Vì sao sự ra đời của triết học Mác là một tất yếu lịch sử?. Sự ra đời của triết học Mác vào những năm 40 thế kỉ 19 là một tất yếu lịch sử vì nó chính là một sản phẩm lý luận của sự phát
Trang 1Vì sao sự ra đời của triết học Mác là một tất yếu lịch sử và là
một cuộc cách mạng trên lĩnh vực triết học
Triết (Trường Đại học Luật Hà Nội)
Vì sao sự ra đời của triết học Mác là một tất yếu lịch sử và là
một cuộc cách mạng trên lĩnh vực triết học
Triết (Trường Đại học Luật Hà Nội)
Trang 2? Vì sao sự ra đời của triết học Mác là một tất yếu lịch sử?
Sự ra đời của triết học Mác (vào những năm 40 thế kỉ 19) là một tất yếu lịch sử vì
nó chính là một sản phẩm lý luận của sự phát triển lịch sử nhân loại xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX với những điều kiện khách quan của nó
●Điều kiện Kinh tế- XH:
- Chủ nghĩa Mác được ra đời những năm 40 thế kỷ 19 Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu phát triển mạnh mẽ
Vd: + Anh và Pháp cơ bản đã hoàn thành cách mạng công nghiệp
+ Đức dù còn là nước quân chủ phong kiến nhưng có bước phát triển vượt bậc về kinh tế
- Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất tư bản làm cho sở hữu tư bản
tư nhân trở nên chín muồi; cùng với những mặt mạnh do sở hưu tư bản tư nhân tạo ra thì nó cũng làm cho mâu thuân vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa bộc lộ rõ rệt, làm nảy sinh nhiều vấn đề tư tưởng, lý luận, thực tiễn đòi hỏi các nhà triết học đương thời phải giải quyết
⇨ Mâu thuẫn sâu sắc giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (tính xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và tính cá nhân của quan hệ SX tư bản chủ nghĩa)
Trang 3
(điều kiện làm việc tồi tệ của các công nhân mỏ than nói riêng và của giai cấp công nhận nói chung)
⇨ Mâu thuẫn xã hội bộc lộ càng rõ rệt, hàng loạt cuộc đấu tranh giai cấp công nhân nổ ra khắp Châu Âu
(hình ảnh công nhân Anh đưa hiến chương đến quốc hội)
⇨ Giai cấp vô sản trở thành lực lượng tiên phong trong công cuộc đấu tranh cho nền dân chủ công bằng và tiến bộ XH
Chính sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa làm cho giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng Do vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng phát triển chuyển từ tự phát lên tự giác
Từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị, điển hình như cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở Liong (Pháp – 1831), khởi nghĩa của thợ dệt ở Xiledi (Đức – 1844), phong trào Hiến chương ở Anh (từ năm 1836 đến năm 1847)
Trang 4- Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử và cuộc đấu tranh mạnh
mẽ của giai cấp công nhân là một trong những điều kiện chính trị-xã họi quan trọng nhất cho sự ra đời của CN Mác nói chung và triết học Mác nói riêng
●Tiền đề lý luâ ̣n:
Sự ra đời triết học Mác không chỉ là sản phẩm tất yếu của những điều kiện kinh tế
-xã hội của -xã hội TBCN giữa thế kỷ XIX mà còn là sản phẩm tất yếu của sự phát triển hợp qui luật của lịch sử tư tưởng nhân loại Triết học Mác ra đời là một sự kế thừa biện chứng những học thuyết, lý luận trước kia mà trực tiếp và rõ nét nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp hồi thế kỷ XIX
+ Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học của Hêghen và của Phoiơbắc, là
nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác Đối với triết học của Hêghen, một mặt C.Mác và Ph.Ănghgen phê phán tính chất duy tâm thần bí trong triết học này, mặt khác hai ông đánh giá rất cao tư tưởng biện chứng của nó C.Mác không chỉ dựa vào truyền thống của chủ nghĩa duy vật mà còn trực tiếp cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử của nó Mác đã kế thừa
hệ thống triết học của Heghen trên cơ sở gạt bỏ các yếu tố duy tâm thần bí, đồng thời kế thừa quan niệm duy vâ ̣t trong triết học của Phobach để xây dựng chủ nghĩa duy vâ ̣t biện chứng
C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên triết học mới, trong đó, chủ nghĩa duy
v ật và phép biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau
Trang 5⁃ Triết học cổ điển Đức đại biểu là Heghen và Phơ-bách: ( Triết học CĐ Đức:
hệ thống triết Heghen; quan điểm duy vâ ̣t Phơ bach)
(Ludwig Andreas Feuerbach)
Trang 6(Georg Wilhelm Friedrich Hegel)
+ Sự ra đời triết học Mác cũng diễn ra trong sự tác động qua lại với quá trình C.Mác kế thừa, cải tạo các lý luận về kinh tế và về CNXH Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học Anh với những đại biểu xuất sắc là A.Xmít và Đ.Ricácđô đã tạo điều kiện cho C.Mác hoàn thành quan niệm duy vật lịch sử cũng như xây dựng nên học thuyết về kinh tế của mình
Trang 7⁃ Kinh tế chính trị cổ điển Anh (đại diện tiêu biểu là A.Smith và D.Ricacdo) :
( Adam Smith)
Trang 8(David Ricardo)
+ Mác đã kế thừa tư tưởng nhân đạo của chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp trong
lý thuyết của Xanh Ximong, Phurie trở thành tiền đề lý luâ ̣n quan trọng cho sự ra đời của lý luâ ̣n Khoa học về CNXH trong Chủ nghĩa Mác
Trang 9⁃ CNXH không tưởng Pháp (Saint Simon, Fourier):
(Claude Henri Saint Simon)
Trang 10(Charles Fourier)
Trang 11●Tiền đề KHTN: Cùng với những nguồn gốc lý luận trên, sự ra đời triết học Mác
còn dựa vào những tiền đề khoa học tự nhiên Ph.Ăngghen nêu bật ý nghĩa của 3 phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy vật biện chứng
⁃ Định luâ ̣t bảo toàn và chuyển hóa năng lượng : là cơ sở KHTN khẳng định rằng các dạng vâ ̣t chất tồn tại trong thế giới đều có mối liên hệ với nhau có thể chuyển hóa cho nhau
⁃ Học thuyết tế bào là cơ sở KHTN chứng minh rằng thế giới TV và ĐV có chung nguồn gốc và hình thái đó là tế bào
⁃ Học thuyết tiến hóa của Dacuyn là cơ sở KHTN chứng minh giữa các loài không phải là bất biến mà đều được sinh ra từ các loài trước đó bằng con đường chọn lọc tự nhiên
-> Có khả năng tổng kết và tiếp nối lịch sử văn minh nhân loại.
-> Những thành tựu về khoa học tự nhiên làm bộc lộ rõ tính hạn chế, bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới, đồng thời cung cấp cơ sở tri thức khoa học cho sự phát triển tư duy biện chứng, hình thành phép biện chứng duy vật.