1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai

115 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường Đại học Đồng Nai
Tác giả Nguyễn Thị Hoài Ân
Người hướng dẫn TS. Từ Văn Bình
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.1 Lý do nghiên cứu (16)
    • 1.2 Vấn đề nghiên cứu (17)
    • 1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu (19)
      • 1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu (19)
      • 1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu (20)
    • 1.4 Đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu (20)
      • 1.4.1 Đối tượng khảo sát (20)
      • 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu (20)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (20)
    • 1.6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn (21)
    • 1.7 Kết cấu của luận văn (21)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1 Các khái niệm liên quan đến KSKD (22)
      • 2.1.1 Khởi sự kinh doanh (22)
      • 2.1.2 Người khởi sự kinh doanh (Entrepreneur) (23)
      • 2.1.3 Các loại hình khởi sự kinh doanh (23)
      • 2.1.4 Ý định khởi sự kinh doanh (24)
    • 2.2 Các lý thuyết về ý định KSKD (24)
      • 2.2.1 Lý thuyết dự định của Ajzen (1991) (24)
      • 2.2.2 Lý thuyết sự kiện KSKD của Shapero và Sokol (1982) (25)
    • 2.3 Các mô hình nghiên cứu trước đây về ý định khởi sự kinh doanh (26)
      • 2.3.1 Mô hình về ý định củaAjzen (1991) (26)
      • 2.3.2 Mô hình của Shapero và Sokol (1982) (27)
      • 2.3.3. Mô hình của Krueger và Brazeal (1994) (28)
      • 2.3.4 Mô hình Lüthje và Franke (2004) (29)
      • 2.3.5 Mô hình của Wilbard (2009) (29)
      • 2.3.6 Mô hình của Wongnaa và Seyram (2014) (30)
    • 2.4 Các nghiên cứu trước ở Việt Nam (31)
    • 2.5 Thực trạng KSKD của sinh viên hiện nay (37)
    • 2.6 Các giả thuyết nghiên cứu của luận văn (38)
    • 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất (41)
    • 2.8 So sánh với các nghiên cứu trước (42)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (44)
    • 3.1 Nghiên cứu định tính (44)
      • 3.1.1 Thiết kế nghiên cứu định tính (44)
      • 3.1.2 Kết quả nghiên cứu định tính (45)
    • 3.2 Nghiên cứu định lượng (47)
      • 3.2.1 Các biến và thang đo trong mô hình (47)
      • 3.2.2 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu (52)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (58)
    • 4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (58)
    • 4.2 Thống kê mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến ý định KSKD của sinh viên (59)
    • 4.3 Thống kê mô tả thang đo ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên (63)
    • 4.4 Phân tích thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên. 63 (64)
      • 4.4.1 Thang đo hệ số Cronbach’s Alpha (64)
      • 4.4.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự (67)
    • 4.5 Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu (70)
    • 4.6 Phân tích tương quan (70)
    • 4.7 Phân tích hồi quy tuyến tính (72)
      • 4.7.1 Mô hình hồi quy (72)
      • 4.7.2 Kiểm tra các giả định của mô hình hồi quy (74)
      • 4.7.3 Kiểm định các giả thuyết của mô hình và thảo luận các kết quả (76)
      • 4.7.4 Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính (79)
    • 4.8 Thảo luận kết quả nghiên cứu (83)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (86)
    • 5.1 Kết luận (86)
    • 5.2 Kiến nghị (87)
    • 5.3 Các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (90)
      • 5.3.1 Các hạn chế (90)
      • 5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo (90)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (92)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Lý do nghiên cứu

Khởi sự kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế Sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng doanh nghiệp không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra nhiều việc làm, làm giàu cho chủ doanh nghiệp Chính phủ các nước, bao gồm Việt Nam, đang nỗ lực khuyến khích giới trẻ, đặc biệt là sinh viên, tham gia khởi nghiệp, bởi họ có tiềm năng lớn để trở thành những doanh nhân thành công Từ khi đổi mới năm 1986, vai trò của doanh nhân Việt Nam ngày càng được công nhận và tôn trọng, với 63,4% người trưởng thành mong muốn trở thành doanh nhân Chính phủ cũng đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, nhưng tỷ lệ khởi sự kinh doanh trong sinh viên vẫn còn thấp, khi nhiều người có xu hướng tìm việc làm trong các doanh nghiệp hiện tại.

Giáo dục phổ thông tại Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu kiến thức khởi nghiệp, với chương trình học chủ yếu nặng về lý thuyết và thiếu tính thực tiễn Hơn nữa, số lượng đơn vị đào tạo và hỗ trợ khởi nghiệp còn hạn chế, dẫn đến việc giới trẻ, đặc biệt là sinh viên, thiếu kiến thức và tự tin trong việc tạo dựng sự nghiệp riêng.

Để khơi dậy niềm đam mê và sự tự tin khởi nghiệp cho sinh viên Việt Nam, các trường đại học, gia đình và xã hội cần có những biện pháp cụ thể Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên là điều cần thiết nhằm tìm ra giải pháp hiệu quả.

Trường Đại học Đồng Nai, tọa lạc tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, có bề dày gần 40 năm phát triển, xuất phát từ trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai Kể từ năm 2010, trường đã mở rộng đào tạo các ngành ngoài sư phạm như Quản trị kinh doanh, Tài chính Ngân hàng, và Kế toán, trở thành trường đại học công lập đầu tiên trong tỉnh cung cấp đa ngành nghề Với mục tiêu nâng cao hiệu quả đầu tư giáo dục đại học, trường hướng đến việc đào tạo những doanh nhân có tài đức cho tỉnh Đồng Nai và các khu vực lân cận Do đó, việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên là vô cùng quan trọng, dẫn đến việc nghiên cứu đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường Đại học Đồng Nai.”

Vấn đề nghiên cứu

Khởi sự kinh doanh là một quá trình phức tạp, bao gồm việc nhận diện và đánh giá cơ hội, tìm kiếm và phân bổ nguồn lực, chấp nhận rủi ro, cũng như sáng tạo ra các giải pháp cho vấn đề Theo nghiên cứu của Lowell (2003), những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển một doanh nghiệp thành công.

Khởi sự kinh doanh là một lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả, dẫn đến việc sản xuất hàng loạt nghiên cứu Tuy nhiên, chúng ta vẫn hiểu rất ít về lý do tại sao người ta quyết định khởi sự kinh doanh, cũng như các yếu tố hỗ trợ và cản trở quá trình này Các nghiên cứu về khởi sự kinh doanh thường tập trung vào bốn vấn đề chính, trong đó một trong số đó là quá trình phát hiện và khai thác cơ hội.

Bài viết tập trung vào bốn lĩnh vực chính trong nghiên cứu khởi sự kinh doanh: đầu tiên là các đặc điểm cá nhân và nhóm; thứ hai là quá trình hình thành vốn tri thức và vốn con người cần thiết cho khởi sự; thứ ba là các phương thức khởi sự kinh doanh; và cuối cùng là các yếu tố văn hóa, thể chế, cùng môi trường có thể thuận lợi hoặc cản trở việc khởi sự Luận văn đặc biệt nhấn mạnh lý do và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của cá nhân trong việc tiến hành các hoạt động khởi sự và thành lập doanh nghiệp mới.

Nhiều nghiên cứu toàn cầu về khởi sự kinh doanh đã áp dụng lý thuyết dự định khởi sự kinh doanh, với những quan điểm đa dạng từ các tác giả như Shapero và Sokol (1982) cũng như Ajzen.

Nghiên cứu của Krueger và Brazeal (1994) đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học, bao gồm cảm nhận sự khát khao, tự tin và môi trường giáo dục Mặc dù các nghiên cứu này đã thể hiện sự tác động khác nhau của các yếu tố này ở nhiều quốc gia, nhưng chủ yếu tập trung vào các nước phát triển với môi trường kinh doanh thuận lợi Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã được thực hiện, như của Bùi Thị Thanh Chi (2013) và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2010), nhưng chủ yếu khảo sát đối tượng là phụ nữ và nam giới đã tốt nghiệp thạc sĩ Nghiên cứu của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) về sinh viên kinh tế tại TP.HCM chưa xem xét các yếu tố như hoạt động ngoại khóa và ảnh hưởng từ ý kiến xung quanh Gần đây, nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2015) về tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên tại Hà Nội cũng chỉ ra rằng phạm vi khảo sát rộng nhưng chưa đi sâu vào các yếu tố tác động cụ thể.

Nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên tại một trường học cụ thể là cần thiết, vì nó kết hợp tác động của các yếu tố môi trường xã hội và trải nghiệm cá nhân, bao gồm cả những trải nghiệm trong quá trình học đại học.

