết sức to lớn như ô nhiễm môi trường, giá cả leo thang, và hàng loạt các vấn đề về môi trường sống đô thị Điều đó đã tác động không nhỏ đến sự cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nói chung và lao động nhập cư nói riêng (Nguyễn Quang Đại, 2012)
2.4 Các nghiên cứu trước về chất lượng cuộc sống
Chuyên khảo về chất lượng cuộc sống của của người di cư ở Việt Nam của Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (2004), dựa trên kết quả điều tra dân số tại Việt Nam năm 2004 nhóm tác giả thuộc Tổng cục Thống kê tiếp tục tiến hành nghiên cứu, phân tích đưa ra bản báo cáo Nghiên cứu đưa ra những phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa việc làm và sự tham gia vào thị trường lao động, điều kiện nhà ở và các điều kiện sống khác để đánh giá chất lượng cuộc sống của người di cư, sự thay đổi theo các loại hình di cư, tình trạng đăng ký hộ khẩu và thời gian sinh sống tại nơi chuyển đến Các vấn đề được đề cập cụ thể như sau:
Quá trình di cư bao gồm các quyết định di chuyển, số lần di cư, quá trình ổn định cuộc sống và tìm việc làm có thu nhập Các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế - xã hội tác động đến di cư Kết quả di cư đối với bản thân người di cư và gia đình về thu nhập, việc làm, điều kiện sống, nhà ở, gửi tiền, tiếp cận các dịch vụ, thỏa mãn cuộc sống, giải trí, hòa nhập và thay đổi thái độ Mối quan hệ giữa tình trạng di cư và điều kiện nhà ở và thị trường lao động (việc làm, nghề nghiệp, thu nhập) Mối liên quan giữa các mạng lưới hỗ trợ, những di cư trước đây đối với vấn đề nhà ở và thị trường lao động Các yếu tố quyết
Trang 16để thấy rõ sự khác biệt yếu thế của nhóm người di cư nói chung
Lê Thị Hải Hà và cộng sự (2009) nghiên cứu “ Quan niệm về chất lượng người cao tuổi ở Việt Nam” đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Kết quả cho thấy, quan niệm về CLCS người cao tuổi bao gồm 6 khía cạnh quan trọng: sức khỏe thể chất, tâm lý, quan hệ xã hội, môi trường, kinh tế và niềm tin Bên cạnh những điểm tương đồng với một số khía cạnh về CLCS của các nghiên cứu CLCS trên thế giới, nghiên cứu cũng đưa ra một số đặc thù về văn hóa –
xã hội riêng biệt của Việt Nam về CLCS người cao tuổi:
(i) Sức khỏe thể chất: Đau nhức cơ thể; khả năng vận động – sự di chuyển; sự mệt mỏi; sự phụ thuộc vào thuốc điều trị; khả năng lao động; khả năng tự phục vụ, giấc ngủ/dễ ngủ; khả năng nghe nhìn; khả năng nhớ minh mẫn; khả năng làm việc nhà
(ii) Quan hệ xã hội: Hỗ trợ kinh tế người khác, con cái hỗ trợ phi kinh tế; tình cảm
vợ chồng, tình cảm gia đình; quan hệ cộng đồng, quan hệ họ hàng, tham gia hoạt động cộng đồng; đời sống tình dục
(iii) Kinh tế: Thu nhập ổn định; con cái và sự hỗ trợ kinh tế; đời sống kinh tế được đảm bảo; hỗ trợ kinh tế và sự hài lòng; phụ thuộc kinh tế con cái, được ăn những món ưa thích; chi phí sinh hoạt hàng ngày; chi phí sinh hoạt cộng đồng; chi phí khám chữa bệnh;
sự đầy đủ về vật dụng tiện nghi
(iv) Môi trường: Môi trường tự nhiên, môi trường nhà ở, an ninh xã hội, tiếp cận dịch vụ xã hội, tiếp cận thông tin, tiếp cận dịch vụ y tế
(v) Tâm lý: Hài lòng quan hệ xã hội; cảm giác tiêu cực (buồn chán); hài lòng về gia đình/con cháu; được tôn trọng, yên tâm về hậu sự
(vi) Niềm tin/tín ngưỡng: Niềm tin tâm linh và thực hành tin giáo tín ngưỡng; niềm tin vào thế hệ trẻ; niềm tin vào thể chế chính trị
Trang 17y tế, (iv) Các hỗ trợ của chính quyền địa phương, (v) Điều kiện nhà ở công việc, (vi) Điều kiện giao thông đi lại, (vii) Môi trường an ninh, (viii) Chi phí sinh hoạt, (ix) Thu nhập, (x) Đời sống văn hóa, (xi) Điều kiện ăn uống, (xii) Sức khỏe người lao động
Trong 12 nhân tố trên có 7 nhân tố được đánh giá là không có sự thay đổi gồm: Đời sống tình cảm-tinh thần; Đời sống văn hóa; Điều kiện ăn uống; Các hỗ trợ của chính quyền địa phương; Bảo hiểm và chăm sóc y tế; Sức khỏe; Điều kiện nhà ở công việc Có
5 nhân tố được đánh giá xấu đi là: Chi phí sinh hoạt; Điều kiện giao thông đi lại; Môi trường an ninh; Môi trường tự nhiên xã hội; Thu nhập