Nghiên cứu về khởi sự kinh doanh là một lĩnh vực quan trọng, tập trung vào việc tìm hiểu các nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp và thành lập doanh nghiệp mới Việc phân tích những yếu tố này không chỉ có ý nghĩa thực tiễn mà còn cần thiết để thúc đẩy hoạt động khởi sự kinh doanh.

Nhiều nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng tác động kết hợp giữa yếu tố môi trường xã hội và trải nghiệm cá nhân trong quá trình học đại học ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu sâu và cần được khai thác thêm.

Nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên tại trường Đại học Đồng Nai trong giai đoạn 2015.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Luận văn hướng đến các mục tiêu sau:

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định KSKD của sinh viên trường Đại học Đồng Nai

- Đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến ý định KSKD của sinh viên trường Đại học Đồng Nai

Bài viết này kiểm tra sự khác biệt về ý định khởi sự kinh doanh (KSKD) của sinh viên trường Đại học Đồng Nai dựa trên các yếu tố như giới tính, trình độ đào tạo, ngành học, năm ra trường đúng hạn, trình độ ngoại ngữ, công việc làm thêm, cũng như nghề nghiệp của bố và mẹ Nghiên cứu này nhằm làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến ý định KSKD của sinh viên, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho các chương trình đào tạo và hỗ trợ khởi nghiệp.

- Đề xuất các giải pháp, chính sách nhằm khơi gợi, hình thành và gia tăng ý định KSKD cho sinh viên

Dựa vào mục tiêu nghiên cứu, luận văn đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:

Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường Đại học Đồng Nai chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố này bao gồm môi trường học tập, sự hỗ trợ từ gia đình, kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức về kinh doanh Mức độ tác động của từng yếu tố có thể khác nhau, với môi trường học tập và sự hỗ trợ từ gia đình thường đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Nghiên cứu này nhằm xác định sự khác biệt trong ý định khởi sự kinh doanh (KSKD) của sinh viên trường Đại học Đồng Nai dựa trên các yếu tố như giới tính, trình độ đào tạo, ngành học, năm tốt nghiệp đúng hạn, trình độ ngoại ngữ, công việc làm thêm, và nghề nghiệp của bố mẹ Việc phân tích những yếu tố này sẽ giúp hiểu rõ hơn về động lực và rào cản trong việc khởi nghiệp của sinh viên, từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ phù hợp.

- Giải pháp, chính sách nào có thể được đề ra nhằm khơi gợi và hình thành ý định khởi sự kinh doanh cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay?

Đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng khảo sát Đối tượng khảo sát là sinh viên năm cuối hệ Cao đẳng, Đại học khoa Kinh tế của trường Đại học Đồng Nai Lý do chọn nhóm sinh viên nêu trên vì sinh viên hệ chính quy, năm cuối chưa tốt nghiệp là nhóm người đang trong giai đoạn lựa chọn nghề nghiệp

Luận văn nghiên cứu ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên khoa Kinh tế trường Đại học Đồng Nai giai đoạn 2015 – 2016

Nghiên cứu này khám phá khởi sự kinh doanh dưới góc nhìn tinh thần doanh nhân, nhấn mạnh rằng các cá nhân sẵn sàng chấp nhận rủi ro và khai thác cơ hội thị trường nhằm xây dựng một doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

- Nghiên cứu định tính để chuẩn hóa thang đo và bảng câu hỏi, thông qua hình thức thảo luận nhóm 10 sinh viên cuối khóa

Nghiên cứu định lượng đã được thực hiện để kiểm định các giả thuyết của mô hình, dựa trên mẫu 350 sinh viên được chọn bằng phương pháp phi xác suất thuận tiện Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2015 – 2016 thông qua phương pháp phỏng vấn.

6 bảng câu hỏi trực tiếp đến sinh viên Luận văn sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để ước lượng hồi quy.

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả của nghiên cứu này có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho:

Các trường đại học và các cơ quan, ban ngành tại các tỉnh thành phố cần xây dựng chính sách phù hợp và triển khai các chương trình hỗ trợ hiệu quả để thúc đẩy sinh viên khởi sự kinh doanh.

Các hội doanh nghiệp và tổ chức đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thiết kế và cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh Họ tập trung vào việc phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

- Sinh viên các khóa, các ngành học có quan tâm và có ý định KSKD.

Kết cấu của luận văn

Luận văn được cấu trúc thành 5 chương, trong đó Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm việc đặt vấn đề nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng khảo sát, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về ý định khởi sự kinh doanh, các mô hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước, mô hình đề xuất và các giả thuyết trong nghiên cứu

Chương 3 mô tả phương pháp nghiên cứu, cách thức thu thập, xử lý số liệu, kiểm định mô hình

Chương 4 phân tích dữ liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu thu được

Chương 5 trình bày kết luận chính của nghiên cứu, hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Các khái niệm liên quan đến KSKD

Khởi sự, theo từ điển tiếng Việt, có nghĩa là bắt đầu một cái gì mới, và trong bối cảnh kinh doanh, khởi sự kinh doanh đề cập đến việc tạo lập một công việc kinh doanh mới Thuật ngữ này gắn liền với "tinh thần doanh nhân" (entrepreneurship) và các nghiên cứu liên quan trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh.

Tinh thần doanh nhân được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo nghĩa hẹp, nó là việc cá nhân khởi nghiệp, chấp nhận rủi ro để xây dựng doanh nghiệp và tự làm chủ Còn theo nghĩa rộng, tinh thần doanh nhân thể hiện thái độ làm việc với tính tự chủ, sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại, đồng thời phản ánh phong cách nhận thức và suy nghĩ cùng với ý định phát triển nhanh chóng.

Trong nghiên cứu này, khởi sự kinh doanh được định nghĩa theo nghĩa hẹp là “tinh thần doanh nhân”, tức là hành động của một cá nhân, độc lập hoặc cùng với người khác, nhằm tận dụng cơ hội thị trường để tạo ra một công việc kinh doanh mới.

1https://en.wikipedia.org/wiki/Entrepreneurship

2.1.2 Người khởi sự kinh doanh (Entrepreneur)

Người khởi sự kinh doanh được định nghĩa qua nhiều góc nhìn khác nhau Theo Bird (1988), họ là những người bắt đầu hoặc tạo dựng một công việc kinh doanh mới Trong khi đó, MacMillan và Katz (1992) nhấn mạnh rằng người khởi sự kinh doanh là những cá nhân kiếm tiền thông qua việc bắt đầu hoặc quản trị các công việc kinh doanh có tính rủi ro.

Trong nghiên cứu này, người khởi sự kinh doanh được hiểu là cá nhân tạo dựng công việc kinh doanh mới

2.1.3 Các loại hình khởi sự kinh doanh

Có thể dùng nhiều tiêu chí khác nhau để phân thành các loại hình khởi sự kinh doanh

Nếu phân loại khởi sự kinh doanh theo động cơ, gồm có:

Khởi sự kinh doanh là cách để nắm bắt cơ hội và tạo ra sự giàu có, đặc biệt khi nguồn lực hạn chế Theo Austin (2006), việc này đòi hỏi sự sáng tạo và khởi xướng các hoạt động mới nhằm tận dụng các cơ hội kinh doanh.

Khởi sự kinh doanh thường xuất phát từ nhu cầu thiết yếu, đặc biệt trong những hoàn cảnh khó khăn như gia đình gặp khủng hoảng hoặc nợ nần Những cá nhân này thường bắt đầu doanh nghiệp để duy trì cuộc sống và thoát khỏi cảnh nghèo đói Họ thường cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đã có sẵn trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Nếu phân loại khởi sự kinh doanh theo số người tham gia, gồm có:

- Khởi sự kinh doanh bằng cách tự mình tiến hành

- Khởi sự kinh doanh do một nhóm người cùng tiến hành

Nếu phân loại theo mục đích khởi sự kinh doanh, gồm có:

- Khởi sự kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận

- Khởi sự kinh doanh vì mục tiêu phi lợi nhuận

Khởi sự kinh doanh là một công việc đầy ý nghĩa dành cho những cá nhân yêu thích mạo hiểm, thách thức và sáng tạo Nghiên cứu này tập trung vào bối cảnh của sinh viên đại học, những người đang trong quá trình lựa chọn con đường khởi nghiệp cho tương lai của mình.

Chọn nghề nghiệp cho tương lai và khởi sự kinh doanh là quá trình thành lập một tổ chức kinh doanh mới, nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận và khai thác cơ hội trên thị trường.

2.1.4 Ý định khởi sự kinh doanh

Ý định khởi sự kinh doanh, theo Krueger (2003), là trạng thái nhận thức trước khi thực hiện hành vi, thể hiện mức độ cam kết cho hành động trong tương lai (Krueger, 1993) Các tác giả như Bird (1988) định nghĩa ý định này là trạng thái tâm lý cá nhân hướng đến việc hình thành hoạt động kinh doanh Krueger (1993) cũng cho rằng đây là cam kết khởi sự bằng việc tạo lập doanh nghiệp mới Shapero và Sokol (1982) nhận định rằng những cá nhân có ý định khởi sự kinh doanh sẵn sàng nắm bắt cơ hội kinh doanh hấp dẫn Hành động khởi sự sẽ xảy ra khi cá nhân có thái độ tích cực và ý định rõ ràng Krueger và Brazeal (1994) nhấn mạnh rằng người có ý định khởi sự thường chấp nhận rủi ro và thực hiện các hoạt động cần thiết khi nhận thấy cơ hội Begley và Tan (2001) cho rằng những cá nhân này chưa thực hiện hành động cụ thể nào để khởi sự kinh doanh, nhưng họ có niềm tin tích cực vào khả năng thành công trong tương lai.

Như vậy, ý định khởi sự kinh doanh có khả năng dự báo chính xác các hành vi khởi sự kinh doanh trong tương lai.

Các lý thuyết về ý định KSKD

2.2.1 Lý thuyết dự định của Ajzen (1991)

Lý thuyết dự định nhấn mạnh rằng hành vi con người được hình thành từ ý định thực hiện hành vi và khả năng kiểm soát của họ Ba yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi bao gồm: thái độ đối với hành vi, sự ảnh hưởng của chuẩn mực chủ quan và cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi.

Thái độ cá nhân đối với hành vi KSKD thể hiện mức độ đánh giá tích cực hoặc tiêu cực, không chỉ đơn thuần là cảm xúc mà còn bao gồm việc xem xét giá trị của KSKD.

Ý kiến của những người xung quanh đóng vai trò quan trọng trong việc đo lường áp lực xã hội mà cá nhân cảm nhận về việc thực hiện hoặc không thực hiện các hành vi kinh doanh.

Khả năng kiểm soát hành vi được định nghĩa là quan niệm cá nhân về mức độ khó khăn trong việc thực hiện các hành vi kinh doanh Yếu tố này bao gồm hai thành phần chính: yếu tố bên trong, liên quan đến sự tự tin của cá nhân trong việc thực hiện hành vi, và yếu tố bên ngoài, đề cập đến các nguồn lực như thời gian và tiền bạc.

2.2.2 Lý thuyết sự kiện KSKD của Shapero và Sokol (1982)

Shapero và Sokol (1982) cho rằng việc khởi sự kinh doanh (KSKD) để thành lập doanh nghiệp mới bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong đời sống con người Ý định KSKD xuất hiện khi cá nhân nhận thấy một cơ hội khả thi và mong muốn nắm bắt nó Tuy nhiên, để biến ý định thành hành động, cần có chất xúc tác từ những thay đổi trong cuộc sống Sự dẫn dắt đến KSKD hay không phụ thuộc vào cảm nhận về mong muốn và tính khả thi của cá nhân.

Cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh (KSKD) phản ánh suy nghĩ cá nhân về sức hấp dẫn của việc này, được hình thành từ ảnh hưởng của văn hóa, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và người thân Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc định hình quan điểm và động lực của mỗi cá nhân trong hành trình KSKD.

Cảm nhận về tính khả thi khởi sự kinh doanh (KSKD) phản ánh suy nghĩ cá nhân về khả năng thực hiện các hành vi liên quan Các yếu tố như hỗ trợ tài chính, ảnh hưởng từ những doanh nhân nổi bật, sự hợp tác với đối tác và sự tư vấn từ các tổ chức có thể nâng cao cảm nhận này trong quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp.

Các mô hình nghiên cứu trước đây về ý định khởi sự kinh doanh

2.3.1 Mô hình về ý định củaAjzen (1991)

Ajzen (1991) đã phát triển mô hình dựa trên lý thuyết hành vi dự định, cho rằng hành vi của con người có thể được lập kế hoạch và dự đoán thông qua ý định Ba yếu tố chính trong thuyết này bao gồm: (i) thái độ của cá nhân đối với hành vi, (ii) chuẩn mực chủ quan, và (iii) nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi.

Thái độ, theo định nghĩa của Fishbein và Ajzen (1975), là niềm tin liên quan đến hành vi cụ thể, từ đó ảnh hưởng đến cách con người suy nghĩ, đánh giá và phản ứng với hành vi đó Nó được đo lường thông qua mức độ phản ứng tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân đối với hành vi, như đã chỉ ra bởi Liểu (2004).

Chuẩn mực chủ quan, theo Ajzen (1991), là nhận thức về ảnh hưởng của xã hội đối với hành vi cá nhân Sự thay đổi trong suy nghĩ của cá nhân thường xảy ra khi họ bị tác động bởi ý kiến của những người xung quanh hoặc bởi các định kiến xã hội.

Khả năng kiểm soát đối với hành vi là mức độ nhận thức của cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn khi thực hiện hành vi, từ đó giúp họ tự điều chỉnh hành vi và suy nghĩ của mình (Ajzen, 1991) Khả năng này có thể được hình thành từ kinh nghiệm hoặc khả năng dự đoán tương lai của cá nhân.

Hình 2.1: Mô hình về ý định của Ajzen (1991)

2.3.2 Mô hình của Shapero và Sokol (1982)

Mô hình này coi việc khởi nghiệp là một sự kiện kinh doanh, được hình thành từ sự tương tác giữa các yếu tố hoàn cảnh như sáng kiến, tập trung nguồn lực, quản lý, quyền tự chủ và rủi ro Quyết định khởi sự doanh nghiệp phụ thuộc vào các thay đổi bên ngoài (Peterman và Kennedy, 2003) Nghiên cứu của hai tác giả chỉ ra rằng, sự lựa chọn để bắt đầu kinh doanh dựa vào ba yếu tố chính: (i) thay đổi trong đời sống, (ii) cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp, và (iii) cảm nhận tính khả thi của việc khởi sự kinh doanh.

Theo mô hình này, ý định khởi sự kinh doanh xuất hiện khi cá nhân nhận thấy cơ hội khả thi và mong muốn nắm bắt Tuy nhiên, để biến ý định thành hành động, cần có chất xúc tác từ những thay đổi trong cuộc sống Những thay đổi này có thể là tiêu cực, như gia đình gặp khó khăn hoặc nợ nần (nhân tố đẩy), hoặc tích cực, như nhận được nguồn tài trợ hoặc phát hiện cơ hội kinh doanh (nhân tố kéo).

Yếu tố cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh phản ánh suy nghĩ của cá nhân về sự hấp dẫn của việc này, được hình thành từ văn hóa, gia đình, bạn bè và người thân Những người sống trong môi trường xã hội coi trọng doanh nhân thường có xu hướng muốn trở thành doanh nhân Tương tự, cá nhân có gia đình và bạn bè là doanh nhân cũng có khả năng cao hơn để theo đuổi con đường khởi nghiệp.

Yếu tố cảm nhận tính khả thi trong khởi sự kinh doanh phản ánh suy nghĩ cá nhân về khả năng thực hiện các hành động cần thiết Khi cá nhân cảm thấy rõ ràng về tính khả thi của công việc tương lai, họ có xu hướng bắt tay vào khởi nghiệp Sự hỗ trợ tài chính, ảnh hưởng từ những doanh nhân thành đạt, cùng với sự tư vấn từ các tổ chức trong quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp sẽ nâng cao cảm nhận về tính khả thi của cá nhân.

Cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh và tính khả thi có sự tương tác chặt chẽ; nếu cá nhân cho rằng việc khởi sự kinh doanh là không khả thi, họ sẽ ít có mong muốn thực hiện điều đó Sự khát khao khởi nghiệp bị ảnh hưởng bởi hệ thống giá trị cá nhân và xã hội, bao gồm gia đình, bạn bè và môi trường giáo dục.

Tính khả thi của một kế hoạch kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm kỹ năng cá nhân, các rủi ro tiềm ẩn, cũng như nguồn lực về con người và tài chính.

Mô hình này đã được kiểm định bởi các nhà nghiên cứu khác như Krueger và Brazeal (1994), Miar và Noboa (2003)

Hình 2.2: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982) 2.3.3 Mô hình của Krueger và Brazeal (1994)

Tác giả tiếp nối quan điểm của Shapero và Sokol (1982) cùng Ajzen (1991), cho rằng cá nhân có mong muốn và cảm nhận tính khả thi trong khởi sự kinh doanh sẽ có tiềm năng khởi nghiệp Trước khi trở thành doanh nhân, cá nhân cần có tiềm năng này, vì vậy tác giả áp dụng quan điểm tâm lý xã hội để xem xét các yếu tố môi trường và xây dựng mô hình nghiên cứu Mô hình nhấn mạnh đến tiềm năng tự kinh doanh, bao gồm tính khả thi, sự khát khao và xu hướng hành động, trong đó xu hướng hành động thể hiện cam kết của cá nhân thực hiện theo quyết định đã đưa ra.