Đoàn Thị Thủy (2013) nghiên cứu các yếu tố tác động tới cảm nhận về chất lượng cuộc sống của công nhân khu công nghiệp Vĩnh Lộc thành phố Hồ Chí Minh cũng sử dụng thang đo Likert gồm 5 mức độ từ (1) Rất xấu đến (5) Rất tốt để tìm ra các yếu tố tác động tới cảm nhận về chất lượng cuộc sống của công nhân khu công nghiệp Vĩnh Lộc thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu đã xây dựng được mô hình nghiên cứu với 13 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới cảm nhận về chất lượng cuộc sống của công nhân gồm: Sức khỏe; Quan hệ gia đình; Trạng thái tâm lý, tinh thần, tình cảm; Đời sống văn hóa-giải trí; Nhà ở; Điều kiện ăn uống; Giao thông đi lại; Việc làm; Thu nhập; Chi phí sinh hoạt; Môi trường tự nhiên, an ninh xã hội; Dịch vụ y tế; Sự hỗ trợ của các tổ chức và chính quyền địa phương Sau khi thực hiện phân tích Cronbach’s Alpha và phân tích EFA thì có 9 nhân tố mới ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống Kết quả hồi quy còn lại 8 nhân tố có ảnh hưởng dương tới cảm nhận về chất lượng cuộc sống của công nhân xếp theo thứ tự quan trọng như sau: (i) Môi trường tự nhiên xã hội; (ii) Sức khỏe; (iii) Hỗ trợ của tổ chức
và chính quyền địa phương; (iv) Quan hệ gia đình-trạng thái tâm lý, tình thần, tình cảm; (v) Thu nhập và khả năng trang trải; (vi) Việc làm; (vii) Nhà ở; (viii) Giao thông đi lại
Trang 182.5 Các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống người di cư
Lượng dân di cư một mặt tạo ra những tác động tích cực lẫn tiêu cực tại nơi đến, mặt khác chính bản thân họ cũng đối mặt không ít những khó khăn, thử thách trong quá trình hòa nhập cuộc sống tại nơi đến Từ sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đến nay, những khó khăn về tài chính ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống, lao động di cư được đề cập phổ biến hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng và trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội Tuy nhiên, các biện pháp giải quyết chưa mang lại hiệu quả như mong muốn trong ngắn hạn lẫn dài hạn Vấn đề này cũng được nhiều tác giả lẫn các tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau (Nguyễn Quang Đại, 2012) Sau đây là một số kết quả của nghiên cứu trước đây:
Nhóm yếu tố về điều kiện ăn ở - đi lại
Gồm nhà ở (điện thắp sáng, nước sinh hoạt, vệ sinh), chi phí nhà ở, điều kiện ăn uống, giao thông đi lại
Phần lớn người di cư (90%) mới chuyển đến thường ở trọ nhưng cơ sở hạ tầng các thành phố hiện không đáp ứng nổi nên xảy ra tình trạng cầu rất nhiều mà cung ít Đây là nguyên nhân người di cư đánh giá vấn đề nhà ở là khó khăn đầu tiên Theo Tổng cục thống kê (2004), gần 45% người di cư gặp khó khăn sau khi chuyển đến và khó khăn về thiếu chỗ ở thích hợp (vấn đề nhà ở) được cho là khó khăn nhất đối với 60% đối tượng khảo sát Kế tiếp theo đó là vấn đề điện nước chiếm hơn 20% đối tượng, trong đó nhóm tuổi cao nhất (55-59) là đối tượng lo lắng về vấn đề điện nước Nhóm tuổi có trình độ thấp cũng lo lắng về các thủ tục cấp điện, nước Nếu như tình trạng nhà ở, thiếu nước sạch, điện sinh hoạt gây khó khăn về điều kiện ở thì thu nhập ảnh hưởng nhiều đến điều kiện ăn uống của lao động di cư, thu nhập thấp bắt buộc họ phải cân nhắc trong sinh hoạt,
Trang 19HVTH: Giáp Thành Công-ME7 19
ăn uống Khảo sát của Liên đoàn lao động Hải Phòng (2003) thực hiện với nhóm công nhân nữ cho thấy điều kiện ở, điều kiện ăn uống và vấn đề giao thông đi lại hiện nay ảnh hưởng tương đối xấu đến cuộc sống của họ với mức đánh giá tương ứng là 4/10, 2/10 và 1.05/10 (xấu nhất 10/10 điểm) Nguyễn Thị Minh Phượng (2008) cho thấy, khoảng 35.2% giáo dân di cư được phỏng vấn (chiếm tỷ lệ cao nhất ) cho rằng họ gặp khó khăn
về vấn đề chi phí sinh hoạt cao
Đặng Văn Điều (2012) cho rằng, nhà ở cho công nhân làm việc trong các khu công nghiệp đang là vấn đề rất bức xúc Nguyên nhân là do việc quy hoạch phát triển các khu công nghiệp chưa tính tới nhu cầu về chỗ ở cho họ và các chính sách hiện có chưa khuyến khích được các thành phần kinh tế tham gia xây nhà ở cho công nhân, nhất là về vốn và đất đai Gần 95% số công nhân ngoại tỉnh làm việc tại các khu công nghiệp tập trung trên cả nước phải thuê nhà trọ của tư nhân, chỉ có khoảng 5% công nhân được ở trong các nhà trọ do các doanh nghiệp, chính quyền và các tổ chức đoàn thể đầu tư xây dựng Các phòng trọ do tư nhân xây dựng cho thuê hầu hết đều rất chật hẹp, diện tích sử dụng bình quân từ 3-4m2/người và không đảm bảo điều kiện tối thiểu về vệ sinh, điện, nước, nên họ ăn ở chật chội, nhếch nhác, không an toàn, ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất lao động, ngoài ra còn nguy cơ phát sinh các tệ nạn xã hội làm suy thoái đạo đức của một bộ phận công nhân
Nhóm yếu tố về việc làm, thu nhập
Gồm: tình trạng không có việc làm ổn định, không có nguồn thu nhập
Tổng cục thống kê (2004) cho thấy khó khăn việc làm chiếm hơn 21% câu trả lời, trong đó nhóm người trẻ tuổi và người độc thân xem đây là khó khăn lớn so với nhóm người lớn tuổi và có gia đình Những người trẻ tuổi và mới tới thường gặp khó khăn nhiều hơn, có thể chưa có kinh nghiệm là nguyên nhân họ chưa thể tìm kiếm công việc
ổn định, phù hợp và có thu nhập ngay sau khi di cư tới Việc di cư rõ ràng cải thiện thu nhập của họ, bình quân tháng của người di cư là (957.000 đ) thấp hơn so với người không di cư (1.212.000 đ) tương ứng 21% Tuy nhiên nghiên cứu này chưa đề cập đến vấn đề thu nhập cải thiện có đủ trang trải cuộc sống hay không, mức tiết kiệm của họ ra sao
Trang 20HVTH: Giáp Thành Công-ME7 20
Nhóm yếu tố về hành chính - pháp luật
Nhóm yếu tố này gồm: đăng ký hộ khẩu, mua bán chuyển nhượng tài sản, không được cấp đất, đăng ký trường học cho con, vay vốn, đăng ký kinh doanh không được chính quyền chấp nhận, hỗ trợ của địa phương (ăn, ở, thông tin tuyên truyền, an ninh), chính sách của địa phương
Theo Bùi Việt Thành (2010), khó khăn thường gặp nhất đối với người dân di cư tới thành phố Hồ Chí Minh là vấn đề đăng kí hộ khẩu, từ tạo ra nhiều ảnh hưởng đến đời sống của người nhập cư Người nhập cư cống hiến sức lao động của mình cho sự phát triển chung của xã hội, vì vậy không thể coi họ là công dân đô thị loại hai Trong thời gian qua, ở các thành phố lớn đã quá coi trọng hộ khẩu, thường có các biện pháp xử lý dựa vào hộ khẩu Do đó, những người nhập cư chưa có hộ khẩu thường tiếp cận hạn chế với các dịch vụ cơ bản khác… Người nhập cư mong muốn được chính quyền thành phố
Hồ Chí Minh hỗ trợ đăng kí hộ khẩu nơi cư trú hiện tại chiếm 42% mẫu điều tra, đây cũng là một yêu cầu cấp thiết, khi có hộ khẩu họ mới tiếp cận được các vấn đề khác để ổn định cuộc sống của mình
Tổng cục thống kê (2004) chỉ ra phần lớn (46%) cho rằng họ không được phép đăng ký hộ khẩu 20% khác cho rằng không cần đăng ký và 19% còn lại cho biết quá trình đăng ký chưa xong 9% không biết thủ tục đăng ký và 8% không nộp đơn vì thủ tục phức tạp Tóm lại, người di cư còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề đăng ký hộ khẩu dẫn tới những khó khăn khác như vay vốn (45%), đăng ký xe (27%), mua/thuê nhà (25%), bên cạnh đó là vấn đề đăng kí trường học cho con xuất phát từ việc không có hộ khẩu với
tỉ lệ khoảng 3% người gặp khó khăn Vấn đề đất đai cũng được nhắc đến khá nhiều trong khảo sát với khoảng 15% cho rằng khó khăn do không được cấp đất Tuy nhiên, vấn đề cấp đất thường được các đối tượng di cư đến các vùng xa, vùng đất mới đề cập đến còn những đối tượng di cư tự do đến các đô thị lớn thì không nhắc đến bởi vì họ biết không được cấp đất là vấn đề hiển nhiên
Nguyễn Thị Minh Phượng (2008) cho thấy, một khó khăn khác mà giáo dân thường gặp khi di cư là vấn đề đăng ký hộ khẩu; mua bán chuyển nhượng tài sản tương ứng với mức 9% và 3% đối tượng được phỏng vấn
Trang 21HVTH: Giáp Thành Công-ME7 21
Liên đoàn lao động Hải Phòng (2003) cho rằng, một khó khăn khác được đánh giá khá nghiêm trọng là vấn đề “không được sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương” và “ chính sách của địa phương”, với mức đánh giá 3.7/10 và 5/10 (xấu nhất 10/10) Tổng cục thống kê (2004) có khoảng 4% cho rằng họ không được chính quyền chấp nhận Nguyên nhân là do người di cư làm việc được xem như là công dân hạng hai và chưa có được sự quan tâm và hỗ trợ tích cực từ phía chính quyền địa phương
Nhóm yếu tố về môi trường sống
Gồm môi trường tự nhiên, môi trường an ninh, môi trường xã hội (sự hỗ trợ của cộng đồng địa phương, nơi làm việc)
Theo Tổng cục thống kê (2004), người di cư cảm thấy không yên tâm hơn so với người không di cư với 10% người di cư nói rằng họ không cảm thấy an toàn Lý do chính
là cơ sở hạ tầng kém, ô nhiễm môi trường, trộm cắp và an ninh trật tự kém Phụ nữ sợ trộm cắp và an ninh trật tự ít hơn nam giới trong khi nam giới sợ tệ nạn ma túy hơn là phụ nữ Rõ ràng, việc di cư đến nơi ở mới khiến họ quan ngại về tình hình an ninh trật tự,
tệ nạn xã hội xung quanh mình nhiều hơn so với trước khi di cư
Liên đoàn lao động Hải Phòng (2003) thực hiện với nhóm công nhân nữ thì an ninh tại chỗ là vấn đề ảnh hưởng tương đối xấu đến cuộc sống của họ với mức đánh giá 3/10 (xấu nhất 10/10) Bên cạnh đó, nhiều lao động di cư nói rằng họ không nhận được
sự hỗ trợ cần thiết từ phía cộng đồng địa phương (2,5/10) và nơi làm việc (4/10), thậm chí họ còn bị người dân địa phương xem như là nguyên nhân gây mất an ninh trật tự Cũng chính vì định kiến này đã ngăn cản sự hòa nhập của người di cư đối với các hoạt động đoàn thể của địa phương
Nhóm yếu tố về sức khỏe – y tế