Sự thay đổi trong đời sống

Cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh

Cảm nhận tính khả thi Ý định khởi sự kinh doanh của cá nhân

Hình 2.3: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Krueger và Brazeal (1994) 2.3.4 Mô hình Lüthje và Franke (2004)

Lüthje và Franke (2004) chỉ ra rằng ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên chịu ảnh hưởng từ hai nhóm yếu tố chính: yếu tố nội tại liên quan đến đặc điểm cá nhân và yếu tố môi trường bên ngoài, bao gồm thị trường, tài chính và môi trường giáo dục Các tác giả nhấn mạnh rằng yếu tố môi trường bên ngoài, đặc biệt là môi trường giáo dục đại học, có tác động trực tiếp đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên.

Hình 2.4: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Lüthje và Franke (2004) 2.3.5 Mô hình của Wilbard (2009)

Bài viết phân tích những yếu tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên, bao gồm giới tính, nền tảng gia đình, cảm nhận về khát khao, tính khả thi và ảnh hưởng từ xã hội.

Nghiên cứu cho thấy rằng giới tính và nền tảng gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên, với nam sinh viên có xu hướng mạnh mẽ hơn trong việc theo đuổi khởi nghiệp.

Xu hướng hành động Ý định khởi sự kinh doanh của cá nhân Đặc điểm cá nhân

Thị trường Tài chính Môi trường giáo dục Đại học Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên

Nghiên cứu cho thấy, 15% khởi sự kinh doanh cao hơn ở nam giới so với nữ giới Một trong những yếu tố quan trọng hình thành thái độ đối với tinh thần kinh doanh là nền tảng gia đình, đặc biệt là khi gia đình có truyền thống kinh doanh Những cá nhân có cha mẹ làm trong lĩnh vực kinh doanh thường có xu hướng khởi sự kinh doanh cao hơn so với những người không có nền tảng tương tự.

Các nghiên cứu trước ở Việt Nam

Theo nghiên cứu của Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011), đối tượng khảo sát là sinh viên trường Đại học Bách khoa thuộc Đại học Quốc gia thành phố Nghiên cứu này nhằm phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sinh viên trong môi trường học tập.

Hỗ trợ từ gia đình, bạn bè

Nghề nghiệp của cha mẹ

Môi trường giáo dục tinh thần kinh doanh Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên

Tiếp cận tài chính Giới tính

Nhóm tác giả tại Hồ Chí Minh nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp bằng cách áp dụng mô hình Entrepreneur Scan do Driessen và Zwart phát triển.

Nghiên cứu năm 1999 chỉ ra rằng tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên Đại học Bách khoa được ảnh hưởng bởi bảy yếu tố chính: nhu cầu thành đạt, nhu cầu tự chủ, định hướng xã hội, sự tự tin, khả năng am hiểu thị trường, khả năng sáng tạo và khả năng thích ứng Trong số này, nhu cầu tự chủ có tác động ngược chiều đến mô hình, trong khi sáu yếu tố còn lại đều có tác động tích cực.

Mô hình ý định khởi nghiệp của Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011) được Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) phát triển dựa trên quan điểm rằng ý định khởi nghiệp chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nội tại như cảm nhận sự khát khao và tính khả thi, cùng với các yếu tố bên ngoài như chuẩn mực xã hội, môi trường giáo dục đại học, và điều kiện thị trường cũng như tài chính Nghiên cứu cho thấy có bốn yếu tố chính tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên với mức độ ảnh hưởng khác nhau.

Nhu cầu thành đạt Định hướng xã hội

Sự tự tin Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên

Khả năng sáng tạo Khả năng am hiểu thị trường

Trong nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp được xếp hạng giảm dần theo thứ tự như sau: Cảm nhận sự khát khao, Điều kiện thị trường và tài chính, Cảm nhận tính khả thi, và Môi trường giáo dục Đại học Đặc biệt, yếu tố Chuẩn mực xã hội không có tác động đáng kể đến ý định khởi nghiệp.

Hình 2.8: Mô hình ý định khởi sự kinh doanh của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012)

Nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2015) trên 693 sinh viên ngành kỹ thuật và kinh tế - quản trị kinh doanh tại Hà Nội chỉ ra rằng tiềm năng khởi sự kinh doanh được đánh giá qua mong muốn và sự tự tin khởi nghiệp Các yếu tố ảnh hưởng đến mong muốn khởi sự kinh doanh bao gồm ý kiến của người xung quanh, vị trí xã hội của doanh nhân, hình mẫu chủ doanh nghiệp, năng lực khởi sự, sự truyền cảm hứng từ nhà trường, môn học khởi sự kinh doanh, ngành học và hoạt động ngoại khóa Đối với sự tự tin khởi sự, các yếu tố tương tự cũng có tác động, trong đó ý kiến người xung quanh là yếu tố mạnh nhất đối với mong muốn khởi sự, còn năng lực khởi sự kinh doanh là yếu tố quyết định sự tự tin.

Cảm nhận sự khát khao Điều kiện thị trường và tài chính

Cảm nhận tính khả thi Môi trường giáo dục đại học Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên

Hình 2.9: Mô hình tiềm năng khởi sự kinh doanh của Nguyễn Thu Thủy (2015) Nhận xét:

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh, trong đó nổi bật là cảm nhận về khát khao khởi sự và tính khả thi của việc khởi nghiệp (Shapero và Sokol, 1982; Krueger và Brazeal, 1994; Wilbard, 2009) Bên cạnh đó, môi trường giáo dục tinh thần kinh doanh cũng đóng vai trò quan trọng (Lüthje và Franke, 2004; Wongnaa và Seyram, 2014; Nguyễn Doãn Chí Luân, 2012; Nguyễn Thu Thủy, 2015) Nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những yếu tố này trong việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp.

(2015) đã đi kết hợp xem xét tác động của các yếu tố trải nghiệm cá nhân (bao gồm kinh Ý kiến người xung quanh

Vị trí xã hội của doanh nhân

Hình mẫu chủ doanh nghiệp

Năng lực khởi sự kinh doanh Tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên

Truyền cảm hứng trong nhà trường

Học môn khởi sự kinh doanh

Phương thức học qua thực tế

Tham gia hoạt động ngoại khóa khởi sự kinh doanh

Trong quá trình học đại học, sinh viên tiếp thu kinh nghiệm qua các hoạt động đào tạo, bao gồm cả trải nghiệm cá nhân và môi trường xúc cảm xung quanh Những yếu tố như ý kiến từ người khác, vị trí xã hội của doanh nhân, và hình mẫu doanh nhân có tác động mạnh mẽ đến khát vọng khởi sự kinh doanh Tham gia các hoạt động ngoại khóa, học môn khởi sự kinh doanh, và được truyền cảm hứng từ chương trình học thực tiễn đều góp phần nâng cao tính khả thi trong việc khởi sự kinh doanh của sinh viên Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng tích cực đến động lực và khả năng khởi nghiệp của họ.

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước

Tác giả Biến phụ thuộc Biến độc lập

(1982) Ý định KSKD của cá nhân

- Sự thay đổi trong đời sống

- Cảm nhận về mong muốn KSKD

- Cảm nhận tính khả thi

(1994) Ý định KSKD của cá nhân

(2004) Ý định KSKD của sinh viên

- Môi trường giáo dục Đại học

Wilbard (2009) Ý định KSKD của sinh viên

- Cảm nhận sự khát khao

- Cảm nhận tính khả thi

- Ảnh hưởng xã hội trong đời sống

(2014) Ý định KSKD của sinh viên

- Hỗ trợ từ gia đình, bạn bè

- Nghề nghiệp của cha mẹ

- Môi trường giáo dục tinh thần kinh doanh

Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011) Ý định KSKD của sinh viên

- Khả năng am hiểu thị trường

Luân (2012) Ý định KSKD của sinh viên

- Cảm nhận sự khát khao

- Điều kiện thị trường và tài chính

- Cảm nhận tính khả thi

- Môi trường giáo dục đại học

Tiềm năng KSKD của sinh viên

- Vị trí xã hội của doanh nhân

- Hình mẫu chủ doanh nghiệp

- Truyền cảm hứng trong nhà trường

- Phương thức học qua thực tế

- Tham gia hoạt động ngoại khóa KSKD

(Nguồn: Tổng hợp từ mục 2.2 và 2.3)

Thực trạng KSKD của sinh viên hiện nay

Hiện nay, tình trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong bối cảnh suy thoái kinh tế Nhiều sinh viên không tìm được việc làm phù hợp với chuyên ngành, gây lo ngại cho giới trẻ Số lượng trường đại học và cao đẳng tăng nhanh dẫn đến số lượng sinh viên tốt nghiệp hằng năm cũng tăng, tạo áp lực lớn lên thị trường lao động Hầu hết sinh viên hiện nay chọn làm công ăn lương thay vì khởi nghiệp Tuy nhiên, sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh có xu hướng tích cực hơn trong việc khởi sự kinh doanh, mặc dù vẫn gặp nhiều trở ngại trong quá trình phát triển ý tưởng khởi nghiệp.

Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố vào ngày 27/04/2014, chỉ số lo sợ thất bại và lo ngại rủi ro trong kinh doanh của người Việt Nam đạt 56.7%, cho thấy tâm lý kinh doanh còn nhiều e ngại Đặc biệt, tỷ lệ người có ý định khởi sự kinh doanh trong 3 năm tới chỉ đạt 24.1%, phản ánh sự thận trọng trong việc đầu tư và khởi nghiệp.

Nhiều nghiên cứu về khởi sự kinh doanh (KSKD) dựa trên lý thuyết hành vi có dự định của Ajzen (1991) đã chỉ ra rằng đặc điểm cá nhân và yếu tố môi trường ảnh hưởng đến ý định KSKD Tuy nhiên, hầu hết các mô hình này được kiểm chứng ở nước ngoài, và chưa có nghiên cứu nào cung cấp dữ liệu chứng minh tác động của các yếu tố như ảnh hưởng gia đình, môi trường giáo dục và phương thức học đến ý định KSKD của sinh viên tại một trường đại học cụ thể.

Dựa trên thực trạng khởi sự kinh doanh (KSKD) của sinh viên hiện nay và các cơ sở lý thuyết đã được trình bày, luận văn sẽ đưa ra các giả thuyết cùng với thang đo nhằm nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên tại trường Đại học Đồng Nai.

Các giả thuyết nghiên cứu của luận văn

Theo Krueger và Brazeal (1994), ý kiến của những người xung quanh, bao gồm người thân, bạn bè và những cá nhân quan trọng, phản ánh sự ủng hộ hoặc phản đối đối với quyết định khởi sự kinh doanh của một cá nhân Hai tác giả nhấn mạnh rằng những ý kiến này thể hiện quan niệm của cá nhân về cách mà những người quan trọng trong cuộc sống của họ nghĩ về việc khởi nghiệp.

Theo Begley và Tan (2001) cùng Liủỏn và Chen (2006), ý kiến của người thân có vai trò quan trọng trong các nền văn hóa tập thể, nơi mà lợi ích cá nhân thường đặt sau lợi ích chung Ở những nền văn hóa này, sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thành viên gia đình là rất mạnh mẽ, dẫn đến việc ý kiến của những người xung quanh có tác động tích cực đến suy nghĩ và thái độ cá nhân Tại Việt Nam, với truyền thống văn hóa gia đình sâu sắc, tính độc lập của cá nhân thường thấp hơn so với các nước phương Tây Do đó, luận văn chọn yếu tố “Ý kiến người xung quanh” là biến ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên, và giả thuyết được đặt ra là

H 1 : Ý kiến người xung quanh càng ủng hộ thì ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên càng cao

Cảm nhận sự khát khao khởi sự kinh doanh

Cảm nhận sự khát khao là yếu tố quan trọng trong việc bắt đầu kinh doanh, thể hiện sự hấp dẫn cá nhân đối với khởi nghiệp (Krueger, 1993; Liủỏn, 2004) Khi có sự thúc đẩy từ đam mê, việc hình thành và thực hiện ý định kinh doanh trở nên dễ dàng và nhanh chóng Sự khát khao không chỉ là động lực mà còn là yếu tố quyết định giúp các doanh nhân phát triển và hoàn thiện ý tưởng của mình, phù hợp với khả năng và điều kiện kinh tế hiện tại Do đó, giả thuyết được đưa ra là sự khát khao đóng vai trò then chốt trong quá trình khởi nghiệp.

H 2 : Cảm nhận sự khát khao KSKD càng cao thì ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên càng cao

Cảm nhận tính khả thi khởi sự kinh doanh

Cảm nhận tính khả thi là mức độ mà cá nhân tin tưởng vào khả năng khởi nghiệp của mình (Krueger, 1993; Liủỏn, 2004) Ý định khởi nghiệp có thể giảm sút nếu thiếu sự tự tin vào khả năng thực hiện các kế hoạch kinh doanh.

Tính khả thi là yếu tố quan trọng mang lại hy vọng và quyết tâm biến ý tưởng thành hiện thực Sự hợp lý của mô hình kinh doanh và kế hoạch của chủ thể sẽ ảnh hưởng đến cách mà mỗi cá nhân cảm nhận về tính khả thi của ý tưởng (Liủỏn và cộng sự, 2005).

Do đó, giả thuyết được đặt ra là:

H 3 : Cảm nhận tính khả thi KSKD càng cao thì ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên càng cao

Truyền cảm hứng khởi sự kinh doanh trong nhà trường

Truyền cảm hứng khởi sự kinh doanh là quá trình thay đổi cảm xúc và suy nghĩ của cá nhân, thường được kích thích bởi các sự kiện hoặc yếu tố trong chương trình học khởi sự kinh doanh, nhằm hướng đến việc cân nhắc khả năng khởi sự doanh nghiệp.

Việc truyền cảm hứng có thể dẫn đến những suy nghĩ và hành vi mới, cũng như thay đổi cảm xúc tích cực, giúp sinh viên dễ dàng hơn trong việc khởi sự kinh doanh Nhiều nghiên cứu, như của Autio và Keeley (1997) cùng Lanstrom (2005), khẳng định rằng giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực Các trường đại học có vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tinh thần doanh nhân, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp nhận văn hóa, tư duy sáng tạo và khả năng chấp nhận rủi ro Nghiên cứu của Kim và Hunter (1993) cũng cho thấy rằng đào tạo đại học ảnh hưởng tích cực đến thái độ và ham muốn khởi sự kinh doanh của cá nhân, từ đó hình thành ý định khởi nghiệp.

Theo Fiet (200a), việc chia sẻ giai thoại thành công và những lời khuyên nghề nghiệp từ thầy cô sẽ khơi dậy khát vọng kinh doanh trong sinh viên, đồng thời nâng cao cảm giác tự tin khi khởi nghiệp.

Việt Nam, với nền văn hóa tập thể, cho thấy rằng ý kiến xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cá nhân, từ đó việc tuyên truyền và vận động có thể thúc đẩy ý định khởi sự kinh doanh Do đó, bài luận văn này đưa ra giả thuyết rằng sự tác động từ xã hội là yếu tố quan trọng trong việc khuyến khích tinh thần khởi nghiệp.

H 4 : Truyền cảm hứng khởi sự kinh doanh trong nhà trường càng tốt thì ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên càng cao

Phương thức học qua thực tế

Phương thức học qua thực tế giúp sinh viên tiếp nhận kiến thức từ lý thuyết và công việc thực tế thông qua các hoạt động như thực tập và tình huống mô phỏng Nghiên cứu của Luthje và Franke (2004) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường ứng dụng thực tế trong chương trình đào tạo khởi sự kinh doanh Các chương trình đào tạo có tính ứng dụng cao, như học tập qua kinh nghiệm và hành động, đã được chứng minh là nâng cao năng lực khởi sự kinh doanh so với phương pháp giảng dạy lý thuyết đơn thuần (Nguyễn Thu Thủy, 2015) Luận văn này cho rằng mức độ thực tiễn trong các chương trình đào tạo càng cao thì ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên càng rõ ràng, từ đó đưa ra giả thuyết về mối liên hệ này.

H 5 : Phương thức học qua thực tế càng tốt thì ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên càng cao

Mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa về khởi sự kinh doanh

Các hoạt động ngoại khóa là những hoạt động không nằm trong chương trình đào tạo chính thức của trường Trong lĩnh vực khởi sự kinh doanh, các hoạt động này rất đa dạng, bao gồm việc tham gia câu lạc bộ kinh doanh và tham gia các cuộc thi viết kế hoạch kinh doanh.