Tổng cục thống kê (2004) phần lớn người di cư khoảng 50% cho rằng việc chăm sóc sức khỏe đã tốt hơn so với nơi cũ Khoảng một phần ba trả lời rằng, tình trạng sức khoẻ của họ có thay đổi (cả tiêu cực lẫn tích cực); 19,8% trả lời mình “khoẻ hơn” hoặc
“khoẻ hơn nhiều” so với trước khi di chuyển; trong khi chỉ có 11,4% người di cư tuyên
bố “yếu hơn” hoặc “yếu hơn nhiều” Bởi vậy có thể kết luận rằng, di cư đem lại sức khoẻ tốt hơn Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng, có thể có một tỷ lệ nhất định những người do
Trang 22HVTH: Giáp Thành Công-ME7 22
sức khoẻ yếu đi sau khi di chuyển, đã quay trở về nơi ở cũ Tuy nhiên, với những người vừa tới trong thời gian ngắn hay gặp khó khăn với việc tiếp cận các dịch vụ y tế chiếm 4.2%
Theo VanLandingham năm (2004), người mới nhập cư đều gặp bất lợi hơn so với người bản địa trên sáu lĩnh vực sức khỏe, bao gồm: Sinh lý, tâm lý, tình cảm, chức năng vận động, kiến thức và quan niệm về sức khỏe nói chung Có thể nói rằng, di cư nông thôn ra thành thị thường mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế cho gia đình ở nhà trong khi những bất lợi về sức khỏe lại do chính người di cư gánh chịu
Liên đoàn lao động Hải Phòng (2003), khảo sát nhóm công nhân nữ cho rằng dịch
vụ khám chữa bệnh hiện tại ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc sức khỏe của họ ở mức 4/10 điểm (xấu nhất) Nguyên nhân là do vị trí các cơ sở, chất lượng dịch vụ và chi phí khám chữa bệnh, tại các dịch vụ khám chữa bệnh bệnh tư thì chi phí cao, các dịch vụ công thì phải có bảo hiểm y tế, chất lượng dịch vụ còn hạn chế
Nhóm yếu tố về đời sống văn hóa - tinh thần
Nhóm yếu tố này gồm : việc thích nghi với nơi ở mới, các phương tiện giải trí, các mối quan hệ tình cảm
Tổng cục thống kê (2004) cho rằng, qua khảo sát khoảng 10% trả lời họ không thích nghi được với nơi ở mới do sự khác biệt về nhiều nguyên nhân theo cảm quan cá nhân của họ Điều này xảy ra nhiều với nhóm tuổi nhỏ nhất Nhóm tuổi lớn nhất và nhóm
có trình độ học vấn cao không quan tâm nhiều với vấn đề thích nghi bởi vì những người học vấn cao dễ dàng thích nghi nhanh hơn, còn nhóm người lớn tuổi do có thể đã sống tương đối lâu nên ảnh hưởng bởi vấn đề thích nghi
Hà Linh Quân (2004) cho rằng, nghèo về vật chất dẫn tới nghèo về tinh thần Thời gian làm việc quá nhiều, tăng ca liên tục khiến công nhân làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất không có thời gian cho để giải trí, thư giãn, thậm chí không đủ cả thời gian ngủ Bên cạnh đó, sự mất cân đối giới tính tại các KCN – KCX (90% là nữ trong các ngành giày da, may mặt) khiến họ rất khó khăn cho sự tìm hiểu, kết bạn
Nguyễn Thị Minh Phượng (2008), đời sống tinh thần có đến 15.8% giáo dân di cư không thích nghi được với môi trường mới cao hơn so với dân di cư nói chung là 10%
Trang 23HVTH: Giáp Thành Công-ME7 23
Trong khi đó thiếu thốn tình cảm chiếm gần 1/3 (30.7%) câu trả lời chứng tỏ đây là đối tượng gặp khá nhiều khó khăn đối với vấn đề này
2.6 Mô hình nghiên cứu đề nghị
Nghiên cứu này tôi chọn địa bàn nghiên cứu là huyện Đức Hòa, đây là huyện công nghiệp trọng điểm của tỉnh Long An nên có điều chỉnh một số biến cho phù hợp tình hình thực tế địa phương Đồng thời trên cơ sở những ý kiến, thông tin thu thập được trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ tại địa phương các xã và ý kiến trao đổi với các lãnh đạo UBND các xã, nên đề xuất mô hình nghiên cứu sát với điều kiện của nghiên cứu
Bảng 2.1: Tổng hợp các nhóm yếu tố về chất lượng cuộc sống người lao động
Các yếu tố Biến quan sát
2004, Liên đoàn Lao động Hải Phòng 2003)
Điều kiện ăn uống (Liên đoàn lao động Hải Phòng 2003)
Giao thông đi lại (Liên đoàn Lao động Hải Phòng 2003)
(1) Diện tích nhà ở bình quân người hiện nay, (2) tình trạng nhà ở, (3) nhà ở đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, (4) tình trạng giá cả điện – nước, (5) tình trạng cung cấp điện nước sinh hoạt, (6) việc sử dụng nước sạch để nấu nướng sinh hoạt, (7) chi phí thuê nhà (nếu ở thuê)
(1) Dinh dưỡng bữa ăn hàng ngày được đảm bảo, (2) vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm hàng ngày được đảm bảo, (3) Nơi mua thực phẩm,
(1) Trang bị phương tiện cá nhân đi lại, (2) các phương tiện công cộng trong việc đi lại, (3)Tai nạn giao thông, (4) hệ thống đường giao thông
Nhóm yếu
tố về kinh tế
Việc làm (TCTK 2004)
Trang 24HVTH: Giáp Thành Công-ME7 24
(Tổng cục thống
kê 2004)
Chi phí sinh hoạt (Nguyễn Quang Đại 2012)
nhập, (3) khoản tiền tiết kiệm được hàng tháng,
(1) Mặt bằng giá cả sinh hoạt hiện tại nơi ở, (2) khả năng trang trải các khoản chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày, (3) khả năng trang trải các khoản chi tiêu đột xuất (đám, tiệc…)
2010, TCTK
2004, Nguyễn Thị Minh Phượng 2008, Nguyễn Quang Đại 2012)
Sự hỗ trợ của chính quyền nơi
ở (Liên đoàn lao động Hải Phòng
2003, Nguyễn Quang Đại 2012)
(1) Đăng ký hộ khẩu, (2) đăng kí điện nước, (3) đăng kí khám chửa bệnh, (4) thủ tục đăng kí đất đai, (5) đăng ký trường học cho con, (6) Thực hiện đăng ký các thủ tục, giấy tờ khác
(1) Tư vấn thông tin về thủ tục hành chính - pháp luật, (2) Hỗ trợ đăng kí điện nước, (3) Hỗ trợ đăng kí khám chữa bệnh, (4) Hỗ trợ thủ tục đất đai, (5) Những hỗ trợ thông tin về việc làm, (6) Những hỗ trợ khác của chính quyền địa phương
Trang 25(1) Môi trường cây xanh, (2) Môi trường rác thải, (3) Môi trường nước, (4) Ô nhiễm và tiếng ồn, (5) Mối quan
hệ với chính quyền địa phương, (6) Mối quan hệ với hàng xóm tại nơi ở (2) mối quan hệ với hàng xóm tại nơi
ở
(1) An ninh trật tự nơi ở, (2) Các tệ nạn xã hội nơi ở, (3) Khả năng đảm bảo an ninh trật tự của chính quyền địa phương
Nhóm yếu
tố về sức
khỏe – y tế
Chăm sóc sức khỏe, y tế (TCTK 2004, VanLandingham
2004, Nguyễn Quang Đại 2012)
Bảo hiểm (Nguyễn Quang Đại 2012)
(1) Tình trạng sức khỏe nói chung, (2) Tiếp cận các dịch
vụ y tế (công cộng và tư nhân), (3) Chất lượng các dịch vụ
y tế, (4) Khả năng thanh toán việc khám chữa bệnh, (5) kiến thức chăm sóc sức khỏe, (6) kiến thức về tránh thai – phòng chống HIV/AIDS
(1) Việc mua bảo hiểm y tế hàng năm cho bản thân, (2) Khả năng chi trả cho việc mua bảo hiểm, (3) Hiệu quả
sử dụng bảo hiểm y tế cho việc khám chữa bệnh
2004, Nguyễn Thị Minh Phượng 2008, Nguyễn Quang Đại 2012)
Đời sống văn
(1) Hạnh phúc tinh thần (thoải mái, an tâm), (2) thời gian nghỉ ngơi, (3) Thích nghi với nơi ở mới, (4) niềm tin vào cuộc sống (lạc quan về cuộc sống, tương lai), (5) tình cảm riêng tư hiện tại (6) tín ngưỡng tôn giáo
(1) Sử dụng các phương tiện giải trí tại nhà (tivi, báo,
Trang 26HVTH: Giáp Thành Công-ME7 26
hóa-giải trí (Hà Linh Quân
2004, Nguyễn Quang Đại 2012)
đài, mạng internet), (2) Sử dụng các phương tiện giải trí khác (fim, ca nhạc, văn nghệ…), (3) Tiếp cận thông tin
xã hội, cuộc sống hàng ngày
Như vậy mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm: 14 nhân tố (Nhà ở; Điều kiện ăn uống; Giao thông đi lại; Thu nhập; Việc làm; Chi phí sinh hoạt; Thủ tục hành chính; Sự hỗ trợ của chính quyền địa phương; Môi trường tự nhiên, xã hội; Môi trường an ninh; Chăm sóc sức khỏe, y tế; Bảo hiểm; Đời sống tinh thần, tình cảm; Đời sống văn hóa-giải trí;):
Các thang đo được mô tả chi tiết như sau
Thang đo nhân tố “Nhà ở”, được đo lường bằng 7 biến quan sát: (1) Diện tích nhà ở bình quân người hiện nay, (2) tình trạng nhà ở (chắc chắn, an toàn), (3) Nhà ở đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, (4) tình trạng giá cả điện – nước, (5) Tình trạng cung cấp điện nước sinh hoạt, (6) Việc sử dụng nước sạch để nấu nướng sinh hoạt, (7) chi phí thuê nhà
Thang đo nhân tố “Điều kiện ăn uống”, được đo lường bằng 3 biến quan sát: (1) Dinh dưỡng bữa ăn hàng ngày được đảm bảo, (2) Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm hàng ngày được đảm bảo, (3) Nơi mua thực phẩm (thuận tiện, gần nơi ở, nhiều lựa chọn)
Thang đo nhân tố “Giao thông đi lại”, được đo lường bằng 4 biến quan sát (1) Trang
bị phương tiện cá nhân đi lại, (2) Các phương tiện công cộng trong việc đi lại, (3) Tai nạn giao thông, (4) hệ thống đường giao thông
Thang đo nhân tố “Việc làm”, được đo lường bằng 6 biến quan sát: (1) Công việc phù hợp khả năng (Trình độ chuyên môn, năng lực), (2) Tính ổn định của công việc (Có thể làm lâu dài), (3) Có nhiều việc để lựa chọn, (4) Điều kiện làm việc (thoải mái, an toàn lao động, vệ sinh), (5) kỹ năng nghề nghiệp (kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm), (6) Sự thăng tiến
Thang đo nhân tố “Thu nhập”, được đo lường bằng 3 biến quan sát: (1) Mức thu nhập hàng tháng, (2) tính ổn định của thu nhập hàng tháng, (3) mức tiết kiệm hàng tháng,
Trang 27HVTH: Giáp Thành Công-ME7 27
Thang đo nhân tố “Chi phí sinh hoạt”, được đo lường bằng 3 biến quan sát: (1) Mặt bằng giá cả, (2) khả năng trang trải các khoản chi tiêu hàng ngày, (3) khả năng trang trải các khoản chi tiêu đột xuất (đám tiệc, học…)