Nghiên cứu của Shulruf (2010) cho thấy rằng tham gia các hoạt động ngoại khóa không chỉ cải thiện kết quả học tập mà còn tăng cường vốn xã hội và kỹ năng cá nhân Các tác giả Luthje và Franke (2004), Florin và cộng sự (2007), cùng David và cộng sự (2012) cũng khẳng định rằng hoạt động ngoại khóa có vai trò quan trọng trong khởi sự kinh doanh, ảnh hưởng tích cực đến thái độ và năng lực của sinh viên Điều này xảy ra vì các hoạt động ngoại khóa liên quan đến kinh doanh cung cấp cho sinh viên môi trường thực tiễn để áp dụng kiến thức, từ đó nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm, thúc đẩy mạnh mẽ ý định khởi nghiệp của họ.

Khởi sự kinh doanh mang lại cho sinh viên cơ hội phát triển kiến thức và kỹ năng cá nhân, bao gồm kỹ năng giao tiếp và thuyết trình Tham gia các hoạt động nhóm giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng quản trị, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo trong việc nảy sinh ý tưởng kinh doanh Ngoài ra, sinh viên còn nhận được sự hỗ trợ từ bạn bè và giảng viên, cùng với khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ cần thiết cho các dự án khởi nghiệp.

Với những lập luận trên, luận văn đưa ra giả thuyết là:

H 6 : Mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa về khởi sự kinh doanh càng thường xuyên thì ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên càng cao

Dưới đây là bảng tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu của luận văn:

Bảng 2.2: Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu của luận văn

H 1 Ý kiến người xung quanh càng ủng hộ thì ý định KSKD của sinh viên càng cao

H 2 Cảm nhận sự khát khao KSKD càng cao thì ý định KSKD của sinh viên càng cao

H 3 Cảm nhận tính khả thi KSKD càng cao thì ý định KSKD của sinh viên càng cao

H 4 Truyền cảm hứng KSKD trong nhà trường càng tốt thì ý định KSKD của sinh viên càng cao

H 5 Phương thức học qua thực tế càng tốt thì ý định KSKD của sinh viên càng cao

H 6 Mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa càng thường xuyên thì ý định KSKD của sinh viên càng cao

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Bài nghiên cứu sẽ phân tích tác động của các yếu tố tính cách cá nhân và ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài Mặc dù nghiên cứu này tương tự như các mô hình nghiên cứu trước đây ở nước ngoài và Việt Nam, nhưng các yếu tố được chọn lọc sẽ phù hợp với môi trường tại Đại học Đồng Nai, đặc biệt là đối tượng sinh viên năm cuối Mô hình nghiên cứu đề xuất sẽ được trình bày chi tiết trong bài viết.

Hình 2.10: Mô hình nghiên cứu đề xuất

So sánh với các nghiên cứu trước

Điểm giống với các nghiên cứu trước:

- Nghiên cứu này cũng sử dụng chủ yếu các lý thuyết về hành vi hợp lý của

Fishbein và Ajzen (1975), lý thuyết dự định của Ajzen (1991) làm lý thuyết nền khi nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên

- Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên nhìn chung thuộc hai nhóm yếu tố:

Yếu tố tính cách cá nhân: cảm nhận sự khát khao KSKD, cảm nhận tính khả thi

KSKD, mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa về KSKD

Yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài: truyền cảm hứng khởi sự kinh doanh trong nhà trường, phương thức học qua thực tế, ý kiến người xung quanh

Cảm nhận sự khát khao KSKD

Cảm nhận tính khả thi KSKD Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên

Truyền cảm hứng KSKD trong nhà trường Phương thức học qua thực tế

Mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa về KSKD

28 Điểm khác so với các nghiên cứu trước:

- Nghiên cứu sử dụng các yếu tố ở nghiên cứu môi trường nước ngoài để khảo sát tại địa bàn cụ thể ở Việt Nam

Nghiên cứu này khác biệt so với ba nghiên cứu trước tại Việt Nam, khi mà các nghiên cứu trước chỉ tập trung vào số lượng sinh viên tại các trường Đại học lớn ở khu vực phát triển kinh tế cao Thay vào đó, nghiên cứu này tập trung vào ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên tại trường Đại học Đồng Nai, một trường mới thành lập từ năm 2010 với mức điểm đầu vào từ 13-15 điểm Mục tiêu của nghiên cứu là xác định những yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên, từ đó đề xuất các phương pháp thúc đẩy phù hợp cho trường.

Chương 2 đã trình bày về các khái niệm, định nghĩa của nghiên cứu, sau đó trình bày tóm tắt các lý thuyết về hành vi dự định và các ứng dụng của lý thuyết vào nghiên cứu này Tiếp đó chương 2 trình bày tóm tắt các nghiên cứu trước đây về ý định khởi sự kinh doanh của các nhà nghiên cứu nước ngoài và Việt Nam.Từ đó, luận văn đưa ra 6 giả thuyết cho nghiên cứu hiện tại và mô hình nghiên cứu đề xuất.Phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày trong Chương 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu định tính

Mục đích của nghiên cứu định tính là kiểm tra và xác định mối quan hệ giữa các biến trong mô hình lý thuyết ban đầu, được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết Nghiên cứu cũng nhằm điều chỉnh thang đo đã sử dụng trong các nghiên cứu trước, nhằm khắc phục sự khác biệt văn hóa và tránh những hiểu lầm từ ngữ cho người đọc.

3.1.1 Thiết kế nghiên cứu định tính

Kích thước mẫu, đặc điểm của mẫu

- Phương pháp lấy mẫu: phi xác suất thuận tiện

Mẫu nghiên cứu được thực hiện với đối tượng là sinh viên năm cuối tại trường Đại học Đồng Nai, được chọn lọc kỹ lưỡng theo tiêu chí giới tính và ngành học Để đảm bảo tính đa dạng và đầy đủ thông tin cho nghiên cứu, nhóm phỏng vấn bao gồm 3 nam sinh viên ngành Quản trị kinh doanh, 2 nữ sinh viên ngành Kế toán từ Đại học, cùng với 3 nam và 2 nữ sinh viên ngành Quản trị kinh doanh và Kế toán từ Cao đẳng.

- Phương pháp thu thập dữ liệu: thảo luận nhóm

Cuộc phỏng vấn diễn ra từ ngày 21 đến 25 tháng 12 năm 2015, kéo dài 45 phút và được tổ chức tại giảng đường của trường Đại học Đồng Nai Tất cả các đối tượng tham gia đều nhiệt tình hợp tác và cam kết cung cấp thông tin chính xác cho bảng câu hỏi.

- Nội dung bảng câu hỏi thảo luận nhóm: được trình bày ở phụ lục B

Cuộc phỏng vấn tập trung vào việc xác định các biến quan sát để đo lường biến phụ thuộc và các biến độc lập trong mô hình Người tham gia sẽ nhận xét về ý nghĩa của từng biến và đề xuất các cải tiến.

3.1.2 Kết quả nghiên cứu định tính

- Ý kiến của đáp viên về các khái niệm của nghiên cứu

Các đáp viên nhận thức rõ về ý định khởi sự kinh doanh, coi đây là hành vi chưa diễn ra Ý định này chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, bao gồm cả tính cách cá nhân và các yếu tố bên ngoài.

Người tham gia phỏng vấn nhận định rằng "ý kiến người xung quanh" chủ yếu là những quan điểm từ người thân, bạn bè và những người quan trọng trong cuộc sống của họ Những ý kiến này có thể ủng hộ hoặc phản đối, nhưng chúng có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định và ý định hành động của họ Họ thường tham khảo ý kiến từ bố mẹ và bạn bè trước khi đưa ra quyết định quan trọng.

Cảm nhận về khát khao khởi sự kinh doanh cho thấy rằng khát khao chính là ao ước và mong muốn đạt được điều gì đó Từ khát khao này, nó tạo ra động lực và thúc đẩy cá nhân thực hiện ý định khởi nghiệp của mình.

Tất cả các đáp viên tham gia phỏng vấn đều nhất trí rằng khi họ cảm nhận được tính khả thi của một ý tưởng kinh doanh, họ sẽ có xu hướng dễ dàng hơn trong việc quyết định thực hiện nó.

Trong việc "Truyền cảm hứng khởi sự kinh doanh trong nhà trường", các đáp viên đều nhất trí rằng phương pháp giảng dạy và phong cách của giảng viên đã để lại ấn tượng sâu sắc trong quá trình học Họ cũng cảm thấy hứng thú khi nghe quan điểm kinh doanh từ bạn bè, thầy cô và đặc biệt là các chủ doanh nghiệp Đối với "Phương thức học qua thực tế", các đáp viên cho rằng việc kết hợp giữa "học" và "hành" giúp họ thể hiện khả năng và đam mê học tập tốt hơn so với việc chỉ học lý thuyết.

45 lý thuyết Tóm lại tất cả đều đồng ý rằng nếu được học qua thực tế, ý định khởi sự kinh doanh của họ sẽ tăng lên

Mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa có ảnh hưởng tích cực đến sự tự tin và khả năng giao tiếp của sinh viên, với những người tham gia nhiều hoạt động thường mạnh dạn và năng động hơn Tuy nhiên, họ cũng bày tỏ sự ngần ngại khi tiếp xúc với doanh nhân và thiếu hứng thú trong các cuộc thi viết kế hoạch kinh doanh Tất cả đều đồng ý rằng sự tham gia vào các hoạt động ngoại khóa góp phần thúc đẩy ý định khởi sự kinh doanh, phản ánh trạng thái tâm lý hướng đến việc hình thành công ty trong tương lai và sự sẵn sàng để tự mình kinh doanh.

- Ý kiến về thang đo nghiên cứu

Dựa trên nghiên cứu định tính, 30 biến quan sát ban đầu trong thang đo đã được điều chỉnh để đo lường 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên.

Yếu tố ý kiến người xung quanh: các phát biểu đưa ra được giữ nguyên, không điều chỉnh

Yếu tố cảm nhận sự khát khao khởi sự kinh doanh: các phát biểu được giữ nguyên, không điều chỉnh

Yếu tố cảm nhận tính khả thi trong khởi sự kinh doanh bao gồm sự chấp nhận rủi ro, một tiêu chí được các đáp viên đề xuất và đã được kiểm định trong nghiên cứu của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) Họ cũng khuyến nghị thay đổi phát biểu từ “Tôi thấy kế hoạch kinh doanh của tôi khả thi” sang “Tôi tự tin lập được kế hoạch kinh doanh khả thi” nhằm thể hiện sự tự tin vào khả năng lập kế hoạch khi nhận thức được tính khả thi của nó.

Yếu tố truyền cảm hứng khởi sự kinh doanh trong nhà trường: các phát biểu được giữ nguyên, không điều chỉnh

Yếu tố phương thức học qua thực tế: các phát biểu được giữ nguyên, không điều chỉnh

Yếu tố mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa: các phát biểu được giữ nguyên, không điều chỉnh

Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên được thể hiện qua hai phát biểu chính: “Tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì để trở thành một doanh nhân” và “Mục tiêu của tôi là trở thành doanh nhân”, phản ánh sự khát khao mạnh mẽ của cá nhân Sự khát khao này là yếu tố then chốt giúp sinh viên xác định mục tiêu và động lực để theo đuổi con đường khởi nghiệp Điều này cũng liên quan đến khái niệm “cảm nhận sự khát khao” đã được đề cập trong chương 2 Ngoài ra, thang đo “Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên” còn bao gồm bốn biến quan sát khác.

Như vậy, sau nghiên cứu định tính tổng cộng có 29 biến quan sát đo lường các biến độc lập và biến phụ thuộc.

Nghiên cứu định lượng

Mục tiêu của nghiên cứu định lượng là kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên Đại học Đồng Nai, đồng thời xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên tại trường.

3.2.1 Các biến và thang đo trong mô hình

3.2.1.1 Thang đo ý kiến người xung quanh

Theo Krueger và Brazeal (1994), ý kiến của những người xung quanh thể hiện sự ủng hộ hoặc phản đối từ những cá nhân quan trọng đối với một người khi khởi sự kinh doanh Mặc dù có sự đồng thuận về ảnh hưởng của ý kiến này đối với suy nghĩ cá nhân, các nhà nghiên cứu lại có quan điểm khác nhau về ai là những người quan trọng nhất Linan và Chen (2009), cùng với Elfving (2009), chỉ ra rằng gia đình, bạn bè và đồng nghiệp là những người có ảnh hưởng lớn đến quan điểm của cá nhân Trong khi đó, Kolvereid (1996a) lại đo lường ảnh hưởng của những người xung quanh theo cách khác.

47 hưởng đến suy nghĩ, quan điểm của cá nhân gồm gia đình, bạn bè và những người quan trọng đối với cá nhân

Theo Elfving và Carsrud (2009), ý kiến xung quanh có ảnh hưởng khác nhau tùy vào bối cảnh xã hội và văn hóa Trong văn hóa Việt Nam, gia đình giữ vai trò quan trọng, với ý kiến của các thành viên có tác động lớn đến cá nhân Ngoài ra, bạn bè và các mối quan hệ xã hội cũng rất quan trọng đối với sinh viên Đối với sinh viên đại học, do chưa có kinh nghiệm làm việc, họ chưa có đồng nghiệp Luận văn này kế thừa thang đo của Kolvereid (1991), đã được áp dụng trong các nghiên cứu của Nasurdin (2009), Begley và Tan (2001), Nguyễn Thu Thủy (2015), với ba biến quan sát được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 3.1: Thang đo ý kiến người xung quanh

YK1 Gia đình tôi sẽ ủng hộ quyết định khởi sự kinh doanh của tôi

YK2 Bạn bè tôi sẽ ủng hộ quyết định khởi sự kinh doanh của tôi

YK3 Những người quan trọng với tôi sẽ ủng hộ quyết định khởi sự kinh doanh của tôi

3.2.1.2 Thang đo cảm nhận sự khát khao khởi sự kinh doanh

Nhiều thang đo đã được phát triển để đánh giá khát khao khởi sự kinh doanh, mặc dù cách thể hiện có khác nhau, nhưng đều thống nhất về cảm nhận cá nhân đối với việc khởi sự kinh doanh Luận văn này sử dụng thang đo kế thừa từ nghiên cứu của Krueger và Brazeal (1994), đã được kiểm định bởi Begley và Tan (2001) Cảm nhận về khát khao khởi sự kinh doanh được đo lường qua bốn tiêu chí: yêu thích khởi sự kinh doanh (KK1), nguồn gốc của sự thỏa mãn (KK2), mục đích cuộc đời (KK3), và ước mơ (KK4) Thang đo này được trình bày rõ ràng trong bảng dưới đây.

Bảng 3.2: Thang đo cảm nhận sự khát khao khởi sự kinh doanh

KK1 Tôi thích khởi sự kinh doanh nếu tôi có đủ nguồn lực và cơ hội

KK2 Trở thành chủ doanh nghiệp làm cho tôi rất hài lòng

KK3 Mục tiêu của tôi là trở thành chủ doanh nghiệp

KK4 Ước mơ chính của cuộc đời tôi là tạo lập doanh nghiệp của riêng tôi

3.2.1.3 Thang đo cảm nhận tính khả thi khởi sự kinh doanh

Thang đo “Cảm nhận tính khả thi KSKD” được Gaddam (2008) phát triển, bao gồm ba tiêu chí: tính khả thi của kế hoạch kinh doanh (KT1), sự nỗ lực khi bắt tay vào việc kinh doanh (KT2), và việc dồn hết sức cho việc kinh doanh (KT3) Trong nghiên cứu định tính, sinh viên đã đề xuất bổ sung tiêu chí “sự chấp nhận rủi ro khi khởi sự kinh doanh,” đã được kiểm định trong nghiên cứu của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) Họ cũng đề nghị thay đổi biến KT1 thành “Tôi tự tin lập được kế hoạch kinh doanh khả thi” để thể hiện sự tự tin vào khả năng lập kế hoạch Do đó, thang đo “Cảm nhận tính khả thi” hiện bao gồm bốn biến quan sát.

Bảng 3.3: Thang đo cảm nhận tính khả thi khởi sự kinh doanh

Ký hiệu Nội dung Nguồn

Tôi tự tin rằng mình có thể lập kế hoạch kinh doanh khả thi thông qua nghiên cứu định tính Tôi sẽ nỗ lực hết mình khi bắt tay vào việc kinh doanh, như đã đề cập trong nghiên cứu của Gaddam (2008).

KT3 Tôi sẽ dồn hết sức để khởi sự kinh doanh Gaddam, 2008

KT4 Tôi sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi khởi sự kinh doanh Nghiên cứu định tính

3.2.1.4 Thang đo truyền cảm hứng khởi sự kinh doanh trong nhà trường

Nghiên cứu của Souitaris và cộng sự (2007) về tác động của yếu tố truyền cảm hứng trong các chương trình đào tạo khởi sự kinh doanh đã sử dụng hai câu hỏi chính để đo lường Câu hỏi đầu tiên yêu cầu người tham gia xác định liệu có sự kiện hoặc nhân tố nào trong chương trình đã thay đổi đáng kể suy nghĩ và cảm xúc của họ, với lựa chọn trả lời Có/Không Câu hỏi thứ hai yêu cầu họ đánh giá mức độ tác động của các nhân tố này đến thái độ khởi sự kinh doanh của bản thân, sử dụng thang điểm từ 1 (tác động rất ít) đến 5 (tác động rất mạnh).