Thang đo nhân tố “Các thủ tục hành chính tại địa phương”, được đo lường bằng 6 biến quan sát: (1) Đăng ký hộ khẩu (thủ tục, thời gian, sự thuận tiện), (2) Đăng ký điện nước, (3) Đăng ký khám chữa bệnh, (4) Thủ tục đăng ký đất đai, (5) Đăng ký trường học cho con (thủ tục, thời gian, thuận tiện), (6) Thực hiện đăng ký các thủ tục, giấy tờ khác Thang đo nhân tố “Sự hỗ trợ của chính quyền nơi ở”, được đo lường bằng 6 biến quan sát: (1) Tư vấn thông tin về thủ tục hành chính - pháp luật, (2) Hỗ trợ đăng ký điện nước, (3) Hỗ trợ đăng ký khám chữa bệnh, (4) Hỗ trợ thủ tục đất đai, (5) Những hỗ trợ thông tin về việc làm, (6) Những hỗ trợ khác của chính quyền địa phương
Thang đo nhân tố “Môi trường tự nhiên, xã hội”,được đo lường bằng 6 biến quan sát: (1) Môi trường cây xanh, (2) Môi trường rác thải, (3) Môi trường nước, (4) Ô nhiễm
và tiếng ồn, (5) Mối quan hệ với chính quyền địa phương, (6) mối quan hệ với hàng xóm tại nơi ở
Thang đo nhân tố “Môi trường an ninh”, được đo lường bằng 3 biến quan sát: (1)
An ninh trật tự nơi ở (trộm cướp, gây gổ, đánh nhau…), (2) Các tệ nạn xã hội nơi ở (mại dâm, ma túy, cờ bạc, lô đề…), (3) Khả năng đảm bảo an ninh trật tự của chính quyền địa phương
Thang đo nhân tố “Chăm sóc sức khỏe, y tế”, được đo lường bằng 6 biến quan sát: (1) Tình trạng sức khỏe nói chung, (2) Tiếp cận các dịch vụ y tế (công cộng và tư nhân), (3) Chất lượng các dịch vụ y tế (nhanh chóng, hiệu quả, phục vụ tốt), (4) Khả năng thanh toán việc khám chữa bệnh, (5) kiến thức chăm sóc sức khỏe, (6) kiến thức tránh thai – phòng chống HIV/AIDS
Thang đo nhân tố “Bảo hiểm”, được đo lường bằng 3 biến quan sát: (1) Việc mua hiểm y tế hàng năm cho bản thân (dể dàng, nhanh), (2) Khả năng chi trả cho việc mua bảo hiểm, (3) Hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế cho việc khám chửa bệnh
Thang đo nhân tố “Đời sống tinh thần, tình cảm”, được đo lường bằng 6 biến quan sát: (1) Hạnh phúc tinh thần (thoải mái, an tâm), (2) Thời gian nghỉ ngơi, (3) Thích nghi
Trang 28Ngoài ra nghiên cứu còn xem xét ảnh hưởng của các đặc điểm nhân chủng học (Giới tính, Độ tuổi, Trình độ học vấn, Nghề nghiệp, nguyên quán, Số năm đã di cư tới địa phương, tình trạng kết hôn, thu nhập trung bình) đến mức độ đánh giá các nhân tố về chất lượng cuộc sống
Trang 29HVTH: Giáp Thành Công-ME7 29
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu
Chất lượng cuộc sống của lao động nhập cư làm việc tại các KCN
Nhóm yếu
tố về kinh
tế
Việc làm Thu nhập Chi phí sinh hoạt
Trang 30HVTH: Giáp Thành Công-ME7 30
Bảng 2.2 Giả thuyết nghiên cứu và kì vọng dấu
+
Môi trường tự nhiên, xã hội Tổng cục thống kê 2004,
Liên đoàn lao động Hải Phòng 2003, Nguyễn Quang Đại 2012
+
Trang 31HVTH: Giáp Thành Công-ME7 31
Đời sống tinh thần, tình cảm Hà Linh Quân 2004,
Nguyễn Thi Minh Phượng
2008, Nguyễn Quang Đại
2012
+
Đời sống văn hóa-giải trí Hà Linh Quân 2004,
Nguyễn Quang Đại 2012
+
Trang 32HVTH: Giáp Thành Công-ME7 32
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, xây dựng thang đo phù hợp đánh giá chất lượng cuộc sống của lao động nhập cư Chương này trình bày phương pháp chọn mẫu khảo sát, xác định cỡ mẫu, phương thức thu thập dữ liệu và các kĩ thuật phân tích dữ liệu
Trang 33HVTH: Giáp Thành Công-ME7 33
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết Các nghiên cứu trước có liên quan
Mô hình nghiên cứu
Lý do nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu
Xác định thang đo, câu hỏi khảo sát
Khảo sát thử nghiệm một số đối tượng nghiên cứu
Điều chỉnh và hoàn tất bằng câu hỏi khảo sát chính thức
Thu thập và hoàn chỉnh dữ liệu -Khảo sát thực tế
-Làm sạch dữ liệu -Mã hóa, nhập dữ liệu
Phân tích và diễn giải số liệu -Thống kê mô tả
-Kiểm định Cronbach’s Alpha -Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
-Kiểm định giả thuyết -Phân tích ANOVA -Phân tích hồi quy
-Kết luận -Khuyến nghị chính sách từ kết quả nghiên cứu
Viết báo cáo nghiên cứu
Trang 34HVTH: Giáp Thành Công-ME7 34
3.2.Xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi
Dựa vào cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây đã trình bày ở chương
2, trong nghiên cứu này sử dụng thang đo likert gồm 5 mức độ để đánh giá những vấn đề
về chất lượng cuộc sống, cụ thể như sau:
Câu hỏi khảo sát nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống ở hiện tại của lao động nhập
cư trên địa bàn huyện Đức Hòa, đồng thời so với 2 năm trước sống tại Đức Hòa Qua đó đánh giá sát hơn những vấn đề còn gặp khó khăn trong cuộc sống của lao động nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp tại huyện Đức Hòa hiện nay