Theo đó, thang đo truyền cảm hứng khởi sự kinh doanh trong nhà trường gồm 4 biến được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3.4: Thang đo truyền cảm hứng khởi sự kinh doanh trong nhà trường

TCH1 Tôi được tiếp thu quan điểm khuyến khích khởi sự kinh doanh của giảng viên

TCH2 Tôi được tiếp thu quan điểm khuyến khích khởi sự kinh doanh của khách mời nói chuyện

TCH3 Tôi được tiếp thu quan điểm khuyến khích khởi sự kinh doanh của bạn cùng lớp

TCH4 Tôi được tiếp thu quan điểm khuyến khích khởi sự kinh doanh từ câu chuyện về chủ doanh nghiệp và quá trình xây dựng doanh nghiệp của họ

(Nguồn: Souitaris và cộng sự, 2010)

3.2.1.5 Thang đo phương thức học qua thực tế

Thang đo này kế thừa từ nghiên cứu của Balan và Metcalfe (2012) với 4 biến quan sát được thể hiện trong bảng dưới đây:

Bảng 3.5: Thang đo phương thức học qua thực tế

Quá trình học tập ở trường đã giúp tôi trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc thực tế Tôi có cơ hội áp dụng những kiến thức đã học vào môi trường làm việc, đồng thời kết hợp lý thuyết với thực tiễn để nâng cao hiệu quả học tập.

TT4 Trong quá trình học tại trường, tôi đã tích lũy được các kiến thức và kỹ năng giúp tăng khả năng được tuyển dụng

3.2.1.6 Thang đo mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa về KSKD

Thang đo “Mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa về KSKD” được phát triển bởi Nguyễn Thu Thủy vào năm 2015, bao gồm 6 biến quan sát Trong đó, một biến đánh giá tổng quát mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa, trong khi các biến còn lại tập trung vào mức độ tham gia các hoạt động cụ thể như hội thảo, câu lạc bộ sinh viên và tham quan doanh nghiệp Nội dung chi tiết của các biến này được trình bày trong bảng kèm theo.

Bảng 3.6: Thang đo mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa về KSKD

NK1 Tôi từng tham gia các hoạt động ngoại khóa ngoài chương trình học của trường NK2 Tôi từng tham gia cuộc thi viết kế hoạch kinh doanh

NK3 Tôi là thành viên câu lạc bộ liên quan đến kinh doanh trong hoặc ngoài trường

NK4 Tôi đã từng nói chuyện với chủ doanh nghiệp

NK5 Tôi từng đi tham quan doanh nghiệp

NK6 Tôi từng tham gia hội thảo về khởi sự kinh doanh

3.2.1.7 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên

Thang đo "Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên" được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Linãn và cộng sự (2005) cùng với Sagiri (2009), bao gồm 4 biến quan sát Các biến này được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây.

Bảng 3.7: Thang đo ý định KSKD của sinh viên

YD1 Tôi luôn xác định sẽ lập một công ty trong tương lai

YD2 Tôi sẽ cố gắng để công ty tôi sớm được thành lập

YD3 Tôi đã suy nghĩ rất nghiêm túc trong việc thành lập công ty riêng

YD4 Sau khi tốt nghiệp trường này, tôi sẽ tự mình kinh doanh

(Nguồn: Linãn và cộng sự, 2005)

3.2.2 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu

3.2.2.1 Kích thước mẫu Đối với phân tích nhân tố, kích thước mẫu sẽ phụ thuộc vào số lượng biến được đưa vào phân tích nhân tố, theo Hair và cộng sự (1998) số lượng mẫu cần gấp 5 lần so với số lượng biến Đề tài có tất cả 28 biến quan sát nên số mẫu tối thiểu cần thiết là: 28 x 5 140 biến

Theo Tabachnick và Fidell (1996), để đạt được kết quả tốt nhất trong phân tích hồi quy, kích cỡ mẫu cần thỏa mãn điều kiện n ≥ 8k + 50, trong đó n là kích thước mẫu và k là số biến độc lập Do đó, số mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu này là 274, tính theo công thức 8 x 28 + 50.

Kết hợp lại luận văn quyết định chọn khảo sát 350 mẫu nhằm đảm bảo độ tin cậy cho khảo sát

3.2.2.2 Đối tượng khảo sát Đối tượng khảo sát của luận văn là sinh viên Đại học, Cao đẳng năm cuối, đây là đối tượng quen thuộc trong các điều tra về ý định khởi sự kinh doanh

Theo số liệu lấy từ Phòng Đào tạo – trường Đại học Đồng Nai, năm học 2015-

2016 số lượng sinh viên tốt nghiệp năm 2016 hệ cao đẳng chính quy là 250, và đối với hệ đại học chính quy là 240 sinh viên

Việc thu thập dữ liệu được thực hiện bằng cách: Phát bảng câu hỏi giấy trực tiếp cho sinh viên năm cuối các lớp và thu thập lại

Các bảng câu hỏi được thu thập sẽ được kiểm tra kỹ lưỡng thông tin về năm học nhằm đảm bảo rằng khảo sát chỉ hướng tới đối tượng là sinh viên năm cuối.

3.2.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu

Sau khi thu thập câu trả lời, bước đầu tiên là mã hóa và nhập số liệu, tiếp theo là phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 22.0 Các thang đo trong nghiên cứu được kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach alpha và phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA Cuối cùng, thực hiện phân tích hồi quy đa biến để kiểm định giả thuyết nghiên cứu.

3.2.2.4.1 Kiểm định thang đo Đánh giá độ tin cậy của các thang đo

Tiến hành đánh giá độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach alpha cho từng nhóm biến quan sát thuộc các nhân tố khác nhau

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mô hình về ý định của Ajzen (1991) - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.1 Mô hình về ý định của Ajzen (1991) (Trang 26)
Hình 2.2: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982)  2.3.3. Mô hình của Krueger và Brazeal (1994) - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.2 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982) 2.3.3. Mô hình của Krueger và Brazeal (1994) (Trang 28)
Hình 2.3: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Krueger và Brazeal (1994)  2.3.4 Mô hình Lüthje và Franke (2004) - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.3 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Krueger và Brazeal (1994) 2.3.4 Mô hình Lüthje và Franke (2004) (Trang 29)
Hình 2.4: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Lüthje và Franke (2004)  2.3.5 Mô hình của Wilbard (2009) - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.4 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Lüthje và Franke (2004) 2.3.5 Mô hình của Wilbard (2009) (Trang 29)
Hình 2.5: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Wilbard (2009) - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.5 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Wilbard (2009) (Trang 30)
Hình 2.6: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh Wongnaa và Seyram (2014) - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.6 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh Wongnaa và Seyram (2014) (Trang 31)
Hình 2.7: Mô hình ý định KSKD của Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011)  Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) dựa trên quan điểm cho rằng ý định khởi nghiệp - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.7 Mô hình ý định KSKD của Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011) Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) dựa trên quan điểm cho rằng ý định khởi nghiệp (Trang 32)
Hình 2.8: Mô hình ý định khởi sự kinh doanh của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.8 Mô hình ý định khởi sự kinh doanh của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) (Trang 33)
Hình 2.9: Mô hình tiềm năng khởi sự kinh doanh của Nguyễn Thu Thủy (2015)  Nhận xét: - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.9 Mô hình tiềm năng khởi sự kinh doanh của Nguyễn Thu Thủy (2015) Nhận xét: (Trang 34)
Hình 2.10: Mô hình nghiên cứu đề xuất - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 2.10 Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 42)
Bảng 4.15: Kết quả phân tích thang đo truyền cảm hứng KSKD trong nhà trường  Tổng số biến thang đo: 4 - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 4.15 Kết quả phân tích thang đo truyền cảm hứng KSKD trong nhà trường Tổng số biến thang đo: 4 (Trang 65)
Hình 4.1: Biểu đồ phân tán giữa hai biến giá trị phần dư và giá trị dự đoán của mô - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 4.1 Biểu đồ phân tán giữa hai biến giá trị phần dư và giá trị dự đoán của mô (Trang 74)
Hình 4.2: Phân phối của phần dư quan sát của phương trình hồi quyý định KSKD - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 4.2 Phân phối của phần dư quan sát của phương trình hồi quyý định KSKD (Trang 75)
Hình 4.3: Biểu đồ P-P Plot cho phương trình hồi quy ý định KSKD của sinh viên - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
Hình 4.3 Biểu đồ P-P Plot cho phương trình hồi quy ý định KSKD của sinh viên (Trang 76)
Hình A: Sơ đồ tổ chức bộ máy Trường Đại học Đồng Nai - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường đại học đồng nai
nh A: Sơ đồ tổ chức bộ máy Trường Đại học Đồng Nai (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w