Luận văn sử dụng biến hài lòng với cuộc sống để đo lường chất lượng cuộc sống bởi vì khi người lao động nhập cư cảm thấy hài lòng với cuộc sống của mình thì chất lượng cuộc sống của họ được nâng lên
Bảng 3.1: tổng hợp thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của lao động nhập cư
NHA3 Nhà ở đầy đủ tiện nghi sinh hoạt
NHA4 Tình trạng giá cả điện nước
NHA5 Tình trạng cung cấp điện nước sinh hoạt
NHA6 Việc sử dụng nước sạch để nấu nướng sinh hoạt
NHA7 Chi phí thuê nhà
II ĐIỀU KIỆN ĂN UỐNG (AN)
Trang 35HVTH: Giáp Thành Công-ME7 35
AN1 Dinh dưỡng bữa ăn hàng ngày được đảm bảo
AN2 Vấn đề vệ sinh thực phẩm hàng ngày được đảm bảo
AN3 Nơi mua thực phẩm
III GIAO THÔNG ĐI LẠI (GT)
GT1 Trang bị phương tiện cá nhân đi lại
GT2 Các phương tiện công cộng trong việc đi lại
GT3 Tai nạn giao thông
GT4 Hệ thống đường giao thông
IV VIỆC LÀM (VL )
VL1 Công việc phù hợp khả năng
VL2 Tính ổn định công việc
VL3 Có nhiều việc làm để lựa chọn
VL4 Điều kiện làm việc
TN3 Khoảng tiền tiết kiệm được hàng tháng
VI CHI PHÍ SINH HOẠT (CF)
CF1 Mặt bằng giá cả sinh hoạt hiện nay tại nơi ở
CF2 Khả năng chi trả các khoản chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày
CF3 Khả năng chi trả các khoản chi đột xuất
VII CÁC THỦ TỤC HÀNH CHÍNH (HC)
HC1 Việc đăng ký hộ khẩu
HC2 Đăng ký điện nước
HC3 Đăng kí khám chữa bệnh
HC4 Thủ tục đăng kí đất đai
HC5 Đăng kí trường học cho con
Trang 36HVTH: Giáp Thành Công-ME7 36
HC6 Thực hiên đăng ký các thủ tục, giấy tờ khác
VIII SỰ HỖ TRỢ CỦA CHÍNH QUYỀN NƠI Ở (CQ)
CQ1 Tư vấn thông tin về thủ tục hành chính – pháp luật
CQ2 Hỗ trợ đăng kí điện nước
CQ3 Hỗ trợ đăng kí khám chữa bệnh
CQ4 Hỗ trợ thủ tục đất đai
CQ5 Những hỗ trợ thông tin về việc làm
CQ6 Những hỗ trợ khác của chính quyền địa phương
IX MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, XÃ HỘI (TN)
TN1 Môi trường cây xanh
TN2 Môi trường rác thải
TN3 Môi trường nước
TN4 Ô nhiễm và tiếng ồn
TN5 Mối quan hệ với chính quyền địa phương
TN6 Mối quan hệ với hàng xóm tại nơi ở
X MÔI TRƯỜNG AN NINH (ANN)
ANN1 An ninh trật tự
ANN2 Các tệ nạn xã hội nơi ở
ANN3 Khả năng đảm bảo an ninh trật tự của chính quyền địa phương
XI CHĂM SÓC SỨC KHỎE, Y TẾ (YTE)
YTE1 Tình trạng sức khỏe nói chung
YTE2 Tiếp cận các dịch vụ y tế
YTE3 Chất lượng các dịch vụ y tế
YTE4 Khả năng thanh toán việc khám chữa bệnh
YTE5 Kiến thức chăm sóc sức khỏe
YTE6 Kiến thức về tránh thai-phòng chống HIV/AIDS
XII BẢO HIỂM (BH)
BH1 Việc mua bảo hiểm y tế hàng năm cho bản thân
BH2 Khả năng chi trả cho việc mua bảo hiểm
Trang 37HVTH: Giáp Thành Công-ME7 37
BH3 Hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế cho việc khám chữa bệnh
XIII ĐỜI SỐNG TINH THẦN, TÌNH CẢM (TT)
TT1 Hạnh phúc tinh thần
TT2 Thời gian nghỉ ngơi
TT3 Thích nghi với nơi ở mới
TT4 Niềm tin vào cuộc sống
TT5 Tình cảm riêng tư hiện tại
TT6 Tín ngưỡng tôn giáo
XIV ĐỜI SỐNG VĂN HÓA-GIẢI TRÍ (VH)
VH1 Sử dụng các phương tiện giải trí tại nhà
VH2 Sử dụng các phương tiện giải trí khác
VH3 Tiếp cận thông tin xã hội, cuộc sống hàng ngày
XV.NHÌN CHUNG CÁC ANH/CHỊ CÓ HÀI LÒNG VỚI CUỘC SỐNG CỦA MÌNH
3.3 Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phương pháp này dể tiếp cận đối tượng
Đối tượng khảo sát: Lao động nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp tại huyện Đức Hòa, sinh sống từ 2 năm trở lên
Số lượng mẫu khảo sát: Theo Cattell (1978) số lượng mẫu cho phân tích nhân tố khám phá là tối thiểu từ ba đến sáu lần tổng số biến quan sát, nghiên cứu này có 65 biến như vậy số lượng mẫu tối thiểu là 65x3 = 195 Trong nghiên cứu số lượng bản câu hỏi phát
ra để thu thập thông tin là 250
Cách thu thập dữ liệu: Phỏng vấn trực tiếp người lao động tại các khu nhà trọ gần các khu công nghiệp, phỏng vấn viên được tập huấn tốt về phương pháp phỏng vấn và nội dung bảng câu hỏi
3.4 Kỹ thuật phân tích dữ liệu
Trang 38HVTH: Giáp Thành Công-ME7 38
Sau khi phỏng vấn xong, thu thập các phiếu khảo sát để kiểm tra mức độ đầy đủ các thông tin cần thiết, những phiếu khảo sát không phù hợp, trả lời thiếu yêu cầu hoặc trả lời sai sẽ bị loại bỏ, sau đó nhập và mã hóa dữ liệu, chỉnh dữ liệu trước khi tiến hành phân tích Quy trình phân tích như sau:
Phân tích thống kê mô tả dữ liệu
Luận văn áp dụng các kỹ thuật thống kê mô tả như: tần suất, tỉ trọng, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, các biểu đồ thống kê để cung cấp thông tin về mẫu nghiên cứu
Sử dụng các bảng biểu, biểu đồ để so sánh các giá trị: tần suất, tỉ trọng các biến quan sát của 3 nguồn dữ liệu, từ đó làm cơ sở cho các phân tích số liệu, đánh giá hiện tượng
Kiểm định thang đo (Cronbach ’ s Alpha)
Đây là một kỹ thuật kiểm định thống kê về mức độ tương quan chặt chẽ giữa các mục hỏi trong thang đo Kỹ thuật Cronbach’s Alfa sẽ giúp loại bỏ các biến quan sát có hệ
số tương quan thấp trong thang đo Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) có nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng khi Cronbach’s Alpha đạt 0.8 trở lên gần đến 1 thì thang đo lường là tốt, ở mức từ 0.7 đến 0.8 thang đo có thể sử dụng được Tuy nhiên nếu trong trường hợp các khái niệm đang đo lường là mới hoặc mới đối với người trả lời thì ở mức 0.6 trở lên cũng có thể chấp nhận được Trong nghiên cứu này sẽ chọn các thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 Trong quá trình kiểm định Cronbach’s Alpha if item deleted của biến nào lớn hơn Cronbach’s Alpha của thang đo thì phải loại bỏ biến đó, và lập lại quá trình kiểm định cho đến khi không còn biến thỏa điều kiện trên
Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phân tích nhân tố khám phá được sử dụng chủ yếu để tóm tắt dữ liệu, là một phương pháp định lượng dùng để rút gọn một tập gồm nhiều biến quan sát có tương quan chặt chẽ với nhau thành một tập ít biến hơn (gọi là các nhân tố) để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hết thông tin của tập hợp biến ban đầu Kết quả phân tích nhân tố khám phá được cho là phù hợp phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:
+Hệ số tải nhân tố (Factor loadings)
Trang 39HVTH: Giáp Thành Công-ME7 39
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), hệ số tải nhân tố (Factor loadings) là những hệ số tương quan đơn giữa các biến với nhân tố, hệ số tải nhân tố là chỉ tiêu bảo đảm mức ý nghĩa thiết thực của EFA Hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,3 được xem là mức tối thiểu, lớn hơn 0,4 được xem là quan trọng, lớn hơn 0,5 được được xem là
có ý nghĩa thực tiễn (Nguyễn Trọng Hoài và Nguyễn Khánh Duy, 2008) Do vậy, hệ số tải nhân tố trong luận văn được chọn là > 0,5
Kaiser – Meyer – Olkin (KMO)
Là chỉ số dùng để kiểm tra sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số KMO lớn ( nằm giữa 0.5 và 1) là điều kiện đủ để phân tích nhân tố được xem là thích hợp, nếu trị số KMO nhỏ hơn 0.5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với số liệu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)
Phương sai trích
Phương sai trích là chỉ số phần trăm biến thiên của các biến quan sát được giải thích bởi nhân tố, chỉ số này phải bảo đảm > 50% (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)
Phân tích hồi quy đa biến
Phân tích này nhằm xác định những biến độc lập có thực sự ảnh hưởng đến biến phụ thuộc hay không và mức độ ảnh hưởng cũng như tầm quan trọng của biến độc lập đối với biến phụ thuộc như thế nào Sau khi phân tích nhân tố khám phá, các nhân tố mới
sẽ được xác định, mô hình hồi quy đa biến sẽ được xây dựng dựa trên những nhân tố mới này
Trang 40F1: Nhà ở; F2: Chăm sóc sức khỏe, y tế; F3: Sự hỗ trợ của chính quyền nơi ở; F4: Đời sống tình cảm, tinh thần; F5: Môi trường tự nhiên, xã hội; F6: Việc làm; F7: Các thủ tục hành chính tại địa phương; F8: Giao thông, đi lại; F9: Bảo hiểm: F10: Môi trường an ninh; F11: Chi phí sinh hoạt; F12: Thu nhập; F13: Đời sống văn hóa, giải trí; F14: Điều kiện ăn uống
Luận văn sử dụng phương pháp tổng bình phương tối thiểu (OLS) để ước lượng
mô hình hồi quy
Phân tích các kiểm định sau hồi quy
Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình: Để biết mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng trên dữ liệu mẫu phù hợp đến mức độ nào với dữ liệu mẫu thường sử dụng R2,
R2 càng gần 1 thì mô hình đã xây dựng càng phù hợp và gần 0 thì càng kém phù hợp với tập dữ liệu mẫu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc 2008)
Kiểm định giả thiết về độ phù hợp của mô hình: nhằm đánh giá mức độ phù hợp của mô hình với tổng thể thì mức ý nghĩa của thống kê F phải < 0,05 (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc 2008)
Phân tích các giả định cần thiết trong phân tích hồi quy: Giả định liên hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập cũng như hiện tượng phương sai thay đổi; Giả định về phân phối chuẩn của phần dư; Giả định về tính độc lập của sai số; Giả định không có tương quan giữa các biến độc lập
Tóm tắt nội dung chương 3
Chương 3 đã trình bày quy trình nghiên cứu, xây dựng thang đo, sử dụng thang đo likert 5 mức độ, thiết kế bảng câu hỏi, xác định mẫu khảo sát, quy mô mẫu cần thiết, cách thức thu thập dữ liệu